30 Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh .... Trong thông báo
Trang 1TRẦN THỊ HOA HƯỜNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2017
Trang 2TRẦN THỊ HOA HƯỜNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: ThS NGUYỄN NHƯ AN
NGHỆ AN - 2017
Trang 33 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp mới của đề tài 4
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 7
1.2.1 Khái niệm “giải pháp” 7
1.2.2 Khái niệm “Đội ngũ” 8
1.2.3 Khái niệm “Cán bộ” 8
1.2.4 Khái niệm “Quản lý” 8
1.2.5 Quản lý giáo dục 9
1.2.6 Quản lý trường học 11
1.2.7 Đội ngũ cán bộ quản lý 12
1.2.8 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông 13
1.3 Đội ngũ CBQL trường THPT trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và đào tạo 14
1.3.1 Vị trí, vai trò của người CBQL trường THPT 14
Trang 41.4.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ quản lý 20
1.4.2 Công tác tuyển chọn, sử dụng đội ngũ 20
1.4.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng 21
1.4.4 Công tác kiểm tra, đánh giá, sàng lọc đội ngũ 22
1.4.5 Cơ chế, chính sách đối với đội ngũ CBQL 24
1.4.6 Công tác thi đua khen thưởng đội ngũ 25
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường THPT 26
1.5.1 Các yếu tố khách quan 27
1.5.2 Các yếu tố chủ quan 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 31
2.1 Khái quát về lịch sử, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Hà Tĩnh tỉnh Hà Tĩnh 31
2.1.1 Vài nét về thành phố Hà Tĩnh 31
2.1.2 Các điều kiện xã hội 32
2.2 Khái quát về giáo dục Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh 34
2.2.1 Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên: 265 34
2.2.2 Quy mô trường lớp THPT thành phố Hà Tĩnh tỉnh Hà Tĩnh 35
2.2.3 Số lượng, chất lượng học sinh 36
2.2 Khái quát về giáo dục Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh 36
Trang 5tỉnh Hà Tĩnh 40
2.3.1 Số lượng 40
2.3.2 Trình độ 40
2.3.3 Cơ cấu giới, độ tuổi và thâm niên quản lý 42
2.3.4 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hà Tĩnh 44
2.3.5 Đánh giá chung về đội ngũ CBQL các trường Trung học phổ thông thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 53
2.4 Thực trạng về công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông thành phố Hà Tĩnh tỉnh Hà Tĩnh 54
2.4.1 Công tác quy hoạch, bổ nhiệm 55
2.4.2 Công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, bãi miễn 57
2.4.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng 58
2.4.4 Công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá 60
2.4.5 Công tác thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật 61
2.5 Những thành công và hạn chế về công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông thành phố Hà Tĩnh tỉnh Hà Tĩnh 64
2.5.1 Thành công 64
2.5.2 Hạn chế 65
2.6 Những thuận lợi, khó khăn trong công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL ở các trường Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh 65
2.6.1 Thuận lợi 65
Trang 63.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý trường Trung học phổ thông 68
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 68
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 68
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 68
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 69
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh 69
3.2.1 Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông phù hợp với nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục thành phố Hà Tĩnh 69
3.2.2 Hoàn thiện quy hoạch đội ngũ CBQL ở các trường Trung học phổ thông 76
3.2.3 Thực hiện công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, bãi miễn 80
3.2.4 Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng 83
3.2.5 Đổi mới nội dung, hình thức thanh tra, kiểm tra, đánh giá 89
3.2.6 Hoàn thiện chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật phù hợp với thực tiễn địa phương nhằm hỗ trợ, khuyến khích, động viên CBQL 94
3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 96
3.3.1 Thực hiện đồng bộ các giải pháp 96
3.3.2 Phát huy nội lực và khai thác ngoại lực để thực hiện các giải pháp 97
3.4 Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất 98
Trang 71 Kết luận 102
2 Kiến nghị 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhìn chung trong lĩnh vực GD-ĐT, đội ngũ nhà giáo và CBQLGD là lực lượng nòng cốt trong việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Đội ngũ CBQL trường học là một
bộ phận của đội ngũ CBQLGD, đóng vai trò quyết định trong việc bảo đảm thực hiện thành công chính sách giáo dục và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục Vì vậy, Đảng, Nhà nước ta cũng hết sức quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ: "Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"[1] Trong thông báo kết luận số 242-TB/TW ngày 15/9/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển GD-ĐT đến năm 2020 đã đề ra mục tiêu: “Phấn đấu đến năm 2020, nước ta có một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế” và chỉ đạo thực hiện bảy nhóm giải pháp phát triển giáo dục đến năm 2020, trong đó, một trong những giải pháp hết sức quan trọng được đặt ra là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng” [5] Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục nước ta được xây dựng ngày càng đông đảo, phần lớn có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng nâng cao Đội ngũ đó góp
Trang 9phần quan trọng thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta
Trong những năm gần đây, đội ngũ CBQL trường học nói chung và đội ngũ CBQL trường Trung học phổ thông nói riêng ở thành phố Hà Tĩnh đã có bước phát triển khá mạnh, đủ về số lượng, chuyển biến tích cực về chất lượng Phần lớn CBQL trường Trung học phổ thông trong thành phố có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và năng lực quản lý nhà trường cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Tuy vậy, chất lượng đội ngũ CBQL trường Trung học phổ thông thành phố Hà Tĩnh thực tế không đồng đều, năng lực quản lý nhà trường của một bộ phận cán bộ chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện nay Một số CBQL trường Trung học phổ thông của thành phố ít được cập nhật về nghiệp vụ QLGD hiện đại, chủ yếu quản lý dựa vào kinh nghiệm, thiếu các kiến thức về pháp luật, quản trị nhân sự, tài chính, hạn chế về trình độ ngoại ngữ, tin học nên chất lượng, hiệu quả công tác chưa cao Một bộ phận CBQL trường Trung học phổ thông chưa được đào tạo bồi dưỡng về lý luận và nghiệp vụ quản lý nhà trường nên thiếu kiến thức và kỹ năng quản lý, vì vậy, lúng túng, thiếu linh hoạt sáng tạo, ngại đổi mới trong quản lý, điều hành các hoạt động của nhà trường
Chính vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông thành phố Hà Tĩnh tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay là rất quan trọng và cần thiết không chỉ đối với ngành Giáo dục - Đào tạo mà còn đối với sự phát triển văn hóa kinh tế của thành phố Căn cứ vào những lý do trên, tôi
chọn đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý trường Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông thành phố Hà Tĩnh tỉnh Hà Tĩnh, đáp ứng yêu cầu đối mới căn bản, toàn diện nền giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Trang 103 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh
4 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng hợp lý một số giải pháp có căn cứ khoa học và có tính khả thi như đã dược đề xuất trong luận văn thì sẽ nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường Trung học phổ thông thành phố Hà Tĩnh tỉnh Hà Tĩnh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài
5.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
trường Trung học phổ thông thành phố Hà Tĩnh tỉnh Hà Tĩnh nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Ngành giáo dục và các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý của các Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và các cán bộ quản lý khác của trường Trung học phổ thông thuộc địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo, chuyên viên Sở giáo dục; điều tra bằng phiếu hỏi đối với Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và một số giáo viên các trường Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh
Trang 11- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia về công tác tổ chức cán bộ và các nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục bậc Trung học phổ thông
- Phương pháp điều tra, khảo sát…
6.3 Phương pháp thống kê toán học: Dùng để xử lý các kết quả nghiên
cứu
7 Đóng góp mới của đề tài:
- Hệ thống được cơ sở lý luận về cán bộ quản lý và vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
- Đề xuất và vận dụng các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý trường Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý trường Trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và công tác nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh
Hà Tĩnh
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
trường Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
1.1.1 Trên thế giới
Ở Trung Quốc, trong lịch sử Trung hoa cổ đại (những năm 500 đến 300 TCN), đã xuất hiện tư tưởng quản lý của Khổng Tử nhằm mục đích đào tạo ra lớp người cai trị xã hội, tư tưởng đó được xây dựng trên cốt lõi triết lý của đạo nhân với các yếu tố: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng Những tư tưởng trên, tuy chưa thực sự chuyên sâu về quản lý nhưng đã đặt nền móng cho việc hình thành tư tưởng về nâng cao chất lượng những người làm công tác quản lý trong xã hội lúc bấy giờ
Giữa thế kỷ 18, một số nhà khoa học như: Robert Owen (1771 - 1858), nhà
xã hội không tưởng vĩ đại người Anh hay Charles Babbage (1792 - 1871), nhà toán học người Anh đã đưa ra những quan điểm: tìm giải pháp quản lý với việc nâng cao năng suất lao động và nâng cao trình độ quản lý Tiếp đó, Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915) với công trình tiêu biểu là cuốn “Những nguyên tắc quản lý khoa học” (The Principles of Scientific Management) xuất bản năm 1911, trong công trình này, F.W Taylor đã đưa ra bốn nguyên tắc quản lý khoa học đề cập đến việc tuyển chọn, huấn luyện công nhân, sự hợp tác cần thiết của người quản lý với người bị quản lý nhằm nâng cao chất lượng của người quản lý Kế đó, Henri Faylor (1841 - 1925), một kỹ nghệ gia người Pháp có công trình “Tổng quát về quản lý - hay Thuyết quản trị” (Adiministration Industriell et Generale) xuất bản năm 1916
mà cống hiến lớn nhất của ông là đưa ra 5 chức năng cơ bản quản lý, 16 quy tắc về chức trách quản lý và 14 nguyên tắc quản lý hành chính [18] Theo ông, nếu người
QL có đủ phẩm chất và năng lực, kết hợp nhuần nhuyễn các chức năng, quy tắc và nguyên tắc QL thì chất lượng và hiệu quả công việc, năng suất lao động được nâng cao Từ những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, một trường phái tiếp cận về quản lý trên
Trang 13cơ sở xem xét những yếu tố văn hóa giữa con người với con người đã xuất hiện với công trình nghiên cứu của William, Giáo sư trường Đại học California, Mỹ Ông đã khẳng định, yếu tố quan trọng của văn hóa trong quản lý và nêu ra 7 yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý được mô tả trong sơ đồ 7S: Strategy (chiến lược), Skills (kỹ năng), Style (cách thức), System (hệ thống), Structure (cơ cấu), Shared value (các giá trị chung) và đặc biệt là Staff (đội ngũ) Thông qua mô hình và phân tích đặc điểm của 7 yếu tố trên, chúng ta sẽ thấy giá trị của chất lượng đội ngũ những người quản lý [23]
Trong quá trình xã hội công nghiệp có sự bùng nổ thông tin và chuyển dần thành xã hội thông tin, các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý đã có các công trình về QL trong môi trường luôn biến đổi, quản lý theo quan điểm hệ thống, QL tình huống [9] và vấn đề chất lượng người quản lý thực sự đã được đề cập tới với những yêu cầu và cách thức nâng cao chất lượng đội ngũ Cụ thể một số công trình nổi tiếng, đó là của Harold Koont, Cyrii Odonell, Heinz Weihrich với tác phẩm nổi tiếng: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, công trình này đề cập nhiều hơn về yêu cầu chất lượng của người quản lý Gần đây, Trung Quốc đang thành công trên con đường phát triển và hội nhập với thế giới, đã xuất hiện công trình nghiên cứu
“Khoa học lãnh đạo hiện đại” [23] Trong công trình này, các tác giả đã chú ý nêu vấn đề chất lượng của cán bộ lãnh đạo và quản lý Năm 1991, tổ chức UNESCO đã xuất bản cuốn “Quản lý hành chính và sư phạm” của Jean Valérien, nhằm giới thiệu các modul về vai trò, chức năng, trách nhiệm, yêu cầu chất lượng và nhiệm
vụ của người Hiệu trường trường Trung học phổ thông
1.1.2 Ở Việt Nam:
Đề cập đến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969) về công tác quản lý, chúng ta nhận thấy nhiều quan điểm chỉ đạo của Người đều nhắc đến tầm quan trọng của người cán bộ quản lý Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [20]
Trang 14Từ những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước cho đến nay đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục có giá trị đó là: "Giáo trình khoa học quản lý"của tác giả Phạm Trọng Mạnh (NXB ĐHQG Hà Nội năm 2011);
"Khoa học tổ chức và quản lý một số vấn đề lý luận và thực tiễn"của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý (NXB thống kê Hà Nội 1999); "Tâm lý xã hội trong quản lý"của Ngô Công Hoàn (NXB ĐHQG Hà Nội năm 2002); "Tập bài giảng lý luận đại cương về quản lý"của tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc [8] Bên cạnh đó còn một số bài viết đề cập đến quản lý giáo dục như: "Vấn đề kinh tế thị trường, quản lý nhà nước và quyền tự chủ các trường học" của tác giả Trần Thị Bích Liễu - Viện KHGD đăng trên tạp chí giáo dục số 43 tháng 11 năm 2002 Từ trước đến nay có nhiều đề tài nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường học nói chung và CBQL trường Trung học phổ thông nói riêng Tuy nhiên trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, thành phố Hà Tĩnh chưa có
đề tài nào đi sâu nghiên cứu về biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường Trung học phổ thông Việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường Trung học phổ thông Thành phố Hà Tĩnh có ý nghĩa
về mặt lý luận và thực tiễn trong việc đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục Trung học phổ thông của địa phương trong điều kiện mới
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm “giải pháp”
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện khoa học xã hội Việt Nam, giải pháp có nghĩa là: Phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể Còn theo tác giả Nguyễn Văn Đạm “Giải pháp là toàn bộ những ý nghĩa có hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn” [10]
Theo tác giả Đặng Bá Lãm, "Phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ chuyển biến mất và cái mới ra đời v.v Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi
Trang 15vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao Còn cái cao là cái thấp đã phát triển" [19]
1.2.2 Khái niệm “Đội ngũ”:
Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ Ngày nay khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như: "Đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y, bác sỹ "đều xuất phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân sự về đội ngũ đó là: "Khối đông người được tập hợp lại một cách chỉnh tề và được tổ chức thành lực lượng chiến đấu"
Khái niệm đội ngũ tuy có các cách hiểu khác nhau nhưng đều có chung một điểm đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều
có chung một mục đích nhất định
Từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần
1.2.4 Khái niệm “Quản lý”
Trên nhiều phương diện và cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:
- Từ điển Tiếng Việt: Đặt quản lý trong vai trò một động từ và định nghĩa:
“Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [29]
Trang 16- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là sự tác động liên tục, có
tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm duy trì tính trội của hệ thống, sử dụng một cách tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện môi trường luôn biến động" [24]
- “Quản lý - đó là chức năng của hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh vật, xã hội, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động."(Đại bách khoa toàn thư, Liên Xô 1977)
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, tác giả người Mỹ Harold Koont đã đưa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường
mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý
là một nghệ thuật; còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [15]
- Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [17]
- Xét quản lý dưới góc độ là một hành động, tác giả Vũ Ngọc Hải cho rằng:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [16]
Nói đến quản lý, chúng ta phải đề cập đến 5 yếu tố: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu, phương pháp và công cụ quản lý
1.2.5 Quản lý giáo dục
Xã hội tồn tại và phát triển dựa trên yếu tố đầu tiên là sản xuất ra của cải vật chất Ph.Ăngghen viết: “Các Mác là người đầu tiên đã phát hiện quy luật phát triển
Trang 17của lịch sử loài người, nghĩa là tìm ra cái sự thật đơn giản… là trước hết con người cần phải ăn, uống, mặc và ở trước khi có thể lo đến làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo,…” [8]
Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục Vậy, quản lý Nhà nước về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ
Quản lý GD là một bộ phận quản lý xã hội nói chung Có thể nói “Quản lý là yếu tố rất quan trọng tác động đến chất lượng đào tạo" [24] Quản lý nói chung là 1 trong 5 nhân tố phát triển kinh tế - xã hội; quản lý GD là nhân tố quan trọng để phát triển sự nghiệp GD
Hiểu QLGD theo tác giả Đặng Quốc Bảo: là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội [4]
“QLGD (vi mô) được hiểu là những tác động trực tiếp (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể QL đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường” [18]
Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCHTW Đảng khoá VIII viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất" [11]
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý GD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho sự vận hành theo đường lối GD của Đảng thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - GD thế hệ trẻ, đưa GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất" [24]
Trang 18Như vậy, khái niệm quản lý GD được diễn đạt dưới nhiều góc độ tiếp cận nhưng tất cả đều hội tụ ở bản chất của quản lý GD Chúng ta có thể thống nhất rằng: Quản lý GD là những tác động có ý thức, có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và GD diễn ra ở các cơ sở giáo dục
Theo Đặng Quốc Bảo: "trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy - trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở" [2]
1.2.6.2 Quản lý trường học:
Nhà trường là tổ chức GD cơ sở trực tiếp làm công tác GD đào tạo Trong Luật giáo dục 2005, khoản 2, điều 48, đã quy định: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân, thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục” [25]
QL trường học là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống QLGD nói chung Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường
Trang 19vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [15]
QL nhà trường về bản chất là QL con người Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội - nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động QL của chính bản thân
Như vậy: QL trường học nói chung và QL trường THPT nói riêng là tổ
chức chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt động học của trò; đồng thời, QL những điều kiện CSVC, công việc phục vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục đích giáo dục và đào tạo Xét về bản chất, QL con người trong nhà trường là tổ chức một cách hợp lý lao động của GV và HS, là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của việc đào tạo con người
1.2.7 Đội ngũ cán bộ quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt: Đội ngũ là tập hợp gồm số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ, nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định [29]
Có thể hiểu đội ngũ là một tập thể gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc
Ví dụ: "Đội ngũ trí thức"; "Đội ngũ nhà giáo"; "Đội ngũ y, bác sỹ" v.v Khi xem xét đội ngũ người ta thường chú ý tới ba yếu tố tạo thành đó là: Số lượng, cơ cấu đội ngũ; trình độ đội ngũ; phẩm chất, năng lực đội ngũ
Theo đó, đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông được hiểu là tập hợp những người làm công tác quản lý ở các trường Trung học phổ thông, là
Trang 20những người thực hiện điều hành quá trình giáo dục diễn ra trong nhà trường Trung học phổ thông, đây là những chủ thể quản lý bên trong nhà trường
1.2.8 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông
Có thể nói nền kinh tế tri thức đã và sẽ làm thay đổi hẳn cơ cấu kinh tế lao động, nền kinh tế chủ yếu dựa vào trí tuệ con người Tri thức ngày càng trở thành nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất Đầu tư cho phát triển tri thức trở thành yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng kinh tế vững chắc Như vậy người "nhạc trưởng"chỉ huy dàn nhạc lúc này không thể như trước được nữa, đòi hỏi phải có trình độ cao hơn, có khả năng quản lý, lãnh đạo giỏi hơn, có tầm nhìn chiến lược xa hơn Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL là điều tất yếu không thể thiếu được, đây cũng là một phần việc quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý thực chất là xây dựng và phát triển cả ba yếu tố: Quy mô, chất lượng, cơ cấu Trong đó, quy mô được thể hiện bằng số lượng Cơ cấu thể hiện sự hợp lý trong bố trí về nhiệm vụ, độ tuổi, giới tính, chuyên môn, nghiệp vụ hay nói cách khác là tạo ra một ê kíp đồng bộ, đồng tâm có khả năng hỗ trợ, bù đắp cho nhau về mọi mặt Chất lượng là yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
Xét về quy mô, chất lượng, cơ cấu dưới góc nhìn về việc phát triển nguồn nhân lực của nền kinh tế tri thức thì nội dung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý bao gồm:
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý chính là thực hiện quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm, sắp xếp bố trí (thể hiện bằng số lượng, cơ cấu)
- Sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý là triển khai việc thực hiện các chức năng quản lý của đội ngũ, thực hiện bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý, phẩm chất chính trị; đánh giá, sàng lọc
Trang 21- Tạo động cơ và môi trường cho sự phát triển là tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ quản lý phát huy vai trò của họ như thực hiện tốt các chính sách đãi ngộ, chế
độ khen thưởng, kỷ luật, xây dựng điển hình tiên tiến nhân ra diện rộng Tạo cơ hội cho cá nhân có sự thăng tiến, tạo ra những ước mơ, hoài bão kích thích cho sự phát triển Tạo cơ hội cho cán bộ quản lý có điều kiện học tập, bồi dưỡng, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm
Từ những lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nêu trên ta thấy: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông thực chất là xây dựng, quy hoạch, bồi dưỡng, tuyển chọn, đào tạo, sắp xếp bổ nhiệm, tuyển dụng cũng như tạo môi trường và động cơ cho đội ngũ này phát triển
Để thực hiện tốt việc này chúng ta cần nghiên cứu đặc điểm của từng địa phương, vùng miền, số lượng và đặc trưng của các trường Trung học phổ thông, bối cảnh về chính trị, kinh tế - xã hội hiện tại, yêu cầu chuẩn đối với cán bộ quản lý cùng những đặc điểm tâm lý của người CBQL để đề ra nội dung, giải pháp cho phù hợp
1.3 Đội ngũ CBQL trường THPT trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và đào tạo
1.3.1 Vị trí, vai trò của người CBQL trường THPT
Trong Luật giáo dục điều 54 ghi rõ: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận” Giúp việc cho Hiệu trưởng là các Phó Hiệu trưởng nhà trường
Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng trường THPT có các vai trò chủ yếu là:
- Đại diện cho chính quyền về mặt thực thi luật pháp, chính sách giáo dục nói chung, các quy chế giáo dục và điều lệ trường THPT nói riêng trong trường THPT Để đảm đương vai trò này, đội ngũ CBQL trường THPT cần có phẩm chất và năng lực về pháp luật (hiểu biết và vận dụng đúng đắn luật pháp, chính sách, quy chế giáo dục và điều lệ trường học vào quản lý các mặt hoạt động của trường THPT);
- Hạt nhân tạo động lực cho bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân lực trường
Trang 22THPT thực hiện các hoạt động giáo dục có hiệu quả hơn Để đảm đương được vai trò này CBQL trường THPT cần có phẩm chất và năng lực về tổ chức và điều hành đội ngũ CBQL cấp dưới, giáo viên, nhân viên và học sinh, năng lực chuyên môn, am hiểu và vận dụng thành thạo các tri thức về tổ chức nhân sự, giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học;
- Chủ trì huy động và quản lý tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị trường học Để đảm đương được vai trò này CBQL trường THPT cần có phẩm chất và năng lực về quản lý kinh tế và năng lực kỹ thuật, hiểu biết về quản lý tài chính
và quản lý cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ;
- Tác nhân thiết lập và phát huy tác dụng của môi trường giáo dục, đó là mối quan hệ giữa các trường THPT với gia đình và xã hội (thực hiện hiệu quả chính sách xã hội hoá giáo dục) Để đảm đương được vai trò này CBQL trường THPT cần phải có phẩm chất và năng lực ứng xử, giao tiếp trong công tác đối ngoại để vận động cộng đồng xã hội tham gia xây dựng và quản lý trường THPT;
- Nhân tố thiết lập, vận hành hệ thống thông tin và truyền thông giáo dục trong trường THPT Để đảm đương được vai trò này, CBQL trường THPT phải
có phẩm chất và năng lực về kỹ thuật quản lý và khai thác mạng Internet để phục vụ cho mọi hoạt động của trường THPT
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của người CBQL trường THPT
Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của đội ngũ CBQL trường THPT được quy định cụ thể trong Luật giáo dục và Điều lệ trường THPT
1.3.2.1 Về chức năng quản lý của CBQL trường phổ thông:
Thực hiện các chức năng cơ bản của quản lý trường THPT theo một chu trình quản lý, đó là:
- Chức năng xây dựng kế hoạch thực hiện các hoạt động của trường THPT;
- Tổ chức thực hiện các kế hoạch trong quản lý giáo dục;
- Chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch;
Trang 23- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch
1.3.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của CBQL trường phổ thông
Điều 19 điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu:
- Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng:
+ Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
+ Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng;
+ Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
+ Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
+ Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;
+ Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương THPT cho học sinh và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh;
+ Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
+ Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường;
+ Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành;
Trang 24thực hiện công khai đối với nhà trường;
+ Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật
- Nhiệm vụ và quyền hạn của Phó Hiệu trưởng:
+ Thực hiện và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về nhiệm vụ được Hiệu trưởng phân công;
+ Cùng với Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước cấp trên về phần việc được giao;
+ Thay mặt Hiệu trưởng điều hành hoạt động của nhà trường khi được Hiệu trưởng uỷ quyền;
+ Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật
1.3.3 Yêu cầu về phẩm chất, năng lực đối với người CBQL trường THPT 1.3.3.1 Những yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, tư tưởng đạo đức
Có lập trường tư tưởng, chính trị vững vàng, đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới
Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là đường lối, chủ trương, chính sách về GD&ĐT
Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật
Có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình, yêu nghề, yêu trẻ
Có tính nguyên tắc, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, khiêm tốn
Gương mẫu về đạo đức, chí công, vô tư, lời nói đi đôi với việc làm, có uy tín với tập thể, với nhà trường
Làm việc tập trung dân chủ, quan tâm, chăm lo và tôn trọng đồng nghiệp
Có ý thức bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực
Trang 25Năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
1.3.3.2 Những yêu cầu cơ bản về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm
Trình độ chuyên môn được đào tạo đạt chuẩn trở lên
Có sự hiểu biết nhất định về các bộ môn học khác trong nhà trường
Có trình độ về lý luận chính trị, kiến thức về quản lý nhà nước
Có trình độ về khoa học quản lý giáo dục, tin học, ngoại ngữ
Có năng lực xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá các hoạt động của nhà trường
Có ý thức tự bồi dưỡng chuyên môn và chăm lo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đời sống của cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường
Có khả năng phát hiện các vấn đề xảy ra trong nhà trường, đưa ra quyết định đúng đắn kịp thời và phù hợp
Biết phối hợp và kết hợp tốt với các lực lượng trong và ngoài nhà trường, làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục
1.3.3.3 Yêu cầu về năng lực quản lý nhà trường
Cán bộ quản lý phải hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, địa phương; nắm bắt kịp thời chủ trương, chính sách và quy định của ngành giáo dục; phân tích tình hình và dự báo được xu thế phát triển của nhà trường Xây dựng được sứ mạng, tầm nhìn của nhà trường; công khai mục tiêu chương trình giáo dục, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục… tạo được sự đồng thuận và ủng hộ nhằm phát triển nhà trường
Xác định được các mục tiêu ưu tiên; thiết kế và triển khai các chương trình hành động …
Chủ động tham gia và khuyến khích các thành viên trong trường tích cực tham gia các hoạt động xã hội
Có khả năng ra quyết định đúng đắn, kịp thời và dám chịu trách nhiệm về các quyết định nhằm đảm bảo cơ hội học tập cho học sinh, nâng cao chất lượng
Trang 26và hiệu quả giáo dục của nhà trường
Tổ chức xây dựng kế hoạch của nhà trường phù hợp với tầm nhìn chiến lược và các chương trình hành động của nhà trường
Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường hoạt động hiệu quả; quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng và thực hiện đúng chế độ, chính sách đối với đội ngũ giáo viên, cán bộ và nhân viên; có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa, đảm bảo sự phát triển của nhà trường Quan tâm đến đời sống tinh thần, vật chất đối với đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên
Quản lý hoạt động dạy học hiệu quả: công tác tuyển sinh, quản lý học sinh, việc thực hiện chương trình các môn học… Tổ chức các hoạt động dạy học của giáo viên theo yêu cầu đổi mới, thực hiện giáo dục toàn diện, phát triển tối đa tiềm năng của người học…
Huy động và sử dụng có hiệu quả, minh bạch các nguồn lực phục vụ các hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường; quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản nhà trường
Xây dựng nếp sống văn hoá, môi trường sư phạm, tạo cảnh quan trường học xanh, sạch đẹp Xây dựng và duy trì mối quan hệ thường xuyên với gia đình học sinh, tổ chức phối hợp với các đoàn thể và các lực lượng trong cộng đồng xã hội
Xây dựng và cải tiến các quy trình hoạt động, thủ tục hành chính của nhà trường, quản lý hồ sơ, sổ sách theo đúng quy định và khoa học
Tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua, động viên khích lệ và đánh giá đúng thành tích của cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh trong trường
Tổ chức xây dựng hệ thống thông tin phục vụ hiệu quả các hoạt động giáo dục, ứng dụng có kết quả công nghệ thông tin
Thực hiện kiểm tra, đánh giá khách quan, khoa học, công bằng các hoạt động trong nhà trường Tiến hành thường xuyên về việc tự đánh giá nhà trường
và kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định
Trang 271.4 Công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường THPT 1.4.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ quản lý
Theo từ điển Tiếng Việt, quy hoạch là “sự bố trí, sắp xếp theo một trình tự hợp lý trong phạm vi không gian và thời gian nhất định” [29] Quy hoạch đội ngũ CBQL là quá trình sắp xếp, bố trí đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực quản lý cho lực lượng kế cận đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn phát triển của nhà trường Quá trình sắp xếp bao gồm các bước:
- Rà soát đội ngũ về số lượng, cơ cấu, chất lượng
- Xây dựng tiêu chuẩn từng chức danh thích hợp
- Đánh giá đúng thực chất đội ngũ CBQL hiện có về chất lượng và khả năng phát triển
- Tạo nguồn CBQL và xây dựng các phương án về đào tạo bồi dưỡng
- Đề bạt, miễn nhiệm và luân chuyển cán bộ theo đúng quy trình
- Chế độ khen thưởng kỷ luật Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL là đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng đội ngũ CBQL cơ sở có phẩm chất đạo đức và tinh thần trách nhiệm; chuẩn hóa, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, phục vụ công cuộc CNH-HĐH đất nước; đó cũng là công tác rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sắp xếp đội ngũ nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục theo quy định
và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
1.4.2 Công tác tuyển chọn, sử dụng đội ngũ
Giáo dục luôn đặt trong sự phát triển để nâng cao nguồn lực, do đó vấn đề tuyển chọn và sử dụng đội ngũ CBQL nói chung, cán bộ quản lý bậc THPT nói riêng là yêu cầu quan trọng, mang tính tất yếu, quyết định chất lượng giáo dục Các trường chỉ có thể hoàn thành mục tiêu đề ra đáp ứng nhu cầu phát triển của
xã hội khi nhà trường có được đội ngũ CBQL có đủ phẩm chất, năng lực, trình
Trang 28độ Việc tuyển chọn, sử dụng đội ngũ CBQL để giúp đội ngũ phát triển và biến đổi theo chiều hướng đi lên đủ về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, có trình độ chuyên môn và trình độ chính trị, năng lực quản
lý vững vàng Chất lượng đội ngũ CBQL được hiểu trên bình diện chất lượng và
số lượng Chất lượng phải bao hàm số lượng Công tác tuyển chọn sử dụng đội ngũ muốn đạt yêu cầu phải gắn với quy hoạch, vì có như thế mới vừa bám sát được nhu cầu thực tế đồng thời đảm bảo cho các định hướng về phát triển lâu dài
Tuyển chọn sử dụng đội ngũ CBQL phải có đủ phẩm chất và năng lực theo tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới, đủ sức lãnh đạo nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, đồng thời phát huy dân chủ trong trường học khi tuyển chọn
và sử dụng đội ngũ CBQL Sử dụng đội ngũ đúng với vị trí, khả năng, sở trường công tác để phát huy được năng lực quản lý của đội ngũ CBQL được thể hiện trên các mặt:
- Bồi dưỡng về lý luận chính trị chuyên môn nghiệp vụ quản lý giáo dục
- Đảm bảo được định mức lao động
- Động viên khen thưởng kịp thời
- Xây dựng tốt mối quan hệ lành mạnh
Tuyển chọn, sử dụng đội ngũ là vấn đề cốt lõi của việc phát triển nguồn nhân lực, nguồn lực quý báu nhất có vai trò quyết định đối với sự phát triển của nhà trường
1.4.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng
Công tác đào tạo là việc huấn luyện, giảng dạy, tập huấn cho một nhóm người, một tổ chức, một xã hội về một vấn đề, và nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định Triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL cơ sở giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo về chất lượng theo hướng chuẩn hóa, theo qui hoạch, kế hoạch Bồi dưỡng CBQL là quá trình bổ sung kiến thức về quản lý trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, những kỹ năng kinh nghiệm mới của nghề
Trang 29nghiệp nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể trong nhà trường Sự phân biệt giữa đào tạo và bồi dưỡng chỉ mang tính tương đối vì trong đào tạo có bồi dưỡng và bồi dưỡng có đào tạo Đào tạo, bồi dưỡng CBQL là quá trình dạy và học những kiến thức, kinh nghiệm của nghề “quản lý” mà ở hệ đào tạo quốc dân chưa có bao gồm: Bồi dưỡng về đường lối chính sách; Nhà nước và quản lý hành chính Nhà nước; Quản lý Nhà nước về GD&ĐT; các hoạt động quản lý giáo dục; Người CBQL trường THPT
và các chuyên đề chuyên biệt
Tổ chức đào tạo bồi dưỡng cần tuân theo các nguyên tắc: Thống nhất giữa bồi dưỡng chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ và các nhiệm vụ đặt ra từ thực tiễn bồi dưỡng theo kế hoạch, kết hợp giữa bồi dưỡng và tự bồi dưỡng, việc bồi dưỡng phải được tiến hành liên tục, có nội dung phương pháp và hình thức bồi dưỡng phù hợp
1.4.4 Công tác kiểm tra, đánh giá, sàng lọc đội ngũ
Kiểm tra là quá trình xem xét các hoạt động nhằm mục đích làm cho các hoạt động đạt kết quả tốt hơn, đồng thời kiểm tra giúp phát hiện những sai sót, lệch lạc để có biện pháp khắc phục, đảm bảo cho hoạt động thực hiện đúng hướng Đánh giá đội ngũ CBQL là một quá trình hoạt động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của CBQL về mục tiêu đã định, nó bao hàm mô tả định tính và định lượng kết quả đạt được thông qua những nhận xét
so sánh với mục tiêu Đánh giá là chức năng cơ bản của kiểm tra, quan hệ mật thiết với kiểm tra, dựa vào kiểm tra và là kết quả của kiểm tra Do đó kiểm tra, đánh giá là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý, đảm bảo tạo lập mối liên hệ nghịch thường xuyên, kịp thời trong quản lý giáo dục làm khép kín chu trình vận động của quá trình quản lý
Trong lộ trình đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục, công tác kiểm tra đánh giá xếp loại đội ngũ cán bộ có ý nghĩa quan trọng Công tác này càng có ý nghĩa hơn khi toàn ngành giáo dục tiếp tục thực hiện Chỉ thị 40 của
Trang 30Ban bí thư về “Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục”và theoThôngtư 29/2009/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và đào tạo ngày 22/10/2009 hướng dẫn đánh giá chuẩn hiệu trưởng Thực hiện đầy đủ, kịp thời việc đánh giá theo chuẩn, các chế độ chính sách đối với nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục, đặc biệt là các nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các cơ sở giáo dục chuyên biệt
Công tác kiểm tra, đánh giá xếp loại CBQL được ngành thực hiện một cách nghiêm túc Với nhận thức, chỉ có kiểm tra chặt chẽ, bài bản thì mới có thể đánh giá xếp loại dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn Nội dung kiểm tra gồm kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức hiểu biết, quản lý của ngành phù hợp với từng cấp học Chương trình kiểm tra kiến thức gồm có kiến thức cơ bản của chương trình cấp học, môn học theo quy chuẩn, có thể thấy rằng, năm học 2014-
2015, là những năm đầu thực hiện kiểm tra nhận thức, nên công tác đánh giá xếp loại ở một số đơn vị chưa chặt chẽ, còn chạy theo “bệnh thành tích”,nên tỷ lệ xếp loại khá giỏi cao, chưa đúng với thực tế Sau khi được ngành chấn chỉnh, năm học 2015-2016 toàn ngành đã có sự đánh giá khách quan,công bằng và chính xác hơn; vì vậy tỷ lệ khá giỏi giảm và tỷ lệ xếp loại yếu, kém tăng Qua xếp loại cũng cần xem xét lại chất lượng đào tạo bồi dưỡng CBQL với trình độ trên chuẩn đào tạo thông qua các kỳ kiểm tra kiến thức, ngành GD&ĐT có thể đánh giá chính xác đội ngũ CBQL,có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, bồi dưỡng lại, sàng lọc đội ngũ nhằm đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục Cũng qua các kỳ kiểm tra, mỗi CBQL cũng tự nhìn nhận lại “trình độ thực” của bản thân mình để
có kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; chống tư tưởng tự mãn, an phận, qua đó có cơ sở tiếp tục bồi dưỡng, sử dụng Kiểm tra đánh giá xếp loại là một trong các giải pháp quan trọng nâng cao trình độ CBQL, yếu tố quyết định nâng cao chất lượng giáo dục Đây sẽ là việc làm thường xuyên của mỗi năm học nhằm tạo động lực cho công tác tự học, tự nghiên cứu, bồi dưỡng của mỗi CBQL
Trang 311.4.5 Cơ chế, chính sách đối với đội ngũ CBQL
Phát triển đội ngũ CBQL giáo dục cần phải có một cơ chế chính sách thích hợp bao gồm: chính sách sử dụng, bố trí, sắp xếp đội ngũ CBQL tạo động lực cho đội ngũ CBQL phát huy được tính năng động sáng tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ quản lý, đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo của đất nước
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước phát triển nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục phải kể đến đó là có cơ chế chính sách sử dụng, bố trí sắp xếp đội ngũ CBQL hợp lý Xây dựng cơ chế chính sách trên cơ sở đặc điểm của mỗi vùng, mỗi đia phương phù hợp với thực trạng tình hình kinh tế - xã hội và chất lượng giáo dục hiện nay sẽ là động lực thúc đẩy sự nghiệp giáo dục địa phương phát triển, khắc phục những bất cập, thiếu hụt của ngành giáo dục so với
sự phát triển của xã hội (đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh
tế khó khăn)
Để phát huy hiệu quả của đội ngũ CBQL giáo dục, Bộ GD&ĐT cần ban hành những chính sách cần thiết nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển đội ngũ CBQL như: Chính sách tiền lương phù hợp, chính sách phụ cấp ưu đãi, chính sách sử dụng nhân tài; chính sách trợ cấp cho đội ngũ nhà giáo và CBQl giáo dục đang công tác miền núi, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới và phát triển nền kinh tế - xã hội
Cơ chế, chính sách sử dụng đội ngũ CBQL giáo dục phải linh hoạt, hợp lý,
đủ mạnh phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường, tạo được động lực khuyến khích đội ngũ này nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghề nghiệp Việc bố trí sắp xếp đội ngũ CBQL giáo dục phải căn cứ vào năng lực, trình độ, phẩm chất khác phù hợp với đặc điểm từng vùng, địa phương ở trong mỗi thời
kỳ phát triển kinh tế - xã hội nhất định Do vậy những vấn đề cần tập trung giải quyết cho công tác phát triển đội ngũ CBQL giáo dục là phải có cơ chế chính
Trang 32sách thích hợp để đảm bảo đủ về cơ cấu đội ngũ sẽ là nhân tố tác động đến tình hình phát triển giáo dục của từng vùng, từng địa phương cũng như trên cả nước
Ở Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành hàng loạt những chính sách như: chính sách cải tiến tiền lương, Quyết định số 973/1997/QĐ-TTg của chính phủ về chế độ phụ cấp đối với giáo viên đứng lớp; Nghị định
số 35/2001/NĐ-CP về chế độ đãi ngộ đối với các nhà giáo công tác ở địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và các trường chuyên biệt, Nghị định số 54/2011 NĐ-CP về chế độ thâm niên đối với nhà giáo Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành nhiều chính sách khác nhằm khuyến khích về tinh thần, đãi ngộ
về vật chất đối với nhà giáo; phong các danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú; kỷ niệm chương về sự nghiệp giáo dục; sinh viên sư phạm được miễn học phí, được cấp học bổng; các trường sư phạm được ưu tiên đầu tư về tài chính, đội ngũ…
1.4.6 Công tác thi đua khen thưởng đội ngũ
Phát huy truyền thống thi đua trong những năm qua, đặc biệt là từ khi có Luật thi đua, Khen thưởng, phong trào thi đua yêu nước trong Ngành giáo dục
có nhiều chuyển biến tích cực, thực sự đã động viên được đội ngũ cán bộ giảng viên, giáo viên, học sinh, sinh viên phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, thu hút được toàn xã hội chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà Công tác thi đua khen thưởng trong thời gian qua đã có những đóng góp quan trọng góp phần thực hiện có hiệu quả trong việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Công tác thi đua, khen thưởng đã từng bước được đổi mới, thể hiện ở nhận thức về công tác thi đua, khen thưởng đã có những chuyển biến cơ bản, phong trào thi đua sôi nổi rộng khắp trong các đơn vị Công tác xét duyệt, lập hồ sơ khen thưởng đã từng bước
đi vào quy củ Hội đồng thi đua, khen thưởng ngành giáo dục và hội đồng thi đua khen thưởng các cấp trong ngành đã thực hiện đúng luật thi đua khen
Trang 33thưởng, công tác tổ chức và chỉ đạo phong trào thi đua chưa đồng đều, chưa quyết liệt Các phong trào thi đua ở một số cơ sở còn yếu, ít quan tâm, nặng về thời vụ, chưa chú ý tới hiệu quả thiết thực Công tác phát hiện, tôn vinh, tuyên truyền và nhân rộng điển hình tiên tiến còn hạn chế Các quy chế, quy định, thủ tục khen thưởng còn rườm rà, nặng về thủ tục hành chính, thiếu kiểm tra đánh giá Chưa chú trọng đến việc phát hiện, nhân điển hình tiên tiến để động viên khuyến khích mà còn chờ vào sự đề nghị của cơ sở Việc kiện toàn bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng ở cơ sở chưa đáp ứng đúng tính chất và tình hình thực tế của ngành, quy định của cấp trên Cán bộ làm công tác thi đua còn thiếu tính chuyên nghiệp, ổn định;
Công tác thi đua khen thưởng đội ngũ CBQL nhằm tạo động lực động viên, khuyến khích và tôn vinh các tập thể, cá nhân phát huy truyền thống yêu nước, hăng hái thi đua “Dạy tốt-học tốt”, năng động, lao động sáng tạo, vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của ngành giáo dục
- Việc khen thưởng phải đảm bảo chính xác, công khai, công bằng, dân chủ
và kịp thời trên cơ sở đánh giá đúng hiệu quả công tác của các tập thể và cá nhân; coi trọng chất lượng tiêu chuẩn, không gò ép để đạt số lượng; việc khen thưởng đối với tập thể, cá nhân không bắt buộc theo trình tự có hình thức khen thưởng mức thấp rồi mới được khen thưởng mức cao hơn; thành tích đến đâu khen thưởng đến đó; thành tích đạt được trong điều kiện khó khăn và có phạm vi ảnh hưởng càng lớn thì được xem xét, đề nghị khen thưởng với mức càng cao;
- Việc xét tặng các danh hiệu thi đua phải căn cứ vào kết quả của phong trào thi đua; cá nhân, tập thể tham gia phong trào thi đua phải có đăng ký thi đua, xác định mục tiêu thi đua, chỉ tiêu thi đua; trường hợp không đăng ký thi đua sẽ không được xem xét, công nhận các danh hiệu trong các phong trào thi đua thường xuyên
Trang 341.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường THPT
Trong thực tế, không thể tính toán hết các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường THPT Mặt khác, mỗi địa phương, mỗi vùng khác nhau lại có những điều kiện khác nhau tạo ra yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng, tác động đến công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường THPT
1.5.1 Các yếu tố khách quan 1.5.1.1 Yếu tố về kinh tế xã hội: Bao gồm dân số, cơ cấu dân số, phân bố
dân cư, tổng sản phẩm xã hội, phân phối xã hội, thu nhập dân cư, cơ cấu việc làm, các quan hệ kinh tế, chính trị…
Dân số tăng hay giảm đều có ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục, dân số tăng, số học sinh các cấp học tăng, yêu cầu trường lớp tăng, đội ngũ cán bộ quản
lý tăng và ngược lại
Tổng sản phẩm xã hội sẽ tạo điều kiện cho việc đầu tư vào giáo dục, nền chính trị ổn định, tiến bộ sẽ tạo điều kiện cho phát triển giáo dục
1.5.1.2 Yếu tố văn hóa: Là những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Nền kinh tế - xã hội nói chung, giáo dục nói riêng không thể phát triển nếu thiếu nền tảng văn hóa Nền văn hóa Việt Nam được tạo lập qua hơn 4000 năm lịch sử, đã trở thành động lực cho việc phát triển giáo dục Truyền thống, phong tục tập quán của từng địa phương ảnh hưởng tới việc bổ nhiệm CBQL
1.5.1.3 Khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ có tác dụng to lớn trong
công tác quản lý, trình độ khoa học – công nghệ càng cao có điều kiện để vận dụng vào công tác quản lý nhằm sớm đạt được những mục tiêu đề ra Những tiến bộ của khoa học công nghệ tạo ra những phương tiện hiện đại sẽ làm tăng hiệu quả của việc tổ chức và thực hiện quá trình quản lý Đặc biệt công nghệ thông tin đã tạo ra những thay đổi lớn trong phương pháp quản lý, thúc đẩy
Trang 351.5.1.5 Định hướng phát triển giáo dục tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011-2020
Xây dựng nền giáo dục - đào tạo tỉnh nhà phát triển đồng bộ, cân đối cơ cấu
và quy mô, đa dạng hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, suốt đời của nhân dân, hướng tới “xã hội học tập” Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, viên chức đủ số lượng, cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ, phẩm chất, đạo đức; hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đảm bảo tốt các điều kiện dạy và học Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đi đôi với đẩy mạnh giáo dục mũi nhọn, coi trọng giáo dục truyền thống, ý thức chấp hành pháp luật nhằm bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, đáp ứng xu thế hội nhập, phát triển của đất nước
Bậc Trung học phổ thông: Có trên 95% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở
vào học trung học phổ thông, học nghề dài hạn, trong đó 80% học sinh trung học
phổ thông; tỷ lệ học sinh thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng hằng năm trên 55% (tổng số dự thi); có 80% trường đạt chuẩn quốc gia
Tập trung xây dựng Trường Trung học phổ thông Chuyên Hà Tĩnh thành trường chất lượng cao của tỉnh và quốc gia Giữ vững vị trí là một trong mười tỉnh thuộc tốp dẫn đầu cả nước về học sinh giỏi quốc gia; hằng năm có học sinh tham gia đội dự tuyển, đội tuyển dự thi học sinh giỏi khu vực và quốc tế
Trang 36- Giáo dục đại học và đào tạo nghề: Nâng cao chất lượng, đi đôi với phát triển hợp lý các mã ngành đào tạo đại học, cao đẳng, trong đó Trường Đại học Hà Tĩnh chủ yếu đào tạo bậc đại học; các trường cao đẳng, trường đào tạo nghề đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc gia Gắn hoạt động giảng dạy với nhu cầu sử dụng và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tăng chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp Phấn đấu có trên 35% học sinh tốt nghiệp trung học cơ
sở, trung học phổ thông được tuyển vào học nghề dài hạn, đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%; lao động qua đào tạo nghề là 55%
- Giáo dục thường xuyên: Đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học Tạo điều kiện để cơ bản số người khuyết tật, trẻ lang thang, cơ nhỡ, người lầm lỗi… được học tập, giúp đỡ hoà nhập và tái hòa nhập cộng đồng
Củng cố hệ thống trung tâm giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề-GDTX đảm bảo tinh gọn, hiệu quả; nâng chất lượng các loại hình liên kết đào tạo theo phương thức “vừa học, vừa làm’’ và hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng
- Hệ thống trường và trung tâm bồi dưỡng chính trị: Xây dựng Trường Chính trị Trần Phú và trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp thành phố đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở, thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ được giao Tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết 07-NQ/TU, ngày 20/11/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
1.5.2 Các yếu tố chủ quan
Là các yếu tố của quá trình giáo dục như: Quy mô học sinh, số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên, mạng lưới trường lớp học, sự phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục, nội dung, chương trình sách giáo khoa đều tác động tới nền giáo dục nói chung và giáo dục THPT nói riêng Đội ngũ giáo viên, CBQL trường học đủ hay thiếu, đào tạo đồng bộ hay không đồng bộ, sự phấn đấu rèn luyện của mỗi cá nhân cán bộ, giáo viên tốt hay không tốt đều ảnh hưởng rất lớn
Trang 37đến công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
Mặt khác yếu tố chủ quan bao gồm cả sự lãnh đạo của cấp ủy, quản lý chỉ đạo của chính quyền và sự tham mưu của cơ quan quản lý giáo dục
Có thể nói đây là những nhân tố mang tính quyết định, những nhân tố chủ quan tác động trực tiếp đến sự nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL Công tác cán
bộ, trong đó có công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL là trách nhiệm của cấp ủy, các tổ chức cơ sở Đảng Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ CBQL có hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu hay không đều phụ thuộc vào ý chí chủ quan, năng lực lãnh đạo của cấp ủy, sự quản lý chỉ đạo của chính quyền và sự tham mưu của cơ quan quản lý giáo dục
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Để làm rõ cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường Trung học phổ thông, luận văn đã phân tích một số khái niệm liên quan đến đề tài Bên cạnh đó luận văn cũng làm sáng tỏ những đặc trưng của cấp Trung học phổ thông đó là vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn trường Trung học phổ thông Chức năng, nhiệm vụ của người CBQL trường học, yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người CBQL trường học trong giai đoạn hiện nay Sau khi trình bày một số khái niệm cơ bản ở chương 1, tác giả đã chú ý đưa ra được những nội dung, yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông
Từ những cơ sở lý luận của đề tài chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát, phân tích thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL ở các trường Trung học phổ thông của Thành phố Hà Tĩnh ở chương 2
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ VÀ CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
2.1 Khái quát về lịch sử, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
2.1.1 Vài nét về thành phố Hà Tĩnh:
Trang 39Thành phố Hà Tĩnh nằm ở trung tâm của tỉnh Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung bộ có vị trí địa lý từ 18° - 18°24’ vĩ độ Bắc, 105053’-105056’ kinh độ Đông, nằm trên trục đường Quốc lộ 1A, cách thủ đô Hà Nội 340 km, thành phố Vinh 50 km về phía Nam; cách thành phố Huế 314 km về phía Bắc và cách biển Đông 12,5 km
- Phía Bắc giáp: Huyện Thạch Hà và huyện Lộc Hà
- Phía Tây giáp: Xã Thạch Đài, xã Thạch Tân, sông Cày (huyện Thạch Hà)
- Phía Nam giáp: Xã Cẩm Bình, xã Cẩm Vịnh (huyện Cẩm Xuyên)
- Phía Đông giáp: Sông Đồng Môn (huyện Thạch Hà, Lộc Hà) Tổng diện tích tự nhiên là 5654,97 ha, dân số 101.557 người, có 16 đơn vị hành chính, gồm 10 phường (Bắc Hà, Nam Hà, Đại Nài, Hà Huy Tập, Tân Giang, Trần Phú, Nguyễn Du, Thạch Quý, Thạch Linh, Văn Yên) và 6 xã (Thạch Bình, Thạch Môn, Thạch Hạ, Thạch Trung, Thạch Hưng và Thạch Đồng)
Với lợi thế là một vùng ven biển, có quốc lộ 1A đi qua, thành phố Hà Tĩnh
có rất nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế biển, công nghiệp, dịch vụ - thương mại, du lịch sinh thái, các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao…
Với vị trí địa lý như vậy nên thành phố Hà Tĩnh có nhiều thuận lợi cho sự lưu thông, trao đổi hàng hóa và phát triển dịch vụ- thương mại
2.1.2 Các điều kiện xã hội:
Năm 2016, dân số của thành phố là 101.557 người, trong đó nữ là 48075 người, chiếm 47.33 % dân số toàn thành phố Với mật độ dân số năm 2016 khoảng 1.707 người/km2, gần gấp đôi mật độ dân số trung bình toàn tỉnh
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố tuy có xu hướng tăng nhưng tỷ lệ tăng không nhiều, bình quân cả thời kỳ 2010 - 2016 tăng 21.000 người tăng bình quân 4.2%/năm Tỷ lệ dân số đô thị không cao, chỉ khoảng 72.32 % Năm 2016 có khoảng trên 73.329 người dân đô thị, tuy nhiên, việc phát triển đô thị đồng hành với tăng dân số cơ học trên địa bàn thành phố
Trang 40Dân cư phân bố không đồng đều, do đặc điểm tự nhiên, dân cư tập trung chủ yếu ở các xã, thị trấn đồng bằng có điều kiện sống thuận lợi Những đơn vị hành chính có mật độ dân số cao là: Phường Bắc Hà, Phường Nam Hà, Phường Thạch Quý, Phường Đại Nài , Phường Tân Giang
Dân số trong độ tuổi lao động năm 2016 là trên 53.121 nghìn người, chiếm 54.06 % dân số toàn thành phố Hiện tại, số lao động đang làm việc trong các lĩnh vực kinh tế là khoảng 41.168 người, chiếm 77.17% lao động trong độ tuổi Trong
đó lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng lớn và giảm dần từ 17.6 % năm 2010 xuống còn khoảng 10.82 % tổng lao động trong độ tuổi vào năm 2016; lao động khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 16.11% năm 2010 lên 18.22 % năm 2016 và lao động trong khu vực các ngành dịch vụ cũng tăng từ 55.04 % năm 2010 lên 67.74 % vào năm 2016 Tuy nhiên lao động dư thừa, nhàn rỗi, thiếu việc làm còn khá lớn, nhất là khu vực nông thôn
Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa cao, năm 2016 toàn thành phố mới có 28.070 lao động đã qua đào tạo, chiếm tỷ lệ 33.7 % tổng lao động Với tỷ lệ này cho thấy nguồn lao động của thành phố Hà Tĩnh chưa đáp ứng được cho nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của thành phố
Nhìn chung, người dân Hà Tĩnh có truyền thống cần cù, chịu khó và có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp (trồng lúa, cây lương thực, cây thực phẩm cây công nghiệp, chăn nuôi) Trong thực tế đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất mới, giúp người dân vươn lên làm giàu, xoá đói giảm nghèo như mô hình vườn - ao - chuồng (VAC), mô hình trồng cây đặc sản, mô hình kinh tế trang trại,… Đây là những nhân tố mới, thúc đẩy kinh tế của thành phố phát triển Tuy nhiên, mặc dù nguồn lao động của thành phố khá dồi dào, tỷ lệ lao động trong độ tuổi có văn hoá nhưng trình độ chuyên môn vẫn còn rất thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, vì vậy khi có nhu cầu về lao động có trình độ tay nghề cao sẽ gây ra khó khăn cho thành phố Trong những năm tới, khi khu công nghiệp Thạch Khê và một số khu đô thị mới hình thành trên địa bàn, nhu cầu đào tạo công nhân sẽ tăng lên