DANH MỤC BẢNG 1.1 Thực trạng manh mún đất đai thời điểm 2010 một số tỉnh 16 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Thường Tín trước và sau dồn điền đổi thửa 47 3.2 Kết quả dồn điền đổi thửa hu
Trang 1NGHIÊM THU HẰNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2NGHIÊM THU HẰNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM NGỌC THỤY
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nghiêm Thu Hằng
Trang 4tận tình của PGS.TS Phạm Ngọc Thụy và các thầy cô giáo trong bộ môn Quản lý đất đai, các thầy cô giáo Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Phạm Ngọc Thụy và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý đất đai
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ UBND huyện Thường Tín, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp, chính quyền xã Nghiêm Xuyên và xã Duyên Thái, xã Văn Bình cùng nhân dân ba xã đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nghiêm Thu Hằng
Trang 5Lời cam đoan i
1.1.2 Khái niệm về dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất 3 1.1.3 Vai trò của công tác dồn điền đổi thửa 4 1.1.4 Các yếu tố liên quan đến dồn điền đổi thửa 5 1.1.5 Dồn điền đổi thửa ở một số nước trên Thế Giới 7
1.2.1 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp 10 1.2.2 Tính cấp thiết phải tiến hành dồn điền đổi thửa tại Việt Nam 14 1.2.3 Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa 16 1.2.4 Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh 18 1.2.5 Những tác động của dồn điền đổi thửa đối với quản lý Nhà nước về
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 24 1.3.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên 24
Trang 62.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thường Tín 27 2.3.2 Thực trạng và quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa trên địa bàn
2.3.3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông
2.3.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu của của công tác dồn điền đổi
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mềm Exel 29 2.4.4 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá 29 2.4.5 Phương pháp minh họa bằng bản đồ, hình ảnh 30
3.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 35 3.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường 41 3.1.5 Tình hình quản lý và hiện trạng sử dụng đất 43 3.2 Thực trạng dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Thường Tín 50 3.2.1 Cơ sở pháp lý của dồn điền đổi thửa 50 3.2.2 Tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa 51 3.2.3 Đánh giá việc thực hiện công tác dồn điền đổi thửa huyện Thường Tín 55 3.2.4 Những tồn tại của công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện 59
Trang 73.3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp trên
3.3.1 Kết quả phỏng vấn nông hộ tại các xã nghiên cứu đại diện 60 3.3.2 Những tác động tích cực của dồn điền đổi thửa trên địa bàn 3 xã
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1.1 Thực trạng manh mún đất đai thời điểm 2010 một số tỉnh 16 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Thường Tín trước và sau dồn điền đổi thửa 47 3.2 Kết quả dồn điền đổi thửa huyện Thường Tín đến năm 2014 57 3.3 Kết quả dồn điền đổi thửa theo nhóm hộ huyện Thường Tín 58 3.4 Thực trạng ruộng đất trước và sau thực hiện dồn điền đổi thửa tại các
3.5 Diện tích đất công ích trước và sau dồn điền đổi thửa tại các xã nghiên
3.6 Giá thầu đất công ích trước và sau dồn điền đổi thửa 63 3.7 Diện tích đất giao thông, thủy lợi nội đồng trước và sau dồn điền đổi thửa 65 3.8 Tác động của dồn điền đổi thửa tới cơ cấu thu nhập của hộ nông dân 68 3.9 Hiệu quả kinh tế bình quân 1 ha đất 2 vụ lúa trước và sau dồn điền đổi
thửa tại các xã nghiên cứu đại diện 70 3.10 Hiệu quả kinh tế bình quân loại hình lúa - cá - thủy cầm tại 3 xã
3.11 Hiệu quả kinh tế của loại hình chuyên thả cá 72 3.12 So sánh hiệu quả kinh tế giữa các loại hình sử dụng đất sau dồn điền
đổi thửa với hiệu quả chuyên lúa trước dồn điền đổi thửa 73 3.13 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp trên 1 ha/năm tại 3 xã
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.1 Sơ đồ vị trí huyện Thường Tín 313.2 Cánh đồng mẫu lớn sau dồn điền đổi thửa 593.3 So sánh giá thầu đất công ích bình quân trước và sau dồn điền đổi
thửa tại các xã nghiên cứu đại diện (đơn vị: kg thóc/ha) 643.4 Giao thông, thủy lợi nội đồng sau dồn điền đổi thửa 653.5 So sánh hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất 74
Trang 11MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là
tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa,
xã hội, an ninh, quốc phòng, là yếu tố cấu thành lãnh thổ của mỗi quốc gia Đất đai
là quý giá bởi đất đai có hạn
Đất đai là yếu tố quyết định trong sản xuất nông nghiệp Trong lịch sử phát triển nông nghiệp, cải cách ruộng đất luôn là khâu bứt phá quyết định mọi quan hệ sản xuất và ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia
Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng nói chung và ở huyện Thường Tín nói riêng có bình quân diện tích đất trên đầu người rất thấp Trong điều kiện công nghiệp chưa thực sự phát triển trên địa bàn huyện, dân số ở nông thôn chiếm tỷ lệ lớn (gần 70%), đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người thấp lại manh mún, nên mặc dù là huyện ngoại thành của Hà Nội, nhưng sự phát triển kinh
tế xã hội của Thường Tín vẫn còn nhiều hạn chế
Thực trạng diễn biến đất sản xuất nông nghiệp của huyện cũng trong tình trạng chung của cả nước: đất đai thời bao cấp được tập trung theo quy mô hợp tác
xã nông nghiệp (cấp thấp, cấp cao, cấp liên hợp toàn xã); Thời kì đổi mới Thực hiện Luật Đất đai năm 1993 và Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp (Chính phủ, 1993) Đất sản xuất nông nghiệp được thực hiện theo Nghị định 64/CP theo nguyên tắc công bằng xã hội: ruộng được chia đều tính trên một nhân khẩu cho các hộ gia đình, có xa, có gần, có tốt, có xấu, có cao, có thấp, đã dẫn đến tình trạng ruộng đất giao bị phân tán, manh mún, không phù hợp với việc sản xuất lớn theo hướng sản xuất hàng hóa, không đáp ứng được nhu cầu phát triển nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới
Mặc dù sau đổi mới người nông dân được làm chủ trên mảnh đất của mình,
Trang 12họ mạnh dạn đầu tư cho sản xuất, sản xuất nông nghiệp đã có những thành tựu vượt bậc, nhưng do ruộng đất manh mún đã ngăn cản sản xuất nông nghiệp hàng hóa Vì vậy nhu cầu tích tụ tập trung ruộng đất theo hình thức dồn điền đổi thửa ngày càng cấp thiết hơn
Huyện Thường Tín là huyện có mức độ manh mún cao, phần lớn hộ có từ 10 đến 15 thửa ruộng ở các xứ đồng khác nhau Những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp của huyện cũng đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung,
vì vậy nhu cầu dồn điền đổi thửa ở đây là rất cần thiết
Huyện Thường Tín đã triển khai thực hiện dồn điền đổi thửa theo kế hoạch
số 68/KH-UBND ngày 9/5/2012 của UBND thành phố Hà Nội và đã thu được kết quả đáng khích lệ Nhằm đánh giá thực trạng công tác dồn điền đổi thửa, qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả dồn điền đổi thửa, tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả dồn
điền đổi thửa tại huyện Thường Tín - thành phố Hà Nội”
3 Yêu cầu của đề tài
- Đề tài cần phân tích được các yếu tố về: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội,
làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho dồn điền đổi thửa;
- Đánh giá đúng được thực trạng dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện, trên
cơ sở đó đề xuất giải pháp thúc đẩy công tác dồn điền đổi thửa và sử dụng đất trong
những năm tiếp theo
- Các giải pháp đề xuất phải sát với thực tế sản xuất và khả thi
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về dồn điển đổi thửa
1.1.1 Vấn đề manh mún đất đai
Manh mún đất đai có thể được hiểu là sự manh mún về mặt ô thửa đối với một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) tức là một hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa ruộng với kích thước nhỏ bị phân tán ở nhiều xứ đồng Mặt khác có thể hiểu là
sự manh mún biểu hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng diện tích quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố về phương tiện sản xuất khác (Bộ môn Hệ thống nông nghiệp, 2004)
Manh mún đất đai làm giảm tính hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, sự nhỏ
lẻ và rải rác của ruộng đất khiến cho việc cơ giới hóa, thủy lợi hóa trong nông nghiệp trở nên khó khăn hơn, làm giảm khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật Hơn thế nữa, các hộ gia đình còn phải đầu tư nhiều thời gian và lao động hơn cho các hoạt động nông nghiệp do các mảnh ruộng phân tán nhiều nơi Chính vì vậy cần có những biện pháp khắc phục tình trạng này
Manh mún đất đai cản trở sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ngăn cản đầu tư khoa học công nghệ cho sản xuất nông nghiệp; gây trở ngại cho quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún đất đai, trong đó những nguyên nhân chủ yếu là: do chính sách quản lý đất đai của Nhà nước trước đây (ruộng đất cần phải chia đều cho mỗi hộ nông dân); do yếu tố địa hình (độ cao không đồng đều; trong đê, ngoài đê…); do chuyển giao trong các quá trình thừa kế giữa các thế hệ…
1.1.2 Khái niệm về dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất
Dồn điền đổi thửa là việc chuyển đổi ruộng đất từ những ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn giữa các hộ nông dân, đẩy mạnh quá trình tích tụ ruộng đất để đưa nền nông nghiệp vốn manh mún, nhỏ lẻ phát triển thành sản xuất hàng hóa quy mô lớn dưới sự chỉ đạo thống nhất của các cán bộ đảng viên từ cấp Trung ương đến địa phương (Bộ môn Hệ thống nông nghiệp, 2004)
Có 2 cơ chế chủ yếu để thực hiên dồn điền đổi thửa:
Trang 14Cơ chế thứ nhất: để cho thị trường ruộng đất và các nhân tố phi tập trung tham gia vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ, tạo cơ chế để quá trình đó vận hành tốt hơn;
Cơ chế thứ hai: thực hiện các biện pháp can thiệp từ phía Nhà nước để tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định Theo cách này, các địa phương cần phải xác định và thực hiện để dồn điền đổi thửa, sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật Tuy nhiên, việc thực hiện quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau (Bộ môn Hệ thống nông nghiệp, 2004)
Dồn điền đổi thửa thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa - công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn
Tích tụ ruộng đất là sự tích tụ tư bản cho sản xuất nông nghiệp dưới hình thức ruộng đất để đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, áp dụng công nghệ cao trong sản xuất và quản lý sản xuất nông nghiệp, nhằm tăng sức cạnh tranh sản phẩm trên thương trường, nhờ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nông nghiệp Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mang tính sinh học nên tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp khác hẳn với tích tụ tư bản trong công nghiệp, điều đó được thể hiện:
- Quá trình tích tụ tư bản trong công nghiệp hình thành các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế đa quốc gia, đa sở hữu, đa ngành nghề, với cơ cấu công ty mẹ công ty con, công ty cháu… hoạt động không giới hạn trên phạm vi toàn cầu
- Trong khi đó tích tụ tư bản (ruộng đất) trong nông nghiệp thì không hoàn toàn như vậy, do đặc điểm sản xuất mang tính sinh học quy định, nên quy mô của doanh nghiệp nông nghiệp là có giới hạn
Tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại sản xuất nông nghiệp hàng hóa Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu tối đa hóa lợi ích và tối đa hóa lợi nhuận của sản xuất nông nghiệp là tiêu chí cơ bản của trang trại sản xuất nông nghiệp Vì thế, sản xuất nông nghiệp của trang trại sản xuất nông nghiệp mang tính chất kinh doanh, còn hộ tiểu nông thì chỉ là tự túc tự cấp (Vũ Trọng Khải, 2008)
1.1.3 Vai trò của công tác dồn điền đổi thửa
- Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, phân tán
Trang 15Dồn điền đổi thửa làm tăng diện tích thửa đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất liền khoảnh, liền khu, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ cải tạo ruộng đồng, thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tiết kiệm chi phí sản xuất và tạo điều kiện tốt hơn cho cơ giới hóa Dồn điền đổi thửa đã giảm bớt thời gian đi lại, vận chuyển, thu hoạch cho các hộ nông dân, tăng thêm diện tích canh tác do giảm bớt diện tích đất
để làm bờ ruộng, tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh cũng như thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất
- Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp là cơ hội để quy hoạch và phát triển hệ thống giao thông thủy lợi, tạo điều kiện để phát triển đa dạng hóa nông nghiệp Quá trình dồn điền đổi thửa cho phép khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất, làm cho quy mô diện tích các mảnh ruộng tăng lên Nhưng đi liền theo đó là sự tăng nhu cầu dịch vụ sản xuất, đặc biệt là nhu cầu đảm bảo tưới tiêu, vận chuyển sản phẩm và cơ giới hóa sản xuất trong tương lai Vì vậy trong triển khai dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp cần thiết cho việc mở rộng đường giao thông, thủy lợi, bê tông hóa, kênh mương thủy lợi, cũng như giảm chi phí cứng bê tông hóa kênh mương
- Khắc phục được tình trạng sử dụng đất công ích kém hiệu quả, do được rà soát và tập trung thành các khu vực cụ thể để thuận lợi cho việc sử dụng và quản lý của địa phương
- Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp tạo cơ sở cho việc cải thiện công tác quản lý đất đai thông qua quá trình điều tra đất đai cập nhật quỹ đất trao đổi và giao lại đất có sự tham gia tích cực của các hộ nông dân của địa phương, giải quyết những khó khăn, tồn tại liên quan đến tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai, giao đất chưa công bằng trước đây được, tạo không khí phấn khởi, đoàn kết
trong xóm làng
1.1.4 Các yếu tố liên quan đến dồn điền đổi thửa
Dồn điền đổi thửa liên quan đến một số yếu tố, những yếu tố này có thể làm thuận lợi hoặc khó khăn cho công tác dồn điền đổi thửa Để tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến DĐĐT, chúng ta xem xét một số nhóm yếu tố làm thuận lợi hoặc gây khó khăn cho dồn điền đổi thửa sau đây:
Trang 16+ Đặc điểm thổ nhưỡng (lý, hóa tính của đất)
+ Nguồn nước và chế độ nước Đây là yếu tố rất cần thiết, nó là điều kiện để sản xuất và tăng tính màu mỡ của đất canh tác
+ Địa hình, độ dốc là yếu tố quyết định lớn đến bố trí sản xuất
+ Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp liên quan đến khả năng và
hiệu quả sử dụng đất
1.1.4.2 Nhóm các yếu tố về kinh tế - xã hội
Nhóm này bao gồm những yêu tố như: ranh giới hành chính, cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, tập quán canh tác của người dân Những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng đối với dồn điền đổi thửa Những yếu tố này gồm:
Ranh giới hành chính
Ranh giới hành chính của một địa phương là phạm vi mà ở đó thực thi các hoạt động của tổ chức hành chính Nhà nước và kinh tế địa phương Dựa trên ranh giới hành chính xác định quỹ đất của một đơn vị hành chính bao gồm: đất sản xuất nông nghiệp, đất ở, đất mặt nước chuyên dùng, đất chưa sử dụng… Dựa trên ranh giới hành chính để quản lí và thực hiện các chính sách về đất đai như: lập quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất, thực hiện các quyền sử dụng đất, dồn đổi ruộng đất…
Cơ sở hạ tầng giao thông thủy lợi
Trong các yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là rất quan trọng, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ
Trang 17những yếu tố đầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng đất
Tập quán canh tác của người dân
Nhóm yếu tố này gồm trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất (Khúc Hồng Thiện và Nguyễn Văn Học, 2015)
Nhóm các yếu tố kinh tế
Nhóm này liên quan đến các biện pháp kinh tế như: nguồn vốn, giá vật tư nông nghệp, giá mua sản phẩm; chi phí dịch vụ … Nhóm này có tác động mạnh đến quá trình khai thác, đầu tư chiều sâu nâng cao hiệu quả sử dụng đất
1.1.4.3 Nhóm các yếu tố quản lí Nhà nước
Nhóm này gồm các yếu tố: quy hoạch sử dụng đất, tổ chức sản xuất, khuyến khích phát triển sản xuất Dồn điền đổi thửa cần căn cứ vào nhóm yếu tố này để định hướng ghép thửa phù hợp
- Yếu tố quy hoạch sử dụng đất mang tính định hướng để phát triển sản xuất, dựa trên các yếu tố tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, môi trường xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi, cơ cấu sử dụng đất hợp lí để phát triển bền vững
- Yếu tố tổ chức sản xuất liên quan đến giải pháp và cơ chế phát triển sản xuất Hình thức tổ chức sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
- Khuyến khích phát triển sản xuất của Nhà nước có tác động mạnh đến đầu
tư sản xuất Việc ưu tiên vốn cho phát triển trang trại sản xuất nông nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình dồn điền đổi thửa Khi trang trại được vay vốn, được bảo trợ, chủ trang trại chú trọng đầu tư, và mang lại hiệu quả cao thì quá trình tích tụ ruộng đất,
hình thành trang trại sẽ nhanh chóng tự phát triển
1.1.5 Dồn điền đổi thửa ở một số nước trên Thế Giới
1.1.5.1 Ở Nhật Bản
Để chấn hưng nền nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ Nhật Bản đã ban hành
Trang 18chính sách nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn Để thực
hiện mục tiêu này Bộ nông nghiệp đề ra "sự nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục
tiêu: rộng, chắc chắn, sâu"
- Rộng: nâng kích thước thửa ruộng lên 0,3ha
- Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay lún trên cơ sở thiết kế xây dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và từng khu vực để có thể sử dụng máy móc cho thuận lợi
- Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dày khoảng 1m
Để làm được các yêu cầu nêu trên cần phải làm được hai việc:
+ Về mặt hành chính: xử lý chuyển đổi từ các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn + Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng
Dồn điền đổi thửa, xử lý ruộng đất như nêu trên là khó khăn, phức tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến hành với một số biện pháp như công tác quy hoạch sử dụng đất mới phát huy hiệu quả trong sử dụng đất Kết quả là khoảng 2 triệu ha trong 2,7 triệu ha đất trồng lúa nước ở Nhật Bản đã được chuyển đổi Trước chuyển đổi, bình quân có 3,4 thửa/hộ, sau chuyển đổi bình quân có khoảng 1,8 thửa/hộ Việc chuyển đổi, xử lý đất nông nghiệp đã tăng sức sản xuất của đất đai, tăng năng suất lao động của người nông dân; việc
áp dụng máy móc vào sản xuất được thuận tiện và hiệu quả, tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh trong nông nghiệp Vì vậy cùng với các yếu tố khác, việc chuyển đổi và xử lý đất nông nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất lúa từ 3.000kg gạo/ha/năm năm 1960 lên 6.000kg gạo/ha/năm năm 1992 (Nguyễn Khắc Bộ, 2004)
1.1.5.2 Ở Đài Loan
Sau năm 1949, dân số Đài Loan tăng đột biến do sự di dân từ lục địa ra Thời gian đầu chính quyền Đài Loan đã thực hiện cải cách ruộng theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm 1953, hòn đảo này đã có đến 679.000 trang trại
Trang 19với quy mô bình quân là 1,29 ha/trang trại Đến năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08 ha/trang trại Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất,
hạ giá thành sản phẩm Nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá
vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp) Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai Ước tính đã có trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao
động để sản xuất (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003)
1.1.5.3 Ở Indonesia
Đất sản xuất nông nghiệp của Indonesia tập trung chủ yếu ở đồng bằng Java,
ở đây ruộng đất cũng rất manh mún Năm 1963, số trang trại có diện tích đất nhỏ hơn 0,5 ha chiếm trên 52% trong tổng số 7,9 triệu nông hộ; trang trại có từ 0,5 đến 1,0 ha chiếm 27%, chỉ có 0,4% loại trang trại có 4 đến 5 ha Trong khi đó, 40% số trang trại
do người làm công quản lý chứ không do chủ đất quản lý Tình trạng này đã ảnh hưởng nhiều đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật của cuộc cách mạng xanh thời đó Tuy có
sự gia tăng áp lực dân số trên ruộng đất, nhưng ít phân cực giữa các loại nông hộ, các trang trại quy mô lớn đến hàng chục ha chỉ là cá biệt, mặc dù số nông dân không có ruộng đất vẫn tăng lên Như vậy ruộng đất vẫn không tập trung được vào một số trang trại lớn mà chỉ được trao đổi giữa các chủ nhỏ (Chu Mạnh Tuấn, 2007)
1.1.5.4 Ở Thái Lan
Đất đai nông nghiệp trên đồng bằng Chao phraya của Thái Lan có sức ép về dân số thấp hơn Sự phân chia nhỏ ruộng đất tuy chưa đến mức quá manh mún nhưng trong quá trình xây dựng và phát triển siêu đô thị ở Băng Kok đã thu hút lao
Trang 20động nông thôn ra thành thị làm cho quy mô ruộng đất nông nghiệp tăng lên Cách
đây khoảng 120 năm, vùng Chao phraya có đến 2 triệu ha đất nhưng dân cư chỉ có
khoảng trên 300 ngàn người Nhưng sự bắt đầu xây dựng đô thị Băng kok kể từ vài chục năm gần đây đã làm cho dân số vùng tăng nhanh, bình quân 3% năm Đất nông nghiệp mất đi trung bình 1%/ năm kể từ năm 1970 trở lại đây Các trang trại bị chia nhỏ giảm dần về quy mô ruộng đất Trung bình một hộ năm 1950 có 4,8 ha đến năm
1963 còn 4,5 ha, năm 1978 là 4,1 ha và 15 năm sau, 1993 chỉ còn 3,5 ha Sự giảm quy mô trung bình ruộng đất ở Thái Lan một phần nữa còn được giải thích bởi sự chia đều ruộng đất cho con cái thừa kế và sự chậm tiến bộ về mặt công nghệ, kỹ thuật sản xuất Giai đoạn 20 năm, từ 1955 đến 1975 là giai đoạn giá nông sản (lúa) khá thấp, công nghệ sản xuất “bão hòa”, không khuyến khích được tập trung ruộng đất Trên thực tế giá nông sản thấp và sự bần cùng hóa nông dân luôn đi cùng với sự chia nhỏ quy mô sản xuất bởi vì lợi ích đầu tư tuộng đất lúc đó không cao, người ta cần chia nhỏ và đa dạng hoạt động để tránh rủi ro Khi đó rất ít người có đủ tiền bạc, thực lực để mà mua đất sản xuất nông nghiệp (Bộ môn Hệ thống nông nghiệp, 2004)
1.1.5.5 Ở Châu Âu và các nước phát triển khác
Kể từ sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX), một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại thải, thay vào
đó là các trang trại quy mô vừa, năng suất lao động cao Ở Pháp năm 1955 có xấp xỉ 2,3 triệu nông hộ có quy mô 14 ha/hộ, đến năm 1993 chỉ còn 800 ngàn nông hộ với quy mô 35 ha/hộ ở Mỹ, năm 1950 cả nước có 5,65 triệu nông hộ với quy mô bình quân 86 ha/hộ, đến năm 1992 chỉ còn 1,92 triệu nông hộ với quy mô 198,9 ha/hộ Nhìn chung, tiến trình tích tụ ruộng đất và vốn nhanh chóng của các nông hộ ở Châu Âu chủ yếu là nhờ thành tựu khoa học công nghệ phát triển trong quá trình cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 (Nguyễn Danh Công, 2014)
1.2 Dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
1.2.1 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1.1 Giai đoạn 1945-1981
Ngay sau khi giành được chính quyền vào năm 1945, Chính phủ đã thực hiện
Trang 21phân chia lại ruộng đất và giảm bớt thuế cho nông dân nghèo và tá điền Chính quyền cách mạng đã ban hành nhiều sắc luật về ruộng đất và chính sách đối với nông dân như: Sắc lệnh số 78/SL ngày 14/7/1949 giảm 25% tô Năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ về sử dụng công điền, công thổ để cho công bằng và có lợi cho người nghèo và chia lại ruộng đất cho nông dân Ngày 4/12/1953 Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất với mục tiêu để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến, để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phóng dân tộc đồng thời đem những đồn điền, ấp trại tịch thu của thực dân Pháp và bọn phản động chia cho nông dân tá điền Sau khi kết thúc chiến tranh với thực dân Pháp vào năm 1954, miền Bắc thực hiện chương trình cải cách ruộng đất cơ bản Mục đích là để công hữu hoá ruộng đất của địa chủ người Việt và người Pháp, tiến hành phân chia lại cho hộ nông dân ít đất hoặc không có đất với khẩu hiệu “Người cày có ruộng” Giai đoạn tiếp theo của chính sách cải cách ruộng đất
đó là miền Bắc bước sang giai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác xã từng khâu (bậc thấp) và hợp tác xã toàn phần (bậc cao) Ngày 14/12/1956 Bộ tài chính đã có thông tư số 430 hướng dẫn việc thi hành miễn giảm thuế nông nghiệp để tạo điều kiện cho nông dân trong sản xuất nông nghiệp Đến năm 1960, khoảng 86% hộ nông dân và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào hợp tác xã bậc thấp Trong hợp tác xã này người nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất Ở hình thức hợp tác xã bậc cao, nông dân góp chung đất đai và các tư liệu sản xuất khác (trâu, bò, gia súc và các công cụ khác) vào hợp tác xã dưới sự quản lý chung
Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh để lại, những hậu quả từ những chính sách trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và thời kỳ kinh tế tập thể trong nông nghiệp Trong thời kỳ sở hữu tập thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm do người nông dân thiếu động cơ làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất thấp, chỉ có 2% Cùng thời điểm này dân số tăng rất nhanh (2,2-2,35%/năm) đã dẫn đến việc phải nhập khẩu bình quân hơn một triệu tấn lương
thực mỗi năm trong suốt thời kỳ sau chiến tranh (Nguyễn Danh Công, 2014)
Trang 221.2.1.2 Giai đoạn 1981-1988
Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V ngày 13/01/1981 đã ra Chỉ thị số 100/CT-TƯ về công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là Chỉ thị 100) đã bắt đầu cho sự thay đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp Dưới chính sách Khoán
100, các HTX (hợp tác xã) giao đất nông nghiệp đến hộ gia đình và người lao động; xã viên được đầu tư vốn, sức lao động trên khoán ruộng và hưởng trọn phần vượt khoán Đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước và dưới sự quản lý của HTX Mặc dù còn đơn giản nhưng Khoán 100 đã trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới nền kinh tế thị trường, có tác dụng ngăn chặn sự sa sút và tạo
đà đi lên trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Sự ra đời của Khoán 100 đã có những ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3%/ năm trong suốt giai đoạn 1981-1985 Tuy nhiên, sau năm
1985 tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp bắt đầu giảm, cụ thể tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng nông nghiệp trong giai đoạn 1986-1988 chỉ là 2,2%/năm Năm 1988, do sản xuất lương thực không đáp ứng được nhu cầu dẫn đến sự thiếu ăn ở 21 tỉnh, thành trên miền Bắc Ở miền Nam một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là mối quan hệ đất đai bởi
sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai Điều này hiển nhiên đặt ra yêu cầu một cuộc cải cách mới trong chính sách đất đai
1.2.1.3 Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau đổi mới
Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam, ngày 05/4/1988 Nghị quyết 10/NQ-TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi
“Khoán 10”) được ban hành Với sự ra đời của Khoán 10 người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10-15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp Sản xuất lương thực đã
có sự khởi sắc đáng kể, từ 19,5 triệu tấn năm 1988 lên 21,5 triệu tấn năm 1989, tức
là tăng thêm 2 triệu tấn trong 1 năm Tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp gần 10%, là một kỷ lục chưa từng có Sản lượng lương thực tăng nhanh không những
Trang 23cung cấp đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu (năm 1989, lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu 1,2 triệu tấn gạo)
Trong suốt thời kỳ đổi mới, một loạt các chính sách nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến sử dụng đất đai đã ra đời Những chính sách quan trọng nhất đó là Luật Đất đai năm 1993, Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy định việc giao đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp, sau đó là Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001; Luật Đất đai năm 2003; Mới nhất là Luật đất đai 2013 Bên cạnh đó cũng có một loạt các chính sách liên quan trực tiếp hoặc hỗ trợ gián tiếp đến vấn đề về đất đai
Theo Luật Đất đai 2013, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất có thời hạn là 50 năm với 8 quyền: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất, bổ sung 3 quyền so với luật đất đai 2003 là quyền cho thuê lại, tặng cho và góp vốn quyền sử dụng đất Như vậy người dân sẽ được hưởng nhiều quyền lợi hơn trong quá trình sử dụng đất Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản này Việc giao đất sẽ được tiến hành lại tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất nếu như người sử dụng đất vẫn
có nhu cầu sử dụng Luật đất đai 2013 cũng quy định thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm Khi hết thời hạn thuê đất, hộ gia đình, cá nhân nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê đất Luật này cũng quy định mức giao đất nông nghiệp, hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp không quá 3 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long; không quá 2 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 10 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi (Quốc hội, 2013) Cùng với việc giao đất cho các hộ nông dân thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được các
cơ quan chức năng xem xét và cấp cho các hộ dân
Trang 24Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay
đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn An ninh lương thực quốc gia được đảm bảo và nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi
1.2.2 Tính cấp thiết phải tiến hành dồn điền đổi thửa tại Việt Nam
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới
cơ chế kinh tế nông nghiệp nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trước nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nền nông nghiệp và đặc biệt là vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún về diện tích và ô thửa Chuyển đổi ruộng đất chống manh mún, phân tán, tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho việc thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Mặt khác, khi thực hiện giao đất còn nhiều sai sót, tùy tiện dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định ở cơ sở; quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch kiến thiết lại ruộng đồng thiếu khoa học, thiếu tầm nhìn chiến lược đang gây trở ngại cho việc quản lý, sử dụng đất Trước yêu cầu đổi mới nền kinh tế để đáp ứng với nền kinh tế thị trường, cần phải tổ chức lại sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hơn nữa, với quy mô sản xuất như hiện nay, kỹ thuật canh tác, nền nông nghiệp với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, công nghệ và trang thiết bị sản xuất
ở đầu vào đầu ra đều lạc hậu Nghề nông vẫn là nghề “cha truyền con nối”, “lão nông tri điền” Chế biến và buôn bán vẫn như xưa, không liên kết với sản xuất theo chuỗi giá trị ngành hàng Nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng đang tham gia chuỗi giá trị toàn cầu trong thế yếu Người nông dân với 5-7 công đất thì
họ không cần hợp tác, không thể gắn kết với doanh nghiệp để phát triển sản xuất Quan trọng hơn, quy mô 5-7 công đất thì không thể ứng dụng tốt nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất (Vũ Trọng Khải, 2015)
Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp có hiệu quả nhất là phải tiến hành dồn điền đổi thửa Để hiểu rõ hơn tại sao phải nhanh chóng tiến hành công tác dồn điền đổi thửa chúng ta cần tìm hiểu những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng
Trang 25đất gây trở ngại cho sản xuất và công tác quản lý Nhà nước về đất đai (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2010)
Những hạn chế của manh mún ruộng đất:
Khi nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hóa, thì manh mún đất đai đã trở thành yếu tố ngăn cản sự phát triển
Sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ sẽ có nhiều khó khăn trong ứng dụng công nghệ mới và tiến hành cơ giới hóa sản xuất Việc đưa máy móc vào trong sản xuất nông nghiệp sẽ khó có thể thực hiện hiệu quả khi diện tích quá nhỏ Phần lớn hiện nay ở Việt Nam diện tích đất canh tác nhỏ hơn 0,5ha/thửa, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng Do đó hình thành rất nhiều đường bờ để ngăn cách các thửa ruộng với nhau Sự tồn tại của những đường bờ ngăn cách đó gây khó khăn cho sự vận hành của máy móc hiện đại Ngoài ra, những đường bờ ngăn đó cũng sẽ lấy đi một phần diện tích đất sản xuất không nhỏ
Chi phí sản xuất sẽ gia tăng vì các hộ phải tốn nhiều thời gian để di chuyển giữa các thửa ruộng Trung bình khoảng cách giữa các thửa ruộng gần 5km; với con
số trung bình là 5 thửa ruộng thì hộ nông dân cần phải đi một đoạn đường gần 25
km trên lượt di chuyển đến tất cả các thửa ruộng Chi phí đi lại về thời gian và tiền bạc tốn kém hơn rất nhiều Ngoài ra việc phải canh tác trên nhiều thửa ruộng với quy mô nhỏ sẽ gia tăng chi phí đầu vào đối với sản xuất
Vấn đề thủy lợi trong sản xuất quy mô nhỏ sẽ có nhiều khó khăn Với một hệ thống thủy lợi chung cho một cánh đồng có thể không đạt hiệu quả vì còn tồn tại quá nhiều đường bờ ngăn ruộng Ngoài ra việc sản xuất quy mô nhỏ còn làm gia tăng mâu thuẫn giữa các hộ nông dân, gây ra những tác động xấu về mặt xã hội trong đời sống nông thôn (Lê Thị Anh, 2014)
Theo Điều tra nông thôn với bộ số liệu “Điều tra tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình Việt Nam (VARHS)” được tiến hành điều tra trên địa bàn 12 tỉnh của Việt Nam trong khoảng thời gian từ tháng 7 - 9/2008 đến tháng 6-8/2010 tại 12 tỉnh cho thấy diện tích đất canh tác trung bình của một hộ nông dân là 0,85ha, trung bình mỗi hộ có 4,7 mảnh đất khác nhau, tổng khoảng cách từ nơi ở đến ruộng của các hộ nông dân khoảng 4,7km Thực trạng manh mún đất đai năm 2010 một số tỉnh được thể hiện ở bảng 1.1
Trang 26Bảng 1.1 Thực trạng manh mún đất đai thời điểm 2010 một số tỉnh
Diện tích đất canh tác trung bình (ha)
Số mảnh đất
Tổng khoảng cách đến các mảnh (m)
(Nguồn: Lê Thị Anh, 2014)
Theo số liệu điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2011 Việt Nam vẫn còn 69% số hộ sử dụng đất sản xuất có quy mô dưới 0,5 ha; 34,7% số hộ
có quy mô dưới 0,2 ha Như vậy, có thể thấy đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đang bị phân tán lớn, quy mô sản xuất nhỏ, số thửa canh tác nhiều
Chính vì những nguyên nhân trên mà càng cần thiết tiến hành dồn điền đổi thửa
1.2.3 Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa
Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế Theo đó mục tiêu đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 là bước ngoặt cơ bản trong nông nghiệp Nội dung chính của Nghị quyết này là công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất cũng như các tư
Trang 27liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất đai) và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân Chính sách mới này đã dẫn đến xoá bỏ hợp tác hoá trong nông nghiệp
Cũng theo chính sách này, nông dân được giao đất nông nghiệp trong 15 năm
và ký hợp đồng sử dụng các đầu vào, sử dụng lao động và sản phẩm mà họ sản xuất
ra Các chỉ tiêu trong hợp đồng được ổn định trong 5 năm Hơn nữa, hầu hết các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu bò và các công cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân
Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định Tuy nhiên, thời gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất khác chưa được luật pháp hoá Điều này dẫn đến nông dân có thể ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên Theo đó nông dân được giao đất ổn định và lâu dài, họ được giao 5 quyền sử dụng đất bao gồm: quyền chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp (Quốc hội, 1993) Nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng Thông thường ở nhiều nơi trên miền Bắc, đất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bình quân theo nhân khẩu) Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Đất cây hàng năm
ở Việt Nam được chia thành 6 hạng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi
hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân
cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam Manh mún có nhiều mức
độ khác nhau, ở một số vùng tình trạng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở những nơi hoặc vùng khác
Trong các báo cáo gửi Chính phủ và UBND tỉnh, khi rút kinh nghiệm công tác dồn điền, đổi thửa, các địa phương đều đưa ra kết luận công tác dồn điền, đổi thửa nên áp dụng ở những vùng mà manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không
có mâu thuẫn về đất đai
Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn Tuy nhiên, ở rất nhiều tỉnh quá trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít
Trang 28vào quá trình này, ngoại trừ việc đánh giá chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi giữa các hạng đất Bởi đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông dân cho rằng họ không có quyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận
về kế hoạch hoá sử dụng đất (Nguyễn Danh Công, 2014)
1.2.4 Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh
Nhận thức được sản xuất manh mún, chưa tạo ra được những vùng sản xuất lớn, tập trung nên sản phẩm nông nghiệp chưa thực sự trở thành hàng hóa, giá trị nông nghiệp chưa cao Thái Bình xác định công tác dồn điền đổi thửa là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới Trên cơ sở đó UBND tỉnh đã phê duyệt Đề án số 214/QĐ-UBND ngày 15/02/2011 về việc dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp, thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới và Kế hoạch số 20/KH-UBND ngày 16/08/2011 về kế hoạch dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới Kết quả đến hết quý I năm 2013, Thái Bình
cơ bản đã thực hiện xong dồn điền đổi thửa gắn với chỉnh trang đồng ruộng Tỉnh
đã giảm được 499.930 thửa, chỉ còn 462.187 thửa, bình quân chung toàn tỉnh là 1,79 thửa/hộ Cùng với kết quả dồn điền đổi thửa, người dân đã tự nguyện góp trên 2.000 ha đất để làm công trình giao thông, thủy lợi nội đồng Khối lượng đào đắp giao thông, thủy lợi nội đồng bình quân mỗi xã khoảng 50.000 km3 Hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng được các xã thực hiện theo đúng quy hoạch Cụ thể, thiết kế bờ vùng cách bờ vùng là 500m - 800m; bờ thửa cách bờ thửa là 100m, mặt
bờ vùng rộng 4,5m Cứ cách 500m có một điểm tránh xe, bờ thửa rộng 2,5m, đủ tiêu chuẩn để cho máy gặt đập liên hợp hoạt động Dọc bờ vùng, bờ thửa có mương tưới tiêu nước và thuận lợi cho việc sử dụng cơ giới vào sản xuất Đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng và thực hiện cánh đồng mẫu lớn; là điều kiện tốt
để các tập thể, cá nhân mạnh dạn đầu tư vốn để mua máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần làm giảm chi phí, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm Qua thực tế ở các xã đã dồn điền đổi thửa, chỉnh trang nội đồng, máy móc,
cơ giới được đầu tư, nên khâu làm đất đạt 100%, vận chuyển đạt 100%, gặt khoảng 80%, bơm nước 100%
Ở tỉnh Hải Dương, qua 2 lần thực hiện DĐĐT (2003 và 2013) diện mạo nông
Trang 29thôn đã có những thay đổi cơ bản Các huyện, xã, thôn trong quá trình thực hiện đã thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Tỉnh Từ việc tuân thủ các quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết về xây dựng nông thôn mới đến các quy định của Luật đất đai và các văn bản pháp quy hiện hành DĐĐT và chỉnh trang đồng ruộng đã trở thành phong trào lớn ở nông thôn, được đảng viên và nhân dân đồng tình hưởng ứng Nhiều địa phương đã chủ động sáng tạo và vận động nhân dân ủng hộ kinh phí
và ngày công, góp một phần diện tích cho quá trình chỉnh trang đồng ruộng DĐĐT
về cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra là khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất, đất công điền cơ bản được tập trung vào các vị trí qui hoạch cho các công trình công cộng hoặc tập trung thành vùng thuận tiện cho việc quản lý, sử dụng lâu dài Sau DĐĐT nhiều địa phương đã hình thành được các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa, thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Ở Nam Định, sau vụ mùa năm 2011 (đợt 1), có 91/209 xã, thị trấn triển khai DĐĐT, trong đó có 84/96 xã, thị trấn xây dựng nông thôn mới Đến hết năm
2011, có 57 xã, thị trấn đã hoàn thành giao đất ngoài thực địa; Hải Hậu là huyện đầu tiên hoàn thành công tác DĐĐT (35/35 xã, thị trấn) Sau vụ mùa năm 2012 (đợt 2),
có thêm 108 xã, thị trấn triển khai; như vậy đến năm 2012 đã có 199/209 xã, thị trấn (2.999 thôn) triển khai DĐĐT, trong đó có 96 xã, thị trấn xây dựng nông thôn mới Trong 108 xã, thị trấn triển khai trong năm 2012, đến 21/12/2012 đã có 75 xã, thị trấn hoàn thành giao đất ngoài thực địa, 33 xã, thị trấn đang tập trung hoàn thành công trình giao thông thủy lợi nội đồng, bốc thăm vị trí và chuẩn bị giao đất ngoài thực địa (Nguyễn Thế Vịnh, 2013)
Ở Hà Nội, chỉ trong một thời gian ngắn (gần hai năm: từ tháng 12/2014), toàn thành phố Hà Nội đã dồn điền đổi thửa được 75.965,3 ha/76.365,07
5/2012-ha, một diện tích đất nông nghiệp rất lớn mà hơn 10 năm qua chưa làm được Sau hai năm thực hiện, Hà Nội đã dồn điền đổi thửa được 99,48% kế hoạch Một số huyện thực hiện dồn được diện tích lớn như: Chương Mỹ hơn 10,2 nghìn ha; Sóc Sơn hơn 10,3 nghìn ha; Phú Xuyên hơn 8,9 nghìn ha; Mỹ Đức hơn 7,5 nghìn ha… Trong đó, có nhiều huyện thực hiện vượt chỉ tiêu theo kế hoạch dồn điền đổi thửa như Phú Xuyên, Sóc Sơn, Ba Vì, Sơn Tây, Thạch Thất (Tú Mai, 2015)
Trang 301.2.5 Những tác động của dồn điền đổi thửa đối với quản lý Nhà nước về đất đai
và sản xuất nông nghiệp
1.2.5.1 Dồn điền đổi thửa tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai
DĐĐT là dịp để kiểm tra lại quỹ đất nông nghiệp, công tác lập hồ sơ địa chính được nhanh chóng, chính xác Ở Ninh Bình, qua chuyển đổi ruộng đất, các huyện đã đo đạc rà soát lại quỹ đất, phát hiện diện tích đất dôi dư: qua báo cáo của
22 xã phát hiện dôi dư 491,93 ha, trong đó: xã Sơn Hà (Nho Quan) 200ha, Yên Thắng (Yên Mô) 36,86 ha Bên cạnh đó đã có 53 xã lập hồ sơ địa chính để cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, làm cơ sở pháp lý để Nhà nước quản lý lâu dài
về đất đai (Ban Kinh tế, 2004).Điều đó đã góp phần làm cho việc quản lý Nhà nước
về đất đai được chặt chẽ, nề nếp, hiệu quả hơn
Ở Huyện Phú Vang - tỉnh Thừa thiên Huế, đến tháng 9 năm 2011, sau khi thực hiện xong công tác dồn điền đổi thửa, huyện đã hoàn thành cấp được GCNQSDĐ cho 8.970 hộ đạt tỷ lệ 85,48% số hộ phải cấp, số GCNQSDĐ đã cấp là 20.855 giấy, đạt tỷ lệ 88% số giấy phải cấp So sánh với tiến độ cấp GCNQSDĐ cho các hộ của toàn tỉnh thì huyện Phú Vang có tỷ lệ đã cấp giấy đạt cao nhất với 85,48%, tiến độ cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình cá nhân nhanh đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân yên tâm sản xuất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Pháp luật và Nhà nước (Huỳnh Văn Chương và Nguyễn Thụy Đoan, 2013)
DĐĐT có điều kiện tốt để rà soát, bổ sung, xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất, công tác quy hoạch xây dựng cơ bản, quy hoạch giao thông, thuỷ lợi được gắn với quá trình thực hiện chuyển đổi ruộng đất
DĐĐT đã làm cho diện tích đất công ích của xã được dồn gọn vùng, gọn thửa để tiện quản lý, canh tác và sử dụng vào mục đích chung của xã
Nhờ dồn điền đổi thửa mà diện tích đất sản xuất nông nghiệp dôi dư do phá
dỡ bờ vùng, bờ thửa và thu hồi được những diện tích trước đây đo sai, giao theo Nghị định 64/NĐ-CP không đúng Cụ thể, đến nay toàn thành phố đã thu được hơn
Trang 311,6 nghìn ha đưa vào quỹ đất công của xã, trong đó có những huyện thu được nhiều như: Sóc Sơn, Chương Mỹ, Ba Vì, Thanh Oai, Mỹ Đức, Thường Tín Thông qua dồn điền đổi thửa trình độ, năng lực tổ chức thực hiên các nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới của cán bộ xã, thôn đã được nâng lên rõ rệt Sau dồn điền đổi thửa đã có ba huyện thực hiện cấp lại giấy phép quyền sử dụng đất được cho hơn 162 nghìn hộ, là Ứng Hòa, Đan Phượng, Quốc Oai (Tú Mai, 2015)
DĐĐT tạo các ô thửa lớn, tiết kiệm diện tích đắp bờ, phát hiện diện tích giao thiếu công bằng ở một số nơi và giải quyết những vướng mắc, mâu thuẫn phát sinh trong sử dụng đất đai
1.2.5.2 Dồn điền đổi thửa khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất
Ở Hải Dương, tính đến 26/11/2014 toàn tỉnh đã có 241 thôn, ở 73 xã đã triển khai DĐĐT và chỉnh trang đồng ruộng ngoài thực địa với tổng diện tích đã dồn điền, đổi thửa là 10.064 ha, số thửa bình quân/hộ sau DĐĐT cơ bản đạt từ 1-2 thửa/hộ, diện tích trung bình đạt trên 800 m2/thửa Ruộng đất bớt manh mún hơn
Ở Nam Định, kết quả DĐĐT ở các xã, thị trấn đã giao đất tại thực địa cơ bản đạt yêu cầu: đã kết hợp DĐĐT với chỉnh trang, kiến thiết đồng ruộng, làm giao thông và thủy lợi nội đồng; hình thành các vùng sản xuất tập trung; cơ bản quy gọn được quỹ đất công; giảm số thửa bình quân (từ 3,27 xuống còn 1,5 - 2,5 thửa/hộ; nhiều xã 75 – 80% số hộ chỉ còn 1 thửa/hộ); đặc biệt sau 2 năm đã vận động các hộ nông dân góp được trên 1.000 ha đất, đắp được được gần 2.000 km đường giao thông nội đồng Sau DĐĐT hầu hết các xã, thị trấn đã xây dựng kế hoạch từng bước
tổ chức sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn (Nguyễn Thế Vịnh, 2013)
Ở Hà Nội, trong quá trình triển khai, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp đã dồn điền đổi thửa đều được qui hoạch lại và đào đắp giao thông, thủy lợi nội đồng theo tiêu chuẩn, tiêu chí nông thôn mới Cơ giới hóa đã và đang được các xã, hợp tác xã và cá nhân đầu tư ở một số khâu chính như: làm đất, gieo cấy và thu hoạch… Thực tế, mỗi hộ gia đình trước dồn điền đổi thửa có 7-15 ô, thửa, thậm chí 27-39 ô, thửa như ở Sóc Sơn, Chương Mỹ… Đến nay, chỉ còn 1-2 ô, thửa, cá biệt một vài nơi còn 3 ô, thửa/hộ, rất thuận lợi cho người dân trong tổ chức sản xuất, giảm đỡ ngày công, tiết kiệm chi phí vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu nên đa số người dân
Trang 32nông thôn của Hà Nội rất phấn khởi, tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Thành phố (Tú Mai, 2015)
Như vậy, qua thực hiện DĐĐT với những phương án phù hợp, ruộng đất bớt manh mún hơn, hình thành những ô thửa lớn hơn
1.2.5.3 Dồn điền đổi thửa thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế xã hội
Sau DĐĐT có thể nói hầu hết đồng ruộng đã được quy hoạch đảm bảo việc
sử dụng lâu dài và hiệu quả Đất giao thông nội đồng, hệ thống thuỷ lợi, đất vùng chuyển đổi đều rõ ràng, đất công điền được tập trung, có thể đa dạng về hình thức
và mục đích sử dụng Ở Thanh Oai - Hà Nội, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân, Thanh Oai đã hoàn thành dồn điền đổi thửa trên 8.200 ha Thông qua công tác dồn điền đổi thửa, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp đều được quy hoạch lại và hệ thống giao thông nội đồng, kênh mương tưới tiêu cũng được điều chỉnh phù hợp (Thanh Bình, 2015)
DĐĐT đã phát huy được tính tự chủ của đơn vị kinh tế hộ nông dân trong đầu tư thâm canh cây trồng, vật nuôi Có điều kiện để bố trí cơ cấu sản xuất, thời
vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng, tăng vụ, tăng năng suất lao động Bước đầu hình thành các trang trại nông nghiệp, hiệu quả kinh tế đạt cao hơn
Ờ Hà Nội, sau dồn điền đổi thửa, nhiều cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa chất lượng cao đã hình thành ở hầu hết các huyện có quy hoạch sản xuất lúa Nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa đem lại giá trị kinh tế cao ra đời, như: Mô hình hoa ở một số xã thuộc huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Mê Linh, Từ Liêm, Thanh Trì, Đông Anh,… với giá trị 0,5-1,5 tỷ/ha/năm; mô hình chăn nuôi tập trung xa khu dân cư như ở Sơn Tây, Ba Vì, Ứng Hòa, Chương Mỹ, Thanh Oai, Đan Phượng, Quốc Oai… với giá trị từ 1-2 tỷ/ha/năm và các mô hình chăn nuôi thủy sản ở một số
xã thuộc huyện Thanh Trì, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Thanh Oai… với giá trị từ 200-300 triệu đồng/ha/năm (Tú Mai, 2015)
Đặc biệt điểm nhấn sau dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Thanh Oai – Hà Nội xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa đem lại giá trị kinh tế cao Đơn cử như mô hình nuôi trồng thuỷ sản ở các xã Liên Châu (145 ha), Hồng Dương (90 ha) cho giá trị thu nhập trên 300 triệu/ha/năm; mô hình chăn nuôi tập
Trang 33trung xa khu dân cư ở xã Tân Ước quy hoạch 15 ha chăn nuôi tập trung thực hiện được 7 ha, xã Kim Thư (15 ha) cho giá trị thu nhập trên 1 tỷ đồng/ha/năm; mô hình trồng cam Canh tại xã Kim An (70 ha), Cao Viên (50 ha) cho giá trị trên 800 triệu - 1 tỷ đồng/ha/năm Thống kê, toàn huyện đã chuyển đổi được 1.118 ha, trong
đó nuôi trồng thuỷ sản trồng lúa và nuôi cá 680 ha, rau an toàn 108 ha, cây ăn quả
393 ha, chăn nuôi tập trung xa khu dân cư 37 ha Các mô hình chuyển đổi đã cho kết quả cao gấp 4 đến 5 lần so với cấy lúa Ngoài ra, các xã, thị trấn đã thực hiện quy hoạch các vùng sản xuất theo quy hoạch xây dựng nông thôn mới, tạo các vùng sản xuất tập trung với tổng diện tích quy hoạch chuyển đổi đến năm 2020: rau an toàn 337,24 ha, cây ăn quả 348,81 ha, hoa và cây cảnh 69,89 ha, lúa + cá + vịt 312,1
ha, nuôi trồng thủy sản 638,78 ha, chăn nuôi tập trung 131,14 ha và 5.000 ha chuyên trồng lúa hàng hoá Những hộ có nhu cầu sản xuất chuyển đổi được ưu tiên dồn vào các vùng quy hoạch sản xuất tập trung Việc quy hoạch các vùng sản xuất
là phù hợp với thực tế sản xuất của các địa phương nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng chuyên canh hàng hoá chất lượng (Thanh Bình, 2015)
DĐĐT đã tác động tích cực tới nhiều mặt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Đây là điều kiện để hợp tác kinh tế nảy nở; từ mô hình hợp tác,
mô hình doanh nghiệp nông nghiệp đến hợp tác kinh tế vùng Từ đó thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đầu tư và xúc tiến thị trường tiêu thụ cho sản xuất hàng hoá nông sản
DĐĐT thành công giúp người nông dân tiết kiệm được thời gian lao động, chi phí sản xuất ở các khâu canh tác, giảm hẳn công "chạy đồng" ở các xứ đồng, nhiều thửa, thửa nhỏ nay tập trung đầu tư vào 2,3,4 thửa/hộ sẽ có nhiều điều kiện
để làm kỹ hơn, dự đoán và có biện pháp kịp thời, hợp lý để giải quyết úng, hạn, sâu bệnh , hộ nông dân có vốn đầu tư mua máy móc nông nghiệp vừa phục phụ cho hộ
và các hộ khác góp phần giải phóng sức lao động làm cho hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng đất cao hơn
Việc dồn đổi ruộng đất từ nhiều ô thửa nhỏ, phân tán thành những ô thửa lớn, tập trung đã từng bước làm thay đổi cách nghĩ, cách làm, tập quán canh tác trước đây của người nông dân Trước đây do người dân quen canh tác trên các thửa đất nhỏ nên hay chần chừ, do dự không muốn đầu tư thâm canh Khi có thửa ruộng lớn
Trang 34cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và những chính sách khuyến nông, khuyến ngư phù hợp của các cấp chính quyền đã làm nếp nghĩ của bà con thay đổi theo chiều hướng tích cực của tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn DĐĐT đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc như thu hồi nợ đọng của hộ xã viên, giải quyết tình trạng trang chấp, lấn chiếm đất đai, những nghi kỵ, ngờ vực do việc giao đất không công bằng; tạo được không khí hồ hởi, phấn khởi, đoàn kết trong thôn, xóm, khích lệ sản xuất, làm giàu chính đáng
Phần lớn các hộ nông dân sau khi DĐĐT đã tiết kiệm được thời gian lao động, giảm chi phí, giảm công "chạy đồng" trước đây từ nhiều xứ đồng, nhiều thửa ruộng nay tập trung đầu tư cho 2 - 5 thửa thuộc 2 - 3 xứ đồng, có điều kiện để cải tạo đất, làm kỹ hơn các khâu canh tác, chăm sóc đồng ruộng và ứng phó kịp thời để phòng chống thiên tai và những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
Chính sách DĐĐT đã tạo được những thửa ruộng lớn, thuận lợi cho việc cơ giới hoá, nông dân có điều kiện đầu tư mua sắm máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, giải phóng sức lao động, nhất là những khâu lao động nặng nhọc như làm đất, bơm nước, tuốt lúa và dịch vụ phục vụ sản xuất trong nông thôn có điều kiện phát triển Bên cạnh đó, dồn đổi ruộng đất thành công đã làm thay đổi cách nghĩ cách làm của nhiều hộ nông dân chuyển sang sản xuất, canh tác trên những thữa ruộng có quy mô lớn hơn để vươn lên sản xuất hàng hoá theo hướng thị trường phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đaị hoá nông nghiệp nông thôn
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp do vậy cần phải đánh giá đúng điều kiện tự nhiên như:
- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Các yếu tố như: tổng tích ôn, số giờ nắng, lượng mưa, độ ẩm
có ảnh hưởng trực tiếp đến việc bố trí cơ cấu và năng suất của cây trồng
- Điều kiện đất đai: tính chất đất đai được quyết định bởi nguồn gốc đá mẹ và
độ phì của lớp đất bề mặt được quyết định bởi lớp phủ thực vật, cách thức sử dụng của người sử dụng đất Độ phì của đất đai và cách thức bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với
Trang 35tính chất đất có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng và hiệu quả sử dụng cây trồng, vật nuôi, phù hợp với điều kiện tự nhiên để mang lại hiệu quả cao nhất
1.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
* Nhóm các yếu tố kỹ thuật
Các biện pháp kỹ thuật của con người tác động vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những tác động có hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được mục tiêu đề ra (Lê Thanh Xuân, 2005)
Sang thể kỷ XXI, nông nghiệp nước ta đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất góp phần tăng cao đến 30% năng suất kinh tế (Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, 2003) Như vậy nhóm các yếu tố kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, các biện pháp kỹ thuật gồm:
- Biện pháp kinh tế: vay vốn, đầu tư, hỗ trợ giá nông sản
- Biện pháp sinh học: thay đổi giống, bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên
- Biện pháp kỹ thuật: các biện pháp cải tạo đất, chăm sóc cây trồng, gieo trồng, xây dựng hệ thống thuỷ lợi
- Biện pháp quản lý: định hướng trồng cây gì, nuôi con gì, số lượng diện tích, các chính sách
* Nhóm các yếu tố tổ chức
- Công tác quy hoạch bố trí sản xuất: thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên (khí hậu, độ cao tuyệt đối của địa hình, tính chất đất với khả năng thích hợp của cây trồng đối với đất, nguồn nước và thực vật ) làm
cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi hợp lý, nhằm khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hóa, chuyên môn hóa, hiện đại hóa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Lê Văn Hải, 2006)
Trang 36- Hình thức tổ chức sản xuất: các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Vì thế, phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó là một nội dung quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp Trong tương lai cần hình thành quy mô sản xuất trên ô thửa lớn bằng việc tích tụ ruộng đất và chuyển đổi ruộng đất, đồng thời với việc xác lập các hệ thống tổ chức sản xuất như hợp tác xã, từng bước hình thành các trang trại tập trung phát triển sản xuất
* Nhóm các yếu tố xã hội
- Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản Có 3 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất là: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu
ra (Lê Văn Hải, 2006)
- Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu đầu
tư, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, chính sách thuế xuất nhập khẩu nông sản, chính sách tín dụng và ngân hàng
- Sự ổn định chính trị xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của cả nước
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ, năng lực của các chủ thể sản xuất kinh doanh, trình độ đầu tư
Trang 37Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thường Tín - thành phố Hà Nội
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: trên địa bàn huyện Thường Tín - thành phố Hà Nội
- Thời gian: giai đoạn 2011-2014
- Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả dồn điền đổi thửa tại huyện Thường Tín - thành phố Hà Nội Nghiên cứu 3 xã trọng điểm là Nghiêm Xuyên, Duyên Thái, Văn Bình
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thường Tín 2.3.2 Thực trạng và quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Thường Tín
- Cơ sở pháp lý tiến hành dồn điền đổi thửa
- Quá trình tổ chức thực hiện dồn điền đổi thửa
- Đánh giá kết quả đạt được của công tác dồn điền đổi thửa
- Đánh giá các tồn tại của dồn điền đổi thửa tại Thường Tín
2.3.3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
- Ảnh hưởng đến phát triển cơ sở vật chất cho sản xuất nông nghiệp
- Ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
- Ảnh hưởng đến hiệu quả xã hội
- Ảnh hưởng đến hiệu quả môi trường
2.3.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu của của công tác dồn điền đổi thửa huyện Thường Tín
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Chọn 3 xã trong huyện Thường Tín, đó là xã Nghiêm Xuyên, Duyên Thái, Văn Bình
Trang 38Ba xã trên đạt yêu cầu đại diện cho sản xuất nông nghiệp của huyện như: các đặc điểm về địa hình, đất sản xuất manh mún cản trở sản xuất, công tác dồn điền đổi thửa đã triển khai
Nghiêm xuyên được chọn làm điểm nghiên cứu mang những đặc trưng của vùng chiêm trũng nhất của huyện, việc thâm canh cây trồng tạo năng suất cao gặp nhiều khó khăn do đất đai manh mún Địa hình của xã phân bố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, thuận lợi cho việc tưới tiêu chủ động Nghiêm Xuyên là một xã dồn điền đổi thửa thành công nhất của Thường Tín
Duyên Thái là xã giáp ranh của Thường Tín với Thanh Trì, được chọn làm điểm nghiên cứu với những đặc trưng của vùng có địa hình ruộng cao thấp liền
kề nhau, kiểu địa hình khá phức tạp gây khó khăn trong khâu tưới tiêu nước Việc DĐĐT diễn ra chậm do nằm trong vùng quy hoạch các khu công nghiệp làng nghề
Văn Bình được chọn làm điểm nghiên cứu với những đặc trưng của địa hình tương đối thấp, đất đai màu mỡ, sản xuất nông nghiệp có phần thuận lợi hơn Công
tác DĐĐT được tiến hành cũng tương đối chậm
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Điều tra, thu thập thông tin số liệu thứ cấp: nguồn thông tin, số liệu đã được công bố chính thức ở các cấp, ngành Các thông tin đó chủ yếu gồm: số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp qua các năm; bản
đồ hiện trạng sử dụng đất; các văn bản về chính sách đất đai, các chính sách về khuyến khích đầu tư sản xuất và các thông tin, số liệu khác
- Thu thập thông tin số liệu sơ cấp: thông qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra 120 hộ nông dân của 3 xã, kết hợp phỏng vấn cán bộ tham gia
chỉ đạo dồn điền đổi thửa (Trưởng phòng tài nguyên và môi trường, Chủ tịch xã,
cán bộ địa chính)
Đối với xã Nghiêm Xuyên, tiếp tục DĐĐT trên địa bàn thôn Cống Xuyên, tôi tiến hành điều tra 20 hộ Duyên Thái dân cư phần lớn làm dịch vụ ngành nghề, ít làm nghề nông, điều tra 40 hộ và Văn Bình với diện tích dồn điền đổi thửa rộng
hơn, điều tra 60 hộ
Trang 392.4.3 Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mềm Exel
Tiến hành xử lý dữ liệu bằng phần mềm Excel sau khi điều tra, phỏng phấn nông hộ theo mẫu phiếu đã xây dựng
2.4.4 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá
* Hiệu quả kinh tế
Để đánh giá hiệu quả kinh tế tính trên 1ha đất nông nghiệp tôi tiến hành phân tích tài chính trong quá trình sản xuất đối với các cây, con chính trên qua các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu sau:
+ Giá trị sản xuất: là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm), nó phản ánh năng suất đất đai (trên khía cạnh giá trị) thu được trên một đơn vị diện tích
GO =∑Qi*Pi
Trong đó: - Qi là sản lượng của sản phẩm thứ i được tạo ra
- Pi là giá trị của đơn vị sản phẩm thứ i + Chi phí trung gian: là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong qúa trình sản xuất như: chi phí về giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, làm đất, vận chuyển, chi phí khác….Chỉ tiêu này phản ánh mức đầu tư chi phí trên một đơn
vị diện tích gieo trồng
IC = ∑Cj
Trong đó: Cj là khoản chi phí thứ j + Giá trị gia tăng: là giá trị tăng thêm của qúa trình sản xuất khi đã loại bỏ chi phí vật chất và dịch vụ
VA = GO - IC + Thu nhập hỗn hợp: là thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động thuê ngoài
MI = VA - KHTS ( khấu hao) - T (Thuế) - L (Thuê lao động) + Giá trị ngày công lao động: giá trị ngày công lao động = thu nhập hỗn hợp / số công lao động
+ Hiệu quả kinh tế/một ngày công lao động (LĐ) quy đổi: GO/LĐ và VA/LĐ,
Trang 40thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của từng người lao động
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng bằng tiền theo thời giá hiện hành và định tính bằng mức độ cao thấp Các chỉ tiêu đạt được càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
2.4.5 Phương pháp minh họa bằng bản đồ, hình ảnh
Sử dụng các dạng đồ thị để thể hiện một só kết quả nghiên cứu trong đề tài,
cụ thể: sơ đồ vị trí huyện Thường Tín, cánh đồng mẫu lớn sau dồn điền đổi thửa