Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy/cô giáo trong Hội đồng chấm luận văn và những người quan tâm đến đề tài "Giải pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình, nhà trườn
Trang 1NGUYỄN HỮU QUANG
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
TRONG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An 2017
Trang 2NGUYỄN HỮU QUANG
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
TRONG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN NHƯ AN
Nghệ An 2017
Trang 3Đại học Vinh, gia đình, các đồng chí, đồng nghiệp
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa Giáo dục, Trường Đại học Vinh; Các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Quản lý Giáo dục K23A (2015-2017) đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Như An,
người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo cơ quan, các đồng chí, đồng nghiệp trong cơ quan Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Nghệ An; đã quan tâm, tạo điều kiện để tôi theo học lớp Thạc sỹ Chuyên ngành Quản lý Giáo dục tại Trường Đại học Vinh
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy/cô giáo trong Hội đồng chấm luận văn và những người quan tâm
đến đề tài "Giải pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình, nhà trường
và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An"
Thành phố Vinh, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Hữu Quang
Trang 4Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chăm sóc sức khỏe sinh sản Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Dân số - Sức khỏe sinh sản
Trang 53 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Đóng góp của luận văn 6
8 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG
GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 8
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 10
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 14
1.2.1 Sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ sinh sản vị thành niên 14
1.2.2 Giáo dục và giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 17
1.2.3 Hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 20
1.2.4 Quản lý, quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 22
1.2.5 Giải pháp và giải pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 25
Trang 6giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 26 1.3.2 Nội dung phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 27 1.3.3 Phương pháp và hình thức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 28 1.4 Một số vấn đề về quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình
và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông 29 1.4.1 Sự cần thiết phải quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình
và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 29 1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 31 1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho
học sinh THPT 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40 Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NGHỆ AN 42
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình giáo dục trung học phổ thông của tỉnh Nghệ An 42 2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội tỉnh Nghệ An 42 2.1.2 Khái quát về giáo dục trung học phổ thông tỉnh Nghệ An 43
Trang 72.2.4 Phương pháp khảo sát 46 2.3 Thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Nghệ An 46 2.3.1 Thực trạng nhận thức của các đối tượng được khảo sát về vai trò hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 46 2.3.2 Nội dung và hình thức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tại Nghệ
An 49 2.4 Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An 55 2.4.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ, giáo viên về vai trò quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản
vị thành niên cho học sinh THPT 55 2.4.2 Thực trạng lập kế hoạch, quản lý chương trình hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An 56 2.4.3 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An 58 2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An 59
Trang 82.4.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho
học sinh THPT tỉnh Nghệ An 61
2.5 Đánh giá chung về thực trạng 64
2.5.1 Mặt mạnh 64
2.5.2 Mặt hạn chế 65
2.5.3 Nguyên nhân 65
Kết luận chương 2 67
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG
GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG, TỈNH NGHỆ AN 69
3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 69
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 69
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 69
3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 70
3.1.4 Đảm bảo tính khả thi 70
3.2 Giải pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Nghệ An 71
3.2.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An 71
3.2.2 Tổ chức, chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Nghệ An 74
3.2.3 Đổi mới nội dung, phương pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Nghệ An 76
Trang 93.2.4 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho
học sinh trung học phổ thông tỉnh Nghệ An 78
3.2.5 Đảm bảo các điều kiện để quản lý hiệu quả hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Nghệ An 81
3.3 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất 86
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 89
2 Kiến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Nhận thức của các đối tượng khảo sát về vai trò của hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 46 Bảng 2.2: Nhận thức của các đối tượng khảo sát về trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 47 Bảng 2.3: Mục đích của hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 48 Bảng 2.4: Nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình 50 Bảng 2.5: Đánh giá hiệu quả của các hình thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An 51 Bảng 2.6: Nhận xét về nội dung các hoạt động phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An 52 Bảng 2.7: Đánh giá về các giải pháp thực hiện hoạt động phối hợp giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT giữa nhà trường và xã hội
đã thực hiện 53 Bảng 2.8: Mức độ hiệu quả của hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình
và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT ……… 54Bảng 2.9 Nhận thức về vai trò quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT .……….55Bảng 2.10 Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT ……… 56
Trang 11Bảng 2.11 Thực trạng quản lý tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT ………58Bảng 2.12 Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT ……… 59Bảng 2.13: Đánh giá về nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản
vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An ……….61Bảng 3.1: Kết quả khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất (%)……… 86
Trang 12Thứ nhất, đầu tư vào trẻ vị thành niên là một việc làm phù hợp với nguyên tắc của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em và Công ước về xóa
bỏ mọi hình thức bạo lực đối với phụ nữ
Thứ hai, đây là cách hiệu quả nhất nhằm củng cố và cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận các thông tin, kiến thức và kỹ năng về chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho thế hệ tương lai
Thứ ba, đầu tư vào trẻ vị thành niên có thể giúp đẩy nhanh cuộc đấu tranh chống đói nghèo và bệnh tật vì nguy cơ bị lạm dụng tình dục, tảo hôn, mang thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS Việc chối bỏ quyền của trẻ vị thành niên được giáo dục và được CSSKSS một cách có chất lượng sẽ kéo dài mãi cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói và bệnh tật, tước đi của các em cơ hội được phát triển tối đa tiềm năng của mình
Thứ tư, đầu tư vào trẻ vị thành niên sẽ giúp tăng cường các nỗ lực của nhân loại nhằm giải quyết các thách thức lớn của thời đại như: biến đổi khí hậu, bất ổn định kinh tế, đô thị hóa và bùng nổ dân số Vì thế, vị thành niên
Trang 13cần phải được đối xử như những đối tác bình đẳng, và cần được trang bị những kỹ năng, năng lực và hiểu biết phù hợp
Cuối cùng, chúng ta không nên quên rằng vị thành niên cũng là một phần đáng kể của thế hệ các công dân toàn cầu hiện tại đang sống, lao động,
và đóng góp cho các gia đình, cộng đồng, xã hội và nền kinh tế Vị thành niên cũng xứng đáng được công nhận, được bảo vệ và chăm sóc, được sử dụng các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu, được tạo cơ hội và được hỗ trợ việc tiếp cận các thông tin, kiến thức về sức khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình một cách bình đẳng, có trách nhiệm
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có một số chủ trương chính sách liên quan đến lứa tuổi vị thành niên như: Luật Trẻ em 2016; Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 4 khoá 7 về chính sách Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nghiên cứu xây dựng giáo trình về tổ chức giáo dục giới tính trong trường học; Bộ Y tế, Uỷ ban Quốc gia Dân số - Kế hoạch hoá gia đình (Nay là Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình) đã đưa nội dung về sức khỏe sinh sản vị thành niên như một hoạt động quan trọng hàng năm trong toàn ngành; Các đoàn thể quần chúng như Hội liên hợp phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên đã quan tâm
tổ chức một số hoạt động nâng cao nhận thức cho các hội viên, đoàn viên về vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên Nhưng vì vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên là một vấn đề mới, khó và phức tạp; do đó, về tổng thể có thể khẳng định rằng các hoạt động cho vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên trong thời gian qua hiệu quả còn rất hạn chế Chúng ta chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện và đầy đủ, cũng như chưa có một hệ thống số liệu, hay kết quả điều tra tin cậy phản ánh tổng thể về tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên
22/3/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính
Trang 14sách Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: "Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 47, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã đạt được kết quả quan trọng, cơ bản đạt được các mục tiêu đã đề ra Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, yếu kém: Chất lượng dân
số đã được nâng lên song chưa vững chắc; kiến thức và kỹ năng sống của thanh niên, vị thành niên về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục,
Để khắc phục tình trạng này, Ban Bí thư Trung ương yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân các cấp cần "tăng cường giáo dục kiến thức và kỹ năng sống cho thanh niên,
vị thành niên về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, hôn nhân và gia đình bằng các hình thức phù hợp"[27].
Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ: "Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở GD - ĐT
và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học, đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội"[7].
Việc giáo dục, cung cấp thông tin, kiến thức và kỹ năng về chăm sóc sức khoẻ sinh sản/Kế hoạch hoá gia đình cho vị thành niên là một quá trình lâu dài liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều đến các mối quan hệ xã hội phức tạp Vì thế, luôn luôn đòi hỏi có sự phối hợp, kết hợp của nhiều lực lượng đoàn thể xã hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm thực
sự sâu sắc của mọi người, mọi gia đình trong xã hội Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội đối với việc giáo dục và cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng về chăm sóc sức khoẻ sinh sản/Kế hoạch hoá gia đình cho người
Trang 15chưa thành niên cần trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản Sự phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục trên, trước là để đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức cũng như hoạt động giáo dục cùng một hướng, một mục đích, một tác động tổ hợp, đồng tâm tạo sức mạnh kích thích, thúc đẩy quá trình phát triển của con người, tránh sự tách rời mâu thuẫn, vô hiệu hóa lẫn nhau
Sự phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục này là yếu tố then chốt để góp phần nâng cao chất lượng dân số, chất lượng giống nòi
Trong những năm qua, công tác Dân số-Kế hoạch hoá gia đình của Nghệ An nói chung và công tác giáo dục, cung cấp thông tin, kiến thức và kỹ năng về chăm sóc sức khoẻ sinh sản/KHHGĐ cho vị thành niên, thanh niên nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn và thách thức Việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên, thanh niên trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn Tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân, mang thai ngoài ý muốn, sinh đẻ và nạo phá thai, nhất là tình trạng nạo phá thai không an toàn trong lứa tuổi vị thành niên đang có xu hướng gia tăng Tỷ lệ phụ nữ bị viêm nhiễm đường sinh sản vẫn còn nhiều và có xu hướng ngày càng trẻ hoá; chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống chậm được cải thiện
Từ thực tiễn đó, chúng tôi chọn đề tài "Giải pháp quản lý hoạt động
phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An" để nghiên cứu
Trang 16Công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An
4 Giả thuyết khoa học
Có thể nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An, nếu đề xuất và thực hiện các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi
5 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5 1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
5.1.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An
5.1.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản
vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An; bao gồm các trường: Trường THPT dân tộc nội trú tỉnh (cơ sở 2), Trường THPT Kỳ Sơn, THPT Quỳ Hợp 2, THPT Quỳ Hợp 3; THPT Quỳ Châu, THPT Quế Phong, THPT Tương Dương 1, THPT Tương Dương 2, THPT Anh Sơn 1, THPT Anh Sơn 2, THPT Thanh Chương 3, THPT Đặng Thúc Hứa, THPT Nam Đàn 1, THPT Yên Thành 3, THPT Cửa Lò, THPT Diễn Châu 5,
Trang 17THPT Hoàng Mai 2; THPT dân lập Ngô Trí Hoà và THPT dân lập Lê Doãn Nhã
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
+ Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu;
+ Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
+ Phương pháp điều tra;
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục;
+ Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phần mềm công thức toán học để xử lý số liệu thu được
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Về mặt lý luận
Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
7.2 Về mặt thực tiễn
Làm rõ thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An
Trang 188 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận và kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục nghiên cứu, luận văn có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An
- Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho
học sinh THPT tỉnh Nghệ An
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề giáo dục giới tính nói chung được nhiều nước ở Châu Âu quan tâm từ rất sớm Có thể nói rằng Thụy Điển là quốc gia đầu tiên nghiên cứu vấn đề này Năm 1921 Thụy Điển đã coi tình dục là quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng nam nữ, là trách nhiệm đạo đức của công dân đối với xã hội Họ đã thành lập Hiệp hội quốc gia tình dục (1933) với mục tiêu là: Thông tin phổ biến kiến thức về giới tính, tình dục; sản xuất và buôn bán
Bộ Giáo dục Thụy Điển đã quyết định đưa thí điểm nội dung giáo dục giới tính vào nhà trường (1942) và đến năm 1956 thì chính thức dạy phổ cập
Hầu hết các nước Đông Âu (Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan), Tây Âu, Bắc Âu cũng có những quan điểm xem xét vấn đề GDGT là vấn đề lành mạnh, họ đã tuyên truyền rộng khắp cho mọi người hiểu rõ những quy luật hoạt động của tình quan hệ tình dục và vấn đề này cũng được đưa vào dạy ở các trường học
Ở Châu Á, do ảnh hưởng của những quan niệm phong kiến và tôn giáo nên GDGT bị xem là lĩnh vực cấm kị Dân số gia tăng quá nhanh, chất lượng cuộc sống không được đảm bảo đã khiến các nước ở Châu Á đã thức tỉnh và nhìn nhận vấn đề một cách thích đáng Họ đã thống nhất ý kiến về tầm quan trọng và sự cần thiết phải GDGT cho thế hệ trẻ, giúp họ làm chủ quá trình sinh sản của mình một cách khoa học, phù hợp với tiến bộ xã hội
Trang 20Giáo dục dân số đã được thực hiện ở một số nước trên thế giới, đặc biệt
ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, trước năm 1994 chính sách dân số và nội dung GDDS của các nước đều tập trung vào các vấn đề dân số phát triển (quy mô dân số, di cư, KHHGĐ…) Mãi đến năm 1994, giáo dục SKSS và SKSSVTN là những vấn đề mới chính thức được thừa nhận tại hội nghị quốc
tế về Dân số và Phát triển ở Cairo - Ai Cập (1994) Sức khoẻ sinh sản được coi là định hướng chỉ đạo của hầu hết các chương trình dân số thế giới Hội nghị này đã thống nhất một chương trình hành động về dân số và phát triển trong 20 năm tới, nó đã đưa ra một khái niệm chiến lược mới về SKSS, đề ra
15 nguyên tắc khẳng định con người mới là trung tâm đối với sự phát triển bền vững Cũng chính tại hội nghị này, một khái niệm mới về SKSS bao gồm tất cả các nội dung liên quan tới tình trạng sức khỏe, quá trình sinh sản và chất lượng cuộc sống đã được trình bày cặn kẽ trong chương trình hành động của ICPD Sau hội nghị này, hàng loạt các quốc gia trên thế giới cũng lần lượt
tổ chức nhiều hội nghị bàn về vấn đề SKSSVTN như:
- Hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh (1995)
- Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại The Hague Hà Lan (1999)
- Hội nghị dân số cấp cao của Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) và Quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA) tại Băng Cốc
Như vậy, ở hầu hết các nước trên thế giới đều đã hết sức quan tâm tới
Thực tế cho thấy, ở một số nước đang phát triển, số sinh ở vị thành niên chiếm tỷ trọng tương đối lớn so với tổng số sinh do mức sinh giảm ở những phụ nữ trưởng thành Bởi phần lớn các trường hợp mang thai ở vị thành niên
là không chủ định và không theo mong muốn nên rất nhiều người trong số này có xu hướng kết thúc bằng nạo phá thai, mà ở nhiều nước thực hiện nạo phá thai là bất hợp pháp và không an toàn Hàng năm trên thế giới có khoảng 100.000 ca tử vong ở tuổi vị thành niên do nạo phá thai không an toàn Hậu quả lâu dài của nạo phá thai còn bao gồm cả bệnh viêm nhiễm đường sinh sản
Trang 21và vô sinh Bên cạnh những bất lợi về sức khoẻ, về tinh thần; mang thai và nạo phá thai VTN còn để lại những hậu quả về mặt kinh tế và xã hội [18]
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Về mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [2]
Ở Việt Nam chúng ta trước đây do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến phương Đông nên việc giáo dục giới tính, giáo dục SKSS cho học sinh chỉ được quan tâm ở khía cạnh đạo đức; còn về nội dung, kiến thức và kỹ năng liên quan đến vấn đề giới tính, tình dục và SKSS hầu như còn bỏ ngỏ và
né tránh, dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc đã xảy ra
Nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện KHHGĐ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và chất lượng của giống nòi, ngay từ những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ XX đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xây dựng, ban hành và thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách dân số Tại Quyết định 216 - CP ngày 26/12/1961 của Chính phủ về việc hướng dẫn sinh
đẻ có kế hoạch do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký đã ghi rõ: "Vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và sự hòa thuận của gia đình, vì để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân ta cần được hướng dẫn một cách thích hợp" [20]
Ngày 24/12/1968 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã có Chỉ thị 176A với nội dung chỉ đạo: “Bộ giáo dục, Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp, tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân gia đình, về nuôi dạy con cái"[20]
Ở nước ta trong giai đoạn từ 1989 đến 1992 các dự án GDDS đã bắt
Trang 22đầu được thử nghiệm Giai đoạn từ 1994 đến 1998 bước đầu đã thể chế hóa GDDS trong nhà trường Lần đầu tiên GDDS được đưa vào chương trình tích hợp GDDS với 5 chủ đề cơ bản: Nhân khẩu học, môi trường, gia đình, giới, dinh dưỡng Các nội dung SKSS đã được chính thức lồng ghép vào nội dung một số môn học từ bậc tiểu học đến trung học và khẳng định rằng trong giai đoạn này trọng tâm của công tác GDDS phải là giáo dục SKSS cho VTN Tháng 10 năm 1996 hội thảo vì SKSSVTN đã nhấn mạnh đầu tư giải quyết vấn đề SKSSVTN là một yêu cầu quan trọng trong vấn đề phát triển đất nước Tuy nhiên, trong giai đoạn này nội dung GDDS quá thiên về DS/KHHGĐ, chưa chú trọng tới SKSS như một mục tiêu ưu tiên quốc gia Với sự ra đời của chương trình mới về giáo dục phổ thông cho giai đoạn sau 2000, các dự
án GDDS mới được xây dựng Mục tiêu GDDS trong giai đoạn này ở các trường phổ thông gồm: Xây dựng chương trình tích hợp GDDS mới phù hợp với trương trình giáo dục phổ thông sau năm 2000 trên tinh thần nhấn mạnh tới SKSSVTN; xây dựng các tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tài liệu tham khảo
và các tài liệu trực quan; tập huấn giáo viên song chúng ta vẫn chưa xây dựng được chương trình GDDS và SKSS cho trung học cơ sở mặc dù các mục tiêu cho cấp học này đã được xác định
Ngày 05/06/2000, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số TTg thành lập “Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống ma túy mại dâm” do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Ủy ban phòng chống AIDS đã tổ chức nhiều hoạt động truyền thông, hoạt động can thiệp tại cộng đồng, tổ chức nghiên cứu, khảo sát thức trạng tình hình nhằm bảo vệ VTN, nâng cao hiểu biết và kỹ năng dự phòng của VTN trước sự tấn công của đại dịch HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội Thông qua các hoạt động đó cũng góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục SKSS cho VTN
61/2000/QĐ-Năm 2004, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em triển khai đề án Mô hình cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/KHHGĐ cho VTN và thanh niên tại 10 tỉnh thành phố Năm 2006 mở rộng ra 28 tỉnh thành phố Mục tiêu chính của
Trang 23đề án nhằm nâng cao nhận thức về SKSS/KHHGĐ, bao gồm các vấn đề liên quan về giới, giới tính, tình dục an toàn, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS góp phần làm giảm các hành vi gây tác hại đến sức khoẻ sinh sản
vị thành niên
Ngày 14/11/2011 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số TTg về việc phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011- 2020, trong phần giải pháp để thực hiện Chiến lược đã chỉ rõ:"Triển khai mạnh, có hiệu quả các hoạt động truyền thông, giáo dục với nội dung, hình thức và cách tiếp cận phù hợp với từng nhóm đối tượng; ưu tiên các đối tượng khó tiếp cận thông tin và dịch vụ dân số, sức khỏe sinh sản Mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản, bao gồm
2013/QĐ-cả giáo dục về phòng ngừa nhiễm HIV, bình đẳng giới, mất cân bằng giới tính khi sinh và sức khỏe tình dục trong và ngoài nhà trường " [21]
Hiện nay vấn đề giải pháp kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác quản lý giáo dục học sinh đã được đề cập từ những góc độ chuyên môn khác nhau trong các công trình đã công bố về giáo dục học, tâm
lý học, quản lý văn hóa, giáo dục Vấn đề phối hợp, quản lý sự phối hợp 3 lực lượng nhà trường - gia đình - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đã trở thành một đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà giáo dục Những nhà giáo dục đã đi sâu vào đề tài này phải kể đến Hà Thế Ngữ, Đức Minh, Đặng Vũ Hoạt, Phạm Khắc Chương, Phạm Cốc đã đề cập đến vai trò, vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội để
Cuốn sách: “Gia đình và cộng đồng với sự nghiệp giáo dục trẻ em” do Nguyễn Trọng Đệ chủ biên đã đề cập nhiều quan điểm, quan niệm, nhiều tư tưởng về giáo dục gia đình và giáo dục xã hội đối với việc giáo dục trẻ em [5]
Tác giả Đức Minh với tác phẩm “Suy nghĩ về trách nhiệm của gia đình
của gia đình trong vấn đề giáo dục trẻ em
Trang 24Tất cả công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu khái quát mà chưa đi sâu vào cụ thể, một số tác phẩm chỉ dừng lại ở việc nêu lên vai trò và trách nhiệm của NT - GĐ - XH trong công tác phối hợp giáo dục học sinh nói chung mà chưa đề cập đến nội dung giáo dục giới tính, tình dục và SKSS cho các em cũng như các giải pháp quản lý sự phối hợp này Vì vậy trong điều kiện công tác của mình, tác giả thấy cần có sự nghiên cứu về các giải pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục SKSS cho các em
Điều đáng quan tâm là trong những năm gần đây tình trạng mang thai ở
vị thành niên cũng tăng lên, bình quân mỗi năm có khoảng 5% em gái dưới 18 tuổi và 19% dưới 19 tuổi đã sinh con (Tổng Cục thống kê và Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNDP) Tuy chưa có số liệu thống kê chính thức nhưng theo một nghiên cứu cho thấy Việt Nam là một trong 5 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới, trong đó có một tỷ lệ không nhỏ là nạo phá thai ở tuổi vị thành niên Các cuộc điều tra chọn mẫu hay biến động dân số trong thời gian qua đều cho thấy số lượng mỗi năm một tăng, theo thống kê y tế, hàng năm Việt Nam có khoảng từ 1, 3 đến 1, 5 triệu ca nạo hút thai, 1/5 trong số này là phụ nữ dưới 20 tuổi [22]
Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong thanh thiếu niên ở nước ta ngày càng gia tăng rõ rệt Theo Cục Phòng chống AIDS, vào những năm đầu 2000, dịch HIV ở Việt Nam bắt đầu tăng nhanh Kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1990 thì tính đến tháng 6 năm 2015 số người nhiễm HIV còn sống được báo cáo là 227.144 người, trong đó có 71.115 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS, và đã có 74.442 người tử vong Đại dịch HIV/AIDS đã có mặt ở 100% số tỉnh hơn 80% số xã, phường, thị trấn Theo ước tính của các chuyên gia, hiện có tới khoảng 260 ngàn người nhiễm HIV đang sống trong cộng đồng Theo Bộ Y tế tỷ trọng thanh niên nhiễm HIV trong độ tuổi dưới 30 chiếm 60% còn trong độ tuổi 13 - 19 chiếm 10% [22]
Trang 25Nghiên cứu công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT tỉnh Nghệ An là bước tiếp tục làm phong phú thêm lý luận về quản lý giáo dục, đồng thời cũng góp phần đề ra được một số giải pháp có hiệu quả, thiết thực, đáp ứng được đòi hỏi của giáo dục của tỉnh nhà; góp phần tạo ra bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận trình độ thế giới, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và con người trong thời kỳ hội nhập của đất nước
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ sinh sản vị thành niên
1.2.1.1 Sức khoẻ sinh sản
Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển năm 1994 tại Cairô (Ai Cập)
đã định nghĩa: “SKSS là trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần
và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn phế trong bộ máy đó Điều này hàm ý, mọi người, kể cả nam và nữ đều có quyền nhận được thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các biện pháp
kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp tùy theo sự lựa chọn của họ đảm bảo cho phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có những đứa con khỏe mạnh [26]
Trong chương trình hành động của Hội nghị nay cũng đã nêu rõ: “SKSS
là trạng thái sung mãn hoàn hảo về thể chất, tinh thần, xã hội và không chỉ là không có bệnh tật hay không bị tàn phế về tất cả những gì liên quan tới hệ thống, chức phận và quá trình sinh sản Như thế, SKSS có nghĩa là mọi người
có thể có cuộc sống tình dục an toàn, hài lòng, họ có khả năng sinh sản, tự do quyết định có sinh con hay không, sinh con khi nào và sinh bao nhiêu con Ngầm hiểu trong điều cuối là quyền của người đàn ông và đàn bà có thông tin, có thể tiếp cận được các biện pháp KHHGĐ an toàn, có hiệu quả, có khả
Trang 26năng chi trả, có thể chấp nhận được, do họ lựa chọn để điều hòa sinh sản nếu như không trái pháp luật; quyền được tiếp cận với những dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp, giúp họ dễ dàng trải qua thai nghén và sinh sản một cách
an toàn, cung cấp cho họ những cơ may để họ có được những đứa con khỏe mạnh Phù hợp với định nghĩa nói trên, chăm sóc SKSS và hạnh phúc về sinh sản, bằng cách đề phòng và giải quyết những vấn đề về SKSS Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục, mà mục đích của nó là tăng cường cuộc sống và mối quan hệ liên quan đến SKSS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.Nội dung SKSS:
- Làm mẹ an toàn, tức là đảm bảo sức khỏe cho bà mẹ, trẻ em trước và sau khi sinh
- KHHGĐ nhằm đảm bảo quyền lợi của các cặp vợ chồng trong việc lựa chọn và sử dụng biện pháp tránh thai, quyền sinh con theo ý muốn, phù hợp với các nguyên tắc về phát triển kinh tế - xã hội
- Giảm tỉ lệ nạo phá thai ở tất cả các lứa tuổi sinh đẻ
- Giảm các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản ở phụ nữ
- Phòng chống nguy cơ mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS
- Giáo dục giới tính rộng rãi cho thanh thiếu niên
- Điều trị và phòng chống các bệnh liên quan đến vô sinh
- Điều trị và phát hiện sớm các bệnh ung thư vú và đường sinh dục
1.2.1.2 Sức khỏe sinh sản vị thành niên
Trong quan niện xưa vấn đề SKSS người ta cho rằng chỉ liên quan đến
Trang 27những người đã có gia đình, những cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ Nhưng trên thực tế (đặc biệt là trong sự phát triển xã hội như hiện nay) ta thấy rằng, thanh thiếu niên chưa có gia đình cũng đã có quan hệ tình dục Do đó, vấn đề SKSS VTN đã trở thành một vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm.
Hiện trạng sức khoẻ sinh sản vị thành niên đang ở mức báo động, điều
Nạn tảo hôn và kết hôn ở tuổi VTN: Theo điều tra của Tổng cục thống
kê, có 17.000 VTN tuổi từ 13 - 14; 126.000 VTN tuổi từ 15-17 đã có vợ có chồng [22] Nguyên nhân của tình trạng trên là do cha mẹ muốn đảm bảo các quan hệ tình dục phải trong khuôn khổ hôn nhân, do quan niệm giá trị chính yếu của con gái là làm mẹ, làm vợ, do các em thiếu cơ hội được học hành và tìm kiếm việc làm
Mang thai ngoài ý muốn, phá thai ở tuổi VTN: Theo kết quả khảo sát của Bộ Y tế năm 2002, có 11,2% VTN có quan hệ tình dục, trong đó có 33,9% không sử dụng biện pháp tránh thai nào Hàng năm có hơn 300.000 phụ nữ thai nghén dưới tuổi 20%, trong đó 80% có thai mà không biết, khoảng 30% số ca phá thai là những phụ nữ trẻ chưa lập gia đình [22] Nguyên nhân của hiện trạng trên là do thiếu hiểu biết, thiếu chỉ dẫn, thiếu các
cơ sở dịch vụ thiên thiện cho nên VTN ít có khả năng thực hiện tình dục an toàn, ít sử dụng các biện pháp tránh thai
Nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS: ở nước
ta tính đến tháng 6 năm 2015 số người nhiễm HIV còn sống là 227.144 người, trong đó có 71.115 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS, và đã có 74.442 người tử vong, trong đó VTN và thanh niên chiếm khoảng 60%[22] Thiếu thông tin, kiến thức, công tác giáo dục, tư vấn về tình dục an toàn còn hạn chế, thiếu các dịch vụ phòng chống HIV/AIDS là nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên
Bị xâm hại và lạm dụng tình dục: Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội, ở nước ta từ năm 2011 – 2015 đã có trên 5.300 vụ
Trang 28xâm hại tình dục trẻ em (bình quân mỗi năm có trên 1.000 vụ); có khoảng 8.000 gái mại dâm trong độ tuổi VTN Theo báo cáo của tòa án tối cao, hơn 50% nạn nhân trong tổng số trường hợp bị lạm dụng tình dục là VTN Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, do bạn bè lôi kéo, do lối sống buông thả, do thiếu hiểu biết kĩ năng sống là nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên
Trong cuộc sống hiện nay, VTN gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, trong sinh hoạt, trong quan hệ với bố mẹ, bạn bè và trong vấn đề SKSS Có thể thấy những khó khăn mà VTN đang phải đối mặt, đó là:
- Những lo lắng về thay đổi cơ thể và tâm lí
- Bối rối trước những cảm xúc nảy sinh từ tình bạn khác giới
- Băn khoăn trước câu hỏi: “Có phải tình yêu luôn đi đôi với tình dục?"
- Nguy cơ bị xâm hại tình dục
- Lo lắng không biết mình có bị mang thai hay không, và làm thế nào để phòng tránh; Nguy cơ nhiễm BLTQĐTD và HIV/AIDS
- Bị ép lấy vợ, lấy chồng sớm (tảo hôn)
- Lo lắng không biết hỏi ai, tâm sự với ai về những điều băn khoăn, lo lắng mình đang gặp phải
Từ những yếu tố trên mà người lớn, các bậc cha mẹ cần phải hiều được những khó khăn mà lứa tuổi VTN gặp phải để từ đó có sự quan tâm kịp thời
Và bản thân VTN cũng phải nhận thấy những thay đổi mạnh mẽ về thể chất cũng như tâm lí của bản thân để đối phó một cách tích cực với những tác động mạnh mẽ của môi trường xung quanh
1.2.2 Giáo dục và giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
1.2.2.1 Giáo dục
Giáo dục (theo nghĩa rộng): Là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người
Trang 29Để hiểu rõ hơn khái niệm giáo dục (theo nghĩa rộng) cần làm sáng tỏ khái niệm nhân cách và khái niệm xã hội hoá con người
Hình thành nhân cách: Đó là quá trình phát triển con người về mặt sinh
lý, tâm lý và mặt xã hội, mang tính chất tăng trưởng về lượng và biến đổi về chất Quá trình này diễn ra do ảnh hướngcủa các nhân tố bên trong (bẩm sinh,
di truyền, tính tích cực của chủ thể…) và các nhân tố bên ngoài (ảnh huởng của hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo dục), do ảnh hướngcủa các tác động tự phát, ngẫu nhiên (tác động bên trong, bên ngoài chưa được kiểm soát, điều khiển) và các tác động có mục đích, có tổ chức (kiểm soát được, điều khiển được) Quá trình này làm biến đổi đứa trẻ với những tư chất vốn có của con người thành một nhân cách
Xã hội hoá con người: Đó là quá trình có tính chất xã hội hình thành nhân cách Quá trình này chỉ bao hàm các tác động do những nhân
tố xã hội; xã hội tác động một cách có mục đích, có tổ chức tới cá nhân, mặt khác cá nhân tích cực tái sản xuất các mối quan hệ xã hội bằng hoạt động, bằng sự tham gia tích cực vào môi trường xã hội Từ đó, giáo dục nói một cách khác là sự xã hội hoá con nguời chỉ dưới những tác động có mục đích và có tổ chức
Giáo dục (theo nghĩa hẹp): Đó là một bộ phận của quá trình sư phạm, là quá trình hình thành những cơ sở khoa học của thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen
cư xử đúng đắn trong xã hội, kể cả việc phát triển và nâng cao thể lực
Chức năng trội của quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) chỉ được thực hiện trên cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến tình cảm và hành
vi
Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức hướng tới mục đích khơi gợi và biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực, nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách cả thầy và
Trang 30trò bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại
Một định nghĩa khác, theo tác giả Phạm Viết Vượng trong tài liệu Giáo dục học (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010) thì khái niệm giáo dục được hiểu là “hình tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt
và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người” [16]
1.2.2.2 Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên được coi là một nội dung quan trọng trong GDDS Những năm gần đây vấn đề này mới được đưa vào trong chương trình của nhà trường, dạy lồng ghép vào nội dung của một số môn học Từ sau Hội nghị quốc tế Cairo (1994), Bộ Giáo dục - Đào tạo đã nhất trí vấn đề trọng tâm của công tác giáo dục phải là giáo dục SKSS cho học sinh
“Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên là một quá trình cung cấp các thông tin thích hợp bằng mọi phương tiện, nhằm mục đích chính là nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của VTN đối với một số vấn đề sức khỏe nhất định
nguy cơ như: có thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT là một nội dung giáo dục nhằm giúp các em có những hiểu biết về những thông tin cơ bản về sự phát triển cơ thể, đặc điểm tâm sinh lý của tuổi dậy thì, sinh lý sinh sản và chăm sóc sức khoẻ sinh sản (cả KHHGĐ, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và phòng tránh HIV/AIDS), những thông tin về tình bạn , tình yêu và hạnh phúc lứa đôi Những vấn đề về tính dục trong khuôn khổ về tâm, sinh lý, văn hóa, xã hội và những khía cạnh sinh sản; đồng thời giúp cho học sinh THPT nắm bắt những kỹ năng để quyết định và hành động có trách nhiệm với hành vi tình dục và SKSS của mình, hướng tới cuộc sống hạnh phúc trong tương lai
Thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020, thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên
Trang 31quan tổ chức triển khai thực hiện các nội dung giáo dục về giới, giới tính, dân
số, sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới cho học sinh, sinh viên; bồi dưỡng cho giáo viên, giảng viên, cán bộ y tế trong trường học về giới, giới tính, dân số, sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới, phòng chống HIV; lồng ghép các mục tiêu,
chỉ tiêu về dân số vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành
1.2.3 Hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
1.2.3.1 Mục đích, yêu cầu hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh
Thực tế hiện nay, việc chủ động tìm hiểu các vấn đề về chăm sóc SKSS VTN ở học sinh hầu như rất ít diễn ra Lý do chính của tình trạng này là tâm
lý ngại ngùng của các em trước các vấn đề được xem là tế nhị, chưa có ý thức
và thói quen chủ động "phòng bệnh hơn chữa bệnh"; chưa có nhận thức đúng
về sự cần thiết và lợi ích của việc khám sức khỏe trước khi kết hôn, v.v… Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục SKSSVTN cho học sinh là việc làm rất cần thiết và mang lại nhiều lợi ích thiết thực Nó không chỉ giúp cho các em có được những kiến thức hiểu biết về SKSS một cách tự tin, mà còn giúp hạn chế, ngăn ngừa những nguy cơ bệnh tật Bên cạnh đó, nên có một cách nhìn mới về vấn đề này, coi việc chăm sóc SKSSVTN là một việc làm cần thiết như việc chăm sóc sức khỏe các giai đoạn khác trong cuộc đời
Không chỉ là việc hướng dẫn các biện pháp tránh thai hay sinh hoạt tình dục an toàn, giáo dục SKSSVTN cho học sinh còn nhằm các mục đích hết sức thiết thực và to lớn là chuẩn bị tâm, sinh lý cho thế hệ tương lai để xây dựng một gia đình hạnh phúc cả về thể chất lẫn tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người trong xã hội Ðiều này cần được toàn xã hội, mọi người dân nhận thức và góp phần thực hiện
Riêng với đối tượng là học sinh ở lứa tuổi THPT các nhà trường nên phối hợp với gia đình và các tổ chức xã hội tăng cường hơn nữa việc tổ chức
Trang 32các hoạt động giáo dục SKSSVTN cho học sinh để trang bị cho các em những kiến thức và kỹ năng về CSSKSS an toàn, định hướng cho các em những quan niệm về một lối sống lành mạnh, khoa học…Gia đình cần phối hợp đồng
bộ với nhà trường, với Ðoàn thanh niên, với các tổ chức chính trị - xã hội đẩy mạnh hơn nữa về công tác giáo dục SKSVTN, về giới tính, tình dục, các biện pháp bảo vệ bản thân cho con em mình để giúp các bạn trẻ cởi mở hơn, nhằm xóa bỏ tâm lý rụt rè, e ngại để các em mạnh dạn, tự tin chăm lo cho sức khoẻ của bản thân
Tăng cường các hoạt động phối hợp giáo dục nhằm cung cấp thông tin, trang bị các kiến thức, kỹ năng chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trong các trường THPT Thông qua đó, giúp các em học sinh hiểu biết và có hành vi tích cực trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới và nâng cao kỹ năng hoạt động xã hội, những hành vi ứng xử văn hóa trong tuổi học đường, là hành trang cho các em bước vào cuộc sống
1.2.3.2 Phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
Có nhiều phương pháp và hình thức để tổ chức các hoạt động phối hợp này, hàng năm phải xây dựng kế hoạch cụ thể như: Tổ chức các buổi giao lưu, các cuộc thi tìm hiểu, sinh hoạt ngoại khóa; nói chuyện chuyên đề, cung cấp, trao đổi thông tin, kiến thức và kỹ năng về chăm sóc sức khỏe sinh sản lồng ghép sinh hoạt văn nghệ, các trò chơi nhằm thu hút sự tham gia hưởng ứng tích cực của các em học sinh THPT, cũng như sự quan tâm tạo điều kiện về phía nhà trường và phụ huynh
Thông qua các hoạt động phối hợp này, các em được nghe và trao đổi các kiến thức liên quan đến nội dung cơ bản của SKSSVTN như: Sự thay đổi diệu kỳ cuả cơ thể ở lứa tuổi dậy thì; sự khác biệt về giới và giới tính; tình bạn
và tình bạn khác giới; tình yêu, tình dục và hạnh phúc lứa đôi; hậu quả của việc mang thai, nạo phá thai không an toàn ở lứa tuổi VTN Bên cạnh đó,
Trang 33các bạn còn được trang bị các kiến thức và kỹ năng liên quan đến công tác dân số, được giao lưu, giải đáp những thắc mắc liên quan đến vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, các biện pháp phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS vv
Ngoài việc học tập nâng cao kiến thức, thông qua các hoạt động phối hợp này nhằm tạo sân chơi bổ ích các em học sinh tăng cường giao lưu, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm; đồng thời tạo sự đoàn kết, gắn bó giữa các bạn với nhau
1.2.4 Quản lý, quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình
và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
1.2.4.1 Quản lý
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội) bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó [17]
Ngày nay, quản lý trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội và là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến ở mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và các liên quan đến mọi người Đó là một hoạt động bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung
Các nhà quản lý kinh tế thiên về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà quản lý nhà nước thiên về quản lý các hoạt động xã hội theo pháp luật, còn các nhà quản lý giáo dục thiên về quản lý mọi hoạt động giáo dục và đào tạo trong xã hội nhằm đạt được những mục tiêu đã định Do đối tượng quản lý phong phú, đa dạng tùy thuộc vào từng lĩnh vực hoạt động cụ thể, từng giai đoạn phát triển của xã hội mà có những cách hiểu khác nhau về quản lý
Trang 34Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý
là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của mình” [4]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng, quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến chuyển của môi trường [9]
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát rằng, quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý với một nội dung, môi trường, phương pháp cụ thể để đạt được mục tiêu đã đề ra
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể thấy rằng quản lý là một phạm trù to lớn và có hệ thống, nó bao gồm 4 chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức,
chỉ đạo và kiểm tra đánh giá
- Lập kế hoạch: Lập kế hoạch là quá trình xác định thiết lập các mục
tiêu hệ thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu kế hoạch, là cơ sở đầu tiên để thực hiện quá trình quản lý Kế hoạch là văn bản trong đó xác định những mục tiêu và những quy định, bước đi, nguồn lực, xác định các biện pháp để đạt được mục tiêu đó
- Tổ chức: Là quá trình lựa chọn, sắp xếp, triển khai các nội dung công
việc một cách khoa học theo đúng kế hoạch đã được xác định
- Chỉ đạo: Là phương thức tác động của chủ thể quản lý đòi hỏi người
quản lý, phải đặt tất cả mọi hoạt động của bộ máy trong tầm quan sát và xử lý, ứng xử kịp thời đảm bảo cho người bị quản lý luôn luôn phát huy tính tự giác
và tính kỷ luật
- Kiểm tra, đánh giá: Là đối chiếu quá trình hoạt động với kế hoạch
Các yếu tố cơ bản của kiểm tra là: xây dựng chuẩn thực hiện; đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn; điều chỉnh các hoạt động kho có sự chênh lệch nhau so với chuẩn
Trang 351.2.4.2 Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục SKSSVTN cho học sinh THPT về bản chất là quá trình tổ chức quản
lý việc tổ chức các hoạt động phối hợp giáo dục của nhiều tổ chức, nhiều thành viên cùng tham gia, tạo ra sự thống nhất chung của các tổ chức, các thành viên nhằm huy động hợp lý nhất khả năng của các tổ chức, các thành viên phù hợp với mục tiêu, nội dung, kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục SKSSVTN cho học sinh
Mục tiêu của quản lý hoạt động phối hợp giáo dục SKSSVTN cho học sinh là làm cho quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục vận hành đồng bộ, hiệu quả, tạo ra bầu không khí hăng hái và thuận lợi để nâng cao chất lượng và hiệu quả việc giáo dục SKSSVTN cho học sinh trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội
Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là sự kết hợp, tác động qua lại một cách biện chứng giữa ba lực lượng giáo dục Một mặt nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục trẻ Mặt khác nhà trường cần giúp đỡ hỗ trợ cụ thể cho các bậc phụ huynh trong việc giáo dục con cái Với vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ, gia đình mà tiêu biểu là các bậc phụ huynh có trách nhiệm chủ động hợp tác với nhà trường trong việc giáo dục con em mình, tránh tư tưởng khoán trắng cho nhà trường hoặc tự đề ra những yêu cầu giáo dục đi ngược lại mục tiêu giáo dục của nhà trường quy định
Bên cạnh sự quản lý phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường thì không thể không nói tới vai trò giáo dục của xã hội cũng như vai trò của chính quyền các cấp: tạo hành lang pháp lý, xây dựng những chính sách, chế độ; các
tổ chức xã hội đóng vai trò hỗ trợ, góp phần kích thích, động viên quá trình
giáo dục
Trang 361.2.5 Giải pháp và giải pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
1.2.5.1 Giải pháp
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, giải pháp là: “Phương pháp giải quyết một vấn đề” [17] Nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi chuyển biến một quá trình, một trạng thái hoặc hệ thống nhằm đạt được mục đích Giải pháp thích hợp sẽ giúp cho vấn đề
được giải quyết nhanh hơn, mang lại hiệu quả cao hơn
1.2.5.2 Giải pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
Giải pháp quản lý sự hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và
xã hội trong giáo dục chính là các phương pháp, cách thức phù hợp, linh hoạt được sử dụng trong quá trình quản lý sự phối hợp với mục đích tạo mối quan
hệ, thống nhất, nhằm đạt được kết quả cao trong công tác giáo dục SKSSVTN cho học sinh
Một trong những giải pháp quản lý sự hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục SKSSVTN cho học sinh THPT tốt nhất là giúp các em được hòa nhập với môi trường học tập trong nhà trường
và ngoài cộng đồng xã hội
Những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo chú trọng việc đẩy mạnh giáo dục SKSSVTN cho học sinh trong các trường học, cấp học Tuy nhiên, công tác giáo dục SKSSVTN cho học sinh THPT ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế Hiện nay, do điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đội ngũ giáo viên ở nhiều trường chưa được đào tạo chuyên sâu về nội dung SKSSVTN nên việc thực hiện công tác giáo dục SKSS cho học sinh trong các trường THPT còn gặp nhiều khó khăn
Trang 37Đẩy mạnh công tác giáo dục SKSSVTN cho học sinh THPT sẽ tạo cơ hội cho các em một cuộc sống bình thường Tuy nhiên, công việc này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà chuyên môn, các bậc phụ huynh, các cơ quan ban ngành, các tổ chức trong và ngoài nước, những người thực sự quan tâm đến thế hệ tương lai của đất nước, của dân tộc
Công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội đặt ra nhiều yêu cầu cấp thiết, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường và ngoài hội Để tìm ra các giải pháp thực hiện việc quản lý đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục, cán bộ, giáo viên, những người quan tâm đến công tác giáo dục SKSSVTN cho học
sinh THPT phải có bước chuyển mình mạnh mẽ
1.3 Một số vấn đề về hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Mục đích, yêu cầu phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
Hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục
SKSSVTN cho học sinh THPT chính là việc tổ chức các hoạt động phối kết hợp giữa các lực lượng này trong việc giáo dục cho các em những kiến thức
và kỹ năng liên quan đến việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý độ tuổi học sinh THPT nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục để các em có sự phát triển toàn diện về mặt thể chất và tinh thần Việc tổ chức các hoạt động phối hợp phải thống nhất giữa mục tiêu giáo dục của nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của giáo dục Bản chất của việc phối hợp đó là đạt được sự thống nhất về các yêu cầu giáo dục đúng đắn, đầy đủ và vững chắc, tạo được môi trường giáo dục thuận lợi trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội Nhờ có môi trường giáo dục đó các em được hướng dẫn, giáo dục một cách đồng bộ, thống nhất
Trang 38Gia đình, nhà trường, xã hội trong thời gian gần đây đã hết sức quan tâm
và cố gắng trong việc giáo dục sức khoẻ sinh sản cho học sinh Sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội có vai trò rất lớn trong việc giáo dục sức khoẻ sinh sản cho vị thành niên
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, công tác này vẫn còn nhiều thách thức đòi hỏi cần phải có những nhóm giải pháp đồng bộ và sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành liên quan Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011- 2020 với nhiều nội dung quan trọng Chiến lược xác định 7 giải pháp cụ thể [21], từ tăng cường và nâng cao hiệu quả các hoạt động truyền thông đối với tất cả các nhóm đối tượng, trong đó có đối tượng là các em học sinh THPT Các giải pháp để cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản trong Chiến lược không thể tập trung ưu tiên vào bất cứ một nhóm đối tượng đặc biệt nào, mọi nhóm đối tượng đều được quan tâm, và mọi giải pháp đều được đặt trong một kế hoạch tổng thể và toàn diện Ðó là sự kết hợp giữa những nhóm giải pháp về cơ chế quản lý, về xây dựng văn bản chính sách pháp luật, giải pháp về tài chính, đào tạo cán bộ chuyên môn kỹ thuật; cung ứng dịch vụ
và xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản Như vậy, chất lượng sức khỏe sinh sản VTN nói riêng và sức khỏe người dân nói chung mới được cải thiện và nâng cao
1.3.2 Nội dung phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
Các hoạt động phối hợp giữa GĐ - NT - XH rất phong phú, đa dạng, trên cơ sở mục tiêu và chức trách của mình trong công tác giáo dục mà nhà trường, gia đình, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội cùng tham gia thực hiện:
- Thống nhất quan điểm, nội dung, biện pháp, hình thức giáo dục cho cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh
- Nhà trường lập kế hoạch phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã
Trang 39hội, tổ chức thực hiện kế hoạch, tổng kết đánh giá việc thực hiện kế hoạch
- Nhà trường theo định kỳ hoặc thường xuyên thông báo cho gia đình kết quả học tập, rèn luyện của trẻ em Do đặc điểm tâm lý của tuổi VTN mà việc thông báo đột xuất hoặc liên tục việc học tập, sinh hoạt của học sinh ở trường cũng là vấn đề cần được thực hiện
- Nhà trường làm cho phụ huynh hiểu rõ nhiệm vụ, chức năng của giáo dục gia đình, tạo điều kiện để cha mẹ học sinh nhận thức đúng về trách nhiệm phối hợp với nhà trường
- Nhà trường tư vấn cho phụ huynh và các lực lượng giáo dục kiến thức
về tâm lý học và giáo dục học; bồi dưỡng phương pháp, kiến thức SKSSVTN trong giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh
- Nhà trường huy động khả năng tiềm lực của gia đình vào công tác giáo dục học sinh (công tác xã hội hóa giáo dục, xây dựng CSVC, cùng thực hiện các nội dung giáo dục …)
- Chính quyền, đoàn thể địa phương và nhà trường xây dựng các chương trình hoạt động với gia đình tại cộng đồng (các hoạt động văn hóa, thể thao, lễ hội, các hoạt động ngoại khóa ) gắn với nội dung giáo dục SKSSVTN cho
học sinh
1.3.3 Phương pháp và hình thức phối hợp giữa nhà trường, gia đình
và xã hội trong công tác giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
Sự phối hợp của nhà trường với gia đình trong việc giáo dục SKSSVTN cho học sinh THPT cần có những cách thức phù hợp bổ sung cho nhau:
- Phương pháp phối hợp bằng văn bản: Nội dung chính của biên bản cuộc họp giữa phụ huynh học sinh với nhà trường, triển khai những văn bản chỉ đạo của cấp trên (Điều lệ Hội, những quyết định của Nhà nước về tổ chức hội phụ huynh học sinh, Luật Giáo dục… ), văn bản về kế hoạch phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội, sổ liên lạc của học sinh, gửi
Trang 40thư, thông báo về gia đình khi cần thiết
- Phương pháp tuyên truyền cho giáo viên, phụ huynh và các lực lượng giáo dục về hoạt động giáo dục Tổ chức các buổi hội thảo hướng dẫn, bồi dưỡng kinh nghiệm giáo dục về SKSSVTN cho phụ huynh
- Phương pháp phối hợp hành động: Thành lập hội phụ huynh học sinh,
tổ chức định kỳ các cuộc họp hội, giáo viên chủ nhiệm thường xuyên gặp
gỡ trao đổi với phụ huynh, tổ chức thăm gia đình các em Thành lập ban chỉ đạo quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục
- Phương pháp kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm thường xuyên, có quy định nhiệm vụ, tiêu chuẩn thi đua, phối hợp giáo viên chủ nhiệm, động viên khen thưởng kịp thời Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tổ chức các hoạt động phối hợp với cha mẹ học sinh v à c á c lực lượng giáo dục cho c á n
b ộ , giáo viên phụ trách
1.4 Một số vấn đề về quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông
1.4.1 Sự cần thiết phải quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
Tạo môi trường thuận lợi là hết sức quan trọng để khởi xướng và duy trì hiệu quả của các chương trình giáo dục SKSSVTN cho học sinh THPT Trong khi các chính sách và luật có thể được ban hành sau khi có những bằng chứng về lợi ích của chương trình SKSS, việc thực hiện công tác cần phải được thực hiện trước để đảm bảo rằng lĩnh vực nhạy cảm này được chấp nhận
và hỗ trợ Vận động thường được triển khai thông qua các cách tiếp cận có sự tham gia như làm việc cùng với cộng đồng và huy động cộng đồng Bản thân nhóm người trẻ tuổi đóng vai trò rất hiệu quả trong việc xác định và vận động cho những nhu cầu của chính họ Những sáng kiến trong vận động và chính