Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con ngườ
Trang 1PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGHỆ AN - 2017
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐINH TRUNG THÀNH
NGHỆ AN - 2017
Trang 3Trong quá trình học tập và làm đề tài luận văn tốt nghiệp tại Trường Đại học Vinh, Tôi đã được các thầy cô giáo và cán bộ nhân viên nhà trường giúp đỡ rất nhiệt tình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới nhà trường, các thầy cô giáo và đặc biệt là TS Đinh Trung Thành, người hướng dẫn khoa học đã hướng dẫn, giúp
đỡ, dìu dắt tôi với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển
khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn
huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa”
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo, các nhà khoa học đã trực tiếp truyền đạt những kiến thức khoa học về chuyên ngành kinh tế chính trị cho bản thân tác giả trong những năm qua
Xin gửi tới Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa, Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Lộc lời cảm ơn sâu sắc đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu và những tài liệu liên quan đến đề tài
Do các giới hạn về kiến thức và thời gian nghiên cứu, chắc chắn luận văn còn có những thiếu sót và hạn chế Tôi mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý, nhận xét của thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn
Tác giả
Phạm Thị Thu Liên
Trang 4LỜI CẢM ƠN I DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT V DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ VI
A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7
7 Bố cục luận văn 7
B NỘI DUNG 8
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA 8
1.1 Du lịch, vị trí, vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 8
1.1.1 Một số khái niệm liên quan 8
1.1.2 Vị trí, vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 14
1.2 Phát triển du lịch văn hóa và các yếu tố tác động đến phát triển du lịch văn hóa 19
1.2.1 Phát triển du lịch 19
1.2.2 Phát triển du lịch văn hóa 26
1.2.3 Các yếu tố tác động đến việc phát triển du lịch văn hóa 30
1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa của một số địa phương và bài học đối với huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa 34
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong phát triển du lịch văn hóa 34
Trang 5Kết luận chương 1 40
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HÓA 41
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa 41
2.1.1 Sơ lược về điều kiện tự nhiên của huyện Vĩnh Lộc 41
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Lộc 43
2.1.3 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa huyện Vĩnh Lộc 45
2.1.4 Sản phẩm du lịch văn hóa Vĩnh Lộc và liên kết phát triển du lịch văn hóa Vĩnh Lộc 55
2.2 Thực trạng phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa thời gian qua 60
2.2.1 Về Kinh tế 60
2.2.2 Về chính trị 66
2.2.3 Về văn hóa - xã hội 71
2.2.4 Về môi trường 74
2.3 Đánh giá sự phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc 74
2.3.1 Những kết quả đạt được 74
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 77
Kết luận chương 2 80
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HÓA 81
3.1 Bối cảnh chung ảnh hưởng đến phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn Vĩnh Lộc, Thanh Hóa 81
3.1.1 Bối cảnh quốc tế 81
3.1.2 Bối cảnh trong nước 82
Trang 6bàn huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016 – 2020 85
3.2.1 Quan điểm phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc 85
3.2.2 Mục tiêu phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc 86
3.2.3 Định hướng phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc giai đoạn 2016 – 2020 88
3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa 90
3.3.1 Nhóm giải pháp bền vững về kinh tế 90
3.3.2 Ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội 91
3.3.3 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch văn hóa. 93
3.3.4 Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, tài nguyên du lịch nhân văn, khai thác bền vững tài nguyên và đa dạng sinh học 95
3.3.5 Đẩy mạnh hợp tác, liên kết phát triển du lịch văn hóa, chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế 96
3.3.6 Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch văn hóa tại huyện Vĩnh Lộc 98
3.3.7 Tăng cường quản lý nhà nước về kinh tế, văn hóa, xã hội 100
Kết luận chương 3 102
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 109
Trang 7Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
khoa học và văn hóa thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng 1.1: So sánh sản phẩm du lịch và sản phẩm văn hóa……… … 13
Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Vĩnh Lộc giai đoạn 2011 – 2015 44
Bảng 2.2: Tổng thu ngân sách nhà nước của huyện Vĩnh Lộc 44
Bảng 2.3: Bảng tổng lượng khách du lịch đến Vĩnh Lộc 61
Bảng 2.4: Bảng tổng thu về du lịch tại huyện Vĩnh Lộc 62
Bảng 2.5: Số đơn vị phục vụ lưu trú huyện Vĩnh Lộc 64
Hình 2.6: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về du lịch từ tỉnh Thanh Hoá đến huyện Vĩnh Lộc 68
Bảng 2.7: Bảng tổng số lao động du lịch giai đoạn 2011- 2015 73
Hình 3.1: Biểu đồ tăng trưởng khách du lịch trên thế giới đến 2020 81
Trang 9A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế xã hội phát triển, mức sống của người dân ngày một nâng cao
đã tạo cơ hội cho ngành kinh tế du lịch có điều kiện phát triển nhanh chóng, đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn Chất lượng các dịch vụ, sản phẩm du lịch được xem như là một nội dung ưu tiên trong chiến lược phát triển của mỗi đơn vị, mỗi địa phương Mục tiêu “tìm kiếm sản phẩm mới” và “làm mới lại sản phẩm đã có” là một việc làm có tính liên tục nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày một đa dạng của du khách
Trong xu thế chung đó những năm gần đây, du lịch văn hóa đã và đang trở thành xu hướng phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực, đặc biệt là với những nước đang phát triển khi mà nền tảng, quy mô, nguồn lực không lớn, chưa có đủ thế mạnh trong việc xây dựng những điểm du lịch đắt tiền, những trung tâm giải trí tầm cỡ và hiện đại Đối với nước ta, du lịch văn hóa cũng được xác định là một trong những loại hình du lịch đặc thù, có thế mạnh và tiềm năng phát triển phong phú
Thanh Hóa là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, có bề dày lịch sử hào hùng và truyền thống văn hóa độc đáo Đồng thời cũng là tỉnh có tiềm năng phát triển du lịch to lớn, đó là những thế mạnh về địa lý tự nhiên và nguồn lực di sản văn hóa truyền thống Đây là cơ sở cho Thanh Hóa đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch trong bối cảnh du lịch quốc tế và khu vực đang mở rộng địa bàn hoạt động Với hàng nghìn di tích lịch sử gắn với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam và các danh lam thắng cảnh kỳ thú Các di tích lịch sử
- văn hóa được phân bố ở khắp các huyện, thị trong tỉnh là cơ sở để tạo nên nhiều sản phẩm du lịch đặc sắc hấp dẫn du khách
Huyện Vĩnh Lộc là huyện có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa của tỉnh Thanh Hóa, có thế mạnh về phát triển du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch
Trang 10văn hóa Toàn huyện có tới 14 di tích danh thắng được xếp hạng quốc gia, 50 di tích danh thắng được xếp hạng cấp tỉnh Đặc biệt nơi đây có Thành Nhà Hồ - Di sản văn hóa thế giới và từng là kinh đô nước Đại Ngu dưới vương triều Hồ Là nơi phát tích của 12 đời Chúa Trịnh Vĩnh Lộc còn là nơi ẩn chứa nhiều truyền thuyết huyền thoại với những di chỉ khảo cổ nổi tiếng Ở đây, có nhiều làng nghề với những sản phẩm có giá trị, có nhiều lễ hội đặc sắc, nhiều trò chơi dân gian, nhiều món ăn độc đáo và nguồn lao động dồi dào
Tuy nhiên tiềm năng, thế mạnh về phát triển du lịch của Vĩnh Lộc là rất lớn nhưng hiện nay vẫn chưa được khai thác triệt để, chưa thực sự thu hút du khách và tạo ra nguồn thu lớn cho huyện Việc phát triển loại hình du lịch văn hóa ở Vĩnh Lộc chưa được trú trọng, chưa được nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và phù hợp Việc khai thác những lợi thế sẵn có là điều kiện cần thiết, bởi không chỉ giúp tăng trưởng kinh tế mà còn để Vĩnh Lộc trở thành điểm đến hấp dẫn của bạn bè trong và ngoài nước Chính vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra phương hướng khai thác và giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hoá trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc là việc cần thiết và cấp bách Phát triển du lịch văn hoá phù hợp với xu hướng chung hiện nay của du lịch thế giới Bởi ngoài việc nghỉ ngơi giải trí, du khách còn có nhu cầu tìm hiểu văn hoá lịch sử dân tộc nơi tham quan Phát triển loại hình này không chỉ góp phần vào việc bảo tồn, phát triển nền văn hoá dân tộc mà còn tạo ra tính hấp dẫn, kéo dài ngày lưu trú bình quân của khách đến Thanh Hoá góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch cũng như tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân địa phương
Nhằm góp phần tìm ra những phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch văn hóa huyện Vĩnh Lộc trong thời gian tới, đưa
du lịch văn hóa thành loại hình chủ đạo đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội
cho huyện Vĩnh Lộc, tác giả chọn vấn đề “Phát triển du lịch văn hóa trên địa
bàn Huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Kinh tế chính trị
Trang 112 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay du lịch nói chung, du lịch văn hóa nói riêng đã có nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, phạm vi khác nhau
Điển hình là một số công trình nghiên cứu:
- Dương Văn Sáu, Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, NXB
Trường đại học Văn hóa Hà Nội, 2004 [25] Tác giả đã nghiên cứu tổng quan về
lễ hội Việt Nam, bản chất của lễ hội truyền thống Việt Nam, các loại hình lễ hội Việt Nam và nghiên cứu lễ hội trong sự phát triển du lịch ở Việt Nam
- Nguyễn Viết Cường, Di tích - danh thắng trên con đường du lịch văn
hóa “các làng gốm cổ truyền thống vùng châu thổ Sông Hồng”, Cục di sản Văn
hóa, 2008 [32] Bài viết tập trung nghiên cứu về các làng gốm cổ truyền thống thuộc vùng châu thổ Sông Hồng, tác giả đã nêu được tổng quan về di tích và danh thắng vùng châu thổ Sông Hồng và di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu từ đó
bổ sung cho hoạt động du lịch văn hóa các làng gốm cổ truyền thống vùng châu thổ Sông Hồng thêm phong phú và hấp dẫn
- Dương Văn Sáu, Di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng Việt Nam, NXB đại
học quốc gia Hà Nội, 2008 [26] Cuốn sách nghiên cứu về di sản văn hóa, hệ thống
di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng Việt Nam Và mối quan hệ giữa hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trong hoạt động du lịch Vai trò và đặc điểm của các loại hình
du lịch gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa – danh lam thắng ở Việt Nam Dự đoán xu hướng phát triển du lịch ở Việt Nam và thế giới
- Xuân Giang, Gắn kết văn hóa – kinh tế - du lịch (gợi nghĩ từ thực tiễn ở
tỉnh Lào Cai), Cục di sản Văn hóa, 2010 [32] Bài viết đã nêu lên được sự gắn kết giữa văn hóa – kinh tế - du lịch, việc khai thác giá trị kinh tế và du lịch từ di sản văn hóa Việt Nam, tác giả đã lấy ví dụ thực tiễn từ việc khai thác du lịch gắn kết với kinh tế và văn hóa tại Lào Cai
- Lê Văn Tạo, Di sản văn hóa nguồn lực đặc biệt cho phát triển du lịch
Thanh Hóa, NXB thế giới, 2011 [28] Cuốn sách nghiên cứu về những di sản văn
Trang 12hóa của tỉnh Thanh Hóa Từ đó tác giả đưa ra việc phát huy các giá trị của di sản văn hóa trong hoạt động du lịch ở Thanh Hóa
- Đề án “Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại huyện Vĩnh Lộc tỉnh
Thanh Hóa”(giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030) của UBND
tỉnh Thanh Hóa, 2016 [6] Đề án đã đưa ra phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
là hướng đi cần được ưu tiên tại huyện Vĩnh Lộc, bởi vì du lịch cộng đồng nếu được thực hiện sẽ mang lại những tác động tích cực đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện Vĩnh Lộc, đặc biệt là cộng đồng dân cư tại các điểm đến
du lịch
Bên cạnh các công trình khoa học trên đây tác giả có tìm hiểu và tham khảo thêm một số luận văn, luận án của một số thạc sỹ, tiến sỹ nói về đề tài du lịch văn hóa, cụ thể:
- Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa Tỉnh Thái
Bình” của tác giả Phạm Thị Bích Thủy - Trường đại học khoa học xã hội và
nhân văn, năm 2011 [29] Tác giả Phạm Thị Bích Thủy đã nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch văn hóa tài nguyên du lịch nhân văn, điểm đến của du lịch văn hóa, thị trường, nguồn khách từ đó đánh giá thực trạng và đưa ra đề xuất giải pháp cho sự phát triển văn hóa du lịch tại Tỉnh Thái Bình
- Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa Tỉnh Lào Cai”
của tác giả Vũ Thanh Ngọc – Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, năm
2015 [24] Tác giả Vũ Thanh Ngọc đã nêu lên những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển loại hình du lịch văn hóa ở Lào Cai
Tuy nhiên, đó là định hướng phát triển du lịch ở từng vùng, ngành khác nhau, chưa có công trình nào sâu nghiên cứu sâu và toàn diện về vai trò, đánh giá thực trạng về loại hình du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc Các đề tài trên mới chỉ nghiên cứu ở mức độ nghiên cứ chung về phát triển du lịch gắn với văn hóa, lịch sử, di sản văn hóa, về định hướng phát triển chung của du lịch Thanh Hóa, hay nghiên cứu ở phạm vi nhỏ về du lịch văn hóa ở một tỉnh mà chưa đi sâu nghiên
Trang 13cứu tính toàn diện về loại hình du lịch văn hóa… Vì thế nhiệm vụ đặt ra của luận văn là nghiên cứu chuyên sâu về du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc một cách tương đối đầy đủ, toàn diện để đề ra được những giải pháp thiết thực bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Thanh Hóa nói chung và của huyện Vĩnh Lộc nói riêng Là một công trình khoa học được nghiên cứu trên
cơ sở kế thừa nhiều công trình nghiên cứu trước đó, nhưng được vận dụng vào địa bàn mới Đây là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn rất cao
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch văn hóa, mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm đề xuất giải pháp phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa Góp phần khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch phong phú và đặc sắc của huyện, cũng như góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch văn hóa tại
huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch văn hóa
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn Huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất những giải pháp phát triển du lịch văn hóa ở huyện Vĩnh Lộc, góp phần phát triển kinh tế xã hội của huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn Huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi về không gian
Nghiên cứu tình hình phát triển hoạt động du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa
Trang 144.2.2 Phạm vi về thời gian: Tác giả nghiên cứu từ năm 2011 - 2015, đồng
thời xác định định hướng giải pháp phát triển du lịch văn hóa tại huyện Vĩnh Lộc đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính sách pháp luật của nhà nước về phát triển các loại hình dịch vụ Đồng thời kế thừa những vấn đề lý luận về du lịch và du lịch văn hóa của các nhà nghiên cứu trước
đó để áp dụng vào thực tế phát triển du lịch văn hóa ở huyện Vĩnh Lộc
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp thu thập, xử lý thông tin số liệu
Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, các nguồn thông tin từ các sở ban ngành, thư viện, sách báo, tạp chí, các trang website, các tài liệu, báo cáo các cơ quan quản lý du lịch và chính quyền địa phương
Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng việc khảo sát thực địa, phỏng vấn cán bộ chuyên trách du lịch và một số người dân địa phương nơi có tài nguyên du lịch văn hóa
- Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu
Phương pháp phân tích một cách hệ thống nhằm nhận biết rõ vai trò ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành nên sản phẩm du lịch văn hóa để hệ thống hóa
và tổng hợp thành các vấn đề tiêu biểu, đặc trưng của du lịch văn hóa vùng nghiên cứu Từ đó đề xuất các nguyên tắc và giải pháp phát triển du lịch văn hóa cho vùng nghiên cứu
- Phương pháp dự báo
Dựa vào thực trạng tình hình phát triển du lịch văn hóa ở huyện Vĩnh Lộc
và sự phát triển kinh tế thị trường để đưa ra một số dự báo về thị trường khách, doanh thu, nguồn lao động
Trang 156 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn
huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
- Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo trong việc xây dựng
các kế hoạch phát triển du lịch văn hóa tại huyện Vĩnh Lộc trong tương lai
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch văn hóa trên địa
bàn huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
Trang 16B NỘI DUNG
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DU LỊCH VĂN HÓA
1.1 Du lịch, vị trí, vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Du lịch
Du lịch là một ngành công nghiệp đặc biệt, được xem là “ngành công nghiệp không khói” hay “con gà đẻ trứng vàng” Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến Hội đồng lữ hành và du lịch quốc tế (World Travel and Tourism Council – WTTC) đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp Hoạt động du lịch xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người và phát với tốc độ rất nhanh, song cho đến nay khái niệm “du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau Do vậy có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề
và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
Trang 17Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước
họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ
Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005: “Du lịch là các
hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [15, tr.20]
1.1.1.2 Du lịch văn hóa
Khi nói đến “du lịch văn hóa” nghĩa là việc tiếp cận văn hóa từ du lịch, thông qua du lịch, thực chất là việc khai thác và biến sản phẩm văn hóa thành
sản phẩm du lịch, thuộc sản phẩm du lịch Du lịch văn hóa là loại hình du lịch
mà khách muốn tìm hiểu và thẩm nhận về văn hóa, lịch sử dân tộc của nước sở tại thông qua di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, lễ hội truyền thống, những phong tục tập quán, cách tổ chức cộng đồng, lối sống của một dân tộc v.v
“Văn hóa du lịch” là một vấn đề không kém phần quan trọng trong công tác tổ chức du lịch Khái niệm này chỉ yếu tố văn hóa trong du lịch, hoàn toàn khác với nghĩa khai thác văn hóa để phục vụ du lịch Mà nói đến văn hóa trong
du lịch thì có nhiều vấn đề liên quan cần bàn, bao hàm cả thái độ ứng xử (văn hóa ứng xử) của nhà tổ chức du lịch, khách du lịch đối với cảnh quan - môi trường (trong đó có cảnh quan - môi trường văn hóa), của nhà tổ chức du lịch đối với khách du lịch (biểu hiện thông qua thái độ, chất lượng phục vụ, chất lượng sản phẩm du lịch cả về hình thức lẫn nội dung)…
Du lịch văn hóa là một khái niệm mà mỗi chủ thể nghiên cứu lại có những hướng và cách tiếp cận khác nhau, có thể có nghĩa rộng bao hàm nhiều yếu tố, song cũng có những hướng tiếp cận tập trung vào một yếu tố cụ thể, trong một không gian hẹp hơn
Trang 18Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đưa ra khái niệm về du lịch văn hóa
“Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện về văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương" [1.tr.7]
Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích (ICOMOS) lại nêu khái niệm du
lịch văn hóa như sau: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám
phá những di tích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nổ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005 thì “Du lịch văn hóa là hình thức
du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [15, tr.22]
Như vậy chúng ta thấy rằng Du lịch văn hóa trước hết là một loại hình du
lịch cũng như nhiều loại hình du lịch khác Du lịch văn hóa lấy chỗ dựa là tài
nguyên du lịch văn hóa đó là bản sắc văn hóa dân tộc (theo Luật Du lịch 2005),
nhưng nói rộng ra là dựa vào văn hóa mà văn hóa là tất cả những gì con người sáng tạo ra và tích lũy trong quá trình sống của mình “Lấy văn hóa làm điểm tựa, du lịch văn hóa mang sứ mệnh tôn vinh và bảo vệ các di sản văn hóa tốt đẹp của con người Lấy du lịch làm cầu nối, văn hóa được làm giàu thêm thông qua
sự tiếp xúc, tiếp biến, giao lưu, lan tỏa, tiếp nhận và hội tụ tinh hoa văn hóa các dân tộc Du lịch văn hóa không chỉ đem đến lợi ích về kinh tế mà còn góp phần giáo dục tình yêu Tổ quốc, thúc đẩy tích cực sự phát triển xã hội” [1.Tr.8]
Trang 19Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với con người và xã hội
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch Tại điều 10 Pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999): “Tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản
để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch”
Theo luật Du lịch Việt Nam năm 2005 thì nêu khái niệm tài nguyên du lịch như sau: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch
sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [15, tr.20]
Điều 13 luật Du lịch Việt Nam (2005) qui định: “Tài nguyên du lịch gồm
tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác
và chưa được khai thác
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục
vụ mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể
Như vậy tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển du lịch Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động càng cao bấy nhiêu
1.1.1.4 Tài nguyên du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa sử dụng văn hóa như là nguồn lực Có hai loại tài nguyên thuộc về văn hóa sử dụng trong loại hình du lịch này là: tài nguyên nhân văn và tài nguyên xã hội
Trang 20Tài nguyên du lịch nhân văn: là những của cải vật chất và của cải tinh
thần do con người sáng tạo ra, có khả năng thu hút con người tiến hành hoạt động du lịch văn hóa
Tài nguyên du lịch xã hội: là những nét riêng biệt về phong tục, tập quán,
quan niệm và phương thức sản xuất, sinh hoạt trong đời sống dân cư của mỗi dân tộc
"Tính chất của tài nguyên du lịch nhân văn là tạo nên sự hứng thú đối với
du khách về nhu cầu tìm hiểu lịch sử, tìm hiểu cội nguồn Tài nguyên du lịch xã hội lại là điểm lôi cuốn, là điều kiện để du lịch phát triển theo chiều sâu thông qua việc hưởng thụ văn hóa của các nước khác, dân tộc khác Sự khác nhau giữa các nền văn hóa là do sự khác nhau về lịch sử, điều kiện và môi trường sống Chính sự khác biệt giữa các nền văn hóa này sẽ tạo ra hứng thú và làm nảy sinh, thúc đẩy động cơ du lịch nói chung, du lịch văn hóa nói riêng” [1.Tr.15]
1.1.1.5 Sản phẩm du lịch văn hóa
Con người sáng tạo ra văn hóa, bởi vậy mọi sản phẩm văn hóa là của con người, thuộc về con người Sản phẩm văn hóa được sinh ra trước sản phẩm du lịch Một sản phẩm du lịch trước hết phải là một sản phẩm văn hóa Nó trở thành sản phẩm du lịch khi được sử dụng vào hoạt động kinh doanh du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của du khách Tất các các sản phẩm du lịch đều là sản phẩm văn hóa, nhưng không phải mọi sản phẩm văn hóa đều trở thành sản phẩm du lịch Có nhiều sản phẩm văn hóa không nên và không thể khai thác trong kinh doanh du lịch được
Hiện nay nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm sản phẩm du lịch Theo tác giả Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa: “Sản phẩm du lịch
là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho khách được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó” [16.tr.31]
Trang 21Theo Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam (2005) qui định: “Sản phẩm du lịch
là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [15 tr.21]
Sản phẩm du lịch và sản phẩm văn hóa có sự gắn bó những cũng có nhiều
sự khác biệt như:
Bảng 1.1: So sánh sản phẩm du lịch và sản phẩm văn hóa [27, tr.33]
- Mang nặng dấu ấn của cộng đồng cư dân bản địa
- Mang nặng dấu ấn của các cá nhân, các nhà tổ chức, khai thác
- Dùng cho tất cả các đối tượng khác nhau, phục vụ mọi người
- Chỉ dùng cho khách du lịch, phục vụ những đối tượng sử dụng dịch vụ du lịch
- Sản xuất ra không phải để bán, chủ yếu phục vụ đời sống sinh hoạt văn hóa - tinh thần của cư dân bản địa
- Sản xuất ra phải được bán ra thị trường, bán cho du khách, phục vụ nhu cầu của các đối tượng du khách là cư dân của các vùng niềm khác nhau
- Chú trọng giá trị tinh thần, giá giá trị không đo được hết bằng giá cả
- Giá trị văn hóa đi kèm giá trị kinh tế
- xã hội Giá trị được đo bằng giá cả
- Quy mô hạn chế, thời gian và không gian xác định
- Quy mô không hạn chế, thời gian và không gian không xác định
- Sản phẩm mang nặng tính định tính, khó xác định định lượng giá trị của sản phẩm mang tính vô hình thể hiện qua ấn tượng, cảm nhận,…
- Định tính, định lượng được thể hiện qua thời gian hoạt động Giá trị của sản phẩm là hữu hình, biểu hiện thông qua những chỉ số kinh tế thu được
Trang 22Như vậy, sản phẩm du lịch văn hóa vốn là sản phẩm văn hóa, được đưa vào hoạt động kinh doanh du lịch, là một yếu tố hợp thành của chương trình du lịch văn hóa để thỏa mãn yêu cầu mà du khách tham gia loại hình du lịch này đòi hỏi Xuất xứ lẩn phẩm văn hóa, nhưng sản phẩm du lịch văn hóa mang nhiều thậm chí là phần lớn các đặc trưng của sản phẩm du lịch Chúng đã trở thành hàng hóa để kinh doanh, đem lại lợi nhuận về kinh tế Sản phẩm du lịch văn hóa là sản phẩm du lịch được khai thác và sử dụng trong các chương trình du lịch văn hóa
“Sản phẩm du lịch văn hóa phải là sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch văn
hóa và các dịch vụ du lịch văn hóa thích hợp phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá, trải nghiệm của du khách về những điều khác biệt, mới lạ của các
phải là sự kết hợp giữa toàn bộ các loại tài nguyên du lịch văn hóa và toàn bộ các loại dịch vụ du lịch thích hợp nhằm phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá, trải nghiệm về những điều khác biệt, mới lạ về từng nền văn hóa bản địa của du khách
1.1.2 Vị trí, vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 23Ở Việt Nam xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đã được thể hiện rõ qua các năm: Năm 2001, nông nghiệp chiếm 23,24% GDP, công nghiệp chiếm 57,91% GDP, dịch vụ chiếm 38,63% GDP Năm 2005, nông nghiệp chiếm 21,76% GDP, công nghiệp chiếm 60,41% GDP, dịch vụ chiếm 38,15% GDP Với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thì du lịch đóng góp lớn cho nền kinh tế
Du lịch đã nộp hàng ngàn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước Ngoài ra cùng với sự phát triển của du lịch cũng dễ tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển Với những thuận lợi, những mặt tích cực mà phát triển du lịch đem lại thì du lịch thực sự có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế của nước ta
Với tiềm năng lớn, từ năm 2001, Du lịch Việt Nam đã được chính phủ quy hoạch, định hướng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Mặc dù "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010" có vài chỉ tiêu không đạt được, từ năm 2011, "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011
để tiếp nối Đại hội Đảng XI và Nghị quyết 52/2013/QH13 của Quốc hội đã xác định việc phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm
2020 Cho đến nay, trong các kỳ đại hội gần đây của Đảng vẫn nhấn mạnh việc cần thiết, chú trọng phát triển du lịch và vị trí của nó trong nền kinh tế xã hội của nước ta hiện nay Phát nhóm ngành dịch vụ và du lịch là đầu tư cho phát triển kinh tế và xã hội, góp phần tích cực thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Đảng và nhà nước đã đề ra
1.1.2.2 Vai trò của du lịch
Đối với phát triển kinh tế
Ý nghĩa về mặt kinh tế của phát triển du lịch nội địa:
Du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản xuất ra đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật…), làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội
Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng Bên cạnh đó, du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khỏe cho nhân
Trang 24dân lao động và do vậy góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội Ngoài ra
du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật của du lịch quốc tế được hợp lý hơn
Ý nghĩa về mặt kinh tế của phát triển du lịch quốc tế chủ động:
Du lịch tham gia tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất Thể hiện trước tiên ở chỗ du lịch là một ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hóa, công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, , đồ cổ phục chế, nông lâm sản… theo giá bán lẻ cao hơn do người bán sẽ không tốn kém nhiều chi phí giao hàng, vận chuyển, bảo hiểm, thuế xuất nhập khẩu, có khả năng thu hồi vốn nhanh và lãi cao do nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp cần khả năng thanh toán
Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, góp phần củng cố
và phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế Du lịch quốc tế như đầu mối “xuất nhập khẩu” ngoại tệ, phát triển quan hệ ngoại hối quốc tế
Ý nghĩa về mặt kinh tế của phát triển du lịch quốc tế thụ động
Khác với du lịch quốc tế chủ động, du lịch quốc tế thụ động là một hình thức nhập khẩu đối với đất nước có khách đi ra nước ngoài Cái mà họ nhận được
đó chính là các “lợi ích vô hình” Đó là nâng cao hiểu biết, học hỏi kỹ thuật mới, củng cố sức khỏe… của người dân Nhưng nếu đi với mục đích kinh doanh, du lịch quốc tế thụ động có tác động gián tiếp đến nền kinh tế bởi nó là hình thức đem tiền đi tiêu nhưng họ có thể thu về là bản hợp đồng đầu tư thu lợi nhuận …
Các tác động khác về mặt kinh tế của việc phát triển hoạt động kinh doanh du lịch nói chung :
Du lịch làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương phát triển du lịch, tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân và phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng
Trang 25Du lịch phát triển thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo: vì hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành khác nhau như: giao thông vận tải, tài chính, nông nghiệp, hải quan phát triển, đối với nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra một thị trường tiêu thụ hàng hóa
Vai trò du lịch trong lĩnh vực văn hoá - xã hội
Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân địa phương:
Du lịch với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, du lịch phát triển sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn mà không cần phải đào tạo công phu, từ đó góp phần từng bước nâng cao tích lũy và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tiếp tục khuyến khích phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn giải quyết hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn minh, hiện đại phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Du lịch là ngành tạo ra nhiều việc làm thứ hai, sau nông nghiệp, ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Du lịch là một ngành kinh tế không chỉ mang lại việc làm cho nhiều phụ
nữ mà còn mang lại nhiều cơ hội to lớn vì sự tiến bộ của phụ nữ
Du lịch làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước có nền kinh tế phát triển: Do tài nguyên du lịch thường tập trung ở những vùng đồng quê hay miền núi, vì vậy để khai thác nguồn và phát triển hiệu quả cần đầu tư về mọi mặt: giao thông, thông tin liên lạc, văn hóa, xã hội… Du lịch phát triển làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội các vùng miền và góp phần làm giảm sự tập trung dân cư căng thẳng ở những trung tâm dân cư
Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả: Về mặt kinh
tế là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu cho hàng hóa nội địa ra nước ngoài thông qua du khách Về mặt xã hội là phương tiện tuyên truyền quảng cáo
Trang 26hữu hiệu cho các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giới thiệu về con người, phong tục tập quán…
Du lịch làm tăng tầm hiểu biết chung về văn hóa – xã hội của người dân thông qua người ở địa phương khác, khách nước ngoài (về phong cách sống, thẩm mỹ, ngoại ngữ….)
Du lịch làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết của nhân dân giữa các vùng với nhau và của nhân dân giữa các quốc gia với nhau
Vai trò của du lịch trong hội nhập quốc tế
Cùng với xu thế chung của thế giới, du lịch cũng có vai trò trong mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, du lịch chính là con đường tiếp cận với các quốc gia bên ngoài một cách hữu hiệu nhất góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết các dân tộc, địa phương vì hoà bình hợp tác và phát triển Đồng thời, thu hút nhiều nhà đầu tư vào kinh doanh du lịch
và phát triển cơ sở hạ tầng
Phát triển du lịch giúp ích cho việc cải thiện và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế Du lịch là cầu nối mở rộng quan hệ đối ngoại, giao lưu kinh
tế, văn hoá giữa các dân tộc các địa phương “Du lịch là sứ giả của hoà bình”
Thông qua phát triển du lịch các quan hệ kinh tế quốc tế được củng cố và mở rộng Du lịch quốc tế như một đầu mối “xuất – nhập khẩu” ngoại tệ, góp phần làm phát triển quan hệ ngoại hối quốc tế
Phát triển du lịch góp phần mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế trong việc bảo tồn tài nguyên du lịch, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích văn hoá lịch sử; hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, bảo tồn động, thực vật quý hiếm, hợp tác đầu tư, tour, tuyến du lịch, trao đổi hàng hoá…
Giao lưu và hội nhập quốc tế đang diễn ra thuận lợi và nhanh chóng, nhưng cũng là cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc Quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế có khả năng tạo ra những biến đổi lớn về diện mạo, đặc điểm, loại hình du lịch; đồng thời, sự bùng nổ của các
Trang 27phương tiện và công nghệ truyền thông, của công nghệ giải trí cũng tạo nên những tác động cả tích cực và tiêu cực đến đời sống xã hội và công chúng, kéo theo những tác động mạnh về sự phát triển nhân lực du lịch
Nhu cầu hội nhập và hợp tác quốc tế trong du lịch là tăng cường quan hệ
để phát triển; tiếp thu kinh nghiệm; xác lập vị thế trên trường quốc tế; phát triển
du lịch và góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Để hội nhập quốc tế thành công, nhân lực du lịch phải được đào tạo với kỹ năng, trình độ chuyên nghiệp được thừa nhận rộng rãi; có thể di chuyển và tìm được việc làm trong và ngoài khu vực; vươn tới tham gia chủ động vào quá trình phân công lao động quốc tế, đảm bảo cho Du lịch Việt Nam có vị trí xứng đáng trong chuỗi cung cấp dịch vụ du lịch có chất lượng của khu vực và thế giới
1.2 Phát triển du lịch văn hóa và các yếu tố tác động đến phát triển du lịch văn hóa
1.2.1 Phát triển du lịch
1.2.1.1 Quan điểm về phát triển du lịch
Phát triển được hiểu là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố
cấu thành khác nhau về kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật – khoa học, văn hóa Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, mà nét đặc trưng chủ yếu là cái cũ biến mất và cái mới ra đời Phát triển là xu hướng tất yếu của thế giới vật chất nói chung, của xã hội loài người nói riêng
Du lịch là ngành dịch vụ hoạt động trong nền kinh tế nhằm thỏa mãn những nhu cầu vui chơi giải trí, khám phá thiên nhiên, tìm hiểu các nét đẹp văn hóa văn hóa của cư dân các miền khác nhau trên thế giới để thu được lợi nhuận
Vì vậy, việc đẩy mạnh phát triển du lịch thường được các quốc gia trên thế giới quan tâm đề cao vì tính hiệu quả của nó Vậy phát triển du lịch là gì? Theo cách hiểu chung Phát triển du lịch đó là sự gia tăng sản lượng và doanh thu cùng mức
độ đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế, đồng thời có sự hoàn thiện về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của ngành du lịch
Trang 28Phát triển du lịch là hoạt động khai thác có quản lý tài nguyên du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, công tác bảo vệ môi trường, phát triển du lịch phải đảm bảo duy trì được tính đa dạng, quan tâm đến lợi ích cộng đồng, phù với qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, gắn với đào tạo phát triển nguồn nhân lực và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương
1.2.1.2 Các điều kiện phát triển du lịch
Để phát triển du lịch cần thiết phải có các điều kiện liên quan đến sự phát triển du lịch đó là: Những điều kiện chung và những điều kiện đặc trưng
Những điều kiện chung đối với phát triển hoạt động đi du lịch:
Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội: An ninh chính trị phải đảm
bảo hòa bình ổn định để mở rộng cho các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa giữa các dân tộc Du lịch chỉ được phát triển trong bầu không khi hòa bình, trong tình hữu nghị giữa các dân tộc Các quốc gia có tình hình chính trị ổn định
và hòa bình thì sẽ thu hút được nhiều du khách vì sẽ mang lại cho du khách cảm giác an toàn và tính mạng được coi trọng
Ngoài một nền chính trị ổn định điều kiện an toàn xã hội cũng rất quan trọng để phát triển du lịch bởi hiện tượng thiên tai, dịch bệnh… Có ảnh hưởng rất lớn đến du lịch
Điều kiện kinh tế: Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến
phát triển du lịch là điều kiện kinh tế chung Nền kinh tế chung phát triển là tiền
đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch Sự phát triển của du lịch
có thể kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, nhưng bên cạnh đó bản thân du lịch cũng lệ thuộc vào các ngành này về nhiều mặt: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải…
Trang 29Chính sách phát triển du lịch: Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa
thành công trong việc phát triển du lịch Nó có thể kìm hãm nếu đường lối sai với thực tế Chính sách phát triển du lịch của các nhà lãnh đạo có vai trò quyết định đến hoạt động phát triển du lịch Một đất nước, một khu vực có tài nguyên
du lịch phong phú mức sống của người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không hỗ trợ, trú trọng và tạo điều kiện cho các hoạt động du lịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển được
Các điều kiện tự thân làm nảy sinh nhu cầu du lịch: thời gian rỗi, khả
năng tài chính của du khách tiềm năng; trình độ dân trí…
Thời gian rỗi của nhân dân: Muốn thực hiện cuộc hành trình du lịch đòi
hỏi con người phải có thời gian Do vậy thời gian rỗi của nhân dân là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để con người tham gia vào hoạt động du lịch Con người chỉ bắt đầu đi du lịch khi họ được hưởng nhiều ngày nghỉ lễ và những ngày nghỉ ăn lương Khi người lao động càng có nhiều thời gian rỗi, ngành du lịch càng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển Mọi người sử dụng thời gian rỗi để thư giãn, nâng tầm hiểu biết, tăng cường sức khỏe… Để tăng tính hiệu quả trong việc khai thác tối đa thời gian rỗi của người dân du lịch có thể kết hợp với nhiều ngành khác để tạo ra nhiều loại hình du lịch hấp dẫn: du lịch mua sắm,
du lịch nghỉ dưỡng… Trên cơ sở đó thay đổi cơ cấu giữa thời gian làm việc, thời gian ngoài giờ làm việc và thời gian rỗi
Khả năng tài chính của du khách: Thu nhập của người dân là chỉ tiêu
quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia đi du lịch Con người khi muốn đi du lịch không phải chỉ cần có thời gian mà phải có đủ tiền mới có thể thực hiện được mong muốn đó Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịch luôn là người tiêu dùng của nhiều loại dịch vụ, hàng hóa
Có tài nguyên du lịch nhiều chưa hẳn đã phát triển được về du lịch nếu như nền kinh tế của đất nước đó còn nghèo nàn, lạc hậu và người dân nước ấy không có
Trang 30khả năng thanh toán cho nhu cầu vui chơi, giải trí và du lịch của mình thì chắc chắn du lịch tại đất nước đó không phát triển
Như vậy, thu nhập của người dân là một điều kiện cần thiết để du khách
có thể quyết định tham gia vào hoạt động du lịch của mình
Trình độ dân trí: Sự phát triển của ngành du lịch phụ thuộc rất nhiều vào
trình độ văn hóa chung của người dân một nước Nếu trình độ dân trí chung của người dân cao thì nhu cầu đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt Hơn nữa trình độ văn hóa của nhân dân nước đó cao thì khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ du khách một cách văn minh và dễ làm hài lòng khi khách du lịch đến đó
Những điều kiện đặc trưng đối với phát triển hoạt động đi du lịch:
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên: Nếu như chúng ta coi các
điều kiện chung như là các điều kiện đủ để phát triển du lịch, thì các điều kiện
về tài nguyên như là các điều kiện cần để phát triển du lịch Tài nguyên du lịch
có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển du lịch Tài nguyên du lịch
tự nhiên gồm: vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, hệ động thực vật, thủy văn… Tài nguyên du lịch tự nhiên là tiền đề để phát triển du lịch, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động càng cao bấy nhiêu
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm: các di tích lịch sử, di tích lịch sử văn
hoá, phong tục tập quán, lễ hội, văn hóa ẩm thực, các loại hình nghệ thuật, các lối sống, nếp sống của các tộc người mang bản sắc độc đáo và được lưu giữ cho đến ngày nay
Tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị văn hoá tiêu biểu cho mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Thông qua những hoạt động du lịch dựa trên việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn, khách du lịch có thể hiểu được những đặc trưng về văn hóa của dân tộc, của địa phương nơi mà khách đến
1.2.1.3 Các xu hướng cơ bản trong phát triển du lịch
Trang 31Theo dự đoán của các nhà khoa học trên thế giới thì du lịch đại chúng có tương lai và xu hướng phát triển tốt Du lịch quốc tế ngày một phát triển mạnh
mẽ Có thể phân các xu hướng của sự phát triển du lịch trên thế giới theo hai nhóm chính như sau:
Nhóm các xu hướng phát triển của cầu du lịch:
Thứ nhất: Du lịch ngày càng được khẳng định là một hiện tượng kinh tế
xã hội phổ biến và nhu cầu về du lịch ngày tăng lên Đời sống người dân ngày càng được cải thiện ở các nước có nền kinh tế phát triển, du lịch trở thành tiêu chuẩn để đánh giá mức sống và chất lượng cuộc sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội Không chỉ những người giàu có từ các nước phát triển mới đi du lịch mà tất cả các tầng lớp khác, từ nhiều quốc gia khác nhau cũng tham gia ngày càng đông đảo Bên cạnh đó các điều kiện cơ sở hạ tầng cho du lịch ngày càng hoàn thiện làm cho du lịch không còn thuộc riêng về một bộ phận dân cư nào đó mà nó trở thành hiện tượng mang tính đại chúng
Thứ hai: Sự thay đổi về hướng đi và cơ cấu của dòng khách du lịch quốc
tế: Việc quần chúng hóa trong hoạt động du lịch và khả năng đi du lịch xa hơn kéo theo nhiều biến đổi trong hướng vận động của du khách Hiện nay hướng vận động của khách du lịch là khắp nơi trên toàn cầu Ngoài những địa danh du lịch nổi tiếng đã trở nên quen thuộc, nay những địa điểm mới nhất là ở những nước mới phát triển du lịch đang ngày càng thu hút luồng khách du lịch đến tìm hiểu và phát hiện những vấn đề mới mẻ như vùng châu Á – Thái Bình Dương và các quốc gia Đông Nam Á
Thứ ba: Sự thay đổi trong cơ cấu chi tiêu của khách du lịch: Những năm
trước tỷ trọng chi tiêu của phần lớn khách du lịch là dành cho các dịch vụ cơ bản như: ăn, ở, vận chuyển… Nhưng hiện nay tỷ trọng này có sự thay đổi, chi tiêu của du khách cho các dịch vụ bổ sung như mua sắm hàng hóa, đồ lưu niệm, tham quan, giải trí… tăng lên Điều đó có nghĩa là mức chi tiêu của du khách ngày càng tăng
Trang 32Thứ tư: Sự hình thành các nhóm khách về độ tuổi: Sự hình thành các
nhóm khách theo độ tuổi như khách du lịch là sinh viên, học sinh; khách du lịch
là những người đang ở trong độ tuổi lao động tích cực và khách du lịch là người già, người mới nghỉ hưu đi du lịch ngày càng nhiều Về nhân thân: số người độc thân đi du lịch ngày càng tăng Tuy nhiên ngày càng nhiều những nhóm gia đình đăng ký đi du lịch với sự tham gia của đầy đủ các thành viên của cả các thế hệ trong gia đình, đặc biệt các dịp lễ, cuối tuần và kỳ nghỉ hè của trẻ em
khách Khách du lịch chỉ sử dụng một phần dịch vụ của các tổ chức kinh doanh
du lịch Xu hướng chọn tour du lịch tự thiết kế, đặt chỗ qua mạng; tự lựa chọn
chuyến đi không phụ thuộc vào người khác Du khách sẽ tự quyết định được điểm đến, thời gian lưu trú, vấn đề ăn ngủ… và lại tiết kiệm được chi phí cho chuyến đi vì không phải trả các phí dịch vụ cho các công ty tổ chức lữ hành
Thứ sáu: Xu hướng gia tăng các điểm đến du lịch trong một chuyến đi du
lịch và có sự kết hợp giữa các loại hình du lịch Trong những năm gần đây du khách có xu hướng thích đi thăm quan nhiều nước, thăm nhiều địa điểm du lịch trong chuyến đi du lịch của mình
Nhóm xu hướng phát triển cung du lịch:
Thứ nhất: Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Cuộc cạnh tranh trong việc
thu hút khách du lịch ngày càng quyết liệt, nên các nhà kinh doanh du lịch cần phải có chính sách đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, đưa ra thị trường các sản phẩm du lịch độc đáo mang bản sắc riêng vào các sản phẩm du lịch của mình Thời gian gần đây các quốc gia đều đẩy mạnh phát triển loại hình du lịch văn hóa thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc của riêng mình
Thứ hai: Xu hướng tăng cường hoạt động truyền thông trong du lịch
Công nghệ thông tin ngày một phát triển, dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng sâu sắc giữa các doanh nghiệp và giữa các nước làm du lịch trong việc thu hút khách
Trang 33du lịch Du khách thường có thói quen đến những nơi đã được nghe và xem quảng cáo Do đó việc quảng bá du lịch có ý nghĩa hết sức to lớn, có ý nghĩa sống còn trong hoạt động kinh doanh du lịch
Thứ ba: Xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong du
lịch: Một số tiến bộ trong công nghệ điện tử đã được ứng dụng cho du lịch như: thẻ thông minh dùng cho khách hàng quen thuộc, CD ROM, video, máy vi tính, enternet… Độ ngũ lao động không ngừng được đào tạo nâng cao tay nghề nhằm phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế được công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Thứ tư: Xu hướng khu vực hóa, quốc tế hóa trong du lịch ngày càng trở
nên tất yếu Các tour du lịch được gắn kết giữa các nước với nhau đáp ứng nhu cầu đi du lịch nhiều nước trong một chuyến hành trình của du khách Trong điều kiện đó nhiều tập đoàn kinh tế du lịch như chuỗi khách sạn, tập đoàn lữ hành có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều tổ chức du lịch khu vực hay toàn cầu được hình thành giúp đỡ các nước thành viên phát triển du lịch Bên cạnh xu hướng quôc tế hóa thì cạnh tranh quốc tế trong du lịch cũng diễn ra hết sức gay gắt, trong điều kiện đó mỗi nước đều bảo vệ và giữ gìn bản sắc dân tộc, môi trường sinh thái để thu hút khách du lịch đến với đất nước mình
Thứ năm: Xu hướng hạn chế tính thời vụ trong du lịch Hoạt động du lịch
mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các điểm du lịch gắn với các điều kiện tự nhiên, các lễ hội Vào mùa chính vụ du khách thường rất đông nhưng lúc trái vụ
du khách lại giảm xuống Chính vì thế để nâng cao hiệu quả kinh doanh trong du lịch tại khu vực đó hầu như các nước phát triển du lịch đều cố gắng phấn đấu kéo dài thời vụ du lịch Nhiều quốc gia xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp với nhiều loại hình du lịch, tăng cường tuyên truyền quảng bá để hạn chế dần tình thời vụ trong kinh doanh du lịch, song đây là vấn đề khó đặc biệt với các nước đang phát triển
Ngoài các xu hướng nêu trên trong tình hình hiện nay do cuộc cạnh tranh
về nguồn khách giữa các quốc gia, các vùng nên giảm tới mức tối thiểu các thủ
Trang 34tục như: thị thực, hải quan… được coi là một xu thế của phát triển du lịch thế giới, nhằm tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho du khách tham quan, nghỉ ngơi
Với các xu hướng chung của du lịch toàn cầu như vậy, du lịch Việt Nam
đã và đang vươn lên đón nhận những cơ hội mới, đồng thời cũng phải chuẩn bị những lợi thế vững chắc cho một cuộc cạnh tranh gay gắt trên thị trường du lịch khu vực và trên thế giới Trong điều kiện đó, du lịch Việt Nam cần phải có những định hướng và mục tiêu có tính chiến lược để phát triển, hội nhập cùng với khu vực và thế giới
1.2.2 Phát triển du lịch văn hóa
1.2.2.1 Quan niệm về phát triển du lịch văn hóa
Phát triển du lịch văn hóa nằm trong tổng thể chung của phát triển du lịch Phát triển du lịch văn hóa là hoạt động khai thác có quản lý tài nguyên du lịch văn hóa nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên du lịch, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương
Phát triển du lịch văn hóa là sự tăng lên về số lượng du khách, sự tăng lên
về việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho loại hình du lịch văn hóa Việc đầu tư các yếu tố vật chất và con người để khai thác loại hình du lịch dựa vào văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, những phong tục tập quán, tín ngưỡng, tài nguyên thiên nhiên… thông qua đó để tạo sức hút đối với du khách
Từ đó tạo ra nhiều công ăn việc làm, thúc đẩy ngành du lịch nói riêng và nền kinh tế nói chung phát triển, khai thác và bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử và tài nguyên nhiên thiên một cách có hiệu quả
1.2.2.2 Tiêu chí phát triển du lịch văn hóa
Về kinh tế
Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Ở đây du lịch trở
Trang 35thành một trong những ngành công nghiệp văn hóa; khai thác yếu tố văn hóa trong kinh tế và phát triển kinh tế dựa vào văn hóa Phát triển mạnh ngành du lịch dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc đồng thời phát triển du lịch phục vụ sự thịnh vượng của quốc gia dân tộc, góp phần bảo tồn và xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Sự tăng lên về số lượng khách du lịch: Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng
đầu đối với quá trình phát triển du du lịch Chỉ tiêu khách du lịch quyết định sự thành công hay thất bại trong việc kinh doanh phát triển du lịch Trong chỉ tiêu khách du lịch ngoài số lượng về khách, các tiêu chí khác cần phải tính đến trong quá trình phát triển du lịch văn hóa đo là số ngày lưu trú của khách, số khách quay trở lại, khả năng thanh toán, mức độ hài lòng của khách…
Sự tăng lên về thu nhập và tổng sản phẩm quốc nội ngành du lịch (GDP
du lịch): Chỉ tiêu thu nhập du lịch liên quan chặt chẽ đến chỉ tiêu khách du lịch,
sự tăng trưởng liên tục của khách du lịch sẽ kéo theo sự tăng trưởng về thu nhập
và sẽ đóng góp quan trọng cho sự phát triển của loại hình du lịch văn hóa
Chỉ tiêu hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: hệ thống cơ sở vật chất kỹ
thuật trong du lịch bao gồm: các cơ sở lưu trú, phục vụ ăn uống vui chơi giải trí,
hệ thống phương tiện vận chuyển, hệ thống giao thông, các khu du lịch, các cơ sở dịch vụ bổ sung khác… là thước đo phản ánh trình độ phát triển của ngành du lịch Sự phát triển cả về chủng loại và chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch vừa đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng khách vừa góp phần vào việc hấp dẫn thu hút khách du dịch đảm bảo cho sự phát triển du lịch
Chỉ tiêu về nguồn nhân lực du lịch: Chất lượng đội ngũ lao động sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ và kết quả cuối cùng là ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, đến sự tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế du lịch khác
Về chính trị
Có thể nói không một ngành kinh tế nào lại có thể nhạy cảm với tình hình chính trị - an ninh trật tự xã hội như ngành du lịch, xét cho đến cùng, đi du lịch
Trang 36không phải để nghỉ ngơi, tham quan mà còn để tìm hiểu cuộc sống Chính vì vậy chỉ cần một sự bất ổn nhỏ trong tình hình an ninh - chính trị có thể tác động rất lớn đến hoạt động du lịch, trước hết là cầu du lịch, sau đó đến cung du lịch
Ổn định chính trị là yếu tố đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế - chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia trên thế giới Bầu chính trị hòa bình ổn định, hữu nghị sẽ kích thích sự phát triển của du lịch quốc tế Trong phạm vi các mối quan hệ kinh tế, sự giao lưu về du lịch giữa các nước trong khu vực, trên toàn cầu không ngừng phát triển Nếu một vùng có chiến tranh hoặc các cuộc xung đột thường xảy ra thì khách du lịch ở các vùng lân cận sẽ e ngại, không đến khu vực vực đó để du lịch Nếu trên thế giới vùng nào có tình hình chính trị căng thẳng thì hoạt động du lịch ở khu vực đó khó có điều kiện phát triển
Về xã hội
Trong phát triển du lịch văn hóa về mặt xã hội đòi hỏi ngành du lịch phải
có những đóng góp cho quá trình phát triển của toàn xã hội như: tạo công ăn việc làm, tham gia xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nơi có tài nguyên đang được khai thác cho hoạt động du lịch, chia sẻ lợi ích từ các hoạt động du lịch, đảm bảo sự tiến bộ, công bằng xã hội, góp phần
hỗ trợ cá ngành khác cùng phát triển
Mức độ phát triển hệ thống các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ: Việc
phát triển hệ thống các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ có ý nghĩa lớn về mặt
xã hội, tạo điều kiện cho một bộ phận người lao động địa phương có việc làm, cải thiện chất lượng cuộc sống, nâng cao dân trí… Bên cạnh đó đây còn là môi trường thu hút được nguồn lực to lớn của xã hội (nhân lực, trí lực, vật lực) cho phát triển du lịch phù hợp với tính chất xã hội hóa cao của ngành du lịch
Tác động đến xã hội từ các hoạt động du lịch: Để đảm bảo sự phát triển du
lịch văn hóa về mặt xã hội, vấn đề đặt ra là các tác động tiêu cực đến xã hội từ các
Trang 37hoạt động phát triển du lịch như: sự du nhập văn hóa, lối sống không phù hợp với văn hóa, với thuần phong mỹ tục… của du khách cần được kiểm soát và quản lý
Mức độ hài lòng và hợp tác của cộng đồng địa phương đối với các hoạt động du lịch: Để đảm bảo cho sự phát triển của loại hình du lịch văn hóa cần cố
sự ủng hộ và hợ tác của cộng đổng dân cư địa phương – chủ nhân của các nguồn tài nguyên du lịch Do vậy mức độ hài lòng của cộng đồng dân cư đối với các hoạt động du lịch sẽ phản ánh mức độ phát triển của hoạt động du lịch
Về môi trường
Phát triển du lịch văn hóa bền vững là phải khai thác và sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch cần phải có qui hoạch, có sự giám sát quản lý chặt chẽ của các cơ quan chức năng để đáp ứng được nhu cầu khai thác cho du lịch hiện tại nhưng phải đảm bảo được nhu cầu phát triển cho phát triển du lịch trong tương lai
Các tiêu chí cơ bản về môi trường được xem xét là:
Tỷ lệ các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo tồn: Các khu, điểm
du lịch là hoạt động trong phát triển du lịch, trong đó tài nguyên du lịch đóng vai trò trung tâm Tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc thì sức hấp dẫn
và hiệu quả du lịch ngày càng cao Phát triển du lịch phải đi đôi với việc bảo tồn tôn tạo, khai thác có chọn lọc và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, nhất là nguồn tài nguyên không tái tạo
Áp lực đối với môi trường tại các khu, điểm du lịch: Việc phát triển quá
nhanh các hoạt động du lịch mà không chú trọng đến công tác đánh giá và quản
lý tác động đến môi trường tại các khu phát triển du lịch sẽ là nguyên nhân chính gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường và hậu quả sẽ dẫn đến
sự hủy hoại môi trường, hạn chế sự phát triển du lịch trong tương lai
Cường độ hoạt động tại các khu, điểm du lịch: Sự gia tăng về số lượng
khách là tiêu chí quan trọng trong việc phát triển về mặt kinh tế của ngành du
Trang 38lịch Tuy nhiên việc gia tăng mạnh mẽ, quá nhanh về số lượng khách đồng nghĩa với việc tài nguyên du lịch bị khai thác quá mức để đáp ứng cho các nhu cầu của khách du lịch dẫn đến tình trạng suy thoái và cạn kiệt nguồn tài nguyên Sự gia tăng nhanh của du khách còn gây ra hiện tượng quá tải về chất thải tại các điểm
du lịch dẫn đến sự suy thoái về môi trường Do vậy để bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên cần phải có chiến lược nhằm giới hạn số lượng khách đến trong một chu kỳ phát triển, điều này sẽ giúp cho việc duy trì và bảo vệ sự đa dạng sinh học, đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn năng lượng để phục vụ du khách
Mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho công tác bảo tồn, phát triển và bảo vệ môi trường: Mức độ đóng góp của ngành du lịch cho công tác bảo tông
và nâng cấp nguồn tài nguyên thể hiện qua tỷ lệ giữa phần đóng góp và tổng nguồn thu Tỷ lệ này càng lớn thì mức đóng góp càng cao và đảm bảo cho việc khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển du lịch
1.2.3 Các yếu tố tác động đến việc phát triển du lịch văn hóa
1.2.3.1 Điều kiện tự nhiên
Các điều kiện tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyên nhiên nhiên về du lịch là: địa hình đa dạng; khí hậu ôn hòa; động thực vật phong phú, giàu tài nguyên nước và vị trí địa lý thuận lợi
Địa hình, khí hậu: Đối với việc phát triển du lịch địa hình của một vùng
đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút khách Mỗi loại địa hình sẽ phù hợp với từng loại hình du lịch khác nhau Đối với loại hình du lịch văn hóa thì địa hình đồng bằng sẽ tập trung nhiều tài nguyên du lịch nhân văn, đặc biệt là các di tích lịch sử văn hóa và là nơi hội tụ các nền văn minh của loài người… đây là những yếu tố quan trọng để phát triển du lịch văn hóa Những nơi có khí hậu ôn hòa thường được khách du lịch ưa thích Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau
Trang 39Tài nguyên nước: Đối với du lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất to
lớn Nó bao gồm đại dương, biển, hồ, sông, hồ nước nhân tạo… vừa tạo điều kiện để điều hòa không khí, phát triển mạng lưới giao thông vận tải nói chung, vừa tạo điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch nói riêng
Vị trí địa lý: Vị trí địa lý thuận lợi là điều kiện quan trọng để phát triển du
lịch Ngày nay với sự phát triển không ngừng của ngành vận tải thì khoảng cách địa lý không còn là vấn đề quá quan trọng trong phát triển du lịch, tuy nhiên ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi, khoảng cách giữa các điểm du lịch không quá xa với địa điểm gửi khách du lịch sẽ là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch vì du khách sẽ không phải mất nhiều thời gian, tiền bạc cho quá trình di chuyển địa điểm giữa các điểm du lịch
1.2.3.2 Trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Du lịch là ngành kinh tế trực tiếp gắn bó với con người và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, phát triển của con người Do đó, trình độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, một vùng tác động đến cung và cầu về du lịch Kinh tế xã hội phát triển đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sinh tồn của con người, đồng thời làm xuất hiện những nhu cầu khác như: nghỉ ngơi, giải trí, du ngoạn… ở những nước nền kinh tế kém phát triển, thu nhập thấp thì nhìn chung hoạt động du lịch
ở nước đó cũng hạn chế Còn những nước có nền kinh tế phát triển thì hoạt động
du lịch diễn ra đa dạng Yếu tố trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng trực tiếp đối với việc phát triển du lịch văn hóa vì khi trình độ kinh tế - xã hội phát triển thì mới làm xuất hiện nhu cầu đi du lịch từ đó mới góp phần thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa
1.2.3.3 Trình độ nhận thức của xã hội về phát triển du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với Việt Nam song
đã có một lịch sử lâu dài trên thế giới Tổ chức du lịch thế giới (WTO- World Tourism Organization) từng thống kê du lịch văn hóa đóng góp khoảng 37% du lịch toàn cầu và dự báo có thể tăng khoảng 15% mỗi năm Có rất nhiều quốc gia thế giới khai thác hiệu quả loại hình này
Trang 40Để du lịch văn hóa phát triển được yếu tố trình độ nhận thức của xã hội về phát triển du lịch văn hóa cũng rất quan trọng Khi xã hội nhận thức đúng đắn về
vị trí và vai trò của việc phát triển du lịch văn hóa trong đời sống sẽ thúc đẩy sự phát triển của loại hình du lịch này
Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa: việc nâng cao nhận thức về phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa có tác dụng khắc phục những nhận thức, hạn chế không đúng trong thời gian qua Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa là cơ sở tạo ra các giá trị văn hóa để tự hào, giới thiệu với thế giới Du lịch là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt, nó phát triển trên
cơ sở khai thác các giá trị di sản để tạo ra những sản phẩm hấp dẫn, thu hút du khách Để nâng cao nhận thức về phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy các
di sản văn hóa, cần tăng cường phổ biến, giải thích các quy định hiện hành về bảo vệ di sản văn hóa như: Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, Luật Di sản văn hóa Việt Nam, cũng như các nghị định, hướng dẫn thi hành Tuyên truyền rộng rãi các chương trình, kế hoạch phát triển du lịch Xây dựng ý thức trách nhiệm giữ gìn giá trị di sản văn hóa cho khách khi đi du lịch Tuyên truyền, quảng bá tiềm năng phát triển du lịch từ giá trị di sản văn hóa thông qua các cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình… Tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến, tập trung giới thiệu rộng rãi tài nguyên du lịch văn hóa cho
du khách trong và ngoài nước thông qua ấn phẩm quảng cáo, tập gấp, sách hướng dẫn, internet, hội chợ, triển lãm, hội nghị
1.2.3.4 Hợp tác, liên kết vùng - yếu tố quan trọng hàng đầu trong phát triển du lịch văn hóa
Du lịch là hoạt động kết nối những không gian và thời gian khác nhau để tạo nên những chương trình du lịch Với bản chất “động” của mình, hoạt động
du lịch cũng sẽ kết nối các cá nhân, tổ chức, địa phương lại với nhau để đáp ứng