sở cho việc đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này theo Luật Đất đai năm 2013.- Những giải pháp đề xuất phải dựa trên cơ sở tuân thủ quy định của Luật Đất đai và phù h
Trang 1NGUYỄN VĂN MẠNH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO ĐẤT KHÔNG THU TIỀN
SỬ DỤNG ĐẤT TẠI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2NGUYỄN VĂN MẠNH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO ĐẤT KHÔNG THU TIỀN
SỬ DỤNG ĐẤT TẠI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN KHẮC THỜI
HÀ NỘI - 2015
Trang 4nhân trong và ngoài Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Khắc Thời, là
người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và
viết luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Quản lý đất đai Học viện
Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi
Tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Chi Cục lưu trữ, Văn phòng Đăng ký đất đai
thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong
quá trình thu thập số liệu, tài liệu
Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Phòng Tài nguyên và Môi
trường, Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Lục Ngạn, UBND các xã thị trấn trên địa
bàn huyện đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, điều tra, khảo sát tại các đơn vị
những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn này
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới sự giúp đỡ tận tình,
quý báu đó
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Mạnh
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của công tác quản lý Nhà Nước về đất đai 4
1.1.2 Tình hình quản lý đất đai của các tổ chức ở Việt Nam 71.1.3 Tình hình sử dụng đất đai của cả nước 121.1.4 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 171.1.5 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất của các tổ chức trên địa
1.1.6 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 251.2 Đánh giá chung về công tác quản lý, sử dụng 27Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc
2.2.2 Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn 29
Trang 62.2.3 Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức được Nhà
nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 292.2.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của
các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền, công nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 292.3 Phương pháp nghiên cứu 302.3.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, tài liệu, số liệu 302.3.2 Phương pháp thống kê, so sánh 312.3.3 Phương pháp xử lý số liệu sử dụng phần mềm vi tính 31Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Lục Ngạn 323.1.1 Điều kiện tự nhiên 323.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 373.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và môi
3.2 Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn 433.2.1 Đánh giá tình hình quản lý đất đai huyện Lục Ngạn 433.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Lục Ngạn 473.3 Đánh giá thực trạng việc quản lý, sử dụng đất của các tổ chức được
giao đất không thu tiền sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn 48
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của các tổ chức 483.3.2 Giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 533.3.3 Mục đích sử dụng đất được giao của các tổ chức 573.3.5 Đánh giá chung tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 62
3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất
của các tổ chức được giao đất không thu tiền sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 65
3.4.1 Giải pháp về chính sách pháp luật 65
Trang 73.4.2 Giải pháp về kinh tế 653.4.3 Giải pháp về khoa học công nghệ 663.4.4 Giải pháp về tăng cường quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
UBND: Ủy ban nhân dân
GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HTX: Hợp tác xã
DTNT: Dân tộc nội trú THPT: Trung học phổ thông TTYT: Trung tâm y tế THCS: Trung học cơ sở
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.1 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bắc Giang năm 2014 23
3.2 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của huyện Lục Ngạn qua một số năm 38
3.3 Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Lục Ngạn qua một số năm 38
3.4 Hiện trạng sử dụng đất huyện Lục Ngạn năm 2014 48
3.5 Thống kê diện tích sử dụng các tổ chức theo đơn vị hành chính năm
3.8 Kết quả cấp giấy chứng nhận QSD đất của các tổ chức năm 2014 53
3.9 Kết quả cấp GCNQSD đất cho các tổ chức theo nguồn gốc sử dụng 55
3.10 Phân loại tổ chức chưa được cấp GCNQSDĐ 56
3.11 Thống kê diện tích sử dụng đúng mục đích của các tổ chức 58
3.12 Tình hình cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng trái phép của các tổ
3.13 Tình hình tranh chấp, bị lấn chiếm diện tích do tổ chức sử dụng năm
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí địa lý của huyện Lục Ngạn 32
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựng và phát triển dân sinh, kinh tế - xã hội, quốc phòng
và an ninh Chính vì tầm quan trọng của đất đai đối với cuộc sống con người do vậy rất cần thiết phải sử dụng vốn đất một cách tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả Một quốc gia muốn phát triển kinh tế thì trước hết phải sử dụng nguồn tài nguyên này hợp lý, hiệu quả và bền vững
Ở nước ta trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đất đai mới chỉ được coi trọng về mặt hiện vật, các nguồn lực tài chính từ đất đai chưa được quan tâm nhiều, việc khai thác sử dụng chưa thực sự có hiệu quả, kết quả thu được cho Nhà nước, xã hội từ đất đai chưa lớn Kể từ khi đổi mới, với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế ngày càng phát triển dẫn đến sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế và các hình thức sản xuất Từ chỗ kinh tế quốc doanh chiếm đa số thì đến nay kinh tế tư nhân, liên doanh liên kết phát triển đóng vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân Từ đó, vai trò đại diện chủ sở hữu về đất đai của Nhà nước không những thể hiện qua sự quản lý, khai thác, sử dụng đất đai với tư cách là tư liệu sản xuất mà còn thể hiện qua việc khai thác, sử dụng các nguồn lực tài chính quan trọng từ đất đai phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Nhờ có chính sách đổi mới đó mà đời sống người dân ngày càng cải thiện, kinh tế đất nước ngày càng phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó thì vấn đề đặt ra với cơ quan quản lý đất đai là làm thế nào
để đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng của các thành phần kinh
tế, trên tổng quỹ đất nhất định của đất nước Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, chú trọng giải quyết Sự quan tâm đó được thể hiện qua Luật Đất đai và hàng loạt các văn bản của Chính phủ và các Bộ, Ngành có liên quan với mục đích là quản lý, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên đất
Do vậy việc quản lý, sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất là nội dung quan trọng trong quản lý Nhà nước về đất
Trang 12đai và được quy định cụ thể tại các điều 166, 170, 173 của Luật đất đai 2013 (NXB Tài nguyên- Môi trường và Bản đồ Việt Nam, 2013) Quản lý, sử dụng đất của các
tổ chức để quản lý đối tượng tổ chức sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả
Hiện nay diện tích đất các tổ chức đang quản lý, sử dụng chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, xảy ra nhiều tiêu cực: sử dụng không đúng diện tích, sử dụng không đúng mục đích, bị lấn chiếm, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn trái phép
Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn khách quan, việc đánh giá thực trạng quản
lý, sử dụng đất của các tổ chức là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng là đất đai nói chung và đối với diện tích mà các tổ chức đang quản lý sử dụng nói riêng
Vì vậy việc đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức để kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao việc sử dụng đất, tránh lãng phí là việc làm hết sức cần thiết
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, tôi xin tiến hành nghiên cứu đề tài
“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang”
3 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra đầy đủ các số liệu về giao đất và sử dụng đất của các tổ chức sử dụng đất được nhà nước giao đất không thu tiền
- Chọn các điểm điều tra, khảo sát để phục vụ công tác nghiên cứu có tính điển hình, nổi bật
- Đánh giá đúng thực trạng tình hình sử dụng đất của các tổ chức được giao đất không thu tiền sử dụng đất trên địa bàn huyện tại thời điểm nghiên cứu làm cơ
Trang 13sở cho việc đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này theo Luật Đất đai năm 2013.
- Những giải pháp đề xuất phải dựa trên cơ sở tuân thủ quy định của Luật Đất đai và phù hợp với đặc điểm của địa phương nhằm nâng cao hiệu quả quản lý,
sử dụng đất đai của các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của công tác quản lý Nhà Nước về đất đai
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Khái quát về đất đai
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn để phân bố dân
cư, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng Tại Điều 53, 54 Chương III Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2013) quy định “Điều 53: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản,
nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; Điều 54: 1 Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật; 2
Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ; 3 Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết
do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật; 4 Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai”
Việc quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên đất đai đúng mục đích, hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái sẽ phát huy tối đa nguồn lực của đất đai, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 151.1.1.2 Khái quát về đất tổ chức và tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền
sử dụng đất
Tổ chức sử dụng đất, quản lý đất (còn gọi là đối tượng sử dụng, quản lý đất)
là tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang được sử dụng, được Nhà nước giao đất để quản lý, quy định trong Luật Đất đai năm 2013 (NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2013), gồm:
Các tổ chức trong nước được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất bao gồm: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ
1.1.1.3 Ý nghĩa của công tác quản lý Nhà nước về đất đai đối với các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất
Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt và có hạn, mọi hoạt động của con người đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn bó với đất đai Tổng diện tích tự nhiên của một phạm
vi lãnh thổ nhất định là không đổi Nhưng khi sản xuất phát triển, dân số tăng, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh thì nhu cầu của con người đối với đất đai cũng ngày càng gia tăng Có nghĩa cung là cố định, cầu thì luôn có xu hướng tăng Điều này dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt giữa những người sử dụng đất và giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau Vì vậy để sử dụng đất có hiệu quả và bền vững, quản lý đất đai được đặt ra như một nhu cầu cấp bách và cần thiết Quản lý đất đai đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất trong cả nước Việc quản lý nhằm kết hợp hiệu quả giữa sở hữu và sử dụng đất trong điều kiện hệ thống pháp luật nước ta quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai Mặt khác, quản lý đất đai còn có vai trò quan trọng trong việc kết hợp hài hòa các nhóm lợi ích của Nhà nước, tập thể và các cá nhân nhằm hướng tới mục tiêu phát triển Công tác quản lý đất đai dựa trên nguyên tắc quan trọng nhất là sử dụng và tiết kiệm, hiệu quả và bền vững Do đó quản lý, sử dụng đất đai là một trong những hoạt động quan trọng nhất của công tác quản lý hành chính Nhà nước nói chung và quản lý, sử dụng đất của các tổ chức nói riêng
Trang 161.1.1.4 Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất
Căn cứ Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai;
Căn cứ Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khách gắn liền với đất;
Căn cứ Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2015 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định về hồ sơ địa chính;
Căn cứ Quyết định số 124/QĐ-UBND ngày 08/12/2012 của UBND tỉnh Bắc Giang Về việc đề phê duyệt quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011- 2020, kế hoạch
sử dụng đất kỳ đầu 2011- 2015 huyện Lục Ngạn
1.1.2 Tình hình quản lý đất đai ở một số nước trên thế giới:
Hiện nay trên thế giới ngoài ý thức và tính pháp chế thực thi pháp luật của chính quyền nhà nước và mọi công dân, chính sách pháp luật về lĩnh vực đất đai của các quốc gia đang ngày càng được hoàn thiện Trên cơ sở chế độ sở hữu về đất đai,
ở quốc gia nào cũng vậy, nhà nước đều có những chính sách, nguyên tắc nhất định trong việc thống nhất chế độ quản lý, sử dụng đất đai Một trong những chính sách lớn được thực hiện tại nhiều quốc gia là chính sách giao đất cho người sử dụng đất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bình ổn chính trị, tạo sự công bằng trong xã hội
Mục tiêu chính trong các chính sách về giao đất cho người sử dụng đất ở bất
kỳ quốc gia nào giúp chính quyền nắm chắc, quản chặt và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất Hiện nay trên thế giới tồn tại chủ yếu 3 hình thức sở hữu về đất đai là
sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước Ở đa số các quốc gia đều có các hình thức sở hữu về đất đai ở trên , hiện tại còn có 1 số quốc gia như Lào, Triều Tiên, Việt Nam và Cu Ba chỉ tồn tại duy nhất một hình thực sở hữu về đất đai là sở hữu Nhà nước (hay sở hữu toàn dân ở Việt Nam) và ở các nước này việc giao đất cho người sử dụng đất thông qua 3 hình thức như: giao đất có thu tiền sử dụng đất,
Trang 17giao đất không thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất Tuy nhiên, phụ thuộc vào chính sách quản lý đất đai và tốc độ phát triển kinh tế mà lựa chọn các loại hình thức trên cho phù hợp Trung Quốc là quốc gia có 2 hình thức sở hữu đất đai là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, trong chính sách giao đất cũng áp dụng hai hình thực là giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất Đối với các nước
có hình thức sở hữu tư nhân về đất đai thì việc giao đất không thu tiền sử dụng đất không còn phổ biến
1.1.3 Tình hình quản lý đất đai ở Việt Nam
1.1.3.1 Khái quát chung qua một số thời kỳ
Trước thế kỷ XV ở Việt Nam chưa có hệ thống địa chính theo đúng nghĩa Tính chất hành chính của quản lý đất đai thể hiện qua việc chính quyền thu các loại thuế bằng hình thức cống nạp Hệ thống địa chính sơ khai thời phong kiến chỉ được thiết lập vào đầu thế kỷ XV (Nhà hậu Lê) và được hoàn chỉnh vào đầu thế kỷ XIX (Nhà Nguyễn), (Đặng Hùng Võ, Nguyễn Đức Khả, 2007)
Các hệ thống địa chính hiện đại được hình thành dần trong nhiều giai đoạn, bị xáo trộn phức tạp qua nhiều cuộc chiến tranh ở Việt Nam (Đặng Hùng Võ, Nguyễn Đức Khả, 2007)
1.1.3.2 Hệ thống địa chính sơ khai
Trong thời kỳ Nhà Trần, Nhà nước phong kiến đã có tư tưởng thành lập hệ thống địa bạ để quản lý đất đai Vào cuối nhà Trần và đầu thời kỳ nhà Hồ (1398-1402) nhà nước đã có những cải cách táo bạo của Hồ Quý Ly về “hạn danh diền”;
“hạn nô” và đo đạc lập số ruộng đất Hệ thống địa chính đầu tiên được thiết lập chính thức có quy mô toàn quốc do vua Lê Thái Tổ khởi xướng (năm 1428) và được hoàn chỉnh dưới thời vua Lê Thánh Tông (năm 1460-1491) cùng với việc ban hành luật Hồng Đức Hệ thống này bao gồm một số nội dung chủ yếu như sau:
- Đo đạc các thửa đất, làm số ruộng đất toàn quốc vào năm 1428
- Ban hành “Quốc triều hình luật” hay còn gọi là Luật Hồng Đức năm 1483 gồm 722 điều, trong đó 59 điều quy định về ruộng đất
- Thực hiện phép “Quân điền” (bắt đầu từ năm 1429) theo đó các làng xã phải thực hiện việc chia cấp ruộng công cho các dân định sử dụng theo thời gian, nhân
Trang 18khẩu và quy chế của Nhà nước
- Có chính sách cự thể về xác định quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai
Hệ thống địa chính thời Hậu Lê đã góp phần tăng cường quyền lực cho nhà nước phong kiến, tăng cường quyền lực cho bộ máy hành chính, điều chỉnh được mối quan hệ giữa đất đai của nhà vua và đất đai tập thể của làng xã và đất đai tư nhân của giai cấp địa chủ, gia tăng thuế cho quốc gia, phát triển kinh tế và sức sản xuất phong kiến (Đặng Hùng Võ, Nguyễn Đức Khả, 2007)
1.1.3.3 Hệ thống địa chính của Nhà Nguyễn
Bắt đầu từ Gia Long (1802-1820) và hoàn chỉnh vào thời Minh Mạng 1840) là sự tiếp nối và nâng cao hệ thống thời Hậu Lê, nội dung chính bao gồm: Ban hành “Hoàng Việt luật lệ” hay còn gọi là “Luật Gia Long” vào năm 1815 gồm 398 điều trong đó có 14 điều về ruộng đất
(1820 Thực hiện phép “Quân điền” mới vào năm 1804, trong đó có chính sách thu hẹp quỹ đất công, quan lại từ nhất phẩm trở xuống cũng được phân cấp đất công theo định kỳ và nhân khẩu do nhà nước quy định
- Thực hiện cải cách ruộng đất vào thời Minh Mạng với nội dung xác lập quyền sở hữu tuyệt đối của Nhà vua về đất đai, thiết lập chế độ hạn điền, giảm bớt quyền lực kinh tế của địa chủ (nhưng chỉ được thực hiện ở tỉnh Bình Định, không triển khai được ra quy mô rộng do trở ngại ở tầng lớp địa chủ, quan lại)
- Phát triển mạnh mẽ quỹ đất đai toàn quốc thông qua khai khẩn đất hoang, tổ chức dồn điền và dinh điền (Đặng Hùng Võ, Nguyễn Đức Khả, 2007)
i Về đất đai, khuyến khích sở hữu tư bản tư nhân trong sản xuất nông nghiệp
p Người Pháp đánh thuế thổ canh rất cao song thổ cư lại rất thấp
Ở Bắc Kỳ, Pháp áp dụng chế độ bảo hộ (Protectorat)
Trang 19Từ năm 1925 cả Nam Kỳ và Bắc Kỳ đều thành lập hệ thống địa chính theo sắc lệnh năm 1925 với chế độ điền thổ và bảo thủ điền thổ mà theo đó các chủ sở hữu đất sau khi đăng ký được cấp bằng khoán điền thổ
Ở Trung Kỳ, Pháp áp dụng chế độ cai trị nửa bảo hộ, từ năm 1930 hoạt động địa chính là công tác “Bảo tồn điền trạch” (Đặng Hùng Võ, Nguyễn Đức Khả, 2007)
1.1.3.5 Quá trình hình thành phát triển Chính sách đất đai từ 1945 đến Luật Đất đai năm 2013
Năm 1945 Cách mạng tháng Tám thành công thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Hiến pháp lần thứ nhất năm 1946 được ban hành Quyền sở hữu đất đai tư nhân vẫn được thừa nhận và bảo hộ
Năm 1946, Nhà nước tập trung chủ yếu vào việc ban hành chính sách tận dụng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp cứu đói Trong 9 năm kháng chiến chống Thực dân Pháp, chính sách đất đai tập trung vào phát triển sản xuất nông nghiệp, giao đất
vô chủ cho người có điều kiện sử dụng, tịch thu ruộng đất thuộc quyền sở hữu của người Pháp, khuyến khích đóng thuế nông nghiệp
Năm 1953, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất nhằm đánh đổ giai cấp địa chủ, thực hiện chính sách “người cày có ruộng” mặc dù có những sai lầm nhất định nhưng cuộc cải cách ruộng đất đã hoàn thành, ruộng đất được chia đến tay nông dân
Cuối năm 1958, cuộc vận động thành lập tổ đổi công và xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Một số ruộng đất thuộc đồn điền cũ hoặc đất chuyên canh được tổ chức thành các nông trường quốc doanh thuộc sở hữu nhà nước Đất rừng sản xuất được tổ chức thành các lâm trường quốc doanh thuộc sở hữu Nhà nước
Năm 1959, Hiến pháp lần thứ hai đươc ban hành đã xác nhận 3 hình thức sở hữu đất đai: Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Sở hữu nhà nước được ưu tiên, sở hữu tập thể được bảo hộ và khuyến khích, sở hữu tư nhân bị hạn chế
Đất nước thống nhất năm 1975, Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, hiến pháp lần thứ 3 được ban hành vào năm 1980, theo hiến pháp này quyền sở hữu tập thể và quyền sở hữu tư nhân về đất đai bị xóa bỏ, toàn bộ đất đai thuộc sở hữu toàn dân
Trang 20Đồng thời vào năm 1980, Theo Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1980 của Ban
bí thư Trung ương Đảng, sản xuất hợp tác xã và nông lâm trường quốc doanh dần không hiệu quả đã thể hiện rõ rệt Trung ương Đảng đã ban hành chính sách khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp Vào năm 1980, Tổng cục Quản lý ruộng đất được thành lập đã đẩy mạnh việc điều tra lập bản đồ giải thửa để nắm chắc quỹ đất đai toàn quốc, được thể hiện thông qua Chỉ thị 299/TTg (Thủ tướng Chính phủ, 1980)
Tư duy đổi mới được bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng khóa VI (1986) đã đưa vấn đề lương thực- thực phẩm trở thành một trong ba chương trình muc tiêu để đổi mới kinh tế
Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị là văn kiện quyết định nhằm đổi mới chế độ sử dụng đất nông nghiệp, khẳng định việc chuyển nền nông nghiệp tự cung tự cấp theo hướng sản xuất hàng hóa
Năm 1987, Quốc hội thông qua Luật Đất đai lần thứ nhất (gọi là luật đất đai 1987) với nội dung chủ yếu là thực hiện chính sách giao đất của hợp tác xã cho hộ gia đình cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài, người không sử dụng đất phải trả lại nhà nước để giao cho người khác sử dụng, các chủ sử dụng đất chưa được chuyển quyền sử dụng đất đai, đất không có giá
Năm 1992, Hiến pháp lần thứ tư được ban hành trong đó tiếp tục khẳng định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Nhà nước thống nhất quản lý đất đai bằng pháp luật và quy hoạch, Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài
Năm 1993, Quốc hội thông qua Luật Đất đai lần thứ hai (gọi là Luật Đất đai 1993) trong đó người sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở được thực hiện 5 quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp Đất có giá và giá đất do nhà nước quy định, từ đây như một làn gió mới thổi vào người dân được yên tâm đầu
tư trên mảnh đất của mình đồng thời được thực hiện các quyền giao dịch trên mảnh đất của mình đã được nhà nước thừa nhận, (Đặng Hùng Võ, Nguyễn Đức Khả, 2007) Năm 2003, Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 nhằm đổi mới chính sách đất đai cho phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
Trang 21nước Luật Đất đai năm 2003 định hướng tốt hơn cho quá trình chuyển dịch cơ cấu
sử dụng đất, phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế động và cơ cấu đầu
tư, tạo hiệu quả thực sự trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ
Năm 2013, Hiến pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lần thứ năm được thông qua, trong đó vẫn khẳng định đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật Đồng thời Luật Đất đai năm 2013 cũng được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014
Kế thừa các quy định của Luật Đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 tiếp tục quy định người sử dụng đất gồm 7 nhóm chủ thể, tuy nhiên có một số sửa đổi như sau (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013):
Thứ nhất, đối với nhóm chủ thể là tổ chức trong nước sửa đổi “tổ chức khác theo quy định của Chính phủ” thành “tổ chức khác theo quy định của pháp luật dân sự” để phù hợp với quy định của pháp luật dân sự về các tổ chức
Thứ hai, đối với nhóm chủ thể là cộng đồng dân cư bổ sung thêm “tổ dân phố”
Thứ ba, đối với chủ thể là cơ sở tôn giáo bổ sung thêm cơ sở “nhà nguyện”
và “niệm phật đường”
Thứ tư, đối với chủ thể là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sửa đổi
theo hướng bỏ quy định điều kiện là phải “về đầu tư, hoạt động văn hóa, hoạt động
khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở” mà
dẫn chiếu đến quy định của pháp luật về quốc tịch để xác định
Thứ năm, đối với chủ thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài, trước đây quy định
các chủ thể này đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư nhưng trên thực tế khi các chủ thể này vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về đầu tư Vì vậy, chủ thể này được sửa đổi lại tên gọi trong
Luật Đất đai năm 2013 là “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài,
Trang 22doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư
1.1.4 Tình hình sử dụng đất đai ở nước ta
1.1.4.1 Hiện trạng sử dụng đất
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2014 (Tổng cục Thống kê, 2014), diện tích đất tự nhiên của nước ta (bao gồm cả đất liền và các đảo nổi) là 33.115.052 ha Với tổng diện tích đất tự nhiên trên 33,11 triệu ha, nước ta có ¾ diện tích lãnh thổ là đồi núi, được phân bố ở các tỉnh phía Bắc 15,80 triệu ha, (2,30 triệu ha ở đồng bằng, tập trung tại hạ lưu các dòng song, các dải đất ven biển) Các tỉnh phía Nam có 17,20 triệu ha diện tích đất tự nhiên với 6,70 triệu ha đất bằng chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Trên địa bàn cả nước, diện tích đất đang được khai thác sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp là 28.592.216 ha, chiếm 86,34% diện tích đất
tự nhiên; đất chưa sử dụng còn 4.522.836 ha, chiếm 13,66% tổng quỹ đất Khoảng 36% diện tích đất đang sử dụng của cả nước tập trung ở 2 vùng Đông Bắc (với 5.221.914 ha, chiếm 18,26%) và Tây Nguyên (với 5.075.746 ha, chiếm 17,75%); khoảng 42% tập trung ở vùng Bắc Trung Bộ (4.331.820 ha, chiếm 15,15%); vùng Đồng bằng sông Cửu Long (4.015.123 ha, chiếm 14,04%) và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (với 3.640.395 ha, chiếm 12,73%); còn lại 3 vùng chiếm tỷ lệ 22% (trong
đó, vùng có tỷ lệ thấp nhất là Đồng bằng sông Hồng (chiếm 5,09%) Diện tích các loại đất đang được sử dụng vào các mục đích chính như sau:
* Đất nông nghiệp: có 25.129.243 ha, chiếm 75,88% diện tích tự nhiên, bình quân đạt 0,29 ha/người và đạt 0,97 ha/lao động nông nghiệp Trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp: có 9.592.742 ha, chiếm 28,97% diện tích đất tự nhiên và chiếm 33,55% diện tích đất đang sử dụng, trong đó:
+ Đất trồng cây hàng năm: có 6.280.520 ha, chiếm 65,47% diện tích đất sản xuất nông nghiệp và bằng 18,97% diện tích đất tự nhiên của cả nước Trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích lớn nhất (chiếm tới 31,98%), còn lại các vùng khác chỉ chiếm bình quân khoảng 9,72%;
+ Đất trồng lúa: có 4.084.914 ha (trong đó, đất chuyên trồng lúa nước có
Trang 233.279.229 ha, còn lại 805.685 ha là đất trồng lúa nước còn lại và đất trồng lúa nương), chiếm 65,04% diện tích đất trồng cây hàng năm, 42,58% đất sản xuất nông nghiệp, 16,26% đất nông nghiệp và 12,34% diện tích đất tự nhiên của cả nước Đất trồng lúa tập trung chủ yếu ở hai vùng là Đồng bằng sông Hồng (14,88%) và Đồng bằng sông Cửu Long (45,78%)
+ Đất cỏ dùng vào chăn nuôi: có 58.734 ha, chiếm 0,94% diện tích đất trồng cây hàng năm, tập trung chủ yếu ở 2 vùng Đông Bắc (31,289 ha) và Bắc Trung Bộ (6.770 ha) Diện tích đất cỏ dùng vào chăn nuôi liên tục tăng qua các giai đoạn, tăng mạnh nhất tại 2 vùng Đông Bắc (15.574 ha) và Tây Bắc (2.039 ha)
+ Đất trồng cây hàng năm khác: 2.136.872 ha, chiếm 34,02% đất trồng cây hàng năm và bằng 22,28% diện tích đất sản xuất nông nghiệp của cả nước; tập trung chủ yếu ở vùng Tây Nguyên (599.892 ha), Duyên hải Nam Trung Bộ (375.720 ha) + Đất trồng cây lâu năm: có 3.312.221 ha, chiếm 34,53% đất sản xuất nông nghiệp của cả nước, phân bổ tập trung ở 3 vùng: Đông Nam Bộ (1.009.128 ha), Tây Nguyên (900.031 ha) và Đồng bằng sông Cửu Long (537.453 ha)
- Đất lâm nghiệp: có 14.767.106 ha đất lâm nghiệp, chiếm 44,59% diện tích đất tự nhiên và 58,76% diện tích đất nông nghiệp Vùng có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất là Đông Bắc với 3.704.964 ha, chiếm 25,09% đất lâm nghiệp cả nước, tiếp
đó là Tây Nguyên có 3.081.781 ha chiếm 20,87%, vùng Bắc Trung Bộ 2.955.395 ha chiếm 20,01% … Trong tổng diện tích đất lâm nghiệp, có 12.514.066 ha đất có rừng đủ tiêu chuẩn và tạo độ che phủ của rừng đạt 37,79%, diện tích mới được khoanh nuôi tái sinh và đất trồng rừng có 2.253.040 ha (trong đó khoanh nuôi phục hồi rừng chiếm 51,51%)
- Đất nuôi trồng thủy sản: có 737.553 ha, chiếm 2,94% diện tích đất nông nghiệp và 2,23% diện tích đất tự nhiên; trong đó diện tích đất nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn chiếm phần lớn với 591.563 ha Diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng 369.707 ha so với năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 46 nghìn ha;
- Đất làm muối: có 13.699 ha, tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long với 4.469 ha và Duyên hải Nam Trung Bộ với 3.592 ha;
- Đất nông nghiệp khác: có 18.144 ha, chiếm 0,07% diện tích đất nông
Trang 24nghiệp; trong đó tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long với 6.693 ha, Duyên hải Nam Trung Bộ với 2.832 ha
* Đất phi nông nghiệp: có 3.462.973 ha, chiếm 10,46% tổng diện tích đất tự nhiên, tăng 621.675 ha so với năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 76,6 nghìn ha Các vùng có diện tích đất phi nông nghiệp lớn như: Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (589.606 ha, chiếm 17,02% diện tích đất phi nông nghiệp của cả nước), Bắc Trung Bộ (522.090 ha chiếm 15,08%), Bắc Trung Bộ (504.250 ha, chiếm 14,56%), Đông Bắc (495.835 ha, chiếm 14,32%), Đông Nam Bộ (417.360 ha, chiếm 12,05%), cụ thể các loại đất:
- Đất ở: có 633.120 ha, chiếm 1,91% tổng diện tích đất tự nhiên và chiếm 18,28% tổng diện tích đất phi nông nghiệp, gồm:
+ Đất ở tại nông thôn 514.791 ha, tăng 143.771 ha so với năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 17.971 ha;
+ Đất ở tại đô thị 118.329 ha, tăng 46.171 ha so với năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 5.771 ha
- Đất chuyên dùng: có 1.623.703 ha (chiếm 4,09% tổng diện tích đất tự nhiên), tăng 551.501 ha so với năm 2000, bình quân tăng 68.938 ha/năm, trong đó các vùng có biến động lớn như: Đồng bằng sông Hồng tăng 71.432 ha, Đông Nam Bộ tăng 94.916
ha, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 86.458 ha, gồm:
+ Đất quốc phòng: có 269.952 ha, tăng 16.929 ha so với năm 2005, bình quân tăng 5.643 ha/năm
+ Đất an ninh có 34.474 ha, tăng 5.314 ha so với năm 2005, bình quân tăng 1.771 ha/năm;
+ Đất có mục đích công cộng: có 220.630 ha, chiếm 0,67% diện tích đất tự nhiên, tăng 282.242 ha so với năm 2000, tốc độ tăng bình quân 35.280 ha/năm; + Các loại đất phi nông nghiệp còn lại: có 1.476.093 ha (chiếm 4,46% diện tích tự nhiên, tăng 220.298 ha so với năm 2000, bình quân tăng 27.537 ha/năm
* Đất chưa sử dụng: năm 2014 trên địa bàn cả nước còn 4.4963.631 ha, giảm 4.215.873 ha so với năm 2000 (giảm 48,24 %), trong đó:
- Đất bằng chưa sử dụng 317.134 ha, giảm 422.516 nghìn ha so với năm 2000
Trang 25(giảm 57,12%)
- Đất đồi núi chưa sử dụng 3.833.711 ha, giảm 3.545.933 ha (giảm 48,05%); thời kỳ 2001- 2008 đất đồi núi chưa sử dụng được khai thác đưa vào sử dụng với tốc độ nhanh, bình quân mỗi năm giảm 443.242 ha
- Núi đá không có rừng cây 371.994 ha, giảm 247.423 ha so với năm 2000 (giảm 39,94 ha), bình quân giảm 30.928 ha/năm
1.1.4.2 Hiện trạng sử dụng đất theo các mục đích sử dụng của các tổ chức
Tổng diện tích đất của các tổ chức dang quản lý, sử dụng trên toàn quốc là 7.833.142,70 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp 6.687.695,59 ha (chiếm 85,38%), sử dụng mục đích phi nông nghiệp 845.727,62 ha (chiếm 10,80%), diện tích đất chưa sử dụng 299.719,49 ha (chiếm 3,83%), đất mặt nước ven biển được giao, cho thuê là 0,23%, cụ thể (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2009):
* Đất nông nghiệp
Diện tích 6.687.695,59 ha, trong đó hầu hết các loại hình tổ chức đều có diện tích đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp (trừ các tổ chức ngoại giao), loại hình tổ chức sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu là: Các nông – lâm trường (chiếm 86,62% tổng diện tích đất nông nghiệp), tổ chức sự nghiệp công (chiếm 5,12%), tổ chức kinh tế (chiếm 4,13%), UBND cấp xã (chiếm 3,12%), các loại hình còn lại chiếm diện tích đất nông nghiệp rất nhỏ; đối với diện tích đất nông nghiệp do UBND cấp
xã quản lý, sử dụng chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp (chiếm đến 66,43% tổng diện tích đất nông nghiệp do UBND câp xã quản lý, sử dụng) phần lớn đây là diện tích đất công ích, đất sản xuất nông nghiệp khó giao, …
* Đất phi nông nghiệp
Tổng số diện tích đất phi nông nghiệp của các tổ chức đang quản lý, sử dụng
là 845.727,62 ha, các loại hình tổ chức đều có diện tích đất phi nông nghiệp, tập trung nhiều nhất là các tổ chức sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh (34,92%),
tổ chức kinh tế (24,79%), nông - lâm trường (18,13%), UBND cấp xã (13,79%), tổ chức sự nghiệp công (6,62%), …
Diện tích đất phi nông nghiệp do các tổ chức quản lý, sử dụng như sau:
Trang 26- Đất ở có 15.850,30 ha chiếm 1,87% tổng diện tích đất phi nông nghiệp của các tổ chức, trong đó chủ yếu là tổ chức kinh tế (44,05% tổng diện tích đất ở) nông, lâm trường (43,62%), tổ chức sự nghiệp công (7,45%), UBND cấp xã (2,49%), các loại hình tổ chức còn lại có tỷ lệ diện tích đất ở thấp
- Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp có 24.341,73 ha, chiếm 2,88% tổng diện tích đất phi nông nghiệp của các tổ chức, hầu hết các loại hình tổ chức đều có đất trụ sở cơ quan Trong đó chủ yếu diện tích của các tổ chức sự nghiệp công (25,44%), UBND cấp xã (23,50%), nông, lâm trường (20,33%), cơ quan nhà nước 16,66%, tổ chức kinh tế 7,28%
- Đất quốc phòng, an ninh có 263.393,51 ha chiếm 31,14% tổng diện tích đất phi nông nghiệp Trong đó đất quốc phòng là 255.707,09 ha và đất an ninh là 7.686,42 ha
- Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp có 159.601,44 ha chiếm 18,87% tổng diện tích đất phi nông nghiệp của các tổ chức gồm: chủ yếu là các tổ chức kinh
tế đang hoạt động sản xuất kinh doanh (90,73%) nông, lâ, trường (4,95%), tổ chức
sự nghiệp công (1.84%), cơ quan nhà nước (1,77%), UBND cấp xã (0,37%)
- Đất có mục đích công cộng 119.216,89 ha, chiếm 14,10% tổng diện tích đất phi nông nghiệp của các tổ chức quản lý, sử dụng, chủ yếu là các công trình y tế, văn hóa, giáo dục cấp xã, đất giao thông trong các khu công nghiệp, các khu dân cư đang trong quá trình kinh doanh hạ tầng… Trong đó diện tích đất công cộng của các tổ chức sự nghiệp chiếm 31,54%, tổ chức kinh tế chiếm 28,88%, UBND cấp xã chiếm 14,32%, cơ quan nhà nước chiếm 1,83%
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa có 60.267,76 ha chiếm 7,13% tổng số diện tích đất phi nông nghiệp, phần lớn diện tích là các nghĩa địa, nghĩa trang nhân dân do UBND cấp xã quản lý chiếm 96,42% diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa, một số nghĩa trang, nghĩa địa lớn: như nghĩa trang Trường Sơn, nghĩa trang liệt sĩ của tỉnh,
… do các tổ chức khác quản lý
- Đất mặt nước chuyên dùng có 44.834,35 ha, chiếm 5,30% tổng số diện tích đất phi nông nghiệp, chủ yếu là diện tích đất mặt nước chuyên dùng, sông suối trong khu vực đất của nông- lâm trường (55,30%), đất của tổ chức kinh tế (27,49%), đất của
Trang 27UBND cấp xã (9,59%), và đất quốc phòng, an ninh (5,72%)
- Đất phi nông nghiệp khác có 158.221,64 ha, chiếm 18,71% gồm: nông- lâm trường (51,61%), UBND cấp xã (19,23%), quốc phòng, an ninh (18,22%),
tổ chức kinh tế (5,38%); tổ chức sự nghiệp công (4,22%), các loại hình tổ chức còn lại (1,35%)
* Đất chưa sử dụng
Diện tích đất chưa sử dụng của các tổ chức có 299.719,46 ha, chiếm 3,83% diện tích đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng, chủ yếu là diện tích của nông, lâm trường (51,36%), tổ chức sự nghiệp công (40,15%), các tổ chức kinh tế (6,88%), UBND cấp xã (0,87%)
1.1.5 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
1.1.5.1 Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê, được công nhận
Năm 2010, cả nước có 146.912 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 7.148.536,47 ha, chiếm 91,26% Trường hợp tổ chức sử dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc sử dụng sai mục đích, đất bị lấn chiếm tỷ lệ 2,47% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009)
- Cơ quan nhà nước có 15.189 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 33.838,42 ha, đạt 95,63% so với tổng diện tích quản lý, sử dụng; diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép đối với các cơ quan nhà nước không nhiều nhưng vẫn có tình trạng xảy ra (cả nước có 235 cơ quan nhà nước cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 190,42 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê trái pháp luật)
- Tổ chức chính trị có 1.439 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 2.390,00 ha, đạt 75,30% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức chính trị có số lượng tổ chức có diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép không nhiều 42/1.439 tổ chức, nhưng diện tích vi phạm tương đối nhiều (306,40 ha), chiếm 9,65% tổng số diện tích đang quản lý, sử dụng
- Tổ chức xã hội có 952 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 1.373,87 ha, đạt 96,47% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức xã hội có 15 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 1,12 ha
Trang 28- Tổ chức chính trị - xã hội có 1.131 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 3.687,04 ha, đạt 75,40% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức chính trị - xã hội có 26 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 74,91 ha
- Tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp có 610 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 697,99 ha, đạt 96,78% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các
tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp có 13 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 0,42 ha
- Tổ chức sự nghiệp công có 55.456 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích
là 394.201,53 ha, đạt 75,94% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức sự nghiệp công có 810 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 247,27 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất cho mượn (chiếm 88,36%)
- Tổ chức ngoại giao có 41 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 16,74
ha đạt 78,41% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức ngoại giao
có 01 tổ chức cho thuê trái pháp luật với diện tích 0,07ha
- Tổ chức kinh tế có 49.723 tổ chức, diện tích đang quản lý, sử dụng đúng mục đích là 458.179,32 ha, đạt 90,42% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức kinh tế có 992 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 1.608,56 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê và cho mượn trái pháp luật (diện tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm chiếm 21,60% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước, diện tích đất cho mượn chiếm 12,31% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước)
- Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, sử dụng có 10.970 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 319.042,97 ha, đạt 97,40% so với tổng diện tích đang quản
lý, sử dụng; tuy nhiên UBND cấp xã của nhiều địa phương vẫn để xảy ra tình trạng cho thuê, cho mượn thậm chí chuyển nhượng trái pháp luật, đặc biệt là tình trạng cho thuê trái pháp luật của khối tổ chức UBND cấp xã chiếm đến 50,72% tổng số diện tích cho thuê trái pháp luật của nhà nước Đối với những tổ chức cho thuê đất trái phép ở các tổ chức là UBND xã, phường, thị trấn thường xảy ra tình trạng lấy
Trang 29đất nông nghiệp (sử dụng vào mục đích công ích), đất phi nông nghiệp (đã giao cho UBND xã, phường, thị trấn sử dụng vào mục đích công cộng của địa phương) cho
hộ gia đình, cá nhân thuê nhưng không làm thủ tục thuê đất theo đúng quy định pháp luật đất đai Hoặc cho hộ gia đình, cá nhân thuê phần diện tích đất của đơn vị không có nhu cầu sử dụng, hay chưa sử dụng để sản xuất kinh doanh
- Nông, lâm trường có 653 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 5.615.419,13 ha, đạt 92,05% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các nông lâm trường có 42 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 5.006,21 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất cho mượn chiếm 66,26% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước (tập trung chủ yếu ở các nông – lâm trường của các tỉnh Tuyên Quang, Tây Ninh, Bắc Giang, Lai Châu, … ), diện tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm 13,49% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước (phần lớn tập trung ở các nông – lâm trường thuộc tỉnh Phú Thọ, Hải Phòng, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh, … )
- Quốc phòng, an ninh có 8.118 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích
là 319.689,47 ha, đạt 95,78% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng Các tổ chức sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh có 13 tổ chức cho mượn trái phép với diện tích là 8,68 ha
1.1.5.2 Sử dụng vào mục đích khác
Tình trạng sử dụng sai mục đích được giao, được thuê xảy ra ở đầu hết các loại hình tổ chức, cả nước có 3.311 tổ chức sử dụng không đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích là 25.587,82 ha (Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2009), trong đó chủ yếu là các tổ chức sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (1.527 tổ chức với diện tích 21.499,68 ha, chiếm 84,02%), số tổ chức sử dụng sử dụng vào mục đích làm nhà ở là 1.828 tổ chức với diện tích 4.088,24 ha Trong số diện tích sử dụng vào mục đích làm nhà ở chủ yếu xây dựng nhà ở cho cán bộ công nhân viên của tổ chức kinh tế (57,98%), các nông- lâm trường (32,67%), tổ chức sự nghiệp công (5,34%), riêng đối với UBND cấp xã (2,73%) phần lớn là diện tích đất của một số địa phương chia cho dân xây dựng nhà
ở không đúng thẩm quyền; diện tích đất sử dụng vào mục đích kinh doanh phi nông
Trang 30nghiệp chủ yếu của các nông- lâm trường (90,82%), tổ chức kinh tế (6,06%), UBND cấp xã (2,03%)
1.1.5.3 Tình hình tranh chấp, lấn chiếm
Tổng diện tích đất của các tổ chức đang có tranh chấp, lấn chiếm là 313.969,03 ha (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009), trong đó đất có tranh chấp có 1.184 tổ chức với diện tích 34.232,63 ha, đất lấn chiếm có 4.077 tổ chức với 25.703,21 ha và đất bị lấn bị chiếm có 3.915 tổ chức với diện tích 254.033,19 ha
- Diện tích đất đang tranh chấp, lấn chiếm chủ yếu xảy ra trong các loại hình
tổ chức như tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường UBND cấp xã, tổ chức sự nghiệp công Như vậy, qua kiểm kê đã cho thấy số tổ chức có diện tích đất đang tranh chấp có số lượng không nhỏ Nguyên nhân chủ yếu do khi thực hiện giao đất cho các tổ chức, hồ sơ lập chưa đầy đủ, không chặt chẽ, mô tả ranh giới, mốc giới không rõ ràng, cụ thể; một số khu đất đã có mốc giới những qua quá trình xây dựng các công trình làm thất lạc mốc hoặc có sự dịch chuyển vị trí ngoài ý muốn Do vậy khi phát sinh tranh chấp, việc giải quyết gặp rất nhiều khó khăn
- Diện tích đất bị lấn, bị chiếm: tình trạng sử dụng không hiệu quả, sử dụng chưa hết diện tích được giao ở hầu hết các loại hình tổ chức đã dẫn đến một phần diện tích bị lấn, bị chiếm diện tích trong đó tập trung chủ yếu các loại hình tổ chức như: tổ chức sự nghiệp công, UBND cấp xã , tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường Nguyên nhân của tình trạng này là do việc sử dụng đất của các tổ chức không được kiểm tra thường xuyên; việc lập hồ sơ và lưu trữ các giấy tờ để theo dõi, quản lý không được quan tâm đúng mức Mặt khác các mốc ranh giới khu đất đã được giao không được quản lý chặt chẽ, chưa xây dựng tường rào hoặc cắm mốc giới để phân định với đất của người dân Mặt khác thời gian giao đất trước đây
đã quá lâu, thủ tục không đầy đủ; thay đổi thủ trưởng đơn vị nhiều lần và không bàn giao cho người sau để tiếp tục quản lý… xuất phát từ nhiều nguyên nhân cho nên trong suốt quá trình sử dụng, các tổ chức đã để cho người dân lấn, chiếm, cá biệt có
tổ chức không biết ranh giới đất của đơn vị mình sử dụng đến đâu, nên khi kiểm kê hiện trạng rất khó khăn, phải mất rất nhiều thời gian mới xác định được diện tích đất được giao
Trang 31- Một số tổ chức do quản lý đất không chặt chẽ, diện tích đất sử dụng không hết, bên cạnh đó các địa phương có nhiều tổ chức sử dụng đất đầu tư xây dựng hoàn thành đã đưa vào sử dụng (một số điểm trường học) nhưng sau một thời gian vì nhiều lý do phải dời đi nơi khác, nhưng tổ chức và chính quyền địa phương không báo cáo để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi và quản lý, mà bỏ hoang không sử dụng, từ đó người dân đã lấn, chiếm để sản xuất hoặc làm nhà ở
Ngoài ra, còn có nguyên nhân do thiếu kiên quyết trong xử lý các trường hợp lấn chiếm, giải quyết tranh chấp kéo dài hoặc tái chiếm đất bồi thường
1.1.5.4 Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức
Tổng diện tích đất của các tổ chức được giao, được thuê của các tổ chức nhưng chưa sử dụng là 299.719,46 ha (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009) có 4.120 tổ chức quản lý, trong đó diện tích đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang hóa là 250.862,79 ha do 2.455 tổ chức quản lý và diện tích đất đầu tư, xây dưng chậm là 250.862,79 ha do 1.681 tổ chức quản lý (tập trung chủ yếu là các trường học và những dự án phát triển khu đồ thị mới, dự án xây dựng các khu công nghiệp, … các
dự án này đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư nhưng không triển khai được hoặc triển khai chậm do có nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, … Một số sự án tiến độ thực hiện chậm do các chủ đầu tư thiếu vốn để thực hiện) Diện tích đất chưa sử dụng của các tổ chức theo loại hình tổ chức cụ thể như sau:
- Cơ quan nhà nước có 293 tổ chức với diện tích là 863,42 ha;
- Tổ chức chính trị có 32 tổ chức với diện tích là 21,64 ha;
- Tổ chức xã hội có 12 tổ chức với diện tích là 12,46 ha;
- Tổ chức chính trị- xã hội- nghề nghiệp có 17 tổ chức với diện tích là 12,95 ha;
- Tổ chức sự nghiệp công có 856 tổ chức với diện tích là 120.345,44ha;
- Tổ chức ngoại giao có 05 tổ chức với diện tích là 4,42 ha;
- Tổ chức kinh tế có 1.922 tổ chức với diện tích là 20.619,90 ha;
- UBND cấp xã có 812 tổ chức với diện tích là 2.603,57 ha;
Trang 32- Quốc phòng an ninh có 18 tổ chức với diện tích là 228,47 ha;
- Nông- lâm trường có 129 tổ chức với diện tích là 153.926,13 ha
1.1.5.5 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức
Tính đến ngày 01 tháng 4 năm 2014 cả nước đã có 52.004 tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đạt 35,99% số tổ chức cần cấp giấy, số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là 83.299 giấy và diện tích đã cấp là 3.100.040,38 ha, đạt 39,58% diện tích đất cần cấp giấy (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009)
Phần lớn diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của các tổ chức nông- lâm trường, tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, tổ chức sự nghiệp công và đất của UBND cấp xã
Tuy nhiên nếu so sánh tỷ lệ diện tích đã được cấp giấy chứng nhận với tổng diện tích cần cấp của từng loại hình sử dụng đất thì tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp chiếm tỷ lệ diện tích đã cấp cao nhất (395,48 ha, chiếm 54,83% diện tích đang quản lý, sử dụng), tổ chức kinh tế (237.868,55 ha, chiếm 46,94%), nông- lâm trường (2.736.185,70 ha chiếm 44,85%), tổ chức xã hội (520,83 ha, chiếm 23,34%), tổ chức ngoại giao (3,01ha, chiếm 14,10%), tổ chức chính trị xã hội (367,65ha, chiếm 7,52%)
và đất do UBND cấp xã quản lý (2.397,91 ha, chiếm 0,73%)
Kết quả nghiên cứu công tác quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã phát hiện có sự chênh lệch diện tích giữa quyết định giao, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất Do
có sự chênh lệch diện tích giữa các loại giấy tờ trong hồ sơ địa chính đã dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý đất đai
1.1.6 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
1.1.6.1 Khái quát tình hình sử dụng đất của tỉnh Bắc Giang
Theo kết quả thống kê đất đai đến ngày 01/01/2014, tổng diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Giang là 384.395 ha, chiếm 1,2% diện tích tự nhiên cả nước (UBND tỉnh Bắc Giang, 2014) Trong đó huyện Lục Ngạn có diện tích tự nhiên lớn nhất
Trang 33101.850,41 ha, chiếm 26,48% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; thành phố Bắc Giang có diện tích nhỏ nhất 6.677 ha, chiếm 0,83% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người đạt 0,23 ha/người
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bắc Giang năm 2014
2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp CTS 317 0,08
Trang 341.1.6.2 Khái quát tình hình sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh
Theo kết quả thống kê đất đai theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì toàn tỉnh có 6.636 thửa đất, khu đất của 2.410 tổ chức đang quản lý, sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận (Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang, 2010)
Tổng diện tích quỹ đất đang quản lý, sử dụng các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh 3.364,80 ha
- Đất nông nghiệp: 35,41 ha
- Đất phi nông nghiệp: 3.329,39 ha
1.1.6.3 Cơ quan nhà nước:
+ Tổng số tổ chức: 299, với tổng số thửa đất, khu đất: 349
+ Tổng diện tích: 98,82 ha
1.1.6.4 Tổ chức kinh tế
+ Tổng số tổ chức: 748, với tổng số thửa đất, khu đất: 912
+ Tổng diện tích: 2.013,15 ha
1.1.6.5 Uỷ ban nhân dân cấp xã sử dụng
+ Tổng số: 707 tổ chức, với tổng số thửa đất, khu đất: 3.347
Trang 351.1.7.2 Diện tích cho thuê trái phép
- Tổng số tổ chức cho thuê trái phép: 03 (bao gồm: CTCPTMDV Tân Yên,
XN bảo quản nông lâm sản, trường MN Bình Minh)
- Tổng diện tích cho thuê trái phép: 0,43 ha
1.1.7.3.Diện tích cho mượn
- Tổng số tổ chức cho mượn: 08 (bao gồm: Chi nhánh điện Lục Ngạn, CTCP dược Bắc Giang; CT khai thác CTTL Lục Ngạn; chi cục HTX và PTNT Bắc Giang; hạt kiểm lâm Lục Ngạn- trạm Tân Lập; trường DTNT Lục Ngạn, trường PTTH Lục Ngạn số 1; trụ sở UBND xã Hoàng An- Hiệp Hòa
- Tổng diện tích cho mượn: 4,45 ha
1.1.7.4 Diện tích chuyển nhượng trái phép:
- Tổng số tổ chức chuyển nhượng trái phép: 02 (bao gồm: CTCP gốm sứ Bắc Giang; chợ Đài- Hiệp Hoà
- Tổng diện tích chuyển nhượng trái phép: 1,47 ha
1.1.7.5 Diện tích bị lấn, bị chiếm:
- Tổng số tổ chức bị lấn, bị chiếm: 31 (bao gồm: Bến xe khách Bắc Giang: 0,0034 ha; CTCPTMDVCB nông sản: 0,4695 ha; CTCPVT Sông Hồng: 0,0007 ha; CTTNHHXDTM Quế Phương: 0,0020 ha; DNTN Thạch Hằng: 0,0015 ha; DNTN Trần Đức Anh: 0,0065 ha; HTXDVNN Nam Hồng: 0,0001 ha; HTX Hồng Hà: 0,0069 ha; HTX Tiến Hưng: 0,0002 ha; Ngân hàng Công thương tỉnh BG: 0,0008 ha;
XN chế biến KDNS Đông Bắc: 0,0078 ha; XNKD lâm sản Bắc Giang: 0,8875 ha; đoạn QL đường bộ BG: 0,0089 ha; Sở KHCN: 0,0048 ha; trạm BVTV Bắc Giang: 0,0689 ha; trạm quan trắc động đất BG: 0,0581 ha; TTGDKTTH hướng nghiệp BG:
Trang 360,0073 ha; TTNT thuỷ sản cấp 1: 0,0052 ha; trường THCS Danh thắng- Hiệp Hòa: 0,0227 ha; trường THCS Mỹ Độ- Bắc Giang: 0,0227 ha; trường tiểu học Đèo Gia- Lục Ngạn: 0,03497 ha; trường tiểu học Kiên Lao- Lục Ngạn: 0,01427 ha; trường tiểu học Kim Sơn- Lục Ngạn: 0,04956 ha; trường tiểu học Thanh Hải- Lục Ngạn: 0,02678 ha; trường tiểu học Danh Thắng- Hiệp Hòa: 0,01765 ha; trường tiểu học Võ Thị Sáu- Bắc Giang: 0,0260 ha; trường trung cấp Y tế: 0,0268 ha; chợ Đài- Hiệp Hòa: 0,0045 ha; UBND phường Mỹ Độ- Bắc Giang: 0,0398 ha; UBND xã Đèo Gia- Lục Ngạn: 0,0848 ha; Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn: 0,1201 ha)
- Tổng diện tích bị lấn, bị chiếm: 2,7053 ha
1.1.7.6 Diện tích đang tranh chấp
- Tổng số tổ chức đang có tranh chấp: 09 (bao gồm: CTCPXK BG: 0,008 ha; CTCPTNDV và chế biến nông sản Bắc Giang: 0,0084 ha; CT liên doanh lâm sản Việt nam: 0,1ha; Trạm quan trắc động đất Bắc Giang: 0,0668 ha; TTYT dự phòng: 0,01ha; Trường tiểu học Nghĩa Hồ- Lục Ngạn: 0,035 ha; trường THCS Hoàng Hoa Thám: 0,009 ha; Nghĩa địa Hồng Phong: 0,1ha; trụ sở UBND xã Nghĩa Hồ: 3,0 ha)
- Tổng diện tích đất đang tranh chấp: 6,2806 ha
1.1.7.7 Diện tích đang sử dụng vào mục đích khác:
- Tổng số tổ chức đang có diện tích đang sử dụng vào mục đích khác: 18 (trong đó: làm nhà ở 06: CTTNHH Việt Thắng: 0,2896 ha; nhà máy vật liệu trịu lửa: 0,0987 ha; XNSXKD lâm sản- Bắc Giang 0,1242 ha; chi cục HTX và PTNT- Bắc Giang: 0,0156 ha; trường TH Hợp Thịnh số 1: 0,087 ha; CTCP thuốc lá: 0,1543 ha; sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp là 12: CTCPTM Việt Yên: 0,217 ha; CTCP Vật tư: 0,0971 ha; CTTNHH Bắc Hà: 0,0375 ha CTTNHH Thiên Thái Cửu: 0,3414 ha; CTTNHH Việt Thắng: 0,8194 ha; CTVT nông nghiệp: 0,229 ha; CTVT tổng hợp BG: 0,04698 ha; CTXD Hải Âu: 0,0375 ha; NMVL chịu lửa: 0,6135 ha; trạm điện: 0,0058 ha; XN bảo quản nông lâm sản: 0,0144 ha; XNKTCTTL Sông Cầu: 0,4342 ha)
- Tổng diện tích đang sử dụng vào mục đích khác: 4,9585 ha (trong đó: làm nhà ở: 1,2134 ha, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp: 3,7450 ha)
Trang 371.1.7.8 Diện tích đất chưa sử dụng:
- Tổng số tổ chức có diện tích đất chưa sử dụng: 10 (trong đó: diện tích đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang hoá 03: CTCPTMDV và chế biến nông sản: 2,7264 ha; XNBQ nông lâm sản: 0,1858 ha; trường THCS Xương Giang- Bắc Giang: 0,1258 ha; diện tích đất đầu tư, xây dựng chậm 07: Bến xe: 0,0473 ha; CTCPXNK Bắc Giang: 0,085 ha; CTTNHH Bắc Hà: 0,323 ha; CT DAEWANG Tân Yên: 1,4107 ha; CTCPCN tàu thuỷ Bắc Giang: 34,7886 ha; trường MN Lan Giới: 0,301 ha; trường tiểu học: 0,0504 ha)
- Tổng diện tích đất chưa sử dụng: 77,9325 ha (trong đó: diện tích đã đưa vào
sử dụng nhưng còn để hoang hoá: 5,7644, diện tích đất đầu tư, xây dựng chậm: 72,1681 ha)
1.1.7.9 Diện tích đất lấn, chiếm
- Tổng số tổ chức lấn, chiếm: 25 (bao gồm: CTCP du lịch Bắc Giang: 0,0002 ha; CTCPTMDV huy Hoàng: 0,0015 ha; CTLDVT xe khách Bắc Hà: 0,0117 ha; CTTNHH Chiến Nga: 0,0286 ha; CTTNHH Đức Dục: 0,0011 ha; CTTNHH Ngọc Thơ: 0,0032 ha; CTTNHH Sông Hồng: 0,0003 ha; CTTNHH Việt Tiến: 0,0427 ha; cửa hàng mua bán: 0,0271 ha; DNTN Cầu Chuyên Bắc Giang: 0,0089 ha; HTX Xương Giang: 0,0036 ha; Cảng vụ đường thuỷ KVII: 0,012 ha; đội QLTT số 1: 0,0025 ha; Sở Công thương: 0,0019 ha; Thi hành án dân sự BG: 0,012 ha; trạm QTMT Bắc Giang: 0,0369 ha; BVYH cổ truyền Bắc Giang: 0,0024 ha; trường THPT chuyên Bắc Giang: 0,038 ha; trường TH Minh Khai: 0,0288 ha; trường TH Nam Hồng: 0,0085 ha; trường VHNT: 0,031 ha; trường PTTH Thái Thuận Bắc Giang: 0,0027 ha; UBND phường Mỹ Độ: 0,0009 ha; UBND phường Thọ Xương: 0,0007 ha; UBND Phường Xương Giang: 0,0005 ha)
- Tổng diện tích đất lấn, chiếm: 0,3677 ha
1.2 Đánh giá chung về công tác quản lý, sử dụng
- Việc thực hiện kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh đã giúp các cấp chính quyền làm
rõ được hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên phạm vi toàn tỉnh
Trang 38- Qua kết quả kiểm kê cho thấy: số lượng tổng các tổ chức và tổng số các thửa đất, khu đất các tổ chức đang quản lý, sử dụng tăng lên khá lớn so với Phương án kiểm kê: tổng số thửa đất kiểm kê thực tế: 6.636 (trong đó: số thửa đất trích lục, trích đo, đo chỉnh lý: 5.718; số thửa đất chỉ kê khai: 918) theo phương án: 2.776 tăng 3.860 thửa đất = 238%)
- Qua kiểm kê nắm được tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức Số tổ chức đang quản lý, sử dụng đất có vi phạm ở từng loại hình tổ chức được làm rõ Đây là những cơ sở để lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức sau khi thực hiện hoàn thành Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tổ chức được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất không thu tiền sử dụng đất; diện tích đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất không thu tiền sử dụng đất
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu từ năm 2004 đến năm 2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 2.2.2 Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn
- Tình hình quản lý đất đai huyện Lục Ngạn;
- Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Lục Ngạn;
2.2.3 Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 theo mục đích sử dụng dất của các tổ chức;
- Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức;
+ Tình hình giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
+ Tình hình công nhận quyền sử dụng đất;
+ Đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức
2.2.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền, công nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Giải pháp về chính sách pháp luật;
- Giải pháp về kinh tế;
Trang 40- Giải pháp về khoa học công nghệ;
- Giải pháp về tăng cường quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trong thời gian tới
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, tài liệu, số liệu
2.3.1.1 Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp
Các số liệu thứ cấp được thu thập ở các phòng ban chức năng của huyện, tỉnh như: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thống kê huyện Lục Ngạn và các đơn vị khác có liên quan trên địa bàn để đánh giá thực trạng và tình hình sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; đồng thời kế thừa các nguồn tài liệu, số liệu có liên quan đến các kết quả nghiên cứu tổng quan
và kết quả nghiên cứu khác liên quan đến đề tài
2.3.1.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp
Trên cơ sở các tài liệu thứ cấp và nội dung đề tài nghiên cứu, tiến hành điều tra tại các tổ chức được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất không thu tiền sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo chỉ tiêu gồm: thông tin chung về tổ chức sử dụng đất; diện tích được giao; diện tích theo mục đích
sử dụng hiện trạng; diện tích cho thuê, cho mượn…
- Thông tin chung về tổ chức sử dụng đất:
+ Tên tổ chức được điều tra + Địa chỉ
+ Quyết định thành lập + Vị trí khu đất tổ chức đang quản lý sử dụng
- Diện tích được giao; diện tích theo mục đích sử dụng hiện trạng; diện tích cho thuê, cho mượn
+ Diện tích theo quyết định được giao: loại đất cụ thể trong các nhóm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp
+ Thời điểm sử dụng đất + Diện tích sử dụng đúng mục đích