Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng trên đó là các hình thức tổ chức kinh tế hiện nay chưa tìm ra hướng đi đúng, chưa có chính sách đặc thù nhằm đổi mới các hình th
Trang 1NGUYỄN LÊ TUẤN ANH
CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC KINH TẾ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2NGUYỄN LÊ TUẤN ANH
CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC KINH TẾ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học PGS TS MAI THANH CÚC
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin tôi trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Lê Tuấn Anh
Trang 4Trong thời gian học tập tại trường, nghiên cứu viết luận văn bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của PGS.TS Mai Thanh Cúc đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Văn phòng Điều phối nông thôn mới huyện Kỳ Anh, các Phòng, đơn vị chuyên môn huyện Kỳ Anh, các xã và các hộ gia đình trên địa bàn huyện Kỳ Anh đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn này
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Lê Tuấn Anh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN ii
2.1.2 Quan điểm chủ trương phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong
2.1.3 Vai trò, đặc điểm của các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp 13
2.1.4 Nội dung nghiên cứu các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp 21
2.1.5 Các yếu tổ ảnh hưởng đến việc phát triển các hình thức tổ chức kinh tế
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc phát triển các hình
2.2.2 Kinh nghiệm về việc phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông
Trang 63.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 48
4.1 Thực trạng các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp ở huyện Kỳ Anh 52
4.1.5 Đánh giá chung về thực trạng phát triển các hình thức tổ chức kinh tế 77
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông
4.3 Một số giải pháp nhằm phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông
4.3.1 Tổ chức tuyên truyền, học tập quán triệt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân và nông thôn 82
4.3.3 Tăng cường liên kết trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp 89
Trang 7Chữ viết tắt Diễn giải
UBND Ủy ban nhân dân
USDA United States Department of Agriculture
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Kỳ Anh (2012-2014) 41
3.3 Bảng biến động dân số và lao động qua 3 năm (2012 – 2014) 47
4.1 Số lượng HTX trên địa bàn huyện Kỳ Anh phân theo lĩnh vực hoạt động 52
4.2 Số lượng hợp tác xã trên địa bàn huyện kỳ anh năm 2011-2014 54
4.3 Tổng hợp diện tích đất giao khoán và tình hình cấp giấy QSDĐ ở
4.4 Tình hình vốn, tài sản của các HTX trong nông nghiệp, nông thôn
4.6 Tổng hợp xã viên, lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp huyện Kỳ
4.7 Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý trong các hợp tác xã ở Kỳ Anh 61
4.8 Số lượng tổ hợp tác trên địa bàn huyện kỳ anh năm 2011-2014 64
4.9 Tổng hợp số tổ hợp tác trên địa bàn huyện Kỳ Anh năm 2014 65
4.10 Số lượng trang trại trên địa bàn huyện kỳ anh năm 2011-2014 66
4.11 Thực trạng cấp giấy chứng nhận trang trại trên địa bàn huyện Kỳ Anh
4.12 Số lượng trang trại và thực trạng cấp giấy chứng nhận cho các trang trại
4.14 Cơ cấu diện tích đất theo mục đích sử dụng và theo nguồn gốc của các
Trang 94.15 Trình độ của chủ trang trại trên địa bàn huyện Kỳ Anh 73
4.16 Trình độ của lao động thường xuyên trong các trang trại trên địa bàn
Trang 10DANH MỤC HÌNH, HỘP
Số hình Tên hình Trang
4.2 Diện tích nguồn gốc đất của các hộ gia đình trong nông thôn huyện Kỳ Anh 75
4.3 Biến động tỷ trọng nguồn lao động nông thôn huyện Kỳ Anh (2012 –
Số hộp Tên hộp Trang
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ những năm đầu đổi mới cách đây hơn 20 năm, chính sách chia đất canh tác cho nông dân đã góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội và giải phóng nội lực của nông dân Liên tục từ năm 1998-2007, tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp của Việt Nam luôn cao hơn mức trung bình của thế giới Từ tình trạng tự cung tự cấp, Việt Nam đã trở thành quốc gia mạnh về xuất khẩu nông sản Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nước và yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, mấy năm gần đây động lực cho phát triển nông nghiệp từ những năm trước đã không còn Việc sản xuất nông nghiệp của nước ta đang có xu hướng chững lại và chậm được đối mới
Nghị quyết số 26 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Ðảng khoá X "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn" đã chỉ rõ: Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc
độ tăng trưởng đang có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hóa Ðời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp; chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc,vv Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng trên đó là các hình thức tổ chức kinh tế hiện nay chưa tìm ra hướng đi đúng, chưa có chính sách đặc thù nhằm đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất để phù hợp với bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đối với nền kinh tế quốc dân, chưa đảm nhiệm vai trò cùng với kinh tế Nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Huyện Kỳ Anh có tổng số 63 hợp tác xã, 80 tổ hợp tác, khoảng trên 817 mô hình kinh tế hộ gia đình và 30 trang trại (chăn nuôi: 5; lâm nghiệp: 1; nuôi trồng thủy sản: 1; Trang trại tổng hợp: 23 (UBND huyện Kỳ Anh, 2014) Trong những năm qua, các hình thức tổ chức kinh tế này đã góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ
Trang 12cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân khu vực nông thôn của huyện Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, các hình thức tổ chức kinh tế này đã và đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cũng như tồn tại những hạn chế cần được giải quyết Hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ của hầu hết các HTX, tổ hợp tác và trang trại trên địa bàn huyện đều kém hiệu quả, năng lực quản lý yếu kém và khả năng tiếp cận vốn, tiếp cận thị trường yếu Bên cạnh đó, quá trình hình thành và phát triển còn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch và định hướng cụ thể
Với mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và sản xuất hàng hóa, trở thành động lực tích cực trong việc thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương, đòi hỏi ngành nông nghiệp huyện Kỳ Anh cần xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất - kinh doanh phù hợp, có hiệu quả kinh tế cao gắn với bảo vệ môi trường, góp phần tích cực thực hiện thành công chương trình Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kỳ Anh nói riêng và toàn tỉnh Hà Tĩnh nói chung
Để hiểu rõ về hiệu quả của các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp ở nơi đây từ đó có thể rút ra được loại hình nào có hiệu quả trên địa bàn huyện Kỳ Anh nói riêng và áp dụng trên địa bàn Hà Tĩnh nói chung nên tôi lựa
chọn nghiên cứu đề tài: “Các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp ở
huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển các tổ chức kinh tế trong nông nghiệp ở huyện
Kỳ Anh, từ đó đề xuất giải pháp trong việc phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 13+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát trển các hình thức tổ chức kinh
tế trong nông nghiệp
+ Đề xuất giải pháp chủ yếu tăng cường phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi về nội dung
Tập trung nghiên cứu thực trạng về số lượng cũng như hoạt động của các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp, bao gồm: Hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, nông hộ; những thuận lợi và khó khăn của các hình thức sản xuất trong
việc xây dựng, phát triển các mô hình kinh tế tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Các dữ liệu sơ cấp được điều tra tại năm 2014
- Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2015-2020
Trang 14PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về tổ chức kinh tế
Để giải quyết 3 vấn đề cơ bản của một nền kinh tế: Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai, mỗi quốc gia ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định đều đưa ra những thành phần kinh tế nhất định Lịch sử đã trải qua các thành phần kinh
tế khác nhau như: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng; kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế
tư bản nhà nước cùng phát triển trở thành nội lực xây dựng nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, dù ở thành phần kinh tế nào thì cũng phải thực hiện thông qua những tổ
chức kinh tế nhất định (Mai Văn Xuân, 2011)
Vậy có thể hiểu rằng tổ chức kinh tế là cách thức kết hợp các yếu tố kinh tế như: lao động, máy móc thiết bị, vật tư nguyên liệu, tiền vốn với những quy mô, cơ chế quản lý và phân phối thu nhập khác nhau để tạo ra các sản phẩm hàng hóa dịch
vụ cho xã hội một cách hiệu quả
2.1.1.2 Khái niệm về các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp
a Hợp tác xã
HTX hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau Theo Ivan Emelianoff (1942), một nhà nghiên cứu về HTX đã nhận xét rằng “Sự đa dạng của HTX là muôn màu muôn vẻ và sự biến đổi của HTX thật sự là không thể đếm xuể”
và như thế không thể có một khái niệm chung toàn cầu về HTX Tuy nhiên, có hai khái niệm được dùng phổ biến nhất
Theo liên minh HTX quốc tế (ICA): HTX là một tổ chức tự chủ của những người tự nguyện tập hợp nhau lại nhằm thỏa mãn những nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, văn hóa và xã hội thông qua việc tham gia góp vốn và quản lý dân chủ Các nhà lãnh đạo HTX trên toàn thế giới công nhận ICA, một tổ chức phi chính phủ với hơn 230 tổ chức thành viên từ trên 100 quốc gia như là cơ quan
hướng dẫn về định nghĩa và các giá trị (Mai Văn Xuân, 2011)
Trang 15Một khái niệm được chấp nhận rộng rãi khác là khái niệm được Bộ Nông Nghiệp Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ (USDA) thông qua vào năm 1987: HTX là cơ sở kinh doanh do những người sử dụng tự làm chủ và tự quản lý, lợi nhuận được chia dựa trên cơ sở của việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ Định nghĩa này đưa ra 3 nguyên tắc chung của HTX cấp I: xã viên tự làm chủ, tự quản lý, phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ
Ở Việt Nam theo luật HTX năm 2012 thì HTX được định nghĩa như sau: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập
ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước (Mai Văn Xuân, 2011)
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân,
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật
b Tổ hợp tác
Theo quy định của Nghị định 151/2007/NĐ-CP, Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ 3 cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm theo nguyên tắc:
- Tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi;
- Biểu quyết theo đa số;
- Tự chủ tài chính, tự trang trải các chi phí hoạt động và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của tổ và các tổ viên
Trang 16Các Mác đã phân biệt người chủ trang trại với người tiểu nông bằng sự so sánh: -Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết các sản phẩm do họ làm ra-Người tiểu nông thì dùng toàn bộ các sản phẩm do họ sản xuất ra, việc mua bán càng ít càng tốt
Từ những phân biệt đó của Các Mác, nổi lên một số vấn đề kinh tế cần được lưu ý:
-Một là sự khác nhau về mục đích sản xuất:
Một nền sản xuất nông nghiệp được chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá là chủ yếu Nông sản được sản xuất ra trước đây là để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trực tiếp thì nay được sản xuất ra để bán nhằm tăng thu nhập và có lợi nhuận
- Hai là về mặt sở hữu cũng có thay đổi theo hướng phát triển của nền kinh
tế xã hội
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung
về cơ bản được dựa trên quyền sở hữu tư liệu sản xuất hay quyền sử dụng
-Ba là trong điều kiện kinh tế thị trường, quy mô kinh tế gia đình ngày càng
trở nên phổ biến và chiếm tuyệt đại bộ phận về số lượng các đơn vị sản xuất nông nghiệp tập trung
Như vậy, có thể nói rằng Trang trại là thuật ngữ gắn liền với hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trên một diện tích đủ lớn với quy mô gia đình là chủ yếu để tạo
ra sản phẩm hàng hoá cung cấp cho xã hội phù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường
Trang trại ngày nay có nhiều mặt cùng tồn tại
Về mặt kinh tế: Nói lên các hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm hàng hoá đem lại thu nhập cao và nhiều lợi nhuận
Về mặt xã hội: Trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội Quan hệ giữa các thành viên của hộ trang trại, giữa chủ trang trại và người làm thuê là đan xen nhau…
Về mặt môi trường: Về mặt môi trường trang trại có mối quan hệ thể hiện trên nhiều mặt rất đa dạng và gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời có tác động qua lại nhiều mặt, nhiều chiều của hệ kinh tế sinh thái-nhân văn trong vùng
Trang 17Trên thực tế người ta thường chú ý về mặt kinh tế của trang trại nhiều hơn mặt xã hội và môi trường Điều này cũng dễ hiểu vì kinh tế là nội dung cơ bản, là cốt lõi của trang trại.Từ những vấn đề trên chúng ta có thể định nghĩa Trang trại (hoặc hiểu về trang trại) như sau:
Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền
sử dụng của một người chủ độc lập Sản xuất được tiến hành với quy mô ruộng đất
và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn cùng phương thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ để sản xuất ra các loại sản phẩm hàng hoá phù hợp với yêu cầu đặt ra của cơ chế thị trường
Các hình thức tổ chức sản xuất tập trung trong nông nghiệp dựa trên sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể như các nông, lâm trường quốc doanh, các HTX sản xuất nông nghiệp thì không thuộc khái niệm trang trại Ngày nay ở nước ta, trang trại đã và đang trở thành một xu thế phát triển tốt, kết quả của nó ngày càng rõ nét
trên các mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường (Bùi Minh Vũ, Võ Thị Lai, 2005)
d Hộ nông dân (bao gồm cả hộ nông dân tự cấp, tự túc và hộ nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ)
Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, người ta định nghĩa về “hộ” như sau: “Hộ” là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về “Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và
cùng có chung một ngân quỹ (Mai Văn Xuân, 2011)
Theo Mc Gê (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng: “Hộ” là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”
Nhóm “hệ thống thế giới” (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981, 1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một nhóm người
Trang 18có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”
Theo Frank Ellis Trường Đại học tổng hợp Cambridge (1988) đưa ra một số định nghĩa về nông dân, nông hộ Theo ông cấc đặc điểm đặc trưng của đơn vị kinh
tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là:
Thứ nhất, đất đai: Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai
Thứ hai, lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính kinh tế nổi bật của người nông dân Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản
Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta cho rằng: “người nông dân làm công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” (Woly, 1966) nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận
Từ những đặc trưng trên có thể xem kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao
Tóm lại trong nền kinh tế hộ gia đình nông dân được quan niệm trên các khía cạnh:
Hộ gia đình nông dân (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên
ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình
Gia đình (family) là một đơn vị xã hội xác định với các mối quan hệ họ hàng,
có cùng chung huyết tộc Trong nhiều xã hội khác nhau các mối quan hệ họ hàng xây dựng nên một gia đình rất khác nhau Gia đình chỉ được xem là hộ gia đình (Household) khi các thành viên gia đình có cùng chung một cơ sở kinh tế
Trang 19e Doanh nghiệp nông nghiệp
Doanh nghiệp nông nghiệp là tổ chức kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp, tham gia vào toàn bộ thị trường đầu vào và đầu ra, được đăng ký kinh doanh theo quy định của Pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Nông lâm trường quốc doanh cũng là một loại doanh nghiệp nông nghiệp, bao gồm một tập thể người lao động, có sự phân công và hợp tác lao động để khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả các yếu tố, các điều kiện của sản xuất nông nghiệp ( đất đai, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật và các điều kiện tự nhiên, kinh tế khác) nhằm tiếp quản các doanh điền cũ, đẩy mạnh khai hoang phục hóa nhất là các vùng núi, vùng biên giới, vùng xa, vùng ven biển nhằm nhanh chóng khôi phục và phát
triển kinh tế giải quyết việc làm, điều động phân bố dân cư giữa các vùng (Phạm
tổ hợp tác sau những bước thăng trầm cũng đang được khuyến khích phát triển Liên kết kinh tế là chìa khoá để phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế cũng đang được mở rộng Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá, đứng trước việc nông sản hàng hoá của chúng ta đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường thế giới thì vấn đề xây dựng cho được các hình thức tổ chức kinh tế
phù hợp với hiệu quả kinh tế cao ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết (Bộ
Nông nghiệp & PTNT, 2007)
Sản xuất quy mô hộ gia đình: Mặc dù đã có những quyết sách đổi mới, Nhà nước đã thổi một luồng sinh khí mạnh mẽ tới kinh tế nông hộ, khuyến khích phát triển sản xuất, ổn định và phát triển kinh tế nông thôn nhưng tình trạng lao động thừa, việc làm thiếu, ngành nghề dịch vụ phi nông nghiệp phát triển chậm, khả năng
Trang 20tạo việc làm mới còn rất hạn chế Sản xuất nông hộ vẫn còn mang tính tiểu nông, nhỏ bế, sản xuất tự cấp tự túc Trong số các hộ nông dân, chỉ khoảng 10% có vốn kinh nghiệm và kiến thức sản xuất có quy mô sản xuất tương đối thực sự có khả năng tích luỹ tái sản xuất theo hướng mở mang kinh tế trang trại hoặc sẽ phát triển doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn Hiện vẫn còn tới 70% hộ tiểu nông, có quy mô đất đai 0,5-1 ha/hộ, sản xuất hàng hoá nhỏ đang nằm trong phạm vi tái sản xuất giản đơn, trong số này khoảng 30% vừa làm nông nghiệp, vừa sản xuất thêm tiểu thủ công nghiệp có khả năng đa dạng sản xuất nếu có điều kiện thuận lợi Số còn lại nếu không có sự trợ lực của Nhà nước hoặc tổ chức lại trong kinh tế hợp tác thì khó có thể chuyển mạnh lên tự tái sản xuất mở rộng với quy mô đáng kể được tuy nhiên, thực tế là kinh tế hộ nông dân tất yếu đã, đang và sẽ tồn tại lâu dài trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hó
nông nghiệp, nông thôn (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2007)
Xu hướng phát triển của kinh tế hộ sẽ chuyển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá, với quy mô lớn, và theo kịp bược phát triển của khoa học công nghệ Trước sức cạnh tranh nông nghiệp ngày càng gay gắt, tất yếu phải có sự tích tụ đất đai, lao động kỹ thuật và vốn, hình thành các trang trại sản xuất để phát huy lợi thế của kinh tế theo quy mô Hình thức sản xuất trang trại ra đời theo quy luật này Quy
mô lớn cho phép các trang trại áp dụng cơ giới, hạ giá thành sản xuất và trở thành đối thủ cạnh tranh mạnh trên thương trường Ở đây, muốn phát triển kiểu trang trại thâm canh cần có hệ thống chính sách đồng bộ về quản lý, cho thuê, chuyển đổi đất đai thuận lợi; quy hoạch tổ chức sản xuất hợp lý, kết cấu hạ tầng đầy đủ; việc cung cấp chuyển giao và hỗ trợ công nghệ hiện đại sẵn sàng; công nhân được đào tạo tay nghề, ngân hàng sẵn sàng hỗ trợ vốn, hoạt động tiếp thị thuận lợi
Bên cạnh đó, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn là một giải pháp lâu dài và hữu hiệu để thực hiện chủ trương tạo việc làm cho lao động nông thôn Hiện nay, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ có đăng ký hoạt động chưa nhiều, mới đạt 3%, còn 97% vẫn thuộc loại hình kinh tế hộ không có đăng kı Các
mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ hình thành ở nông thôn đã thu hút nhiều lao động vào làm gia công xuất khẩu Các doanh nghiệp này đã khai thác được thế mạnh của lao động nông thôn giá rẻ Tuy nhiên cũng có hạn chế là trình độ lao động của dân
Trang 21nông thôn chưa cao, trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp còn yếu đặc biệt là hạn chế trong tiếp cận thông tin kinh tế, đánh giá về thị trường Chính vì vậy, rất cần
có sự hỗ trợ của Nhà nước về công tác đào tạo tay nghề, hỗ trợ tìm kiếm thị trường
(Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2007)
Hình thức kinh tế hợp tác: Bước vào cơ chế thị trường trong xu thế hội nhập kinh tế, hộ gia đình nông dân Việt Nam phải đối đầu với nhiều đối thủ sản xuất kinh doanh mạnh Đó là các hàng hoá nông sản nhập khẩu và cùng cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu của nông dân các nước phát triển hơn, có tổ chức rất tốt về quy
mô và trình độ hợp tác; đó là các doanh nghiệp cung ứng vật tư và thu mua nông sản của mọi thành phần kinh tế mà mục tiêu chính là kinh doanh vì lợi nhuận Trong khi 50% giá trị sản xuất nông nghiệp dành cho xuất khẩu thì tình trạng đơn phương độc mã hiện nay không cho phép các hộ tiểu nông cạnh tranh nổi trong sản xuất, thương thuyết nổi trong mua bán, tranh thủ được về chính sách Phải nói rằng hơn lúc nào hết, người nông dân cần có tổ chức thực sự của mình, đáp ứng yêu cầu đa dạng về hợp tác sản xuất của từng nhóm nhỏ các hộ nông dân; được tổ chức tốt từ trên xuống dưới do họ bầu ra, và thực sự quản lý, giúp cho họ vốn, thị trường và công nghệ, làm thay những việc họ cần mà các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các cơ quan khuyến nông không đáp ứng được Nếu có một tổ chức như vậy thì 70% số nông hộ là tiểu nông mới có thể đủ sức tiếp thu công nghệ mới, phát triển lực lượng sản xuất để cạnh tranh hiệu quả với nông dân thế giới trong nền kinh tế toàn cầu và chắc chắn 100% nông dân sẽ trở thành xã viên như nhiều nước
trong vùng (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2007)
Liên kết kinh tế: Liên kết kinh tế là tất yếu khách quan trong sản xuất hàng hoá của các nước Trong nông nghiệp ở nước ta những năm gần đây, xuất hiện một
số mô hình liên kết kinh tế có hiệu quả giữa công ty, doanh nghiệp với nông dân trong quá trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản Sự liên kết ngành cho phép thống nhất phối hợp giữa lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp và kinh tế nông thôn với các ngành sản xuất khác có năng suất lao động, công nghệ cao hơn thuộc các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ để khai thác hết năng lực nguyên liệu, lao động Cho phép nối sản xuất với kinh doanh để lợi nhuận được phân phối lại công bằng giữa các khâu trong hệ thống kinh tế
Trang 22Liên kết kinh tế đòi hỏi sự hợp tác, phối hợp gắn bó của nhiều đơn vị và tổ chức kinh tế thuộc nhiều thành phần và loại hình kinh tế khác nhau để khai thác và
sử dụng mọi nguồn lực, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá với chất lượng cao và giá thành hạ Việc xác định đúng đắn các đối tượng liên kết kinh tế là vấn đề quan trọng,
vì họ là những chủ thể thực hiện sự liên kết Liên kết kinh tế - thực chất là "phương thức hợp đồng" cho phép thoả mãn được ba yêu cầu về cung cấp vốn, công nghệ và tạo thị trường cho hộ nông dân sản xuất nhỏ, nhờ đó tạo ra và duy trì được khả năng tái sản xuất mở rộng của nông hộ và đóng góp tái sản xuất mở rộng cho cả doanh nghiệp
Để liên kết kinh tế có hiệu quả, sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá
có sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập, phải thực hiện theo một lộ trình hợp lý
Lộ trình đó phải bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ theo một tuần tự nhất định xuất phát từ yêu cầu của thị trường mà bố trí sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản Trước tiên, phải nắm được yêu cầu của thị trường cần những loại nông sản gì, số lượng, chất lượng và giá cả ra sao Từ đó phải có kế hoạch tương đối lâu dài về sản xuất các loại nông sản hàng hoá theo yêu cầu thị trường; Rà soát lại quy hoạch, bố trí quy hoạch các vùng sản xuất phù hợp với yêu cầu của thị trường Cùng với quy hoạch sản xuất là quy hoạch cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống Sau
đó, dựa vào quy hoạch, các doanh nghiệp xúc tiến các thương mại, tìm kiếm và thị trường tiêu thụ nông sản Và chỉ khi chủ động được thị trường, các doanh nghiệp mới ký hợp đồng tiêu thụ nông sản với nông dân Nhà nước cần có các chính sách
vĩ mô ưu tiên phát triển các vùng nguyên liệu tập trung gắn với công nghiệp chế biến nông sản, về khoa học, công nghệ, đầu tư, cho vay vốn, cơ sở hạ tầng, đào tạo Vấn đề xây dựng hình thức tổ chức sản xuất phù hợp:
Hướng phát triển hợp tác hoá: Sản xuất của các hộ tiểu nông sớm muộn sẽ phát triển đến mức độ nảy sinh nhu cầu liên kết với nhau, từ các hình thức đổi công đến các loại hình dịch vụ chuyên môn, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, các hợp tác
xã đến lượt nó lại mở rộng quan hệ liên kết với các hình thức kinh tế khác Sản xuất nhỏ nông hộ dần dần xã hội hoá và thay đổi về bản chất, trở thành những đơn vị trong guồng máy sản xuất lớn Vì vậy, hợp tác hoá sản xuất là hướng tất yếu sẽ diễn
ra trong tương lai Tuy nhiên, ngay bây giờ, nhu cầu hợp tác của người sản xuất còn
Trang 23thấp và ở các hình thức nhỏ, thô sơ như dạng các nhóm - tập đoàn sản xuất tự nguyện Vì vậy, việc xây dựng Luật HTX cần lưu ý đến đặc điểm này để thể chế
hoá, tạo hành lang pháp lý phát triển (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2007)
Hướng phát triển nông trại: Phát triển kinh tế của hộ tiểu nông theo các loại hình nông trại khác nhau Dần dần các nông trại sẽ liên kết với nhau hoặc với các hình thức kinh tế khác để chuyển đổi cơ cấu kinh tế trên quy mô lớn hơn, căn bản hơn
Hướng phát triển ngành nghề: Các nông hộ làm ăn khá giả dần dần tích tụ tư bản, chuyển sang đầu tư sản xuất kinh doanh ở các lĩnh vực phi nông nghiệp, trở thành chủ máy cày, chủ máy xay sát, chủ phương tiện vận tải số khác chuyển sang kinh doanh, làm dịch vụ hướng phát triển này có thể bắt đầu diễn ra lẻ tẻ, tạo thành một số người giàu, những người này chuyển công nghệ hoặc tạo việc làm cho những người khác, dần dần thu nhập chung được nâng dần lên Điều này cũng có thể diễn ra trên quy mô cả làng, hình thành làng nghề thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế ở nông thôn Khó có thể nói rằng trong tương lai hình thức nào sẽ chiếm ưu thế và trở thành thành phần kinh tế chính trong nông thôn Rất có thể cả ba sẽ lan rộng trong tương lai, phối hợp đan xen nhau Ở đây, muốn chuyển đổi thành công nền kinh tế tiểu nông thành một nền kinh tế hàng hoá mạnh, sản xuất lớn thì từng hộ nông dân phải có vốn
để tích lũy và đầu tư; phải có nguồn cung cấp công nghệ tiên tiến cả về nnn và phi nông nghiệp để sửdụng vốn có hiệu quả, làm ra giá trị thặng dư; và phải có nơi tiêu thụ sản phẩm để dòng vốn liên tục luân chuyển, nhanh chóng tái sản xuất mở rộng
trong nền kinh tế thị trường (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2007)
2.1.3 Vai trò, đặc điểm của các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp
2.1.3.1 Kinh tế hộ nông dân
* Đặc điểm sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ nông dân
- Theo khái niệm hộ sản xuất thì hộ sản xuất kinh doanh trong nhiều ngành nghề (Nông - Lâm - Ngư - Diêm nghiệp - dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp) Nhưng hiện nay phần lớn là hoạt động trong ngành nông nghiệp - thuần nông
- Một đặc điểm nữa của kinh tế hộ sản xuất là việc tiến hành sản xuất kinh doanh đa năng, vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi và làm nghề phụ Sự đa dạng ngành nghề sản xuất ở một góc độ nào đó là sự hỗ trợ cần thiết để kinh tế hộ sản xuất có
hiêụ quả (Phạm Bảo Dương, 2004)
Trang 24* Vai trò của kinh tế hộ nông dân
Theo Hà Thị Thanh Mai (2013), Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Cho đến nay, nền nông nghiệp Việt Nam phát triển trên nền tảng kinh tế nông hộ là chủ yếu Trong thời gian qua, nông hộ đã có những đóng góp quan trọng
về sử dụng các nguồn lực vốn, đất, lao động và kinh nghiệm phục vụ cho việc mở rộng sản xuất, thâm canh nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm nông nghiệp đáp
ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu (Phạm Bảo Dương, 2004)
a) Kinh tế hộ sản xuất giải quyết vấn đề việc làm và sử dụng tài nguyên ở nông thôn
Việc làm hiện nay là một vấn đề cấp bách với nông thôn nói riêng và với cả nước nói chung Đặc biệt nước ta có tới 80% người dân sống ở nông thôn, riêng Kỳ Anh có 53,9% dân số ở nông thôn so với dân số trên toàn thành phố Nếu chỉ trông chờ vào khu vực kinh tế quốc doanh, Nhà nước hoặc sự thu hút lao động ở các thành phố lớn thì khả năng giải quyết việc làm còn rất hạn chế
Kinh tế hộ sản xuất có ưu thế là mức đầu tư cho một lao động thấp, chi phí cho một lao động ở nông thôn ít tốn kém nhất Đây là một điều kiện thuận lợi khi nền kinh tế nước ta còn nghèo, ít vốn tích luỹ
Do việc gắn trực tiếp lợi ích cá nhân với quyền sử dụng, quản lý, lâu dài đất đai, tài nguyên nên việc sử dụng của hộ sản xuất hết sức tiết kiệm và khoa học, làm tăng độ mầu mỡ của đất đai, hay phong phú nguồn tài nguyên vì họ hiểu đó chính là lợi ích lâu dài của họ trên mảnh đất mà họ sở hữu Mặt khác, đối với hộ sản xuất, việc khai hoang phục hoá hay xen canh gối vụ cũng được khuyến khích tăng cường thông qua việc tính toán chi li từng loại cây trồng vật nuôi để từng bước thay đổi bộ mặt kinh tế ở nông thôn, nâng cao đời sống nông dân, tạo thêm công ăn việc làm
(Phạm Bảo Dương, 2004)
Tóm lại, khi hộ sản xuất được tự chủ về sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình Đất đai, tài nguyên và các công cụ lao động cũng được giao khoán Chính họ sẽ dùng mọi cách thức, biện pháp sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất, bảo quản để sử dụng lâu dài Họ cũng biết tự
Trang 25đặt ra định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, khai thác mọi tiềm năng kỹ thuật vừa tạo ra công ăn việc làm, vừa cung cấp được sản phẩm cho tiêu dùng của chính mình và cho toàn xã hội
b Phát triển kinh tế hộ sản xuất có khả năng thích ứng được thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển
Kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá Là đơn vị kinh
tế độc lập, các hộ sản xuất hoàn toàn được làm chủ các tư liệu sản xuất và quá trình sản xuất Căn cứ điều kiện của mình và nhu cầu của thị trường họ có thể tính toán sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Hộ sản xuất tự bản thân mình có thể giải quyết được các mục tiêu có hiệu quả kinh tế cao nhất mà không phải qua nhiều cấp trung gian chờ quyết định Với quy mô nhỏ hộ sản xuất có thể dễ dàng loại bỏ những dự án sản xuất, những sản phẩm không còn khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường để sản xuất loại sản phẩm thị trường cần mà không sợ ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu do
cấp trên quy định (Phạm Bảo Dương, 2004)
Mặt khác, là chủ thể kinh tế tự do tham gia trên thị trường, hoà nhập với thị trường, thích ứng với quy luật trên thị trường, do đó hộ sản xuất đã từng bước tự cải tiến, thay đổi cho phù hợp với cơ chế thị trường Để theo đuổi mục đích lợi nhuận, các hộ sản xuất phải làm quen và dần dần thực hiện chế độ hạch toán kinh tế để hoạt động sản xuất có hiệu quả, đưa hộ sản xuất đến một hình thức phát triển cao hơn Như vậy, kinh tế hộ sản xuất có khả năng ngày càng thích ứng với nhu cầu của thị trường, từ đó có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của toàn xã hội
Hộ sản xuất cũng là lực lượng thúc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở nước ta phát triển cao hơn
c Kinh tế hộ đóng góp sản xuất đối với xã hội
Như trên đã chỉ rõ, hộ sản xuất đã đứng ở cương vị là người tự chủ trong sản xuất kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau và góp phần quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế
Tốc độ tăng về giá trị tổng sản lượng nông nghiệp trung bình hàng năm đạt 4%, nổi bật là sản lượng lương thực Gần 70% rau quả, thịt, trứng, cá, 20% đến 30% quỹ lương thực và một phần hàng tiêu dùng hàng xuất khẩu là do lực lượng kinh tế hộ sản
Trang 26xuất nông nghiệp tạo ra Từ chỗ nước ta chưa tự túc được lương thực thì đến nay đã là một trong những nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới, công lao đó cũng thuộc
về người nông dân sản xuất nông nghiệp (Phạm Bảo Dương, 2004)
Bên cạnh sản xuất lương thực, sản xuất nông sản hàng hoá khác cũng có bước phát triển, đã hình thành một số vùng chuyên canh có năng suất cao như: chè,
cà phê, cao su, dâu tằm Ngành chăn nuôi cũng đang phát triển theo chiều hướng sản xuất hàng hoá (thịt, sữa tươi ), tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi chiếm 24,7% giá trị nông nghiệp
Tóm lại, với hơn 80% dân số nước ta sống ở nông thôn thì kinh tế hộ sản xuất có vai trò hết sức quan trọng, nhất là khi quyền quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên lâu dài được giao cho hộ sản xuất thì vai trò sử dụng nguồn lao động, tận dụng tiềm năng đất đai, tài nguyên, khả năng thích ứng với thị trường ngày càng thể hiện rõ nét Người lao động có toàn quyền tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp hưởng kết quả lao động sản xuất của mình, có trách nhiệm hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh Ở một khía cạnh khác, kinh tế hộ sản xuất còn đóng vai trò đảm bảo an ninh trật tự, ổn định chính trị xã hội, giảm bớt các tệ nạn trong xã hội do hành vi "nhàn cư vi bất thiện" gây ra
2.1.3.2 Trang trại
* Đặc điểm của kinh tế trang trại
Theo Mai Thanh Xuân, 2011 Kinh tế trang trại có một số đặc điểm sau:
- Kinh doanh sản xuất nông sản phẩm hàng hoá cho thị trường Tỷ suất hàng hoá thường đạt 70 – 80% trở lên Tỷ suất hàng hoá càng cao càng thể hiện bản chất
và trình độ phát triển của kinh tế trang trại
- Chủ trang trại là chủ kinh tế cá thể (bao gồm kinh tế gia đình và kinh tế tiểu chủ) nắm một phần quyền sở hữu và toàn bộ quyền sử dụng đối với ruộng đất Tư liệu sản xuất, vốn và sản phẩm làm ra
- Quy mô sản xuất của trang trại trước hết là quy mô đất đai được tập trung đến mức đủ lớn theo yêu cầu của sản xuất hàng hoá, chuyên canh và thâm canh, song không nên vượt quá tầm kiểm soát quá trình sản xuất – sinh học trên đồng ruộng hoặc trong chuồng trại của chủ trang trại
Trang 27- Cách thức tổ chức và quản lý đi dần vào phương thức kinh doanh song trực tiếp, đơn giản và gọn nhẹ vừa mang tính gia đình vừa mang tính doanh nghiệp
- Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức
và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh, về thị trường
* Vai trò của kinh tế trang trại trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp
Trang trại là hình thức tổ chức kinh tế quan trọng trong vấn đề nông nghiệp thế giới, ngày nay trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu trong nền nông nghiệp Ở các nước đang phát triển trang trại gia đình có vai trò quyết định to lớn trong sản xuất nông nghiệp, ở đây nông sản cung cấp cho xã hội được sản xuất ra từ
các trang trại gia đình (Nguyễn Đình Hưởng, 2000)
Ở nước ta kinh tế trang trại mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây Song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tế trang trại đã thể hiện khá rõ nét cả về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội và môi trường
- Về mặt kinh tế: các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hóa cao mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy
đủ và hiệu quả các loại nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn so với kinh tế nông hộ
Do vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển của nông nghiệp và kinh tế của nông thôn (Nguyễn Đình Hưởng, 2000)
- Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số
hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập cho lao động Điều này rất có ý nghĩa trong giải quyết vấn đề lao động và việc làm, một trong những vấn
đề bức xúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay Mặt khác phát triển kinh tế trang trại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn và tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh do đó phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và
đổi mới bộ mặt xã hội nông thôn nước ta (Nguyễn Đình Hưởng, 2000)
Trang 28- Về mặt môi trường: Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực, lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu
tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái trang trại và sau nữa là
phạm vi từng vùng (Nguyễn Đình Hưởng, 2000)
Các trang trại ở trung du, miền núi đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai – những việc làm này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng đất nước
2.1.3.3 Tổ hợp tác Vai trò của tổ hợp tác trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp
- Giải quyết nhu cầu việc làm cho người dân trên quy mô nhỏ, liên kết vốn một cách tự nguyện
- Tranh thủ được thế mạnh của tầng thành viên trong tổ
- Giải quyết các nhu cầu sản xuất, đời sống theo hướng thỏa thuận dân sự
- Là đầu mối liên kết với chính quyền cơ sở, đối tác của các chương trình dự
án cộng đồng, là khách hàng của các doanh nghiệp, nhà cung cấp hàng hóa, nơi thực hiện công tác vận động xã hội, xây dựng cụm, dân cư, làng bản văn hóa
- Vốn của HTX thuộc sở hữu tập thể
- HTX là tổ chức có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính
trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp (Phạm Thị
Cầm và cộng sự, 2003)
* Vai trò của hợp tác xã trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do
ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt
Trang 29động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp
tác xã (Phạm Thị Cầm và cộng sự, 2003)
Hợp tác xã là một loại hình kinh tế tập thể khá phổ biến, hoạt động trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội và hiện diện ở các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau Qua kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như Thái Lan, Ma-lai-xi-a, đặc biệt là Phần Lan – nơi được xem là “quê hương” của HTX cho thấy, đến nay hợp tác
xã vẫn tỏ ra là mô hình hoạt động hiệu quả, phù hợp với điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt Và quan trọng hơn nữa, thông qua hợp tác xã, các hộ nông dân, các doanh nghiệp nhỏ hợp tác với nhau, tăng sức mạnh để đối phó với khó khăn và tránh
các nguy cơ thua lỗ cao (Phạm Thị Cầm và cộng sự, 2003)
Nhận thức đúng vai trò của hợp tác xã có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn chỉnh khuôn khổ pháp luật, làm rõ tiềm năng và lợi thế đích thực của hợp tác xã, từ
đó làm nó có đóng góp quan trọng, là nòng cốt của kinh tế tập thể và cùng với kinh tế Nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Phát triển HTX với mục tiêu cuối cùng và cao cả là đem lại lợi ích cho người dân, trước hết là nông dân, người nghèo, doanh nghiệp nhỏ
Qua triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, Nghị quyết số
13-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX về "tiếp tục đổi mới, phát
triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể" đã xác định: “ Kinh tế tập thể phát triển
với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt”,” Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh
tế quốc dân” và được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương,
sự phối kết hợp của các Ngành khu vực, kinh tế tập thể đã hoạt động có hiệu quả Theo hướng đó, cần củng cố những tổ hợp tác và hợp tác xã hiện có, tiếp tục phát triển rộng rãi kinh tế hợp tác xã với nhiều hình thức, quy mô, trình độ khác nhau trong ngành, lĩnh vực địa bàn có điều kiện
Thực tiễn phát triển đất nước những năm qua đã khẳng định vai trò của khu vực kinh tế tập thể trong nền kinh tế, không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế mà còn
có đóng góp quan trọng trong phát triển văn hóa và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an
Trang 30toàn xã hội, đồng thời HTX đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã
hội cho người nghèo Thứ nhất, thu nhập từ HTX là một phần quan trọng trong thu nhập xã viên Thứ hai, HTX đang tạo ra số lượng lớn công ăn việc làm ổn định cho những người ít có cơ hội tham gia thị trường lao động Thứ ba, HTX có nhiều tiềm năng để giúp người nghèo tiếp cận dịch vụ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế Thứ tư,
HTX có thể thực hiện một phần chính sách ưu đãi xã hội dưới các hình thức có tính cộng đồng cao Ngoài ra, HTX còn có khả năng thực hiện các hoạt động trợ giúp xã hội
mà các tổ chức khác không thực hiện được (Phạm Thị Cầm và cộng sự, 2003)
Hiện nay HTX không làm xóa bỏ kinh tế hộ, không vi phạm quyền làm chủ của các xã viên, hoàn toàn để họ thấy được cái lợi của HTX mà tự nguyện tham gia chứ không ép buộc, có thể thấy phát triển HTX còn khắc phục được những mâu thuẫn sản xuất nhỏ, manh mún với sản xuất hàng hóa lớn, các mô hình HTX NN, dịch vụ, thương mại, môi trường không động chạm đến quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của
hộ xã viên nhưng vẫn bảo lưu được phương thức
Từ thực tế đó chúng ta có thể thấy: thành phần kinh tế tập thể ở khu vực nông thôn Hà Tĩnh, mà nòng cốt là các HTX, tổ hợp tác nếu phát triển đúng hướng, sẽ là một yếu tố và động lực cơ bản để đổi mới tư duy, nâng cao trình độ sản xuất trên mọi phương diện cho người nông dân và đem lại hiệu quả kinh tế cao trong khu vực nông nghiệp, nông thôn, tạo nền tảng để thúc đẩy quá trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Kỳ Anh trong thời gian tới
2.1.3.5 Doanh nghiệp nông nghiệp
* Đặc điểm của doanh nghiệp nông nghiệp
- Là những doanh nghiệp chủ yếu tiến hành sản xuất và kinh doanh trên địa bàn nông thôn, được hình thành từ các hộ kinh doanh, các hợp tác xã và trang trại
- Các doanh nghiệp nông nghiệp tham gia vào kinh doanh các sản phẩm phục
vụ cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn
- Các doanh nghiệp nông nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- So với các doanh nghiệp công nghiệp và doanh nghiệp ở thành thị kinh doanh cùng loại sản phẩm và dịch vụ, doanh nghiệp nông nghiệp có chi phí khởi tạo doanh
nghiệp và kinh doanh cao hơn (Nguyễn Đình Hưởng, 2000)
Trang 31* Vai trò của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp
- Liên kết các bên liên quan lại với nhau để hình thành vùng nguyên liệu sản xuất;
- Là đơn vị cung ứng các dịch vụ phục vụ sản xuất, bao gồm: nguyên liệu đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, và trên hết là tổ chức thu mua, bao tiêu sản phẩm cho nông dân;
- Dự báo định hướng thị trường cho nông dân sản xuất;
-Là đơn vị xây dựng thương hiệu sản phẩm nông sản
2.1.4 Nội dung nghiên cứu các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp
Đi liền phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn về kinh tế thì nội dung cơ bản của phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn gắn liền phát triển kinh tế với xã hội và môi trường sinh thái Trong phạm vi nghiên cứu của để tài, việc phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn được nghiên cứu trên các khía cạnh sau:
2.1.4.1 Nội dung phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn về kinh tế
Nội dung cơ bản của phát triển các hình thức tổ chức kinh trong nông thôn về kinh tế là sự tăng lên về số lượng và chất lượng các tổ chức kinh tế trong nông thôn
-Về lượng: Đó là số lượng tổ chức kinh tế, số người tham gia vào sản xuất, chế biến, kinh doanh và nghề mới phát triển và đảm bảo được hiệu quả sản xuất, chế biến
Sự tăng lên về số lượng các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn, quy
mô của người tham gia vào sản xuất, chế biến, kinh doanh có nghĩa là số lượng ngày được tăng lên cả về số lượng, quy mô sản xuất của các hộ trong nông thôn Phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn phải đảm bảo thoả mãn yêu cầu: Sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, thị trường phải đảm bảo hợp lý và hiệu quả, nâng cao mức sống cho người lao động, không gây ô nhiễm
môi trường, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc (Phạm Bảo Dương, 2004)
- Về chất: Phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm sản xuất, kinh doanh Việc phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn phải đảm bảo tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị sản lượng, thu hút lao động vào ngành nghề phi nông nghiệp, nâng cao thu nhập, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thay đổi mô hình sản xuất tiêu dùng, thông qua:
Trang 32- Tăng năng suất lao động nhằm giảm chi phí, hạ giá giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong nông thôn Năng suất lao động phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Thực hiện tốt công tác dạy nghề, truyền nghề trong nông thôn có làng nghề truyền thống đảm bảo cho người lao động theo nghề có khả năng duy trì, bảo tồn các
kỹ xảo truyền thống, tích lũy được kinh nghiệm, ngày càng thành thục, khéo léo + Có khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhưng vẫn đảm bảo gia tăng hàm lượng chất xám trong sản phẩm; tiết kiệm tiêu hao năng lượng, giảm bớt mức độ nặng nhọc cho người lao động; nâng cao hiệu suất sử dụng tư liệu sản xuất; giảm bớt sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên trong quá trình sản xuất + Các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nông thôn được trang bị các kiến thức về marketing, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm; tổ chức quản lý sản xuất khoa học và hiệu quả
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn theo hướng CNH-HĐH Điều này thể hiện qua: Tăng tỷ trọng công nghiệp - TTCN, dịch
vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp; chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn; tạo ra một nền kinh tế đa dạng ở nông thôn với sự thay đổi về cơ cấu, phong phú, đa dạng về loại hình sản phẩm
+ Gia tăng giá trị sản lượng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng hóa, đóng góp đáng kể cho kinh tế địa phương
+ Góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển; kích thích sự ra đời và phát triển các tổ chức kinh tế trong nông thôn liên quan mật thiết với nó như dịch
vụ, thương mại, vận tải, thông tin liên lạc.v.v
+ Từng bước hình thành phố chợ sầm uất, các trung tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hóa, dần dần tạo lập cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một
rõ nét, tiến đến đô thị hóa trở thành các thị tứ, thị trấn
2.1.4.2 Nội dung phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn về xã hội
Phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn về xã hội tạo ra nhiều việc làm, hạn chế thất nghiệp, nâng cao mức sống dân chúng Do vậy phát triển các hình thức kinh tế trong nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng
Trang 33của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, thực hiện tiến trình đưa đất nước ta cơ bản là nước công nghiệp vào năm 2020 như Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ X đã đề ra (Phạm Bảo Dương, 2004)
Sự phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn về xã hội phải đảm bảo tạo việc làm, thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng quỹ phúc lợi, nâng cao trình độ dân trí, xây dựng nông thôn mới, bảo tồn văn hóa vùng miền ở trong nông thôn, thông qua:
- Tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động vào các ngành nghề phi nông nghiệp, nhất là lao động nông nhàn, tăng thêm thu nhập cho lao động nông thôn
- Giải quyết việc làm không chỉ trong trong nông thôn mà còn thu hút lao động các vùng lân cận, từ đó tạo ra động lực phát triển KT-XH địa phương Các tổ chức kinh tế trong nông thôn phát triển thì có thu nhập ổn định và mức sống cao hơn các vùng thuần nông
- Tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi, hạn chế việc di cư từ vùng này sang vùng khác
- Các tổ chức kinh tế trong nông thôn phát triển tạo ra nguồn tích lũy lớn và
ổn định cho ngân sách địa phương, từ đó đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn (hệ thống điện, trường học, cấp thoát nước.v.v ); tăng sức mua của người dân và thu hẹp khoảng cách thành thị - nông thôn
- Nâng cao học vấn của người dân, thể hiện trình độ dân trí văn minh cao hơn; góp phần xóa đói giảm nghèo; giải quyết tốt các vấn đề xã hội như văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe của người dân trong nông thôn, giảm tệ nạn xã hội
- Phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn gắn liền với bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc vì nó là sự kết tinh của lao động vật chất và lao động tinh thần, được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công Giữ gìn và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động lễ hội hay hương ước của làng
2.1.4.3 Nội dung phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn về môi trường
Hiện nay trong cơ chế thị trường, trong nền kinh tế hội nhập thế giới, muốn khuyến khích các hình thức kinh tế trong nông thôn phát triển Đảng và Nhà nước đã
và đang ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển Song để các hình thức
Trang 34kinh tế trong nông thôn phát triển mạnh cần tạo điều kiện các vấn đề: Quy hoạch phát triển (kể cả lượng sản phẩm, ngành nghề, mặt bằng cho cơ sở sản xuất đầu tư phát triển) có mặt bằng cho đầu tư phát triển thì các cơ sở sản xuất mới có điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất hiện đại kết hợp vốn, công nghệ, thị trường Có mặt bằng sản xuất mới tránh được những sản phẩm bị ô nhiễm ra khỏi dân cư và xử lý môi trường tập trung mới đảm bảo, có mặt bằng cho đầu tư phát triển thì quy mô sản xuất mới được mở rộng, chất lượng sản phẩm được nâng lên, giải quyết việc làm cho người lao động, đời sống của người dân ngày được nâng lên, an ninh chính trị được
ổn định (Phạm Bảo Dương, 2004)
Phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông thôn về môi trường phải đảm bảo giảm thiểu tác hại ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất kinh doanh gây ra; có kế hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên liệu; đa dạng hóa, nghiên cứu, sử dụng nguồn nguyên liệu thay thế; phòng ngừa, hạn chế các bệnh nghề nghiệp; đảm bảo vệ sinh môi trường, không gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn thông qua:
- Bảo vệ môi trường sống không bị ô nhiễm, hạn chế các bệnh nghề nghiệp
- Gắn liền tái tạo tài nguyên, có ý thức nâng cao chất lượng môi trường sinh thái trong nông thôn
2.1.5 Các yếu tổ ảnh hưởng đến việc phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp
Sự hình hình thành và phát triển các tổ chức kinh tế là đòi hỏi khách quan
của nền kinh tế thị trường nói chung và kinh tế thị trường định hướng XHCN nói riêng Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia hoặc trong từng vùng, từng ngành cụ thể có những đặc điểm riêng cả về vai trò, vị trí, mục tiêu, phương thức hoạt động cũng như quá trình hình thành và phát triển Sự khác biệt đó được quy định bởi đặc điểm của chế
độ chính trị xã hội, đường lối, chính sách của Đảng cầm quyền, sự tác động giúp đỡ của nhà nước, các tổ chức xã hội có liên quan và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
Đó chính là những nhân tố ảnh hưởng đến sự ra đời, hình thành và phát triển của
các tổ chức kinh tế (Phạm Bảo Dương, 2004)
Trang 35a Điều kiện tự nhiên: Nhân tố này ảnh hưởng đến phương hướng, quy mô, chất lượng sản phẩm, quy mô tổ chức kinh tế Nhất là những ngành mà hoạt động còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư ngiệp,
b Điều kiện về khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ có khả năng nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến phương pháp quản lý giúp nhà quản lý giảm bớt được các chi phí không cần thiết trong sản xuất
c Trình độ phát triển chung của nền kinh tế: Nhân tố này tác động đến yếu
tố đầu vào, đầu ra đặc biệt là về giá cả, thị trường, khả năng thanh toán của các đơn
vị kinh tế cũng như xã hội Là căn cứ để lựa chọn hình thức tổ chức kinh tế và quy
và đầu ra cho hàng hóa-dịch vụ về tất cả các mặt; đảm bảo minh bạch, rõ ràng, chặt chẽ công tác tài chính/kế toán; xử lý hài hòa mọi quan hệ nội bộ, xây dựng tâm lý đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức kinh tế
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc phát triển các hình thức
tổ chức kinh tế trong nông nghiệp
2.2.1.1 Kinh nghiệm về việc phát triển nông nghiệp ở Nhật Bản Chính sách “ly nông bất ly hương”
Với phương châm “ly nông bất ly hương” để phát triển nông thôn, Nhật Bản
đã thực hiện thành công với hai nhóm chính sách chính: phát triển doanh nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp lớn về nông thôn để tạo sự gắn bó hài hoà phát triển nông thôn với phát triển công nghiệp, xoá bỏ khoảng cách về mức sống giữa đô thị
Trang 36và nông thôn Ở Nhật Bản, năm 1950 thu nhập phi nông nghiệp đóng góp gần 30% tổng thu nhập của cư dân nông thôn, năm 1990 tăng lên tới 85%
Nhật Bản chủ động đưa công nghiệp lớn từ đô thị về nông thôn để tạo việc làm và thu nhập cho cư dân nông thôn, giảm tải cho thành phố Ở Nhật Bản, không chỉ các ngành công nghiệp chế biến nông sản mà cả các ngành cơ khí, hoá chất đều được phân bố trên toàn quốc Từ khi bắt đầu công nghiệp hoá (năm 1883), 80% nhà máy lớn
ở Nhật đã được xây dựng ở nông thôn; 30% lao động nông nghiệp tham gia hoạt động phi nông nghiệp, năm 1960 tỷ lệ này tăng lên 66% Nhờ chủ trương này mà công nghiệp sử dụng được một nguồn lao động rẻ, dân cư nông thôn có thu nhập cao
có nhiệm vụ đào tạo và cấp bằng cao đẳng về quản lý kinh doanh HTX; Viện Đào tạo cấp bằng đào tạo và bằng trung cấp về quản lý, kinh doanh HTX; Trung tâm đào tạo cấp quận, huyện đào tạo cán bộ HTX cơ sở, đào tạo nghề Do có các chính sách và phân cấp đào tạo hợp lý nên Ấn Độ đã có một đội ngũ cán bộ có trình độ cao, thúc đẩy khu vực kinh tế HTX phát triển, và mô hình HTX trở thành lực lượng vững mạnh, tham gia vào hầu hết các hoạt động kinh tế của đất nước
Là một nước nông nghiệp, sự phát triển kinh tế của Ấn Độ phụ thuộc rất nhiều vào việc phát triển nông nghiệp Người nông dân coi HTX là phương tiện để tiếp nhận tín dụng, đầu vào và các nhu cầu cần thiết về dịch vụ Khu vực HTX có
cơ sở hạ tầng rộng lớn, hoạt động trong các lĩnh vực tín dụng, chế biến nông sản,
Trang 37hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ và xây dựng nhà ở với tổng số vốn hoạt động khoảng 18,33 tỷ USD Những lĩnh vực hoạt động quan trọng của khu vực kinh tế HTX ở Ấn Độ đang nổi lên là HTX tín dụng nông nghiệp, có tỷ trọng chiếm tới 43% tổng số tín dụng trong cả nước, các HTX sản xuất đường chiếm tới 62,4% tổng sản lượng đường của cả nước, HTX sản xuất phân bón chiếm 34% tổng số phân bón của cả nước Nổi bật là Liên hiệp HTX sản xuất sữa Amul, bang Gujaza, được thành lập từ năm 1953 Đây là một liên hiệp sản xuất sữa lớn nhất của Ấn Độ, và là một trong những liên hiệp HTX hoạt động kinh doanh có hiệu quả Sau gần 50 năm hoạt động, Liên hiệp này có gần 2 triệu cổ phần Mỗi ngày, Liên hiệp sản xuất 1 triệu lít sữa Sản lượng sữa do Liên hiệp sản xuất chiếm 42,6% thị phần trong cả nước
Nhận rõ vai trò của các HTX chiếm vị trí trọng yếu trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, Chính phủ Ấn Độ đã thành lập công ty quốc gia phát triển HTX, thực hiện nhiều dự án khác nhau trong lĩnh vực chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản, hàng tiêu dùng, lâm sản và các mặt hàng khác, đồng thời thực hiện các
dự án về phát triển những vùng nông thôn còn lạc hậu Ngoài ra, Chính phủ đã thực hiện chiến lược phát triển cho khu vực HTX như: Xúc tiến xuất khẩu; Sửa đổi Luật HTX, tạo điều kiện cho các HTX tự chủ và năng động hơn; Chấn chỉnh
hệ thống tín dụng HTX; Thiết lập mạng lưới thông tin hai chiều giữa những người nghèo nông thôn với các tổ chức HTX; Bảo đảm trách nhiệm của các liên đoàn
HTX đối với các HTX thành viên (Nguyễn Hồng Thư, 2011)
Trang 38cường hướng dẫn quản lý và hỗ trợ hoạt động kinh doanh cho các HTX thành viên; Lập kế hoạch; Phát triển và cung cấp sản phẩm, các chương trình bảo hiểm
và mạng lưới thông tin, đáp ứng nhu cầu của các xã viên; Tổ chức các khóa học và hội thảo về công tác quản lý và giáo dục cho các HTX thành viên; Xuất-nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng…
HTX Nông nghiệp Nhật Bản được đặc trưng bởi hệ thống 3 cấp: các HTX nông nghiệp cơ sở, các liên hiệp và các liên đoàn quốc gia Các tổ chức HTX cơ
sở được tổ chức ở cấp làng, thị trấn và thành phố trực thuộc tỉnh, gồm những thành viên thường xuyên là nông dân và các thành viên liên kết khác HTX nông nghiệp cơ
sở có 2 loại: HTX nông nghiệp đa chức năng và HTX nông nghiệp đơn chức năng HTX nông nghiệp đa chức năng có nhiệm vụ hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp, tiếp thị sản phẩm nông nghiệp, cung cấp nguyên liệu sản xuất và các vật dụng thiết yếu hàng ngày; Cho vay và đầu tư vốn, cung cấp bảo hiểm… HTX nông nghiệp đơn chức năng hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất cụ thể như chế biến sữa, nuôi gia cầm và các nghề truyền thống khác Ngoài ra, còn có chức năng tiếp thị sản phẩm của
các xã viên thành viên và cung cấp nguyên liệu sản xuất…(Phan Trọng An, 2005)
Các tổ chức HTX cấp tỉnh: Các HTX nông nghiệp được điều hành, quản lý thông qua các liên đoàn, các hiệp hội HTX nông nghiệp tỉnh và các liên minh HTX nông nghiệp tỉnh Các liên đoàn HTX cấp tỉnh điều phối các hoạt động của các HTX trong phạm vi, quyền hạn của mình, đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính, bảo hiểm, tiếp thị cho các HTX thành viên Các liên hiệp HTX tỉnh chỉ đạo các vấn đề về tổ chức, quản lý, giáo dục, nghiên cứu cũng như đưa các kiến nghị lên các cơ quan của Chính phủ Các liên minh HTX nông nghiệp tỉnh có nhiệm vụ giám sát và quản lý toàn
bộ hoạt động của các HTX nông nghiệp liên kết
Để giúp các tổ chức HTX hoạt động, Chính phủ Nhật Bản đã tăng cường xây dựng hệ thống phục vụ xã hội hóa nông nghiệp, coi HTX nông nghiệp là một trong những hình thức phục vụ xã hội hóa tốt nhất và yêu cầu các cấp, các ngành phải giúp đỡ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho tổ chức này Đồng thời, Chính phủ còn yêu cầu các ngành tài chính, thương nghiệp giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, tư liệu sản xuất v.v…, tuy nhiên, không
làm ảnh hưởng đến tính tự chủ và độc lập của các HTX này (Phan Trọng An, 2005)
Trang 39c.Tại Thái Lan
Ở Thái Lan, HTX tín dụng nông thôn được thành lập từ lâu Do hoạt động của HTX này có hiệu quả, nên hàng loạt HTX tín dụng được thành lập khắp cả nước Cùng với sự phát triển của các HTX tiêu dùng, các loại hình HTX nông nghiệp, công nghiệp cũng được phát triển mạnh, và trở thành một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước cũng như giữ vững ổn định xã hội
Năm 2001, Thái Lan có 5.611 HTX các loại với hơn 8 triệu xã viên, trong đó có 3.370 HTX nông nghiệp với hơn 4 triệu xã viên; 100 HTX đất đai với hơn 147 nghìn xã viên; 76 HTX thủy sản với hơn 13 nghìn xã viên; 1.296 HTX tín dụng với hơn 2 triệu xã
viên; 400 HTX dịch vụ với hơn 146 nghìn xã viên (Hồng Vân, 2010)
Liên đoàn HTX Thái Lan (CLT) được thành lập, là tổ chức HTX cấp cao quốc gia, thực hiện chức năng đại diện, hỗ trợ, giáo dục và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các HTX và xã viên theo luật định
Hiện nay, Thái Lan có một số mô hình HTX tiêu biểu: HTX nông nghiệp
và HTX tín dụng HTX Nông nghiệp được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên trong các lĩnh vực: Vay vốn, gửi tiền tiết kiệm và tiền ký quỹ, tiêu thụ sản phẩm, tiếp thị, hỗ trợ phát triển nông nghiệp và các dịch vụ khác Thông qua sự trợ giúp của Chính phủ, Ngân hàng Nông nghiệp và HTX Nông nghiệp, xã viên được vay vốn với lãi suất thấp với thời hạn ưu đãi thích hợp cho việc kinh doanh hoặc sản xuất của họ Hiện nay, số HTX tham gia hoạt động kinh doanh này
chiếm khoảng 39% (Hông Vân, 2010)
Hoạt động của HTX tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên về các lĩnh vực: Khuyến khích gửi tiền tiết kiệm của các xã viên; Góp cổ phần; Cung cấp các dịch vụ vốn vay cho xã viên…
Để tạo điều kiện cho khu vực HTX phát triển và khuyến khích xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách thiết thực như chính sách giá, tín dụng nhằm khuyến khích nông dân phát triển sản xuất Mục tiêu của chính sách giá cả là: Đảm bảo chi phí đầu vào hợp lý để có giá bán ổn định cho người tiêu dùng, đồng thời góp phần làm ổn định giá nông sản tại thị trường trong nước, giữ giá trong nước thấp hơn giá thị trường thế giới, khuyến khích xuất khẩu Với
Trang 40chính sách tín dụng, các xã viên có thể vay tín dụng từ các HTX Nông nghiệp, các
cơ quan chính phủ, các ngân hàng thương mại để đầu tư vào sản xuất, xây dựng cơ
sở vật chất phục vụ cho nông nghiệp Trong giai đoạn 2002-2004, Chính phủ đã dành 134 tỷ Bạt để cải thiện và phát triển HTX, bao gồm phát triển sản phẩm mới, giống công nghệ sinh học, mở rộng tưới tiêu…Ngân hàng các HTX Nông nghiệp và nông thôn Thái Lan đã dành 2 tỷ Bạt để khuyến khích xã viên các HTX sản xuất-kinh doanh Ngoài ra, Chính phủ đã thành lập Bộ Nông nghiệp và HTX, trong đó có 2 vụ chuyên trách về HTX là Vụ phát triển HTX và Vụ kiểm toán HTX Vụ phát triển HTX đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các HTX thực hiện các hoạt động kinh doanh, nhằm đạt được các mục tiêu do các HTX đề ra; Vụ kiểm toán HTX thực hiện chức năng kiểm toán HTX và hướng dẫn nghiệp vụ kế toán trong công tác quản lý tài chính, kế toán HTX Hàng năm, Liên đoàn HTX Thái Lan tổ chức hội nghị toàn thể với sự tham gia của các đại diện từ các loại hình HTX trong cả nước và đại diện các cơ quan của Chính phủ liên quan đến tổ chức HTX Sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ Thái Lan thực sự có hiệu quả trong việc hoạch định các chính sách đối với phát triển
khu vực HTX (Nguyễn Hữu Tiến, 1996)
d.Tại Malaixia
Ở Malaixia, các tổ chức HTX được thành lập từ những năm đầu của thế kỷ
XX Hiện nay, tổ chức HTX đang là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước Tổ chức HTX Malaixia (ANGKASA) là tổ chức cấp cao của các HTX Malaixia ANGKASA có nhiệm vụ hỗ trợ các HTX thành viên
về phương thức điều hành và quản lý các hoạt động của HTX bằng cách tư vấn, giáo dục hoặc tổ chức những dịch vụ cần thiết Hiện nay, ANGKASA có 4.049 HTX các loại với 4,33 triệu xã viên, trong đó, HTX tín dụng và ngân hàng có 442 HTX với 1,32 triệu xã viên; HTX nông nghiệp có 205 HTX với 0,19 triệu xã viên; HTX xây dựng nhà ở có 103 HTX với 0,07 triệu xã viên; HTX công nghiệp có 51 HTX với 0,01 triệu xã viên; HTX tiêu dùng có 2.359 HTX với 2 triệu xã viên; HTX dịch vụ có 362 HTX với 0,14 triệu xã viên v.v… Sự phát triển vững chắc của các khu vực kinh tế
HTX đã thúc đẩy nền kinh tế Malaixia có bước phát triển mới (Hông Vân, 2010)