Nhằm giúp học viên tiếp cận với các cơ quan quản lý và các cơ sở sản xuất để hiểu được các biện pháp kỹ thuật đang được áp dụng với cây lương thực, cây ăn quả chủ lực trong thực tiễn của địa phương, để học viên kiểm chứng được các vấn đề đang được áp dụng từ thực tiễn so với kiến thức được học ở trường trong chương trình đào tạo Thạc sỹ ngành Khoa học cây trồng theo định hướng ứng dụng. Việc thực hiện chuyên đề của học viên trong chương trình đào tạo Thạc sỹ ngành Khoa học cây trồng theo định hướng ứng dụng là rất cần thiết nhằm khẳng định cho công tác tổ chức đào tạo là một công việc đòi hỏi sự sáng tạo nhằm làm cho chương trình đào tạo phù hợp với thực tiễn. Không thể đạt tới hiệu quả cao nếu việc quản lý như một dây chuyền sản xuất, theo một thiết kế, quy trình có sẵn. Thông qua việc thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp học viên sẽ hiểu được cách quản lý số liệu của các cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp, tập quán canh tác, mức độ hài lòng của các nông hộ khi áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh tăng năng suất cây lương thực, cây ăn quả chủ lực của địa phương Các hoạt động trong quá trình tiếp cận, thu thập số liệu sẽ kích thích sự sáng tạo ham học hỏi, tìm kiếm cái mới. Tạo sự hứng thú cho học viên yêu ngành yêu nghề hơn. Từ những hoạt động thực tiễn giúp học viên được trải nghiệm và nắm bắt kiến thức thực tế tốt hơn đó là điều rất cần thiết cho mỗi học viên trước khi đi thực tập tốt nghiệp ra trường. Hiện nay, vấn đề nhu cầu lương thực được đặt ra một cách nghiêm túc trên toàn thế giới. Với việc dân số thế giới dự kiến sẽ đạt mức 9,6 tỷ người vào năm 2050, tương lai thiếu thực phẩm hoàn toàn có thể xảy ra. Trong khi đó, biến đổi khí hậu lại đang tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp nên việc xây dựng các mô hình ứng dụng các các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lương thực nhằm đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững. Hậu Giang là một trong các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long có sản lượng lương thực lớn nhất cả nước. Tại đây, nhờ việc áp dụng động bộ nhiều biện pháp kỹ thuật trong sản xuất lúa nên năng suất trung bình lúa của tỉnh trong những năm gần đây luôn đạt ở mức cao. Năm 2021, năng suất lúa trung bình của tỉnh đạt 67.43 tạha cao hơn so với năng suất lúa trung bình của cả nước là 60.6 tạha (Cục thống kê tỉnh Hậu Giang năm 2021).
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỂN CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC TBKT
Cơ sở khoa học của vệc áp dụng các TBKT trong trồng trọt
2.1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu mật độ gieo sạ lúa
Trong quần thể ruộng lúa, mật độ gieo trồng, cấy và số dảnh cấy có tác động trực tiếp đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất (Hoàng Kim, 2016) Gieo cấy quá dày hoặc có nhiều dảnh trên khóm có thể làm giảm kích thước bông lúa, hạt nhỏ hơn và cuối cùng làm giảm năng suất Để đạt năng suất cao, người sản xuất cần điều chỉnh mật độ để duy trì số bông tối ưu mà không làm giảm kích thước bông, số hạt chắc và độ chắc hạt trên bông Việc xác định số bông cần đạt dựa trên tiềm năng năng suất của giống, điều kiện đất đai, khả năng thâm canh của người sản xuất và lịch vụ gieo trồng nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất.
Giống cây trồng phù hợp là yếu tố then chốt để tăng năng suất, nhưng chỉ đủ khi đi kèm với điều kiện môi trường thích hợp bao gồm sinh thái, nước, dinh dưỡng và quản lý dịch hại Giống (kiểu gen: G) thể hiện khả năng sản xuất của cây trong môi trường nhất định, và năng suất tối đa chỉ đạt được khi kết hợp với biện pháp canh tác phù hợp Môi trường sinh trưởng và biện pháp canh tác phù hợp giúp tiềm năng năng suất của giống tốt phát huy tối đa, trong khi thiếu chúng sẽ làm giảm hiệu quả và lợi ích thu về.
Việc xác định mật độ sạ hoặc cấy phù hợp phụ thuộc vào giống lúa, vụ mùa, loại chân đất, chất lượng hạt giống và trình độ thâm canh Các giống lúa tốt như năng suất cao, ngắn ngày, ít sâu bệnh, có bộ lá xanh lâu, tỷ lệ bông hữu hiệu cao, bông to dài, nhiều hạt chắc, gạo ngon, tỷ lệ gạo nguyên cao, hạt thon đến trung bình, gạo thơm đều cần được áp dụng phù hợp với điều kiện địa phương để đạt hiệu quả cao Lúa Đông Xuân thường sạ dày hơn lúa Hè Thu nhằm tận dụng ánh sáng mặt trời và tích lũy chất khô hiệu quả hơn Mật độ sạ cao sẽ tạo ra nhiều bông hơn trên cùng diện tích, nhưng số hạt trên bông lại giảm đi, và việc giảm số hạt nhanh hơn so với tăng mật độ gây ra giảm năng suất đáng kể nếu sạ hoặc cấy quá dày Ngược lại, sạ hoặc cấy quá thưa đối với giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn sẽ khó đạt được số bông tối ưu, ảnh hưởng đến chất lượng giống và kỹ thuật thâm canh.
5 sạ hàng bằng dụng cụ cải tiến với khoảng cách hàng và khoảng cách cây hợp lý thì cần lượng giống thấp hơn sạ lan
Theo Nguyễn Trường Giang và Phạm Văn Phương (2011), trong ba yếu tố cấu thành năng suất lúa gồm số bông/m2, số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt, thì hai yếu tố đầu đóng vai trò quan trọng và dễ bị ảnh hưởng bởi cấu trúc quần thể, trong khi yếu tố thứ ba ít biến động Số bông trên một đơn vị diện tích chủ yếu phụ thuộc vào mật độ sạ cấy và khả năng đẻ nhánh của cây lúa Nghiên cứu cũng cho thấy, chiều cao cây, chiều dài bông, số hạt chắc trên bông và trọng lượng 100 hạt đều đạt được giá trị lớn hơn khi sạ hàng ở mật độ 50 kg/ha và 100 kg/ha so với mật độ 200 kg/ha, phản ánh ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất lúa.
Nguyễn Trường Giang và Phạm Văn Phương (2011) nhận định rằng mật độ sạ cấy thưa, ánh sáng đầy đủ, nhiều dinh dưỡng giúp lúa đẻ mạnh, trong khi mật độ dày gây hạn chế số nhánh và giảm năng suất Đất tốt, nhiều phân, thời tiết nóng ẩm thuận lợi cho đẻ nhánh thì phù hợp sạ thưa; ngược lại, đất xấu, ít phân, thời tiết lạnh, âm u cần sạ dày để đảm bảo số cây trên cùng diện tích Chọn mật độ sạ phù hợp quan trọng để tối đa hóa số bông cuối cùng và năng suất, vì mật độ quá dày dễ gây lốp đổ nhất là trong điều kiện đất thuận lợi hoặc bón nhiều đạm Mật độ sạ thích hợp đem lại năng suất cao nhất, trong đó sạ hàng khoảng 50-100 kg/ha cho năng suất vượt trội so với mật độ 200 kg/ha.
2.1.2 Cơ sở khoa học của nghiên cứu phân bón cho lúa Để sinh trưởng, phát triển và tạo lập năng suất, cây lúa cần được cung cấp nhiều yếu tố dinh dưỡng: N, P, K (đa lượng); Ca, Mg, Si, S (trung lượng); Zn, B,
Cây lúa cần các nguyên tố vi lượng như Mo, Mn, Fe để phát triển khỏe mạnh Trong đó, các yếu tố N, P, K đóng vai trò quan trọng và cần ở lượng lớn để đảm bảo năng suất cao Các nguyên tố khoáng còn lại, như các vi lượng khác, cây lúa chỉ cần với lượng nhỏ hoặc rất ít, phù hợp với nhu cầu sinh lý của cây Đáp ứng đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng này sẽ giúp cây lúa phát triển toàn diện và đạt năng suất tối ưu.
Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây lúa, giúp cây sinh trưởng và phát triển toàn diện Trong các giai đoạn sinh trưởng của lúa, giai đoạn đẻ nhánh cần lượng đạm nhiều nhất để thúc đẩy quá trình đẻ nhánh nhanh và tạo ra nhiều nhánh hữu hiệu Việc cung cấp đủ đạm đúng lúc không chỉ giúp cây đẻ nhánh tập trung mà còn kích thích hình thành đòng và các yếu tố cấu thành năng suất như số hạt trên bông, khối lượng 1000 hạt và tỷ lệ hạt chắc, góp phần nâng cao năng suất lúa.
Việc bón đạm trong giai đoạn làm đòng có ảnh hưởng quyết định đến năng suất của cây lúa Ngoài ra, việc bổ sung đạm còn tăng hàm lượng protein trong hạt gạo, từ đó cải thiện chất lượng gạo Do đó, quản lý lượng phân đạm phù hợp ở giai đoạn này là yếu tố quan trọng để đạt được năng suất và chất lượng cao.
Theo Nguyễn Như Hà (2006) [4] và Nguyễn Văn Hoan (2006) [3], đạm cũng ảnh hưởng tới đặc tính vật lý và sức đề kháng đối với sâu bệnh hại lúa
Thừa hoặc thiếu đạm đều làm lúa dễ bị nhiễm sâu bệnh hại do sức đề kháng giảm
Thiếu đạm làm cho cây lúa thấp, đẻ nhánh kém, đòng nhỏ, khả năng trỗ kém, số hạt trên bông ít và nảy lép, dẫn đến năng suất thấp Trong khi đó, thừa đạm khiến lá to, dài, phiến lá mỏng, nhánh vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao, lốp, dễ đổ, ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất và chất lượng lúa Trong quá trình sinh trưởng, nhu cầu đạm của cây lúa tăng đều từ giai đoạn đẻ nhánh đến trỗ rồi giảm sau trỗ; lượng đạm cần trung bình để tạo ra 1 tấn thóc là khoảng 22,2 kg N Tăng lượng đạm bón giúp năng suất của lúa lai vượt trội so với lúa thuần, đặc biệt sau 4 tuần cấy, năng suất các giống lúa đều tăng, trong đó lúa lai cho hệ số tăng cao hơn Năng suất hạt liên quan chặt chẽ với các yếu tố như LAI, CGR, số bông/m2 và số hạt/bông trong các giai đoạn sinh trưởng ban đầu Từ đẻ nhánh đến đẻ rộ, hàm lượng đạm trong thân lá cao và giảm dần theo thời gian, vì vậy việc bón đạm mạnh vào giai đoạn này là rất cần thiết Thời điểm hút đạm mạnh nhất của lúa lai là từ đẻ rộ đến làm đòng, mỗi ngày cây hút khoảng 3.520 g N/ha, chiếm hơn một phần ba tổng lượng đạm hấp thu, tiếp đó là giai đoạn từ bắt đầu đẻ nhánh đến đẻ rộ, với mức hút khoảng 2.737 g N/ha mỗi ngày Do đó, việc bón lót và bón thúc tập trung vào các giai đoạn này là rất quan trọng để cung cấp đủ đạm cho sự phát triển tối ưu của lúa lai.
Trong giai đoạn cuối của quá trình sinh trưởng của lúa, khả năng hút đạm không mạnh như hai giai đoạn đầu, nhưng chiếm tỷ lệ N cao và có sức hút N mạnh, góp phần tích lũy chất khô vào hạt Vì vậy, cần bón một lượng đạm nhất định vào khoảng 20 ngày trước khi lúa trỗ để đảm bảo hiệu quả cao nhất Liều lượng bón đạm cao nhất thường là vào thời kỳ lúa đẻ nhánh, sau đó giảm dần, trong khi liều thấp hiệu quả khi bón vào lúc lúa đẻ và trước trỗ 10 ngày Tuy nhiên, do nhu cầu và hiệu quả sử dụng đạm của các giống lúa khác nhau, việc áp dụng cùng một quy trình bón đạm cho nhiều giống có thể dẫn đến hiệu quả sử dụng phân không tối ưu Chính vì vậy, cần nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân đạm phù hợp với từng giống lúa và điều kiện canh tác.
Lân đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích ra rễ mạnh, thúc đẩy quá trình trổ và chín sớm của cây lúa, đồng thời làm tăng khả năng đẻ nhánh giúp cây phục hồi nhanh sau các điều kiện bất lợi Thiếu lân khiến cây lúa thấp, khả năng đẻ nhánh kém, lá hẹp, ngắn, thẳng, có màu xanh đậm hoặc chuyển sang màu ám khói, ảnh hưởng đến năng suất và sức khỏe cây trồng.
Hiệu suất của lân đối với hạt trong các giai đoạn đầu cao hơn so với các giai đoạn cuối, do lân cần thiết cho quá trình đẻ nhánh và nhu cầu của lân tổng số ít hơn đạm Vì vậy, việc bón lân cần thực hiện sớm trong quá trình sản xuất, ưu tiên bón lót để cây lúa hút đủ lân, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tiếp theo của cây.
Theo Yoshida (1981) [17], lân cũng làm tăng sự phát triển của bộ rễ, thúc đẩy việc ra rễ, đặc biệt là rễ bên và lông hút
Trong giai đoạn đẻ rộ, hàm lượng lân trong lá lúa đạt mức cao nhất, đặc biệt ở giống lúa lai có hàm lượng lân cao hơn lúa thường khi đến giai đoạn chín Từ đẻ rộ đến phân hóa đòng, lúa lai hút đến 84,27% tổng lượng lân, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cung cấp đủ lượng lân trước khi làm đòng để đạt năng suất cao Đối với đất phèn nặng, cần liên tục cải tạo đất bằng cách sử dụng nước ngọt để rửa phèn và bón phân lân với liều lượng cao trong những năm đầu nhằm tích lũy lân hiệu quả.
Bón lân trên đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long đem lại hiệu quả rõ rệt, với vụ Đông Xuân sử dụng 20 kg P2O5/ha giúp tăng năng suất lúa lên đến 20% so với công thức không bón lân Trong điều kiện canh tác thâm canh, việc bón từ 20-30 kg P2O5 là đủ để cây lúa phát triển tốt, xanh khỏe và chống chịu điều kiện bất thuận như hạn, rét Cây lúa được cung cấp đủ lân và cân đối đạm sẽ phát triển rễ khỏe, đẻ nhánh mạnh, trỗ chín sớm ngay cả trong điều kiện nhiệt độ thấp của vụ Đông Xuân, cho hạt thóc mẩy và sáng Ngược lại, cây thiếu lân sẽ còi cọc, đẻ nhánh kém, lá ngắn, phiến lá hẹp, có tư thế dựng đứng, màu xanh tối, và giảm số lá, bông và hạt trên bông, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lúa.
Cơ sở thực tiễn của vệc áp dụng các TBKT trong trồng trọt
Trong những năm qua, tỉnh Hậu Giang tập trung chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nhằm nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng địa phương, đồng thời tổ chức lại sản xuất theo hướng phát triển các mô hình kinh tế tập thể và chuỗi cung ứng nông sản, chế biến Nhiều đề án quan trọng như Đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi giai đoạn 2014-2016 và định hướng đến 2020 (Đề án 1000), Đề án phát triển giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản chất lượng cao từ 2016-2020, cùng các dự án về trạm bơm điện ứng phó với biến đổi khí hậu đã được triển khai để thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp tỉnh Hậu Giang.
2020, Chương trình số 02/CTr-UBND ngày 05 tháng 01 năm 2021 hành động phát triển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Hậu Giang 5 năm
2021 – 2025, Dự án chuyển đổi nông nghiệp bền vững (VnSAT) tỉnh Hậu Giang,…
Tỉnh tập trung chỉ đạo phát triển 09 sản phẩm chủ lực gồm lúa, mít, chanh không hạt, bưởi, khóm, mãng cầu, heo, lươn và cá thát lát để thúc đẩy phát triển theo chiều sâu và tạo đột phá mới Nhiều nông sản của tỉnh đã được đăng ký nhãn hiệu như Bưởi Năm Roi Phú Thành, cam sành Ngã Bảy, khóm Cầu Đúc, chanh không hạt Đông Thạnh, cá thát lát Hậu Giang, cá rô đồng Hậu Giang, lúa Hậu Giang 2, mía đường Casuco, quýt đường Long Trị, cam xoàn Phương Phú, xoài Bảy Ngàn, mãng cầu xiêm và gà tàu vàng, trong đó có 03 sản phẩm (cam sành, khóm và cá thát lát) đã trở thành thương hiệu nổi tiếng Ngoài ra, các nông sản này đã bắt đầu sản xuất theo hướng GAP và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu dùng ngày càng cao.
Tỉnh Hậu Giang đã chỉ đạo ứng dụng công nghệ cao trong chuỗi từ sản xuất đến xuất khẩu, bao gồm tự động hóa, Internet kết nối vạn vật (IoT), và kết hợp canh tác thủy sản với sản xuất rau, hoa, quả để nâng cao hiệu quả nông nghiệp Hiện tại, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hậu Giang tại huyện Long Mỹ với diện tích 5.200ha là một trong những mô hình tiêu biểu, cùng với các chính sách khuyến khích, hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư phát triển nông nghiệp 4.0 và nông nghiệp sạch, xây dựng chuỗi giá trị nông sản Ngoài ra, tỉnh còn có nhiều vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ tiên tiến đạt hiệu quả cao, với các sản phẩm như cá thát lát cườm, dứa, xoài, chanh không hạt và mãng cầu Thời gian qua, ngành nông nghiệp Hậu Giang đã hợp tác với Công ty CP Nông trại sinh thái Ecofarm để thực hiện các dự án hỗ trợ nông dân trồng dưa hấu VietGAP và chanh không hạt VietGAP, tạo nền tảng cho việc triển khai các dự án nông nghiệp thông minh trong tương lai.
Trong sản xuất nông nghiệp, tỉnh đã triển khai ứng dụng công nghệ viễn thám để quản lý dịch bệnh và giám sát mùa vụ hiệu quả, đồng thời sử dụng các công cụ quản lý cây trồng trên điện thoại thông minh để nâng cao quản lý hệ thống sản xuất Các giải pháp như phân bón thông minh, sản xuất lúa theo phương pháp hữu cơ và theo chuỗi giá trị giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả sản phẩm Ngoài ra, tỉnh tổ chức sản xuất theo hình thức hợp tác xã, áp dụng công nghệ tự động hóa và cơ giới hóa đồng bộ từ khâu gieo trồng, thu hoạch đến bảo quản, góp phần nâng cao năng suất và giảm thiểu lao động thủ công.
Tỉnh có 01 liên hiệp HTX và 186 HTX nông nghiệp, cùng với 25 trang trại bao gồm 14 trang trại chăn nuôi, 3 trang trại thủy sản và 8 trang trại tổng hợp Chính quyền địa phương đã chọn lọc và tập trung đầu tư, hỗ trợ 15 mô hình hợp tác xã và 3 liên hiệp hợp tác xã phát triển toàn diện về hạ tầng, năng lực quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất kết hợp chế biến và thị trường Các mô hình này còn thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng, đa dạng dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho hợp tác xã và các thành viên.
Mặc dù các mô hình kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong nông nghiệp đã có sự phát triển, nhưng còn rất ít và chưa phổ biến rộng rãi Phần lớn nông dân vẫn duy trì sản xuất theo thói quen và kinh nghiệm truyền thống, dẫn đến hiệu quả chưa cao Tình trạng thiếu nguồn lao động nông nghiệp có chất lượng và khả năng ứng dụng công nghệ cao vẫn phổ biến ở nhiều địa phương trong tỉnh, gây ảnh hưởng đến năng suất và năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp địa phương.
Năng lực ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất của nông dân còn hạn chế, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm Mối liên kết giữa nông dân, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước chưa được chặt chẽ, gây khó khăn trong việc xây dựng thương hiệu và chuỗi giá trị ngành hàng Các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm thường thiếu tính ổn định, dẫn đến giá cả của nhiều loại nông sản biến động không ngừng và chưa thực sự bền vững.
Quy mô sản xuất nhỏ lẻ trong lĩnh vực nông nghiệp gây khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc Hệ thống liên kết sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi giá trị chưa phát triển mạnh, hạn chế khả năng kiểm soát chất lượng và đảm bảo an toàn thực phẩm Để nâng cao hiệu quả và nâng cao giá trị nông sản, cần thúc đẩy phát triển các mô hình liên kết sản xuất ổn định và bền vững theo chuỗi giá trị.
Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp tại Hậu Giang còn thiếu và yếu, chưa đồng bộ, đặc biệt là hạ tầng giao thông và thủy lợi, gây cản trở cho phát triển bền vững Cơ sở chế biến tại các vùng sản xuất chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu để xử lý khối lượng lớn sản phẩm, gây hạn chế trong quá trình tiêu thụ Hệ thống logistics còn chưa phát triển mạnh mẽ, thiếu khả năng kết nối các trung tâm cung ứng nông sản, dẫn đến chi phí vận chuyển cao, ảnh hưởng xấu đến chất lượng và giá cả nông sản do khả năng bảo quản kém và vận chuyển chậm Để đưa nông nghiệp Hậu Giang trở thành “bệ đỡ” kinh tế và hướng đến phát triển nông nghiệp xanh, cần tập trung thực hiện các giải pháp đồng bộ về cải thiện hạ tầng, nâng cao năng lực chế biến và phát triển logistics, góp phần thúc đẩy sự bền vững và cạnh tranh của nông sản địa phương.
Tiếp tục tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho nông dân về nông nghiệp xanh, giúp họ hiểu rõ lợi ích của sản xuất sạch hơn và an toàn hơn cho người tiêu dùng Đồng thời, thúc đẩy tư duy về phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.
Để nông dân tin tưởng vào nông nghiệp xanh, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm giúp họ hiểu rõ về lợi ích của sản xuất nông nghiệp an toàn và hiệu quả Việc này góp phần nâng cao nhận thức về tác động tích cực đến người tiêu dùng, môi trường và phát triển kinh tế bền vững.
Nông nghiệp xanh mang lại lợi ích về sinh thái như phục hồi đất đai, tăng độ màu mỡ, giảm xói mòn và ô nhiễm hóa chất trong nông nghiệp, đồng thời bảo vệ môi trường Đây có thể trở thành yếu tố thúc đẩy mạng lưới liên kết công việc, nâng cao hiệu quả đầu tư lao động so với nông nghiệp truyền thống Tóm lại, nông nghiệp xanh hướng tới một nền nông nghiệp bền vững: ít tốn chi phí, năng suất cao và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.
Để đáp ứng yêu cầu của nền nông nghiệp thời kỳ mới, nông dân cần chuyển sang tư duy kinh tế nông nghiệp, tập trung nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất, đồng thời đa dạng hóa theo chuỗi giá trị phù hợp với thị trường Việc này góp phần thúc đẩy chuyển đổi từ nền nông nghiệp sản lượng cao sang nền nông nghiệp công nghệ cao, sinh thái và trách nhiệm, đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình sản xuất để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Theo kế hoạch của ngành nông nghiệp Hậu Giang, mục tiêu đến năm 2025 là đạt tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng khu vực I trung bình 3% mỗi năm, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn.
Tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo đạt 70%, nâng cao năng suất lao động khu vực I bằng mức trung bình của đồng bằng sông Cửu Long Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đã tăng tối thiểu gấp đôi so với năm 2020, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Tỷ lệ che phủ rừng duy trì ở mức 3%, đồng thời nỗ lực tăng cường trữ lượng và chất lượng rừng để bảo vệ hệ sinh thái Các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản đều đạt tỷ lệ liên kết hợp tác sản xuất đạt 30%, trong khi tỷ lệ áp dụng các quy trình sản xuất tốt hoặc tương đương là 25% và giá trị nông sản ứng dụng công nghệ cao chiếm 20% Diện tích đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ chiếm khoảng 1,5 đến 2% tổng diện tích đất nông nghiệp, phù hợp với xu hướng phát triển bền vững Để đáp ứng các mục tiêu này, cần tập trung đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao, phát triển đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, sản xuất theo tư duy công nghiệp phù hợp với thời hội nhập quốc tế.
- Thứ hai, cần thay đổi tập quán sản xuất cho nông dân, nâng cao ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp
PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU ĐỂ THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ 21 3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp điều tra bổ sung tại cơ sở
- Dung lượng mẫu điều tra của Slovin (1960) n = N/(1+Nxe2) với:
+ N = số lượng hộ của các xã điều tra;
+ Điều tra bằng phiếu hỏi với các nội dung chính là:
(1) Thông tin chung của hộ
(2) Thông tin về diện tích đất sản xuất cây lương thực của hộ gia đình
(3) Tình hình áp dụng TBKT trong sản xuất cây cây lương thực của hộ gia đình
(4) Năng suất và Hiệu quả kinh tế mang lại do áp dụng TBKT
+ Phỏng vấn có sự tham gia của người dân (PRA)
Các phương pháp xử lý số liệu
Dựa trên các tài liệu, số liệu thu thập và kết quả điều tra, bài viết tập trung phân tích tổng hợp thông tin liên quan, thống kê và xử lý dữ liệu để phục vụ mục tiêu nghiên cứu.
Số liệu điều tra được xử lý bằng phần mềm Excel và phần mềm SPSS
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tỉnh Hậu Giang
Hậu Giang nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có diện tích tự nhiên khoảng 162.223 ha, chiếm 3,95% diện tích toàn vùng Tỉnh có tọa độ địa lý từ 9°35’ đến 10°00’ vĩ độ Bắc và từ 105°18’ đến 105°55’ kinh độ Đông, giáp thành phố Cần Thơ về phía Bắc và Tây Bắc, tỉnh Bạc Liêu cùng Sóc Trăng phía Nam, Vĩnh Long cùng Sóc Trăng phía Đông và Đông Bắc, và Kiên Giang phía Tây Trung tâm hành chính của tỉnh đặt tại thành phố Vị Thanh, cách TP.HCM khoảng 240 km về phía Tây Nam và cách Cần Thơ khoảng 45 km theo tuyến quốc lộ 61C, giúp phát triển kết nối và giao thương vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Hình 4.1 Bản đồ địa giới hành chính tỉnh Hậu Giang
Tỉnh Hậu Giang có 08 đơn vị hành chính gồm 02 thành phố (Vị Thanh và Ngã Bảy), 01 thị xã (Long Mỹ) và 5 huyện (Châu Thành, Châu Thành A, Long
Mỹ, Phụng Hiệp và Vị Thủy)
4.1.2 Diện tích tự nhiên và dân số
Huyện Tân Thạnh có diện tích tự nhiên 42.279,61 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp: 33.477,35 ha, (đất trồng lúa là 31.876,25ha), diện tích đất sản xuất
Huyện có tổng diện tích đất trồng lúa đạt 78.468 ha, cung cấp nguồn nông sản chính cho địa phương Toàn huyện có 20.658 hộ dân với tổng dân số là 84.167 người, trong đó nam giới chiếm 40.044 người và nữ giới chiếm 44.123 người, phản ánh cơ cấu dân số đa dạng Mật độ dân số trung bình đạt khoảng 186 người trên mỗi km², thể hiện sự tập trung dân cư phù hợp với quy hoạch phát triển vùng nông thôn.
Năm 2022, toàn huyện Tân Thạnh có 49.483 người tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 70% số dân toàn huyện
4.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Bảng 4.1 Nhiệt độ, lượng mưa và ẩm độ tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2019- 2021
TT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2019 2020 2021
1 Nhiệt độ bình quân trong năm o C 27.8 28.0 27.3
2 Tổng lượng mưa trong năm mm 1,731.6 1,854.8 1,897.0
3 Ẩm độ bình quân trong năm % 83.2 81.5 85.3
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hậu Giang năm 2021
Tỉnh Hậu Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của miền Tây Nam Bộ, với hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng Khí hậu ở đây không có mùa đông và ít xảy ra bão, phù hợp để phát triển nông nghiệp và du lịch sinh thái.
Trong giai đoạn 2019 - 2021, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27,7°C, với các tháng có nhiệt độ cao nhất từ tháng 4 đến tháng 11 và nhiệt độ thấp nhất rơi vào khoảng from tháng 12 đến tháng 2 năm sau, thể hiện rõ sự phân bố theo mùa Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng lớn nhất là 3°C, trong khi nhiệt độ ngày đêm dao động từ 8 đến 14°C, cho thấy biến động nhiệt đa dạng trong năm Độ ẩm tương đối trung bình hàng tháng khoảng 80,9%, có sự biến thiên rõ rệt theo mùa, với mức thấp nhất là 73% và cao nhất lên tới 90%, chênh lệch độ ẩm giữa các tháng khoảng 3 - 5%, ảnh hưởng đáng kể đến điều kiện khí hậu khu vực.
Giai đoạn gần cuối mùa khô là thời điểm số giờ nắng đạt mức cao nhất trong năm Trung bình số giờ nắng hàng tháng không có nhiều biến đổi so với các năm trước, duy trì ở mức ổn định Năm 2016 ghi nhận mức số giờ nắng trung bình hàng năm là 2.646,6 giờ, với tháng 3 có số giờ nắng cao nhất đạt 306,1 giờ, trong khi tháng 6 có số giờ nắng thấp nhất chỉ 201,5 giờ.
Mùa mưa tại Hậu Giang kéo dài từ tháng 3 đến cuối tháng 11 hàng năm, chiếm đến 95% tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa trung bình hàng năm tại đây khoảng 1800 mm, tập trung cao nhất vào tháng 9 với mức 250,1 mm Thời gian còn lại là mùa khô, bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau.
Lượng nước bốc hơi trung bình hàng năm đạt khoảng 1.200 mm, chiếm khoảng 25-30% lượng mưa Vào các tháng mùa khô, phần lớn nước bốc hơi vượt quá 50 mm, ảnh hưởng lớn đến cân bằng nước của khu vực Tháng 3 dương lịch là tháng có lượng bốc hơi nhỏ nhất trong năm, góp phần duy trì độ ẩm tự nhiên của môi trường.
Chế độ gió trong năm có sự biến đổi rõ rệt theo từng tháng, với tốc độ gió dao động từ 6 đến 18 m/s Trong khoảng tháng 2 đến tháng 6, gió Đông - Nam thổi mạnh, gây ra khí hậu khô nóng, nhiệt độ tăng cao và độ ẩm giảm Từ tháng 6 đến tháng 11, gió Tây - Nam mang hơi nước từ biển vào đất liền, dẫn đến lượng mưa tăng đáng kể Vào tháng 11 đến tháng 12, gió Đông - Bắc thổi về tạo ra không khí khô và mát mẻ, ảnh hưởng lớn đến điều kiện thời tiết khu vực.
4.1.4 Đặc điểm địa hình Địa hình tỉnh Hậu Giang khá bằng phẳng, độ cao thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, được chia thành ba vùng sinh thái đặc trưng gồm:
+ Vùng triều: Tiếp giáp sông Hậu với diện tích 19.200 ha, phát triển mạnh kinh tế vườn và kinh tế nông, lâm nghiệp và thủy sản
+ Vùng úng triều: Tiếp giáp với vùng triều, có diện tích khoảng 16.800 ha, phát triển mạnh cây lúa, có tiềm năng công nghiệp và dịch vụ
Vùng ngập úng nằm sâu trong nội đồng, chịu ảnh hưởng của triều biển Tây, phù hợp cho mô hình sản xuất nông nghiệp đa dạng như lúa, mía, khóm, có tiềm năng phát triển mạnh về thương mại và dịch vụ Khu vực này cũng thuận lợi để phát triển các mô hình thủy sản kết hợp với trồng lúa, như mô hình thủy sản - lúa, giúp nâng cao năng suất và giá trị kinh tế Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên của vùng, sản xuất nông nghiệp và thủy sản thường đan xen nhau, không tập trung thành các vùng lớn, tạo điều kiện phát triển đa dạng hình thức canh tác phù hợp với điều kiện thực tế.
Hình 1.1 Các vùng địa hình tỉnh Hậu Giang
Vùng ngập úng Vùng triều
Tỉnh có hệ thống giao thông đa dạng với các tuyến đường bộ quan trọng như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 61 và Quốc lộ 61C, đóng vai trò then chốt trong việc kết nối các khu vực Ngoài ra, hệ thống giao thông đường thủy bao gồm các tuyến kênh chủ chốt như kênh xáng Xà No và kênh Quản lộ - Phụng Hiệp, giúp thúc đẩy hoạt động vận chuyển và phát triển kinh tế địa phương.
4.1.5 Đặc điểm thủy văn, dòng chảy
Tỉnh Hậu Giang có hệ thống sông rạch chằng chịt, dài khoảng 2.300 km, góp phần quan trọng vào đời sống và phát triển kinh tế địa phương Mật độ sông rạch cao với trung bình 1,5 km/km, khu vực ven sông Hậu ở huyện Châu Thành lên đến 2 km/km, làm nổi bật hệ thống thủy lợi phong phú của tỉnh Các kênh chính như Xà No, Nàng Mau, Lái Hiếu, Cái Côn - Quản Lộ - Phụng Hiệp, và Kinh Xáng đóng vai trò quan trọng trong vận chuyển và cung cấp nước Chế độ thủy văn của Hậu Giang bị chi phối bởi hai nguồn chính là sông Hậu (triều biển Đông) và sông Cái Lớn (triều biển Tây), gây biến đổi mực nước theo mùa Năm 2018, mực nước sông Cái Côn dao động từ cao nhất 151 cm đến thấp nhất -87 cm, trong khi sông Xà No có mực nước cao nhất 74 cm và thấp nhất -8 cm, phản ánh tình trạng ngập lũ và biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét tại địa phương.
So sánh với các tỉnh khác trong ĐBSCL, lũ ở Hậu Giang thường đến muộn, rút chậm và có cường suất nhỏ hơn, nhưng do nằm trong vùng ảnh hưởng của hai chế độ thủy triều từ biển Đông qua sông Hậu và biển Tây qua sông Cái Lớn, khả năng tiêu thoát lũ chậm hơn, đặc biệt là tại các khu vực phía Nam huyện Châu Thành A, cũng như toàn bộ diện tích các huyện Long Mỹ, Vị Thanh Thời gian ngập úng tại tỉnh Hậu Giang kéo dài từ 2 đến 4 tháng, bắt đầu từ khoảng 15-30/7 và kết thúc từ 15-30/11, tùy theo từng khu vực, với mức ngập được phân thành 3 cấp độ khác nhau.
- Mức ngập dưới 30 cm: gồm toàn bộ diện tích huyện Châu Thành, Châu Thành A và hầu hết diện tích huyện Long Mỹ, xã Vị Thắng của huyện Vị Thủy
Mức ngập từ 30 đến 60 cm ảnh hưởng đến xã Lương Tâm thuộc huyện Long Mỹ, một phần diện tích các xã ở huyện Phụng Hiệp giáp ranh với huyện Châu Thành, Châu Thành A, cũng như một phần các xã nằm trung tâm huyện Vị Thủy.
- Mức ngập trên 60 cm: bao gồm toàn bộ diện tích còn lại của Phụng Hiệp
Ngoài những thiệt hại đối với sản xuất và đời sống, lũ còn giúp rửa phèn, mặn và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất, góp phần cải thiện chất lượng đất nông nghiệp Đồng thời, lũ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho hệ sinh thái thủy sản luân canh kết hợp nghề nuôi trồng thủy sản với trồng lúa Tuy nhiên, tình trạng xâm nhập mặn gia tăng đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng cây trồng, gây áp lực lớn cho nền nông nghiệp địa phương.
Thực trạng sản xuất cây lúa tỉnh Hậu Giang
4.2.1 Thực trạng sản xuất lúa
Hậu Giang có lợi thế lớn về sản xuất nông nghiệp từ lâu, đặc biệt là cây lúa nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi Với diện tích đất nông nghiệp đạt 140,457 ha, chiếm 86,58% tổng diện tích đất toàn tỉnh, trong đó đất trồng lúa là 77.000 ha, Hậu Giang đã trở thành một trong những tỉnh trọng điểm về sản xuất lúa của miền Tây Hàng năm, tỉnh cung cấp ra thị trường hơn 1 triệu tấn lúa, góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp địa phương.
Từ năm 2017 trở về trước, tỉnh có hơn 200.000 ha diện tích gieo trồng lúa hàng năm, đảm bảo nguồn cung nông nghiệp ổn định Tuy nhiên, kể từ năm 2018, diện tích sản xuất lúa bắt đầu giảm mạnh, xuống còn 196.125 ha, giảm 2.400 ha so với năm trước Tình trạng giảm diện tích trồng lúa tiếp tục duy trì đến năm 2021, khi diện tích trồng lúa chỉ còn 189.001 ha, ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và an ninh lương thực của tỉnh.
Bảng 4.5 Tình hình sản xuất lúa tỉnh Hậu Giang giai đoàn từ 2019-2021
1 Diện tích gieo trồng (ha) 196.125 198.236 189.001
4 Tỷ lệ sử dụng giống xác nhận (%) 73,9 78,57 83.29
5 Giá thành sản xuất (đồng/kg) 3.153,3 3.181,2 3.380,5
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hậu Giang 2021)
Hậu Giang là một trong những tỉnh có giá thành sản xuất lúa thấp trong khu vực ĐBSCL, với mức dưới 3.500 đồng/kg Trong hai năm gần đây, chi phí sản xuất lúa của tỉnh bị ảnh hưởng bởi sự tăng giá của lao động và phân bón, dẫn đến tăng chi phí sản xuất.
Trong những năm qua tỉnh Hậu Giang đã chuyển đổi cơ cấu giống lúa từ nhóm chất lượng thấp như IR 50404, OM 576 (Hàm Trâu)… sang các giống lúa
32 chất lượng cao như: OM5451, OM18, Đài thơm 8,… phù hợp với nhu cầu thị trường Tỷ lệ sử dụng giống xác nhận trong 03 năm trở lại đây luôn trên 75%
Việc chuyển đổi giống lúa đã trở nên dễ dàng hơn đối với người trồng tại tỉnh Hậu Giang Mục tiêu hiện nay là nâng cao giá trị sản xuất lúa thông qua các vùng tập trung, đồng thời kiểm soát chất lượng đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn để thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp xuất khẩu, góp phần nâng cao hiệu quả và giá trị thương mại của ngành lúa gạo địa phương.
4.2.2 Phân tích ma trận SWOT
Lợi thế tại địa bàn canh tác đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa Các nông hộ cần phát huy các thế mạnh như kinh nghiệm truyền thống, đất đai phù hợp và khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu để mở rộng sản xuất Nguồn lực đầu tư phù hợp bao gồm vốn, kỹ thuật canh tác tiên tiến và phân bón, giống cây trồng chất lượng cao, có thể tận dụng từ các chính sách hỗ trợ hoặc quỹ phát triển nông nghiệp Ưu thế của các nông hộ nằm ở khả năng linh hoạt trong sản xuất, thích nghi nhanh với thị trường và khả năng giảm thiểu rủi ro Tuy nhiên, để tận dụng tối đa lợi thế, cần xem xét các yếu tố thị trường tiêu thụ, đảm bảo sản phẩm phù hợp với yêu cầu thị trường và có khả năng tiêu thụ dễ dàng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho hộ trồng lúa.
Để phát triển bản thân và nâng cao hiệu quả công việc, cần xác định rõ những điểm yếu chưa hoàn thiện và những lĩnh vực cần cải thiện Việc tự đánh giá về những công việc chưa làm tốt nhất giúp bạn nhận diện những khuyết điểm cần khắc phục Đồng thời, tránh tập trung vào những sai lầm đã qua và học cách hạn chế những hành động không mang lại hiệu quả Việc xem xét cả yếu tố nội tại và tác động từ bên ngoài giúp bạn có cái nhìn toàn diện về điểm yếu của mình Ngoài ra, người khác thường có thể nhìn nhận rõ những điểm yếu mà chính bản thân bạn chưa nhận ra, do đó, cần lắng nghe ý kiến phản hồi để hoàn thiện bản thân hơn.
Trong bối cảnh hiện tại, nông hộ cần tận dụng các cơ hội tốt bằng cách nhận diện các xu hướng phát triển phù hợp và giải quyết những vấn đề đang đặt ra Cơ hội thường xuất phát từ sự thay đổi của các yếu tố như công nghệ, thị trường, chính sách hoặc nhu cầu tiêu dùng Việc rà soát lại ưu thế của mình giúp xác định những điểm mạnh có thể mở ra các cơ hội mới, trong khi đó, kiểm tra các điểm yếu để xem liệu việc loại bỏ chúng có thể tạo điều kiện cho cơ hội mới xuất hiện hay không Đồng thời, nắm bắt các xu hướng và điều chỉnh chiến lược phù hợp sẽ giúp nông hộ phát triển bền vững và sẵn sàng đón nhận những cơ hội trong tương lai.
Trong phân tích các mối đe dọa, cần xác định các trở ngại chính như sự cạnh tranh gay gắt từ các sản phẩm cùng loại, những thay đổi trong yếu tố bên ngoài như thị trường, luật pháp hoặc xu hướng tiêu dùng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Đồng thời, cần đánh giá các điểm yếu có thể đe dọa đến sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp để đề ra các biện pháp khắc phục hiệu quả, đảm bảo giữ vững vị thế cạnh tranh trên thị trường.
Các điểm mạnh của việc áp dụng biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp bao gồm sự quan tâm chỉ đạo sâu sát từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Trồng trọt, Cục Bảo vệ thực vật trong từng vụ mùa, đặc biệt khi đối mặt với điều kiện khí hậu bất lợi Ngoài ra, sự phối hợp và hỗ trợ từ UBND tỉnh cùng các cơ quan ban ngành liên quan đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả thực hiện các biện pháp kỹ thuật này.
Hậu Giang có điều kiện tự nhiên thuận lợi về đất đai, thổ nhưỡng và thời tiết, tạo điều kiện phát triển sản xuất lúa 2-3 vụ/năm Hàng năm, tỉnh vẫn duy trì diện tích trồng lúa vụ 3 đạt trên 30.000 ha, góp phần nâng cao năng suất và thúc đẩy kinh tế nông nghiệp địa phương.
Sở Nông Nghiệp và PTNT tỉnh luôn chủ động trong chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, đề ra các kế hoạch phù hợp với tình hình diễn biến tại địa phương Trong đó, đặc biệt chú trọng đến cây lúa để đảm bảo năng suất và chất lượng mùa vụ Việc xây dựng các chiến lược phù hợp giúp nông dân ứng phó hiệu quả với những biến động thời tiết và thị trường Các giải pháp hỗ trợ còn bao gồm tư vấn kỹ thuật, phân bổ nguồn lực hợp lý và khuyến khích ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất lúa Nhờ vậy, ngành nông nghiệp tỉnh nhà duy trì ổn định và phát triển bền vững.
33 cây trồng chủ lực của tỉnh Do đó trong công tác sản xuất và phòng trừ các sinh vật gây hại trên lúa luôn đạt hiệu quả cao
Hậu Giang đã tham gia và hưởng lợi từ nhiều chương trình, dự án về quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây lúa như dự án WB6, GIZ và FARES, nhằm xây dựng năng lực về chọn tạo giống và bảo tồn sinh thái trên đồng ruộng Những hoạt động này đã giúp nâng cao nhận thức và khả năng sản xuất lúa an toàn cho nông dân, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nâng cao hiệu quả và lợi nhuận Đồng thời, các dự án thúc đẩy hình thành mô hình sản xuất cánh đồng lớn, hợp tác theo chuỗi giá trị lúa gạo, góp phần phát triển bền vững ngành nông nghiệp địa phương.
Dự án phát triển nông nghiệp bền vững (VnSAT) tại tỉnh giai đoạn 2015-2020 đã tổ chức huấn luyện và hướng dẫn nông dân áp dụng kỹ thuật sản xuất lúa “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm” nhằm giúp tăng lợi nhuận cho người trồng lúa lên 30% Đồng thời, dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cho ít nhất 16 hợp tác xã và tổ chức nông dân tại các vùng sản xuất lúa tập trung, mỗi hợp tác xã có quy mô khoảng 500 ha, tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy đầu tư vào các vùng sản xuất lúa có lợi thế và tham gia vào các chuỗi giá trị nông nghiệp.
Các mô hình canh tác lúa hiệu quả và có tiềm năng nhân rộng include các sáng kiến như mô hình canh tác lúa thông minh và cấy lúa bằng máy, giúp nâng cao năng suất và giảm thiểu công lao động Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại điểm yếu cần khắc phục để các mô hình này phát triển bền vững hơn.
Nguồn nước từ sông Mekong ngày càng suy giảm về số lượng và cạn kiệt phù sa, khiến việc rửa chua, xử lý phèn, mặn gặp nhiều khó khăn Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến đất đai, khi đất không được bổ sung dinh dưỡng từ phù sa lũ, làm giảm năng suất và diện tích gieo trồng lúa.
Thực trạng áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất lúa của tỉnh Hậu
4.3.1 Kết quả điều tra áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất lúa của tỉnh Hậu Giang
4.3.1.1 Mô hình Áp dụng Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
Bảng 4.7 Kết quả áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp trong sản xuất lúa của tỉnh Hậu Giang năm 2022
Tên địa danh Giống/vụ
Thu nhập tăng so với đ/c (tr đ/ha)
Tên địa danh Giống/vụ
Thu nhập tăng so với đ/c (tr đ/ha)
Thành A OM18/Vụ Thu-Đông 18,3 51,1 93,1 1,66
Long Mỹ ĐT8/Vụ Đông-Xuân 22,9 74,7 169,7 2,53 ĐT8/Vụ Hè- Thu 22,9 61,3 139,2 1,32 ĐT8/Vụ Thu-Đông 22,9 52,3 118,8 1,02
OM18/Vụ Đông-Xuân 12,6 77,7 98,0 4,73 OM18/Vụ Hè- Thu 12,6 63,7 80,3 2,47 OM18/Vụ Thu-Đông 12,6 54,4 68,6 1,91
Thủy ĐT8/Vụ Đông-Xuân 17.8 75,9 133,2 3,96 ĐT8/Vụ Hè- Thu 17.8 62,2 109,2 2,05 ĐT8/Vụ Thu-Đông 17.8 53,1 93,2 1,63
OM18/Vụ Đông-Xuân 21,2 75,0 57,8 4,60 OM18/Vụ Hè- Thu 21,2 61,5 129,4 2,42 OM18/Vụ Thu-Đông 21,2 52,5 110,5 1,88
Mục tiêu của mô hình IPM là giúp nông dân quản lý dịch hại tổng hợp hiệu quả, đưa ra các biện pháp đúng đắn và kịp thời để bảo vệ cây lúa từ giai đoạn sinh trưởng đến khi trổ Kết quả điều tra cho thấy, 52% số nông hộ đã ứng dụng mô hình IPM vào sản xuất, nhờ vào sự hướng dẫn tận tình của cán bộ khuyến nông Các hộ này tiết kiệm chi phí bằng cách chỉ phun thuốc sau khi thực hiện điều tra kỹ đồng ruộng, giúp phát hiện dịch hại kịp thời và kiểm soát dễ dàng hơn, đồng thời bảo vệ các loài thiên địch có lợi Các biện pháp này không chỉ giảm thiểu tác động tiêu cực mà còn gián tiếp nâng cao thu nhập cho nông hộ.
Theo bảng số liệu và kết quả điều tra, việc áp dụng mô hình IPM vào sản xuất lúa tại tỉnh Hậu Giang giúp tăng năng suất đáng kể, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người nông dân Chương trình IPM đã từng bước giảm khả năng dịch bệnh và sâu hại, góp phần nâng cao chất lượng mùa vụ và cải thiện thu nhập cho cộng đồng nông thôn Việc tích hợp mô hình IPM vào canh tác lúa không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất mà còn thúc đẩy bền vững trong nông nghiệp địa phương.
10 – 15% và thu nhập tăng từ 1,88 triệu đồng đến 4,08 triệu đồng trên một hecta
Bảng 4.8 Kết quả áp dụng biện pháp sạ theo hàng trong sản xuất lúa của tỉnh Hậu Giang năm 2022
Tên địa danh Giống/vụ
Thu nhập tăng so với đ/c (tr đ/ha)
Mỹ ĐT8/Vụ Đông-Xuân 13,2 74,9 98,3 2,57 ĐT8/Vụ Hè- Thu 13,2 62,6 80,6 1,34 ĐT8/Vụ Thu-Đông 13,2 52,4 68,8 1,03
Vị Thủy ĐT8/Vụ Đông-Xuân 14.8 77,8 115,2 4,45 ĐT8/Vụ Hè- Thu 14.8 63,8 94,5 2,33 ĐT8/Vụ Thu-Đông 14.8 54,4 80,7 1,82
Phương pháp sạ hàng đã được nghiên cứu từ nhiều năm và mang lại nhiều lợi ích thiết thực như tiết kiệm hạt giống, tăng năng suất và giúp ruộng bằng phẳng hơn so với phương pháp sạ tay Máy sạ hàng có khả năng gieo từ 4-5 ha trong một ngày, cao hơn sạ tay gấp 10 lần, giúp tiết kiệm chi phí gieo sạ, đặc biệt đối với các hộ có diện tích trồng lúa lớn phải thuê nhân công Hiện nay, tỷ lệ nông hộ áp dụng phương pháp sạ hàng chiếm khoảng 34% trong tổng số nông hộ khảo sát.
Theo kết quả điều tra, phương pháp sạ hàng giúp tăng năng suất bình quân từ 15 đến 20%, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất Áp dụng mô hình này còn giúp người dân tăng thu nhập rõ rệt, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Việc sử dụng phương pháp sạ hàng mang lại lợi ích to lớn trong nâng cao năng suất và cải thiện đời sống của người dân.
41 tăng 1,86 triệu đồng đến 5,28 triệu đồng trên một hecta so với các mô hình truyền thống không áp dụng sạ hàng
Bảng 4.9 Kết quả áp dụng chương trình 3 giảm 3 tăng trong sản xuất lúa của tỉnh Hậu Giang năm 2022
Tên địa danh Giống/vụ
Thu nhập tăng so với đ/c (tr đ/ha)
OM18/Vụ Đông-Xuân 23,2 76,4 175,8 4,99 OM18/Vụ Hè- Thu 23,2 62,6 144,1 2,62 OM18/Vụ Thu-Đông 23,2 53,5 123,1 2,03
Long Mỹ ĐT8/Vụ Đông-Xuân 22,4 74,7 167,4 2,53 ĐT8/Vụ Hè- Thu 22,4 61,9 137,3 1,31 ĐT8/Vụ Thu-Đông 22,4 52,3 117,2 1,01
OM18/Vụ Đông-Xuân 22,1 76,6 167,8 4,45 OM18/Vụ Hè- Thu 22,1 62,8 137,6 2,32 OM18/Vụ Thu-Đông 22,1 53,6 117,5 1,80
Thủy ĐT8/Vụ Đông-Xuân 23,7 76,6 182,2 4,15 ĐT8/Vụ Hè- Thu 23,7 62,8 149,4 2,17 ĐT8/Vụ Thu-Đông 23,7 53,7 127,6 1,72
OM18/Vụ Đông-Xuân 29,7 75,1 222,7 4,63 OM18/Vụ Hè- Thu 29,7 61,6 182,6 2,43 OM18/Vụ Thu-Đông 29,7 52,6 155,9 1,90
Ứng dụng hiệu quả chương trình “3 giảm 3 tăng” trong canh tác lúa giúp giảm 30-40% lượng giống gieo sạ, tiết kiệm đáng kể chi phí và nguồn lực Đồng thời, việc hạn chế phân đạm và giảm số lần phun thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt là hạn chế phun thuốc trừ sâu trong tháng đầu sau sạ, giúp nâng cao năng suất lúa Mô hình này còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái trên đồng ruộng, tạo ra sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp Nhận thức rõ lợi ích của “3 giảm 3 tăng”, các nông hộ và ngành nông nghiệp đã tích cực ứng dụng để thúc đẩy phát triển bền vững trong lĩnh vực trồng lúa.
42 phần lớn các nông hộ ở Hậu Giang đã và đang hưởng ứng rất tích cực các biện pháp của mô hình này vào sản xuất lúa
Áp dụng mô hình “3 giảm 3 tăng” giúp tăng năng suất lúa từ 15% đến 20%, mang lại hiệu quả rõ rệt cho người nông dân Theo kết quả điều tra, thu nhập của người dân tăng từ 2 đến 5 triệu đồng trên mỗi hécta, tùy thuộc vào vụ mùa và địa phương Đây là phương pháp hiệu quả để nâng cao năng suất và cải thiện đời sống nông thôn.
Bảng 4.10 Kết quả áp dụng chương trình 1 phải 5 giảm trong sản xuất lúa của tỉnh Hậu Giang năm 2022
Tên địa danh Giống/vụ
Thu nhập tăng so với đ/c (tr đ/ha)
Long Mỹ ĐT8/Vụ Đông-Xuân 4,6 75,1 130,9 2,63 ĐT8/Vụ Hè- Thu 4,6 62,4 107,3 1,36 ĐT8/Vụ Thu-Đông 4,6 52,6 91,6 1,06
Thủy ĐT8/Vụ Đông-Xuân 3,1 77,1 161,8 4,28 ĐT8/Vụ Hè- Thu 3,1 63,2 132,7 2,23 ĐT8/Vụ Thu-Đông 3,1 54,0 113,3 1,76
Chương trình Mô hình 1 phải, 5 giảm do Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hậu Giang thực hiện nhằm nâng cao nhận thức của nông dân về canh tác lúa bền vững Đây là chương trình tiên tiến đã được triển khai trên nhiều địa bàn của tỉnh, tập trung vào việc giảm công lao động, giảm suất giống, giảm phân bón, giảm thuốc trừ sâu và giảm nước tưới Mục tiêu của chương trình là giúp nông dân tiết kiệm chi phí, đảm bảo an toàn cho sức khỏe và bảo vệ môi trường, thúc đẩy sản xuất lúa hiệu quả, bền vững.
Mô hình canh tác mới giúp giảm lượng lúa giống trong gieo sạ và tiết kiệm nhiều khoản chi phí trong quá trình sản xuất, từ đó tăng lợi nhuận cho nông dân Tuy nhiên, do tính mới của mô hình, tỷ lệ người dân áp dụng vẫn còn thấp, chỉ chiếm khoảng 11% trong số các hộ điều tra có áp dụng Mô hình này được đánh giá cao về tính hiệu quả và tiềm năng phát triển trong nông nghiệp.
Dựa trên bảng số liệu và kết quả điều tra, mô hình “1 phải 5 giảm” giúp năng suất lúa tăng từ 10% đến 15%, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp Việc áp dụng mô hình này còn mang lại tăng thu nhập cho người dân từ 1,86 triệu đồng đến 4,67 triệu đồng mỗi hectare, tùy thuộc vào vụ mùa và địa phương Đây là giải pháp hiệu quả để thúc đẩy phát triển bền vững nông nghiệp và nâng cao đời sống người nông dân.
4.3.2 Kết quả điều tra nông hộ sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
4.3.2.1 Đặc điểm của nông hộ sản xuất lúa
Điện tích canh tác lúa bình quân của hộ nông dân là 1,29 hectare, trong đó Thị xã Long Mỹ có diện tích sản xuất lúa cao nhất với 1,33 ha/hộ, còn huyện Phụng Hiệp có diện tích thấp nhất là 1,23 ha/hộ, phản ánh sự khác biệt trong quy mô sản xuất giữa các địa phương.
Kinh nghiệm sản xuất lúa đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả canh tác của nông hộ tại Hậu Giang, với trung bình người nông dân có hơn 49 năm sinh sống tại địa phương Những nông hộ có nhiều kinh nghiệm có khả năng nhận biết sâu bệnh, điều chỉnh chế độ tưới tiêu và sử dụng phân thuốc hợp lý, từ đó giảm chi phí và tăng năng suất Hầu hết nông dân được phỏng vấn đều có nhiều năm kinh nghiệm trong sản xuất lúa, từ 2 đến 53 năm, điều này ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp truyền thống Tuy nhiên, kinh nghiệm lâu năm cũng là một thách thức trong việc chuyển giao các kỹ thuật mới do những người lớn tuổi thường khó chấp nhận các phương pháp khoa học kỹ thuật hiện đại.
Trình độ học vấn đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tiếp cận thị trường, giáo dục con cái và nâng cao thu nhập gia đình Chủ hộ thường là người quyết định phương án sản xuất lúa của nông hộ, với 39% nông hộ có trình độ tiểu học, 49% trung học cơ sở và 12% trung học phổ thông Trình độ học vấn của chủ hộ chủ yếu nằm ở cấp I, cấp II, cho thấy khả năng tiếp thu kỹ thuật và quản lý trong lĩnh vực sản xuất lúa tại vùng nghiên cứu vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển.
44 sản xuất lúa đều có trình độ thấp và sản xuất thường dựa trên kinh nghiệm tích lũy
Bảng 4.11 Đặc điểm của nông hộ sản xuất lúa
- Diện tích canh tác bình quân (ha/hộ) 1,3 1,3 1,23 1,3 1,33
- Kinh nghiệm sản xuất lúa (%)
4.3.2.2 Ý kiến của người dân khi áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa a) Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
Áp dụng mô hình IPM giúp nông dân chú trọng đến quy trình trồng lúa từ khâu làm đất, như cày lật, phơi ải, bón vôi và phân bón vi sinh nhằm tiêu diệt mầm bệnh và vi sinh vật gây hại trong đất Điều này không những giảm chi phí và công chăm sóc mà còn giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật độc hại tồn dư trên sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và sức khỏe người lao động Ngoài ra, mô hình này còn giúp cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, tăng lợi nhuận trên mỗi đơn vị diện tích canh tác.
Mô hình sạ hàng, sạ thưa giúp nông dân tiết kiệm giống gieo sạ chỉ từ 80-100kg/ha với giống xác nhận, giảm so với sạ lan truyền thống từ 200-250kg/ha Năng suất lúa đạt trên 7 tấn/ha/vụ, cao hơn so với mô hình truyền thống từ 1 đến 1,5 tấn/ha, đem lại lợi nhuận cao hơn từ 2-5 triệu đồng/ha Việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tiến góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất trong mô hình này.
Chương trình "3 giảm 3 tăng" giúp tiết kiệm nước tưới, giảm số lần phun thuốc bảo vệ thực vật, giảm đáng kể lượng phân bón, đồng thời hạn chế nguy cơ ngộ độc hữu cơ, nâng cao hiệu quả và an toàn trong sản xuất nông nghiệp.
Kết luận
Dựa trên kết quả điều tra hiện trạng áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa tại tỉnh Hậu Giang, cho thấy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ đã góp phần nâng cao năng suất và chất lượng lúa Việc áp dụng các kỹ thuật mới giúp người nông dân tối ưu hóa quy trình canh tác, giảm thiểu đầu tư về thời gian và chi phí Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc chuyển giao và phổ biến các tiến bộ kỹ thuật đến các hộ nông dân, đặc biệt là ở các vùng khó khăn Để thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp, cần tăng cường đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, và đẩy mạnh công tác khuyến nông nhằm nâng cao nhận thức và năng lực sản xuất lúa của người dân.
Hậu Giang là vùng đất phù hợp cho canh tác chuyên canh cây lúa, với sản lượng và năng suất lúa hàng năm luôn đứng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, một phần diện tích canh tác cần được cải tạo nhằm phù hợp hơn cho việc sản xuất lúa quy mô lớn Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu và nước biển dân cao cũng ảnh hưởng đáng kể đến diện tích canh tác nông nghiệp tại các huyện Long Mỹ, Thị xã Long Mỹ, huyện Phụng Hiệp và huyện Vị Thủy.
Cây lúa là cây trồng chủ lực của tỉnh với tổng diện tích gieo trồng hàng năm gần 190.000ha, đạt năng suất trung bình 6,76 tấn/ha, xếp thứ hai vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Sản lượng lúa hàng năm của tỉnh vượt 1,2 triệu tấn, góp phần quan trọng vào phát triển nông nghiệp địa phương.
Trong những năm gần đây, nông dân Hậu Giang đã tiên phong áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa như trồng các giống chất lượng cao như OM18, Đài Thơm 8, RVT và ST24, cùng với kỹ thuật sạ hàng được 51% nông dân thực hiện Họ còn quản lý dịch hại theo phương pháp IPM với tỷ lệ áp dụng đạt 67%, và thực hiện chương trình “3 giảm, 3 tăng” với 95% nông dân tham gia, bên cạnh đó, 17% nông dân áp dụng chương trình “1 phải, 5 giảm” Nhờ vào việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật này, năng suất lúa đã tăng từ 10-20%, đồng thời thu nhập cũng tăng từ 2-5 triệu đồng trên mỗi hectare, góp phần nâng cao hiệu quả và lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương.
Việc điều tra hiện trạng áp dụng các biện pháp kỹ thuật của các hộ trồng lúa tại tỉnh Hậu Giang là cấp bách nhằm ghi nhận thực tiễn thực hiện của người dân Kết quả này sẽ tạo nền tảng để đề xuất các giải pháp cải thiện và hỗ trợ phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả canh tác và mức sống của bà con nông dân địa phương.
Đề nghị
Ngành nông nghiệp tỉnh Hậu Giang đang triển khai nhiều mô hình ứng dụng biện pháp kỹ thuật vào sản xuất lúa, như cơ giới hóa và phương pháp 1 phải 5 giảm, nhằm nâng cao hiệu quả và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường Những hoạt động này giúp người dân dễ dàng tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật mới, từ đó thúc đẩy phát triển nghề trồng lúa an toàn, bền vững và nâng cao giá trị nông sản Sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành nông nghiệp và người dân đã tạo điều kiện cho việc áp dụng các mô hình kỹ thuật hiện đại, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm lúa của tỉnh Hậu Giang.
Nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ 4.0 vào trong sản xuất lúa từ đó hiện đại hóa ngành sản xuất lúa gạo của tỉnh
Nông dân cần tích cực tham gia các lớp huấn luyện, đào tạo kỹ thuật trồng lúa do địa phương và Ngành Nông nghiệp tổ chức để nâng cao kiến thức và kỹ năng canh tác Việc này giúp người dân sản xuất lúa hiệu quả, đạt năng suất cao và phù hợp với yêu cầu của thị trường tiêu thụ.