Theo các nhà chăn nuôi, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái ở nước ta hiện nay là các bệnh về sinh sản đặc biệt là bệnh viêm tử cung chiếm tỉ lệ cao.. V
Trang 1NGUYỄN VIẾT QUYỀN
NGHIÊN CỨU NHỮNG BIẾN ĐỔI LÂM SÀNG, PHI LÂM SÀNG CỦA BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI CÁC TRANG TRẠI THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI
C.P VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2NGUYỄN VIẾT QUYỀN
NGHIÊN CỨU NHỮNG BIẾN ĐỔI LÂM SÀNG, PHI LÂM SÀNG CỦA BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI CÁC TRANG TRẠI THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Viết Quyền
Trang 4sự dạy dỗ tận tình của các Thầy, Cô giáo đặc biệt là các Thầy, Cô khoa Thú y đã truyền dạy kiến thức chuyên môn
Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp luận văn thạc sĩ chuyên ngành thú y cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới các Thầy, Cô giáo
Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS.Trịnh Đình Thâu, bộ môn Giải phẫu
- Tổ chức - Khoa Thú y - Học viện Nông Nghiệp Hà Nội, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
Đồng thời tôi cũng bày tỏ sự biết ơn đến toàn thể ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ Công ty Cổ phần chăn nuôi CP đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp tốt nhất
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 6 tháng 12 năm 2015 Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Quyền
Trang 5MỤC LỤC
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cấu tạo cơ quan sinh sản và một số đặc điểm sinh lý của lợn cái 3
1.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái 3
1.1.1.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài 3
1.1.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong 4
1.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn 7
1.1.2.1 Sự thành thục về tính 7
1.1.2.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp 9
1.2 Bệnh viêm tử cung lợn nái (Metritis) 15
1.2.1 Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung 15
1.2.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung 16
1.2.3 Các thể viêm tử cung 18
1.2.3.1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis) 18
1.2.3.2 Viêm cơ tử cung (Myometritis Puerperalis) 19
1.3.3.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperali) 20
1.2.3.4 Chẩn đoán viêm tử cung 21
1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung lợn trên thế giới và tại Việt Nam 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
Trang 62.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Xác định một số chỉ tiêu lâm sàng 25
2.4.2 Các phương pháp dùng trong xét nghiệm một số chỉ tiêu phi lâm sàng (sinh lý, sinh hóa máu) 26
2.4.3 Phương pháp điều tra để xác định tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm tử cung 26
2.4.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh sản để đánh giá ảnh hưởng của viêm tử cung đến năng suất sinh sản của lợn nái 26
2.4.5.Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung 27
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung tại các trang trại nghiên cứu 28
3.3 Kết quả theo dõi một số biểu hiện lâm sàng của lợn nái mắc bệnh viêm tử cung 31
3.4 Kết quả kiểm tra một số chỉ tiêu phi lâm sàng của lợn mắc bệnh viêm tử cung 33
3.4.1 Huyết cầu và huyết sắc tố của lợn mắc bệnh viêm tử cung 33
3.4.2 Số lượng và công thức bạch cầu của lợn nái mắc bệnh viêm tử cung 35
3.4.3 Kết quả kiểm tra hàm lượng protein tổng số, các tiểu phần protein huyết thanh của lợn nái mắc bệnh viêm tử cung và lợn nái bình thường 38
3.4.4 Hàm lượng đường huyết và hoạt độ của enzyme GOT, GPT trong máu lợn mắc bệnh viêm tử cung 39
3.5 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất sinh sản của lợn nái 413.6 Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại 43
3.7 Kết quả thử nghiệm các biện pháp phòng bệnh viêm tử cung bằng vệ sinh thú y và
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP Charoen Pokphand CFU Colony Forming Unit DRV Dịch rỉ viêm
E.coli Escherichia coli FSH Follicle Stimulating Hormone : Hormone làm trứng chín
LH Lutenizing Hormone: Hormone làm rụng trứng LMLM Lở mồm long móng
Ml Mililite PCV Porcine circo virus PRRS Porcine reproductive and respiratory syndrome: hội chứng rối loạn
sinh sản hô hấp ở lợn PGF2α Prostaglandin F2αSGOT Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase SGPT Serum Glutamic Pyruvic Transaminase VTC Viêm tử cung
VTM Vitamin
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.3 Kết quả theo dõi một số biểu hiện lâm sàng của lợn nái mắc bệnh
3.4 Kết quả kiểm tra một số chỉ tiêu huyết học của lợn nái mắc bệnh viêm
3.5 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu ở lợn nái mắc bệnh viêm tử
3.6 Kết quả kiểm tra hàm lượng protein huyết thanh của lợn nái mắc bệnh
3.7 Hàm lượng đường huyết và hoạt độ men sGOT, sGPT ở lợn nái mắc
Trang 10MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đang có những bước phát triển nhảy vọt, kéo theo đó ngành chăn nuôi cũng phát triển không ngừng Ngành chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam nói chung và các tỉnh phía bắc nói riêng, chăn nuôi lợn đã trở thành hàng hóa tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, góp phần tăng thu nhập cho nhà chăn nuôi Trong những năm tới đây ngành chăn nuôi sẽ tổ chức theo hướng gắn với thị trường, chăn nuôi sẽ cơ bản chuyển sang sản xuất hàng hóa theo phương thức chăn nuôi tập trung công nghiệp, nhằm đảm bảo an toàn dịnh bệnh, vệ sinh thú y và vệ sinh
an toàn thực phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả chăn nuôi và cải thiện điều kiện an sinh xã hội Để đạt được mục tiêu đó, việc nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái, đặc biệt là đàn lợn nái ngoại luôn là mối quan tâm, là mục tiêu hàng đầu của các nhà chăn nuôi và các nhà khoa học
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ và sự chuyển đổi phương thức chăn nuôi, tình hình dịch bệnh trên đàn lợn cũng diễn biến hết sức phức tạp và không ngừng gia tăng một số bệnh các bệnh sinh sản, truyền nhiễm gây ra cho đàn lợn như: dịch tả, lở mồm long móng, tai xanh… ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất sinh sản của lợn nái Theo các nhà chăn nuôi, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái ở nước ta hiện nay là các bệnh về sinh sản đặc biệt là bệnh viêm tử cung chiếm tỉ lệ cao Bệnh này không những làm ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ mà còn là một trong những nguyên nhân làm tăng cao tỉ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở đàn lợn con đang trong thời gian theo mẹ, do đó chất lượng của đàn giống bị ảnh hưởng Nếu không điều trị kịp thời bệnh viêm tử cung có thể kế phát viêm vú, mất sữa, nặng
có thể dẫn tới rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và có thể chết Vì vậy viêm tử cung ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn lợn giống nói riêng mà còn ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn nói chung
Trang 11Những vấn đề nêu trên cho thấy việc nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh
và đưa ra biện pháp phòng, trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại là một việc cần thiết Với mục đích góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại đồng thời bổ sung vào các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản của giống lợn nái ngoại chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu những biến đổi lâm sàng, phi lâm sàng của bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại các trang trại thuộc công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam”
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cấu tạo cơ quan sinh sản và một số đặc điểm sinh lý của lợn cái
1.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái
Bộ phận sinh dục của lợn cái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình)
1.1.1.1.Bộ phận sinh dục bên ngoài
+ Âm môn (Vulva)
Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm ở dưới hậu môn Nằm bên dưới hậu môn ngăn cách với nó bởi vùng hồi âm Bên ngoài chứa 2 môi dính với nhau ở mép trên và mép dưới Môi âm hộ có sắc tố đen, nhiều tuyến chất nhờn màu trắng và tuyến tiết mồ hôi
+ Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ, tiền đình bao gồm:
Màng trinh là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo, phía sau thông với âm hộ Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lá niêm mạc gấp lại thành một nếp
Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh
Hành tiền đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo Cấu tạo giống thể hổng
ở bao dương vật của con đực
Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay
về âm vật
Trang 131.1.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong
+ Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm trong xoang chậu Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ô van dẹt, không có lõm rụng trứng
Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo ra tế bào trứng và tiết các hormone: Estrogen, Progesterone, Oxytoxin, Relaxin và Inhibin Các hormone
này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái Estrogen cần thiết
cho sự phát triển của tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú Progesterone do thể vàng tiết ra giúp duy trì sự mang thai do nó kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú Oxytoxin được tiết chủ yếu của phần sau của tuyến yên nhưng cũng được tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi gia súc gần sinh, nó làm co thắt
cơ tử cung trong lúc đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa Ở lợn
Relaxin do thể vàng tiết ra để gây dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử
cung, do đó mở rộng đường sinh dục khi gần sinh Inhibin có tác dụng ức chế sự
phân tiết kích tố noãn Follicle Stimulating Hormone từ tuyến yên, do đó ức chế
sự phát triển nang noãn theo chu kỳ (Trần Thị Dân, 2004)
Ở bề mặt ngoài của buồng trứng có một tổ chức liên kết được bao bọc bởi lớp biểu mô hình lập phương Bên dưới lớp này là lớp vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng (thể vàng thoái hoá) Phần tuỷ của buồng trứng nằm ở giữa, gồm có mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi nên bề mặt buồng trứng (Khuất Văn Dũng, 2005)
Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: Noãn nang nguyên thuỷ, noãn nang bậc 1, noãn nang bậc 2, noãn nang bậc 3 Noãn nang nguyên thuỷ nhỏ nhất
và được bao bọc bởi một lớp tế bào vảy Noãn nang nguyên thuỷ phát triển thành
Trang 14noãn nang bậc một, nó được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô hình lập phương (tế bào nang) Khi cơ thể mới được sinh ra, buồng trứng đã có sẵn hai loại noãn nang này Noãn nang bậc một có thể bị thoái hoá hoặc phát triển thành noãn nang bậc 2 Noãn nang bậc 2 hoặc nhiều lớp tế bào nang nhưng không có xoang nang (là khoảng trống chứa dịch nang) Noãn nang có xoang được xem như noãn nang bậc 3, chứa dịch nang và có thể trở nên trội hẳn để chuẩn bị xuất noãn (nang Graaf) Noãn nang có xoang bao gồm ba lớp: Lớp bao ngoài, lớp bao trong và lớp tế bào hạt Lớp bao ngoài là mô liên kết lỏng lẻo, lớp bao trong sản xuất Androgen dưới tác dụng của LH Lớp tế bào hạt tách rời lớp bao trong bởi màng đáy mỏng Tế bào hạt sản xuất nhiều chất sinh học và trên bề mặt tế bào có thụ thể (receptor) tiếp nhận kích thích tố LH Những chất quan trọng được sản xuất bởi tế bào hạt là Estrogen, inhibin và dịch nang
Khi nang Graaf xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất huyết tại chỗ Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết xuất huyết được gọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều lần Sau đó tế bào bao trong và tế bào hạt biệt hoá thành tế bào thể vàng để tạo nên thể vàng (Trần Thị Dân, 2004)
+ Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo Phễu mỡ
ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo tiếp nối với sừng tử cung, nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn
Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh của ống dẫn trứng (1/3 phía trên của ống dẫn trứng), tiết ra các chất để nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong mấy ngày trước khi phôi đi vào tử cung Nơi tiếp giáp giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di chuyển của tinh trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi vào tử cung Ở lợn, sự
Trang 15co thắt của nơi tiếp giáp eo - tử cung tạo thành cái cản đối với tinh trùng để không có quá trình tinh trùng đi đến phần rộng, nhờ đó tránh được hiện tượng nhiều tinh trùng xâm nhập noãn
+ Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, 2 sừng tử cung ở phần trước cửa vào xoang chậu Tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng
Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với 1 thân và
Lớp tương mạc: Là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung và nối
tiếp vào các hệ thống các dây chằng
Lớp cơ trơn: Gồm cơ vòng rất dày ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài
Giữa hai tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản, đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn Ngoài ra, các bó sợi cơ trơn đan vào nhau theo mọi hướng làm thành mạng vừa dày vừa chắc Cơ trơn là lớp cơ dày và khỏe nhất trên cơ thể Do vậy, nó có đặc tính co thắt (Đặng Đình Tín, 1986)
Theo Trần Thị Dân (2004) trương lực co càng cao (tử cung trở lên cứng) khi có nhiều Estrogen trong máu và trương lực co giãn (tử cung mềm) thì có nhiều Progesterone trong máu Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung
Lớp nội mạc tử cung: Là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp tế
Trang 16bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhầy tử cung Nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung, khi lông rung động thì gạt những chất nhầy tiết ra về phía cổ tử cung, trên niêm mạc có các nếp gấp
Lớp niêm mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của Estrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng nhầy xâm nhập vào lớp dưới màng nhầy và cuộn lại Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của Progesterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ lên giống
+ Âm đạo ( Avagina)
Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
Lớp liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong Các lớp cơ âm đạo liên kết với các cơ ở cổ tử cung Lớp niêm mạc âm đạo, trên
bề mặt có nhiều thượng bì gấp nếp dọc Âm đạo là cơ quan giao cấu, nơi tinh dịch được phóng ra và đọng lại ở đó Âm đạo lợn dài 10 - 12cm
1.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc Ngoài ra, còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như ngoại cảnh điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, khai thác
1.1.2.1 Sự thành thục về tính
Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: Buồng
Trang 17trứng, tử cung, âm đạo… đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện ở bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục
Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
+ Giống
Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (1995), tuổi thành thục về tính của lợn nái ngoại và lợn nái lai muộn hơn lợn nái nội thuần chủng (Ỉ, Móng cái, Mường khương…) Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) Lợn ngoại là 6 - 8 tháng tuổi, lợn lai F1 (ngoại x nội) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi
+ Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý
Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại
+ Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng
Theo Paul (1996) nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90 kg) động dục lúc 165 ngày tuổi
Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi chăn thả sẽ có thời gian tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực, nên có tuổi
Trang 18động dục lần đầu sớm hơn
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng
1.1.2.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
* Chu kỳ tính
Từ khi thành thục về tính những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf Khi nang Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005)
Chu kỳ tính ở các loài khác nhau là khác nhau, ở giai đoạn đầu mới thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 - 3 chu kỳ tiếp theo mới ổn định Một chu kỳ tính của lợn nái dao động trong khoảng 18 - 22 ngày, trung bình là
21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: Giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi
* Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, kéo dài 1 - 2 ngày, là thời gian chuẩn bị đầy đủ cho đường sinh dục của lợn cái đón nhận tinh trùng, cũng như đảm bảo các điều kiện cho trứng và tinh trùng gặp nhau để thụ thai
Trong giai đoạn này, có sự thay đổi cả về trạng thái cơ thể cũng như trạng thái thần kinh, ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, thành thục và nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, kích thước noãn bao thay đổi rất nhanh, đầu giai đoạn này noãn bao có đường kính là 4mm, cuối giai đoạn noãn bao có đường kính 10 - 12mm Các tế bào vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng, đường sinh dục bắt đầu sung huyết nhanh, hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết dịch nhầy, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm cổ tử cung hé mở Các
Trang 19noãn bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra, niêm dịch chảy ra Con vật bắt đầu xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở có màu hồng tươi, cuối giai đoạn có dịch nhờn chảy ra Do hàm lượng Progesteron giảm xuống đột ngột nên con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình
* Giai đoạn động dục
Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2 - 3 ngày, tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao Giai đoạn này các biến đổi của cơ quan sinh dục rõ nét nhất, niêm mạc âm hộ sung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang màu mận chín, niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âm đạo tăng từ 0.3 - 0.7oC, pH hạ xuống trước Con vật biểu thị tính hưng phấn cao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hoặc bỏ ăn, kêu rống trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình Ở giai đoạn này lợn thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và hơi khụy xuống sẵn sàng chịu đực
Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở giai đoạn có thai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tùy loài gia súc thì chu kỳ sinh dục mới bắt đầu lại Nếu không xảy ra quá trình trên thì lợn cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính
* Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng, thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 - 8 mm và bắt đầu tiết Progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hoà ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu khó ăn uống hơn, niêm mạc toàn
bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ
tử cung đóng lại
Trang 20* Giai đoạn nghỉ ngơi
Giai đoạn này kéo dài từ 10 - 12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi rụng trứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu hủy Đây là giai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục hoạt động trở lại trạng thái sinh lý bình thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục, nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ sinh dục tiếp theo
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái
* Cơ chế động dục
Chu kỳ động dục của lợn cái được điều khiển bởi 2 yếu tố thần kinh và thể dịch, khi các nhân tố về ngoại cảnh như ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực tác động và kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến yên, kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH (Follicle Stimulating Hormone) và LH (Lutenizing Hormone)
FSH kích thích noãn bao phát triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục chín và rụng trứng Khi noãn bao phát triển thành thục, tế bào hạt trong thượng bì bao noãn tiết ra Oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Khi hàm lượng hormone này trong máu đạt 64 - 112% sẽ kích thích con vật có những biểu hiện động dục, đồng thời dưới tác động của Oestrogen cơ quan sinh dục biến đổi Tử cung hé
mở, âm hộ, âm đạo xung huyết tiết niêm dịch, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này
Cuối chu kỳ động dục thì Oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra LH và giảm tiết FSH Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng chín và rụng trứng, sau khi trứng rụng thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ ra, thể vàng tiết Progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung đồng thời ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên làm cho bao noãn trong buồng trứng của lợn cái không phát triển được và kết thúc một chu kỳ động dục
Trang 21Sơ đồ 1.1 Cơ chế động dục
* Thời điểm phối giống thích hợp
Thời gian tinh trùng lợn đực giống sống trong tử cung lợn nái khoảng 45 đến 48 giờ, trong khi trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, cho nên phải tiến hành đúng lúc, thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực
Trang 22Đối với lợn nái ngoại thời điểm phối giống thích hợp nhất khi có hiện tượng chịu đực từ 6 - 8 giờ, hoặc phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 kể
1.1.2.3 Sinh lý đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và Nguyễn Văn Thanh (2002), gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tuỳ từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, duới tác động của hệ thống thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình đẻ
Khi gần đẻ con cái sẽ có những triệu chứng biểu hiện: Truớc khi đẻ 1 - 2 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài Trước khi đẻ từ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi Âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ: + Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra sữa trong
+ Trước khi đẻ 1 ngày hàng vú giữa vắt được sữa đầu
+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu
+ Trước khi để 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu
Cơ chế đẻ: Đẻ là một quá trính sinh lý phức tạp chịu sự điều hoà của cơ chế thần
kinh - thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục
Về mặt cơ giới: Thai trong tử cung cơ thể mẹ sinh trưởng và phát triển một cách tối đa Ở thời kỳ cuối, thai to tiếp giáp với tử cung, thai chèn ép xoang bụng đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chặt mạch máu và đám rối thần kinh hông - khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ương, điều tiết hormone gây đẻ Mặt khác thai chèn ép còn đạp vào tử cung làm tử cung co bóp, sự co bóp tăng theo thời gian,
Trang 23kể cả cường độ và tần số, dẫn đến tử cung mở và thoát ra ngoài
Nội tiết: Trong thời gian mang thai, thể vàng và nhau thai cùng tiết ra Progesterone, hàm lượng Progesterone trong máu tăng tạo nên trạng thái an thai Đến kỳ chửa cuối, thể vàng teo dần và mất hẳn nên hàm lượng Progesterone giảm (chỉ còn 0.22%) Đồng thời tuyến yên tiết Oxytocin, nhau thai tăng tiết Relaxin làm giảm thể trạng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết Oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với Oxytocin trước khi đẻ
Biến đổi quan hệ giữa cơ thể mẹ và nhau thai: Khi thai đã thành thục thì quan
hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ
Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tuỳ từng loại gia súc, ở lợn thường từ 2 - 6 giờ,
nó được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài
Cơ chế điều khiển quá trình đẻ được mô tả qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2 Cơ chế điều khiển quá trình đẻ
Trang 241.2 Bệnh viêm tử cung lợn nái (Metritis)
Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau khi đẻ, quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng của thành tử cung gây rối loạn sinh sản, từ đó gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản, thậm trí làm cho gia súc cái mất khả năng sinh sản
1.2.1 Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) viêm tử cung là một quá trình vật lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo Sobko and Gadenko (1978), nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là
do bị tổn thương, do sót nhau khi đẻ, bệnh phát triển không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những chất kích thích chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhày
Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
Lợn nái sau đẻ bị xót nhau xử lý không triệt để cũng dẫn tới viêm tử cung
Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm
Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện xâm nhập
và gây viêm, do lộn tử cung (bít tết)
Trang 25Ngoài các nguyên nhân trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động đực (vì lúc
đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Lê Văn Năm và cs.,1997) Theo F.Madec and C.Neva (1995), bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung
1.2.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ sây sát nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
Đánh giá được hậu quả của viêm tử cung nên đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh và đưa ra những nhận xét có ý nghĩa rất lớn cho quá trình chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) và Trần Thị Dân (2004), khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau
Sảy thai: Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai,
sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi
có thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin, PGF2α gây phân hủy thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở tế bào nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai Bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có
Trang 26nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển, khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
Giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ
Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiểm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có
mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra độc tố làm ức chế sự phân tiết
kích thích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy dẫn đến còi cọc
Ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại
Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thùy trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không rụng trứng được
Theo F.Madec and C.Neva (1995), biểu hiện rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn viêm tử cung lúc đẻ là: chảy mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ ảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ, hiện tượng viêm tử cung kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác viêm tử cung là một trong các nguyên nhân đẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng Qua đó ta thấy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, tỷ lệ mắc bệnh giảm, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp đề phòng và điều trị hiệu quả
Trang 27Hình 1.1 Hình ảnh lợn mắc bệnh viêm tử cung
1.2.3 Các thể viêm tử cung
Theo Đặng Đình Tín (1985) bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
1.2.3.1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)
Theo NguyễnVăn Thanh (1999), viêm nội mạc tử cung là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh
Trang 28phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh của viêm tử cung Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử cung bị tổn thương, tiếp đó là các vi khuẩn
Streptococcus, Staphylococcus, E.Coli, Salmonella, C.Pyogenes, Bruccella, roi
trùng Trichomonas Foetus… Xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000), bệnh viêm nội mạc
tử cung có thể chia 2 loại
Viêm nội mạc tử cung thể Cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở niêm mạc tử cung
Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử, tổn thương lan sâu xuống dưới tầng của cơ tử cung và chuyển thành viêm hoại tử Viêm nội mạc tử cung thể Cata cấp tính có mủ (Endomestritis Puerperalis) Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm, con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh, từ âm
hộ chảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết… khi con vật nằm xuống dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn, xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vẩy màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều, cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung, niêm mạc âm đạo bình thường
Viêm nội mạc tử cung thể màng giả:
Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử, những vết thương đã
ăn sâu và tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử Lợn nái mắc bệnh này thường xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ Thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm
có khi hoàn toàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảm xuống, con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên, từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch, dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…
1.2.3.2 Viêm cơ tử cung (Myometritis Puerperalis)
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000), Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm
Trang 29dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc
bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm
mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to
Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ rệt, thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, mép
âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm, gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc
Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau
Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc không còn khả năng sinh sản
1.3.3.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperali)
Theo Đặng Đình Tín (1985), viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng, lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng, sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu bị viêm nặng, nhất là viêm có
mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung, thành tử cung dầy lên, có thể kế phát viêm phúc mạc
Lợn nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: Nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mầu nâu và mùi thối khắm Khi kích thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ
âm hộ dịch chảy ra nhiều hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi vị trí và
Trang 30hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêm mãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh Thể viêm này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
1.2.3.4 Chẩn đoán viêm tử cung
Theo F.Madec and C.Neva (1995) xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài, số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới vài trăm ml Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kỳ sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kỳ cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể
là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy
ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có thể
bị nhầm lẫn
Như vây, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ đó đưa ra phác
đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Trang 31Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân, thân nhiệt là một trị số hằng định ở động vật bậc cao, thân nhiệt bình thường của lợn là 38 - 38,50C Khi viêm thân nhiệt tăng từ 1,5 đến 20C (Hồ Văn Nam và cs., 1997)
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung
STT Các chỉ tiêu để
phân biệt Viêm nội mạc Viêm cơ
Viêm tương mạc
Trắng xám, trắng
4 Phản ứng co của
Phản ứng co rất yếu
Phản ứng co mất hẳn
hoặc hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn
Đối với lợn nái sau khi đẻ có thể dựa trên cách tính điểm sau
+ Số ngày chảy mủ, tính từ ngày đầu tới ngày thứ năm sau khi sinh, 1 ngày =
+ Tổng số điểm từ 2 - 5 điểm: Mắc bệnh nhẹ đến trung bình
+ Tổng số điểm trên 6 điểm: Bệnh nghiêm trọng
Như vậy, chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thường xuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi bị viêm tử cung nhưng không sinh mủ
Trang 321.3 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung lợn trên thế giới và tại Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Hiện nay trên thế giới ngành chăn nuôi đang phát triển, đặc biệt là chăn nuôi lợn, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Để cải tạo chất lượng đàn giống thì vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết đặc biệt là bệnh viêm tử cung Do đó, đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh viêm tử cung và đưa ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mặc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao
Theo A.I.Sobko and N.I.GaDenKo (1978) nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là do tử cung bị tổn thương, do hiện tượng sát nhau Bệnh phát triển là do nuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ, chúng phá hủy hoặc là kết tủa chất nhầy ở bộ phận sinh dục
Theo F.Madec and C.Neva (1995) hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài
từ lứa đẻ trước đến lần động dục tiếp theo có thể giải thích nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ, từ đó làm giảm năng suất sinh sản, ông cũng cho biết, khi tiến hành nghiên cứu trên đàn lợn nái ở xứ Brơ-ta-nhơ (Pháp) năm 1991 thì phát hiện thấy 15% số lợn nái bị viêm tử cung Viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt ở một vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vào ngày hôm sau và bệnh thường kéo dài từ 48 đến 72giờ
Theo nghiên cứu của công ty Bayer nghiên cứu 828 lợn nái đẻ được chia thành 4 nhóm gồm:
Nhóm 1: Không được điều trị
Nhóm 2: Điều trị bằng 25g hỗn hợp theo tỉ lệ 1,25g furazolidone + 5g sulphadimidine sodiumsulfat
Nhóm 3: Điều trị bằng enrofloxacin 2,5mg/kg thể trọng
Nhóm 4: Điều trị bằng enrofloxacin 5mg/kg thể trọng
Kết quả cho thấy khi dùng enrofloxacin làm giảm tỷ lệ tử vong ở lợn con,
Trang 33giảm hiện tượng sốt và hiện tượng pH sữa mẹ tăng cao
Cũng theo trang web này, ở Anh người ta đo nhiệt độ lợn nái sau đẻ và đưa ra biện pháp phòng trị cho bất cứ lợn nái nào có nhiệt độ lớn hơn 39,50C
Ở Cuba các bác sĩ thú y sử dụng dung dịch Lugol 5% điều trị đạt kết quả cao và dùng thuốc neometrina đặt trong tử cung đạt kết quả điều trị cao
Theo Popkov đã sử dụng phương pháp tiêm các kháng sinh sau vào màng treo tử cung của lợn nái bị viêm tử cung đạt kết quả điều trị cao
Streptomycin 0,25g Penicilline 500.000 UI Dung dịch MgSO4 1% 40ml + VTM C
1.3.2 Tại Việt Nam
Những năm gần đây, nền chăn nuôi lợn ở nước ta phát triển mạnh mẽ, số lượng đầu lợn nái ngoại Landrace, Yorshire tăng lên không ngừng, song song với nó tình hình dịch bệnh cũng tăng theo, đặc biệt là bệnh sinh sản Trong khi đó người chăn nuôi chưa được trang bị đầy đủ các kiến thức cần thiết nên năng suất chăn nuôi chưa được cao Mặt khác, các công trình nghiên cứu về bệnh sinh sản đặc biệt là bệnh viêm tử cung còn rất ít, do đó tỷ lệ lợn nái mắc bệnh đang ngày càng gia tăng Theo Nguyễn Văn Thanh (2003) tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung là tương đối cao, bệnh thường tập trung ở đàn lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa, khi thử nghiệm điều trị tác giả nhận thấy dùng PGF2α liều 25mg tiêm dưới da kết hợp với dung dịch Lugol 0,1% thụt rửa tử cung cho kết quả điều trị cao Theo Lê Xuân Cương (1986) lợn nái chậm sinh sản do nhiều nguyên nhân trong đó tổn thương bệnh lý sinh dục chiếm tỷ lệ đáng kể Đặc biệt các lợn nái đẻ khó áp dụng các thủ thuật ngoại khoa thì niêm mặc đường sinh dục rất dễ bị tổn thương và dẫn tới viêm tử cung
Theo Phạm Chí Thành và cs (1997) sử dụng Rivanol 1%, dung dịch Lugol 0,5%, kháng sinh để điều trị viêm tử cung cho kết quả cao
Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) tỷ lệ mắc hội chứng viêm tử cung kèm theo viêm vú và mất sữa là khá cao 37-38,2%