Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một mục tiêu quan trọng của sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay ở nước ta [9], [23], [70], trong đó đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược [33]. Hội nghị lần thứ VI - Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã có quyết nghị “Kết luận về công tác giáo dục - đào tạo” trong đó nhấn mạnh: “Đổi mới PPDH ở tất cả các cấp và bậc học, kết hợp tốt học với hành, gắn nhà trường với xã hội. Áp dụng những PPDH hiện đại để bồi dưỡng cho HS những năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”[11]. Trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã nêu: cần “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục. Chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh…”[3, tr. 30]. Bên cạnh đó sự bùng nổ thông tin vừa là thời cơ vừa là thách thức lớn cho mỗi người trong thời đại ngày nay. Kĩ năng thu nhận, chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, biểu đạt và sử dụng thông tin phải là mục tiêu, nội dung dạy học ở nhà trường. Hệ thống hoá là kỹ năng quan trọng để thực hiện các hoạt động đó. Kiến thức, kĩ năng tư duy, kĩ năng tự học là những tiêu chí cơ bản phản ánh phẩm chất nhân cách của các chủ thể thời đại ngày nay. Thông qua “dạy chữ” để “dạy làm người”, “dạy kĩ năng sống” và “dạy nghề”. Luật Giáo dục nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (12/1998) ở khoản 2 Điều 28 đã quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thày hướng dẫn: GS.TS Đinh QuangBáo Trong nhiều năm thày đã tận tình chỉ dẫn giúp đỡ, cùng tác giả đi từ nhữngbước đi đầu tiên của luận án;
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thày: GS.TS Trần Bá Hoành,PGS.TS Nguyễn Quang Vinh, PGS.TS Nguyễn Đức Thành, PGS.TS Lê ĐìnhTrung, PGS.TS Trịnh Nguyên Giao, PGS.TS Mai Sỹ Tuấn Mặc dù bận rất nhiềucông việc nhưng các thày vẫn dành nhiều thời gian đọc góp ý, hướng dẫn tận tìnhgiúp tác giả hoàn thiện luận án;
Tác giả cũng xin chân thành cám ơn tập thể cán bộ, giảng viên, nhân viên bộmôn Lý luận và PPDH Sinh học – khoa Sinh học, phòng Quản lý khoa học, phòngSau đại học, Ban giám hiệu trường ĐHSP Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho tác giảhọc tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án; Cảm ơn các Sở GD&ĐT, các Ban giámhiệu các trường THCS ở các tỉnh: Tuyên Quang, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Gia Lai, Bến Tre và Thành phố
Hồ Chí Minh; các giáo viên cộng tác, các bạn đồng nghiệp giúp đỡ tạo điều kiệntiến hành thực nghiệm thành công; Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán
bộ công chức cơ quan Vụ Giáo dục Trung học – Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tạođiều kiện về thời gian cho tác giả nghiên cứu và động viên hoàn thành luận án;
Cảm ơn tất cả bạn bè và gia đình đã quan tâm, động viên giúp đỡ tác giảtrong quá trình thực hiện đề tài luận án
1 Hà Nội, tháng 01 năm 2010
Ngô Văn Hưng
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận án là khách quan, trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Ngô Văn Hưng
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
Phần I MỞ ĐẦU 8
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 8
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC 15
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 28
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 28
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 28
6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 28288
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .29
8 THỜI GIAN VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU .30
9 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN .30
10 ĐÓNG GÓP MỚI .3030300
Phần II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .32
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC 32
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 32
1.1.1 Bản chất hệ thống hóa kiến thức .32
1.1.2 Vai trò của việc hệ thống hoá kiến thức trong dạy học .34
1.1.3 Kĩ năng và kĩ năng hệ thống hóa kiến thức .35
1.1.4 Đặc điểm chương trình và sách giáo khoa Sinh học 9 .57
1.1.5 Mối quan hệ giữa nhiệm vụ HTH kiến thức và tiếp cận cấu trúc hệ thống trong chương trình Sinh học 9 .59
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 65
1.2.1 Tình hình tìm hiểu nội dung chương trình và sách giáo khoa sinh học 9 của giáo viên THCS .6565655
1.2.2 Tình hình học tập của học sinh THCS (năm học 2005 – 2006) .68
1.2.3 Thực tiễn dạy học với biện pháp rèn luyện kỹ năng diễn đạt nội dung hệ thống hóa của giáo viên THCS .7070700
Trang 51.2.4 Thực tiễn học tập của học sinh (năm học 2006 – 2007) .747474
Chương 2: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG HỆ THỐNG HÓA TRONG QUÁ TRÌNH
TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC SINH HỌC 9 .7 7878
2.1 LOGIC QUÁ TRÌNH HỆ THỐNG HOÁ NỘI DUNG KIẾN THỨC 7878
2.2 QUY TRÌNH RÈN LUYỆN KỸ NĂNG HTHỐNG HOÁ KIẾN THỨC
8484
2.3 CÁC BÀI TẬP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG HTH KIẾN THỨC
2.3.1 Bài tập rèn luyện kỹ năng xác định mục tiêu hệ thống hóaHTH kiếnthức 2.3.2 Bài tập rèn luyện kỹ năng xác định tiêu chí để hệ thống hóa 89892.3.3 Bài tập rèn luyện kỹ năng xác định nội dung hệ thống hóa 909002.3.4 Bài tập rèn luyện kỹ năng tóm tắt nội dung sách giáo khoa .91919112.3.5 Bài tập rèn luyện kỹ năng sơ đồ hóa nội dung .92929222.3.6 Bài tập rèn luyện kỹ năng lập và sử dụng bảng .93939332.3.7 Bài tập rèn luyện kỹ năng đọc tài liệu để lựa chọn thông tin cần thiếtcho hệ thống hóa .9494944
2.4 CÁC KĨ NĂNG HỌC SINH CÓ ĐƯỢC TỪ BIỆN PHÁP HỆ THỐNG HOÁ NỘI DUNG KIẾN THỨC 9595955
2.4.1 Kỹ năng thực hiện các lệnh yêu cầu hệ thống hóa trong SGK 95959552.4.2 Kỹ năng tách ra nội dung chính, bản chất từ tài liệu đã đọc được đểlàm tư liệu cho hệ thống hóa .9898982.4.3 Kỹ năng đọc và phân tích bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị, hình trongSGK .10010010002.4.4 Kỹ năng lập dàn bài và lập đề cương .10010010002.4.5 Kỹ năng thiết lập sự liên hệ giữa các khái niệm .10210210222.4.6 Các biện pháp tổ chức hoạt động tự lực nghiên cứu SGK theo hướng
hệ thống hóa nhằm phát huy tính tích cực của học sinh .1041041044
2.5 HỆ THỐNG HOÁ NỘI DUNG SÁCH GIÁO KHOA SINH HỌC 9 THEO CHUẨN KIẾN THỨC KĨ NĂNG 1051051055
Trang 62.6 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỆ
THỐNG HOÁ 1111111111
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 116116116 16 3.1 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 11611611616
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm .11611611616
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm .11611611616
3.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 1171171177
3.2.1 Nội dung thực nghiệm sư phạm .11711711717
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm .11711711717
3.3 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 11911911919
3.3.1 Phân tích định lượng .1201201200
3.3.2 Kết quả thống kê tổng hợp bài kiểm tra sau năm thứ 2 1241241244
3.3.2 Phân tích định tính .1281281288
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 1311311311
1 KẾT LUẬN 1311311311
2 ĐỀ NGHỊ 1311311311
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 1331331333
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1341341344
Trang 7Ph n I M ần I MỞ ĐẦU Ở ĐẦU ĐẦU U
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Xuất phát từ mâu thuẫn trong thực tiễn dạy học
Để phát huy tính tích cực học tập của HS đòi hỏi GV phải có phương pháprèn luyện cho HS kĩ năng hệ thống hóa; nhưng GV còn lúng túng vì chưa có quitrình hệ thống hóa
Nhiệm vụ của các nhà lý luận dạy học là phải nghiên cứu, tìm tòi các cáchtiếp cận khác nhau nhằm góp phần đổi mới PPDH hướng vào việc tăng cường tínhtích cực nhận thức, bồi dưỡng năng lực tìm tòi khám phá của người học trong quátrình lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng
Trong quá trình dạy - học, rèn cho học sinh kỹ năng hệ thống hóa nội dungkiến thức có một vị trí quan trọng Nó là tiền đề cho sự sáng tạo và phát triển tưduy Từ một nội dung học tập, người học có thể biểu đạt dưới nhiều hình thức ngônngữ khác nhau thể hiện trình độ tư duy khái quát, làm nền tảng cho sự hình thànhmột nhân cách toàn diện: có văn hoá đọc, văn hoá ngôn ngữ, văn hoá diễn đạt ýtưởng phong phú Như vậy, hệ thống hóa là một năng lực tự học Rèn luyện kỹ năng
hệ thống hóa nội dung kiến thức là một trong những biện pháp nhằm phát triển nănglực hoạt động nhận thức của học sinh Tổ chức hoạt động học tập tự lực thực chất làtrí tuệ thông tin từ các nguồn tư liệu khác nhau Hệ thống hóa là kĩ năng có giá trị
đa năng về trí dục, phát triển năng lực tư duy, thái độ cho người học
Kiến thức về logic học ở học sinh phổ thông chưa được chú ý, đặc biệt là vềcác thao tác logic như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, Do đó việctrang bị cho học sinh kĩ năng hệ thống hóa kiến thức qua nội dung dạy học sẽ gópphần hình thành tư duy logic cho học sinh Chương trình môn Sinh học THCS thiên
về dạy kiến thức sự kiện, những sự kiện rời rạc không tạo cho người học khả nănglàm chủ tri thức Vì vậy bên cạnh việc cung cấp thông tin sự kiện – phù hợp với khảnăng nhận thức của HS cấp THCS – thì cần rèn cho các em kĩ năng hệ thống hóacác kiến thức sự kiện được cung cấp
Trang 8Hệ thống hoá là làm cho trở nên có hệ thống, là kĩ năng gia công xử lí nhữngtài liệu đã qua giai đoạn phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để từ đó rút ranhững quy luật của sự vận động đối tượng nghiên cứu Hệ thống hoá là một cáchnhóm nhiều sự vật hiện tượng thành một lớp hoàn chỉnh, nhưng không chỉ dựa trên
sự giống nhau giữa các dấu hiệu cơ bản của chúng mà còn biết phân tích nhóm nàythành những nhóm, những loại, những bậc nhỏ hơn Bởi vậy, việc rèn luyện kĩ năng
hệ thống hoá có vị trí quan trọng trong phát triển năng lực tư duy lí thuyết cho họcsinh Việc hệ thống hoá kiến thức còn có tác dụng làm phong phú thêm kiến thức đãhọc bằng một tư tưởng mới, xem xét, giải quyết các vấn đề đã được học dưới mộtgóc độ mới Hệ thống hoá kiến thức không những hình thành được kiến thức mới,củng cố những điều đã được học mà còn sắp xếp chúng thành hệ thống chặt chẽgiúp lí giải được quá trình phát triển của kiến thức Vì vậy, năng lực hệ thống hoákiến thức là một năng lực cần được hình thành trong mục tiêu đào tạo ở nhà trườngphổ thông
Đổi mới chương trình giáo dục Trung học cơ sở (THCS) đã được Bộ Giáo dục
và Đào tạo chỉ đạo thực hiện từ năm 2002 Việc đổi mới nội dung chương trình vàsách giáo khoa THCS có mục tiêu quan trọng là phát huy tính tích cực học tập củahọc sinh trong đó đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn học sinh hệ thống hóa kiến thức
Dạy học là tổ chức HS gia công trí tuệ, xử lí thông tin, muốn vậy GV khôngtruyền thụ kiến thức có sẵn mà phải rèn luyện cho HS các kĩ năng thu nhận và xử lí
th ông tin qua đó hình thành tri thức Trong đó mà hệ thống hóa là kĩ năng hết sứcquan trọng, mấu chốt Hệ thống hóa là sự tích hợp nhiều kĩ năng, thao tác logic, làđiều kiện để khái quát hóa, hệ thống hóa
Thế nhưng, trong thực tiễn dạy học, giáo viên THCS còn gặp khó khăn khithực hiện hệ thống hóa kiến thức, lại càng khó khăn khi dạy học sinh kĩ năng hệthống hóa nội dung Thực tiễn dạy học phổ thông đòi hỏi GV phải dạy học sinh kĩnăng hệ thống hóa kiến thức qua từng tiết học, qua từng bài ôn tập cuối chương haycuối mỗi học kì Mặt khác, cơ hội thuận lợi để tổ chức HS hệ thống hóa kiến thức làcác bài ôn tập, tổng kết chương được quy định ở môn Sinh học 9 rất ít (chỉ có 05tiết) nhưng nội dung kiến thức cần phải hệ thống hóa lại rất nhiều (toàn bộ chương
Trang 9trình THCS môn Sinh học) đòi hỏi học sinh phải có quy trình hệ thống hóa kiếnthức mới có thể đáp ứng được yêu cầu.
Trong những thập kỉ gần đây, Sinh học phát triển vô cùng mạnh mẽ, đã tíchluỹ được một khối lượng lớn các tài liệu có tính chất sự kiện, hình thành nhữngquan điểm khoa học có tính chất phương pháp luận mới Một số quan điểm đó đượcquán triệt trong xây dựng chương trình và SGK Sinh học phổ thông như: quan điểmtiến hóa – sinh thái; quan điểm mối quan hệ qua lại giữa hình thái – cấu tạo giảiphẫu với chức năng; quan điểm cấu trúc – hệ thống Những quan điểm đó đòi hỏidạy học sinh học khắc phục tình trạng sinh học mô tả, thay vào đó là khái quát hóahình thành kiến thức sinh học đại cương trên cơ sở các kiến thức sự kiện, kiến thứcchuyên khoa Đòi hỏi đó chỉ được đáp ứng khi trong quá trình dạy học Sinh học 9giáo viên tổ chức học sinh hệ thống hóa nội dung Tổ chức học sinh hệ thống hóa nộidung không chỉ là yêu cầu của nội dung sinh học mà còn là đòi hỏi của tích cực hóahoạt động học của học sinh Nhưng đến nay, sự chuyển biến về đổi mới PPDH ởtrường phổ thông, đặc biệt dạy học hệ thống hoá kiến thức còn mờ nhạt Rèn luyện kĩnăng hệ thống hoá kiến thức cần được nhận thức như một tiếp cận mới về phươngpháp đào tạo và xa hơn nữa như một năng lực cần hình thành trong mục tiêu đào tạo,bởi lẽ vận dụng quan điểm này vào dạy học nói chung và dạy Sinh học nói riêng giúpphát triển các thao tác tư duy cơ bản: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá,khái quát hoá, hệ thống hoá,… và khả năng hình thành năng lực tự học cho học sinh Nhiệm vụ đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HSkhông chỉ là định hướng mà còn đòi hỏi hành động nhưng nhiều GV tự mình cònlúng túng chưa xác định được những hoạt động cụ thể để tiến hành đổi mới PPDH
Vì vậy, cần nghiên cứu xác định nguyên tắc, quy trình vận dụng của những PPDHtích cực, giúp cho GV sử dụng để rèn luyện cho HS kĩ năng hệ thống hóa kiến thứcmột cách thuận lợi và có hiệu quả
1.2 Xuất phát từ đặc điểm môn Sinh học cấp THCS
Trong dạy học Sinh học, tính khoa học và tính sư phạm của hệ thống chươngtrình Sinh học THCS phản ánh logic nhận thức khoa học sinh vật của loài người Cụthể là các kết quả quan sát, thực nghiệm qua môn học thực vật, động vật, giải phẫu
Trang 10sinh lý người sẽ được tổng kết, trừu tượng hoá, khái quát hoá thành khái niệm, quyluật, định luật sinh học và tiếp tục mở rộng nhận thức của mình và đi tới lĩnh hộicác học thuyết sinh học bằng phán đoán suy luận đúng đắn Phân tích như vậy đểthấy rõ vị trí của môn Sinh học trong các môn khoa học tự nhiên và xác định đượckhi dạy học phần này ta cần cung cấp cho học sinh kĩ năng hệ thống hóa trong logicnhận thức khoa học.
Chương trình môn Sinh học THCS không trình bày lần lượt các phân mônSinh học như trước đây (Thực vật, Động vật, Giải phẫu sinh lí người, Di truyền học,Sinh thái học) mà trình bày kiến thức về các nhóm đối tượng sinh vật (Thực vật: lớp
6, Động vật: lớp 7, Giải phẫu sinh lí người: lớp 8; thay vì Di truyền học, Sinh tháihọc ở lớp 9 HS được học về các mối quan hệ Di truyền – Biến dị, sinh vật và môitrường) Chương trình môn Sinh học THCS dạy các kiến thức cụ thể (kiến thức sựkiện) nhưng phải đi tới các kiến thức trừu tượng, các khái niệm, các quy luật; do đócần rèn luyện cho HS các kĩ năng tư duy so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệthống hóa, đặc biệt ở lớp cuối cấp Hệ thống các phương pháp học tập môn Sinhhọc THCS của học sinh chính là phương pháp phân tích cấu trúc và phương pháptổng hợp hệ thống Việc sử dụng phương pháp này tất yếu phải tuân theo các quytắc logic (chẳng hạn các quy tắc suy luận và chứng minh) và do đó học sinh phảilĩnh hội các khái niệm Sinh học đại cương cũng có nghĩa là học sinh phải nắm vữngcác thủ thuật logic và cách phân tích về mặt logic các khái niệm, quy luật, phánđoán, suy luận của sinh học Như vậy thông qua hoạt động học tập môn sinh học,học sinh được rèn các thao tác logic và sử dụng chúng một cách có ý thức như cácthao tác định nghĩa các khái niệm và phân loại v.v…kiểm tra lại các định nghĩabằng cách sử dụng các quy tắc phải tuân theo khi thực hiện những thao tác logicnày Việc rèn luyện các biện pháp học tập tuân theo quy luật nhận thức từ thấp đếncao cũng có nghĩa là dạy cho học sinh nghiên cứu giới hữu cơ bằng phương phápphân tích cấu trúc (hình thành khái niệm chuyên khoa ở các môn thực vật, động vật,giải phẫu sinh lý người) đến phương pháp tổng hợp hệ thống và phương pháp cấutrúc hệ thống (hình thành các khái niệm, định luật, quy luật, học thuyết ở môn Sinhhọc 9) Rèn luyện tư duy logic cho học sinh từ bước thấp là tư duy logic hình thức
Trang 11đến bước cao là tư duy logic biện chứng, đây là sợi chỉ đỏ trong quá trình dạy họcsinh có năng lực học tập (năng lực tạo ra mọi năng lực).
Khi nghiên cứu các hoạt động học tập của học sinh, các nhà tâm lí học đãchứng minh rằng: những loại đối tượng khác nhau, những kiểu tài liệu học tập khácnhau đòi hỏi những thủ thuật phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, và khái quát hoákhác nhau, đòi hỏi những hoạt động có đối tượng, hoạt động tri thức và hoạt độngtrí óc cần thiết để hình thành các tri thức tương ứng [445], [457], [4643] Việc lĩnhhội các khái niệm Sinh học phổ thông cũng tuân theo quy luật ấy Ví dụ để hìnhthành kiến thức về quy luật di truyền học sinh cần phải: Mô tả được cách thức tiếnhành thí nghiệm về di truyền của Menđen; giải thích nguyên nhân thành công củacác thí nghiệm di truyền của Menđen; phát biểu được các định luật của Menđen;trình bày cơ sở vật chất di truyền của các định luật Menđen bằng biểu đồ; phân biệtđược các khái niệm kiểu gen và kiểu hình; nhận biết được số liên kết của phép laituân theo định luật Menđen; dùng các tính chất của nhiễm sắc thể để soi sáng chocác dữ kiện nêu ra trong định luật Menđen; giải thích các vấn đề (bài tập, hiệntượng, thực tế) trên cơ sở định luật Menđen Sau khi giải quyết trình tự tất cả côngviệc này học sinh coi như sáng tạo lại các quy luật di truyền Menđen và do đó đã cónhững thao tác tư duy mới
Như vậy mối liên hệ qua lại giữa các biện pháp hoạt động trí tuệ và hoạt độnghọc tập được thể hiện ở chỗ các biện pháp trí tuệ chung là cơ sở cấu trúc logic củahoạt động học tập Khi nói biện pháp học tập là nhấn mạnh tính đặc trưng về chủ thể(học sinh) hay là đứng trên góc độ khách thể, là nhấn mạnh tính đặc trưng về góc độnghiên cứu (đối tượng lĩnh hội) Ở đây các biện pháp hoạt động trí tuệ được hiểu làphương thức để thực hiện hoạt động trí tuệ, còn các biện pháp hoạt động học tập làphương thức để thực hiện một hoạt động học tập của học sinh Các biện pháp trí tuệcũng như các biện pháp học tập được tạo bởi hệ thống logic các hành động Nghĩa làcác hành động là yếu tố cấu trúc của biện pháp Kỹ năng sử dụng biện pháp được thểhiện ở chất lượng thực hiện đúng các hành động cấu thành biện pháp đó
Việc lĩnh hội kiến thức đại cương lý thuyết buộc học sinh phải hình thành và
sử dụng thao tác tư duy lý thuyết, nhưng lại dựa trên một vốn tri giác, biểu tượng
Trang 12phong phú Đó là các kiến thức cụ thể, riêng biệt về từng loại đối tượng sinh vật(thực vật, động vật, vi sinh vật, cơ thể người hoặc về từng loài, từng nhóm phân loạitrong giới động vật và thực vật); về từng mặt các tổ chức sống (phân loại, hình thái,giải phẫu, sinh lý…) về từng loại trong giới hữu cơ (quan hệ giữa cấu tạo và chứcphận của mỗi cơ quan, quan hệ giữa cơ thể và môi trường sống, quan hệ giữa cá thể
và loài, giữa loài và quần xã…) Kiến thức đại cương cho phép cho phép học sinhsoi sáng, bổ sung, phát triển các kiến thức chuyên khoa, nhìn lại các kiến thứcchuyên khoa trên một bình diện mới Ví dụ về khái niệm thích nghi: Ở các lớp dưới,học sinh đã tích luỹ những hiểu biết cụ thể về sự phù hợp giữa cấu tạo và chức phậncủa các loại cơ quan trong cơ thể, về sự phù hợp giữa cơ thể của các loài khác nhauvới môi trường sống của chúng Đến chương trình Sinh học 9, thích nghi được xemnhư một dấu hiệu chung của mọi sinh vật
Mối quan hệ hai chiều giữa kiến thức chuyên khoa và đại cương phản ánhquy luật phát triển của quá trình nhận thức, từ hiểu biết cụ thể và riêng biệt đếnnhững kiến thức khái quát trừu tượng, rồi từ những hiểu biết khái quát trừu tượnglại nhận thức những hiện tượng cụ thể riêng biệt trên một bình diện mới cao hơn.Con đường phát triển của nhận thức là con đường xoáy trôn ốc đi lên “Quá trìnhphát triển, về thực chất là quá trình chuyển hoá từ trừu tượng đến cụ thể Cái trừutượng nói chung ở mọi trình độ tương đối là phương tiện (chứ không phải mục đích)
để nhận thức, tức là để cho ta tiến dần lên cái cụ thể “Chân lý là cụ thể” - công thứctriết học ấy tóm tắt toàn bộ tiến trình phát triển của sự vật”
1.3 Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông: dạy
HS cách học, dạy HS tự học
Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một mục tiêu quan trọng của sựnghiệp đổi mới giáo dục hiện nay ở nước ta [9], [2 ], [70], trong đó đổi mới phươngpháp dạy học (PPDH) được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược [33] Hộinghị lần thứ VI - Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã có quyết nghị “Kếtluận về công tác giáo dục - đào tạo” trong đó nhấn mạnh: “Đổi mới PPDH ở tất cảcác cấp và bậc học, kết hợp tốt học với hành, gắn nhà trường với xã hội Áp dụng
Trang 13những PPDH hiện đại để bồi dưỡng cho HS những năng lực tư duy sáng tạo, nănglực giải quyết vấn đề”[4121] Trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010”
do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã nêu: cần “Đổi mới và hiện đại hoá phươngpháp giáo dục Chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sanghướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy chongười học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tưduy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tínhchủ động, tính tự chủ của học sinh…”[543, tr 30]
Bên cạnh đó sự bùng nổ thông tin vừa là thời cơ vừa là thách thức lớn chomỗi người trong thời đại ngày nay Kĩ năng thu nhận, chọn lọc thông tin, xử lýthông tin, biểu đạt và sử dụng thông tin phải là mục tiêu, nội dung dạy học ở nhàtrường Hệ thống hoá là kỹ năng quan trọng để thực hiện các hoạt động đó Kiếnthức, kĩ năng tư duy, kĩ năng tự học là những tiêu chí cơ bản phản ánh phẩm chấtnhân cách của các chủ thể thời đại ngày nay Thông qua “dạy chữ” để “dạy làmngười”, “dạy kĩ năng sống” và “dạy nghề”
Luật Giáo dục nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (12/1998) ở khoản 2Điều 28 đã quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Rèn luyện học sinh kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy học Sinh học 9”.
Trang 142 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC
2.1 Tình hình nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trên thế giới
Vấn đề hệ thống hóa kiến thức được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Đếncuối thế kỉ XIX, Carl Pearson đã đưa ra kĩ thuật thống kê về sự tương quan, giúpcho việc khảo sát sự khác biệt giữa những cá thể được nhanh chóng và chính xác.Năm 1904, Alfred Binet (Pháp) đã đưa ra bài trắc nghiệm về trí thông minh trong
đó có nhiều câu hỏi về hệ thống hóa Vào những năm 20 của thế kỉ XX, đã có nhiềucông trình nghiên cứu về rèn kĩ năng hệ thống hóa cho học sinh trung học Đặc biệt,
ở Hoa Kỳ có nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu về lý thuyết bản đồ khái niệm làm cơ
sở khoa học cho lý thuyết mạng máy tính và chuyển hoá vào các ngành khoa họckhác [11190], [11492], [11594], [11295] Trong đó nổi bật nhất là những công trìnhnghiên cứu của Jonathan L Gross (trường Đại học Columbia, Niu Yoc) và JayYellen (trường Rolin, Florida) Hai tác giả này đã công bố nhiều công trình về bản
đồ khái niệm [11393], [11594], [11495] Theo Robert Fishes, vẽ sơ đồ nhận thức làmột công cụ đắc lực trợ giúp trí nhớ, hiểu biết và phát triển khái niệm, bởi vì tất cảnhững gì cần phải nhớ chỉ là những ý tưởng then chốt Vẽ sơ đồ nhận thức khôngchỉ là cho học sinh tiếp nhận thông tin mà còn cần phải suy nghĩ về thông tin ấy,giải thích nó và kết nối nó với cách cấu tạo mới, tạo nên những hiểu biết về chúng.Trong hoạt động dạy học, ôn tập là một khâu không thể tách rời của quá trình dạyhọc, những tri thức qua ôn tập sẽ tiếp nhận một cách vững chắc là cơ sở cho họcsinh tiếp thu tri thức mới Theo Jean - Marc Denommé và Madeleine Roy: Ngườihọc khai thác cái mà anh ta đã biết, với sự giúp đỡ của người dạy để nắm bắt và thulượm tri thức mới
Việc hệ thống hóa kiến thức cũng được quan tâm nghiên cứu ở Anh TonyBuzan (Anh) là người sáng tạo ra phương pháp tư duy Mind Map (bản đồ tư duy).Tony Buzan từng nhận bằng Danh dự về tâm lý học, văn chương Anh, toán học vànhiều môn khoa học tự nhiên của trường Đại học British Columbia năm 1964 Ông
đã viết 92 đầu sách và được dịch ra trên 30 thứ tiếng, với hơn 3 triệu bản, tại 125
Trang 15quốc gia trên thế giới Tony Buzan được biết đến nhiều nhất qua cuốn “Use yourhead” Trong đó, ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với cácphương pháp Mind Map Ngoài ra, ông còn có một số sách nổi tiếng khác như Useyour memory, Mind Map Book, Mind Maps at work Phương pháp tư duy của ôngđược dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập đoàn, công ty hàng đầu thế giới Tạp chíForbes từng bình luận: “Buzan chỉ ra cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cách thứcgiải phóng năng lực sáng tạo bản thân” Hơn 250 triệu người đang sử dụng phươngpháp Mind Map của Tony Buzan Tony Buzan thường xuyên tham gia các chươngtrình truyền hình Khoảng hơn 3 tỉ người đã từng xem và nghe chương trình củaông Chuẩn bị cho chuyến đi đến Việt Nam, Tony Buzan chuyển đến một thôngđiệp: “Tôi muốn chia sẻ cùng các bạn bí quyết để tư duy nhanh chóng, linh hoạt,qua đó bạn có thể sáng tạo và đổi mới không ngừng trong công việc và cuộc sống”[7062] Jeannette Vos – Gorden Dryden (1997), trong cuốn “Cách mạng học tập”
đã đưa ra cách sử dụng lược đồ liên tưởng thay cho ghi chép bằng 3 điểm chính với
5 nguyên lý chính để đọc dữ liệu từ bản đồ [44, tr ang 162 – 164; 74]
Các tác giả Allan C Ornstein và Thomas J Lasley trong cuốn “Các chiến lược để dạy học có hiệu quả” khi bàn về nghệ thuật dạy học đã đưa ra câu hỏi: Hệ
hình (paradigm) nào chi phối thói quen dạy học? Các tác giả này đã xây dựng kếhoạch bài học về các kĩ năng tư duy, trong đó nhấn mạnh chủ đề phân loại thông tindựa trên những đặc tính chung hay tương tự [2, trang 139 – 146; 68] GeoffreyPetty, khi đề cập đến cách dạy học ngày nay, tác giả cho rằng một trong các phươngpháp dạy học tích cực là dạy cho học sinh cách nhớ, qua đó rèn luyện cho học sinhcác kỹ năng ôn tập Theo tác giả GV nên sử dụng một số hình thức ôn tập như: tómtắt bài học, đưa ra hệ thống câu hỏi ôn tập, kiểm tra ôn tập, làm việc theo nhóm,chơi trò chơi Geoffrey Petty đưa ra quy trình dạy kỹ năng gồm 8 bước Để dễ nhớ,Petty đã tóm tắt quá trình này bằng từ “EDUCARE?” ghép các chữ cái đầu của các
từ tiếng Anh chỉ mỗi bước, trong đó bước nêu lên thắc mắc được tượng trưng bằngdấu hỏi “Educare” là gốc Latinh của từ tiếng Anh “Educate” nghĩa là giáo dục.Theo tác giả, tùy từng kĩ năng cụ thể mà trình tự, hay thời lượng dành cho mỗi bướctrong “EDUCARE?” có thể thay đổi nhưng cần đảm bảo đủ các thành phần trên thìviệc đào tạo kĩ năng mới có hiệu quả:
Trang 16Bước 1: Giải thích (Explanation): Giáo viên giúp cho học sinh hiểu vì sao
phải có kĩ năng đó? Vị trí của kĩ năng đó trong hoạt động nghề nghiệp tương lai? Kĩnăng đó liên quan đến những kiến thức lý thuyết nào đã học? có thể kiểm tra thăm
dò xem học sinh đã biết chút ít gì về kĩ năng sắp học hay chưa?
Bước 2: Làm chi tiết (Doing Detail): Học sinh được xem trình diễn mẫu một
cách chi tiết, chính xác để có một mô hình bắt chước làm theo Mẫu này có thể dogiáo viên trình diễn hoặc học sinh được xem băng hình Cần tạo cơ hội cho học sinhnắm bắt những chi tiết mấu chốt của kĩ năng như cho băng hình quay chậm lại hoặcdừng lại và giáo viên đặt câu hỏi gợi mở để học sinh phát hiện ra những chi tiếtquan trọng nhất
Bước 3: Sử dụng kinh nghiệm mới học (Use): Học sinh thử làm theo mẫu đã
được xem
Bước 4: Kiểm tra và hiệu chỉnh (Check and Correct): Tốt nhất là giáo viên
nên tạo cơ hội để học sinh tự kiểm tra, phát hiện những chỗ làm sai của chính mình
và biết cần hiệu chỉnh những chỗ nào Để tránh học sinh lặp lại những cách làm saithành thói quen khó sửa, giáo viên cần giám sát, giúp đỡ nếu học sinh không tự pháthiện được, đặc biệt là đối với những kĩ năng phức tạp
Bước 5:Hỗ trợ trí nhớ (Aide Mémoire): Học sinh cần có những phương tiện
giúp đỡ việc ghi nhớ điểm then chốt, ví dụ phiếu ghi tóm tắt, tờ rơi ghi sơ đồ cácthao tác, băng ghi âm, ghi hình
Bước 6: Ôn tập và sử dụng lại (Review and Reuse): Đây là việc cần thiết để
củng cố những kĩ năng đã học được
Bước 7: Đánh giá (Evaluation): Đánh giá là khâu do người đào tạo thực hiện,
để xem học sinh đã đạt yêu cầu hay chưa Việc đánh giá có thể được tiến hành mộtcách chính thức hoặc kín đáo nhưng phải phát hiện đúng những người đã đạt yêucầu để cả người dạy và người học đều an tâm với kết quả đào tạo, đồng thời phảixác định đúng những người chưa đạt yêu cầu để có trách nhiệm đào tạo bổ sung
Bước 8:Thắc mắc (?): Học sinh có nhu cầu làm sáng tỏ những điều chưa
hiểu Họ có thể nêu câu hỏi vào bất kì lúc nào trong quá trình học Trong trườnghợp một số học sinh hay e thẹn không dám hỏi trước mặt các bạn cùng lớp thì giáo
Trang 17viên cần tạo cơ hội cho họ hỏi khi chỉ có một thầy một trò Cơ hội tốt nhất là ở giaiđoạn “Tập sử dụng kĩ năng”, khi đó giáo viên nên đi lại trong lớp kiểm tra các thaotác thực hành kĩ năng của học sinh và trả lời thắc mắc cho các em Cũng có thể đếncuối cùng học sinh mới nêu những thắc mắc mà bản thân và bạn bè chưa giải đápđược, lúc này giáo viên không nên để các em thất vọng [31, tr ang 170 -171; 87],[11891]
Tiến sĩ Edward de Bono, trong cuốn “Dạy trẻ phương pháp tư duy” đã đưa ra
chương trình giảng dạy tư duy gọi tắt là CoRT, gồm 60 bài học tư duy và chia làm 6phần Chương trình CoRT cũng bao gồm cả những phần chỉ dẫn để GV có thể ápdụng giảng dạy Đặc biệt để định hướng sự chú ý tác giả đã đưa ra công cụ gọi tắt làCAF, nhằm làm tăng và mở rộng nhận thức [25, tr ang 137 – 140; 75]
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tin học nhiều nước trên thế giới (Anh,
Mĩ, Úc, Hà Lan, Bỉ, Pháp, ) đã tiến hành cài đặt chương trình kiểm tra kĩ năng hệthống hóa trên máy tính Nhiều phần mềm đã được sử dụng khá phổ biến như:
• MindManager - MindManager chỉ chạy được trên hệ điều hành Microsoft
Windows (Phần mềm này đã được sử dụng khá nhiều tại Việt Nam)
• FreeMind - Phần mềm nguồn mở, chạy trên hệ điều hành Windows, Mac
và Linux Hiện nay nhóm mã nguồn mở của HueCIT đã nghiên cứu và viết tài liệuhướng dẫn sử dụng
•ALPS (ARC Learning Profile Scales) - phần mềm lập báo cáo Đây là phần mềm
đang được sử dụng rất nhiều ở Úc dựa trên quan điểm học tập phát triển, khung họctập phát triển để lập báo cáo (www.naplan.edu.au - mẫu báo cáo cơ quan của Úc)
• phần mềm SPSS và ConQuest – Đây là những phần mềm có thể cho biết những
thông tin chính xác về năng lực của HS giúp các em học tập phát triển
• Một số phần mềm khác: ConceptDraw MINDMAP, Visual Mind, AxonIdea Processor, Inspiration,…
Năm 1965, tại Liên Xô (cũ), A.M.Xokhor là người đầu tiên đã vận dụng một
số quan điểm của lý thuyết grap (chủ yếu là những nguyên lý về việc xây dựng mộtgrap có hướng) để mô hình hoá nội dung tài liệu giáo khoa (một khái niệm, mộtđịnh luật ) A.M.Xokhor đã xây dựng được grap của một kết luận hay lời giải thích
Trang 18cho một đề tài dạy học mà ông gọi là cấu trúc logic của kết luận hay của lời giải thích [3457], [3558], [3659] A.M Xokhor đã đưa ra những quan điểm cơ bản sau :
- Trong dạy học, khái niệm là phần tử cơ bản hợp thành tài liệu giáo khoa
- Cấu trúc của một đoạn tài liệu giáo khoa là tổ hợp những mối liên hệ bêntrong các khái niệm và mối liên hệ qua lại của các phần tử chứa đựng trong đoạn tàiliệu đó
- Cấu trúc của tài liệu giáo khoa có thể diễn tả một cách trực quan bằng mộtgrap và gọi là “cấu trúc logíc của tài liệu”
T.A Kodơlova (1978) với công trình: “Các biện pháp sư phạm để dạy học sinh cuối cấp về mối quan hệ giữa sự kiện và lí thuyết” Trong đó tác giả đã đưa ra
một số kĩ thuật dạy học rèn cho HS năng lực tự học, khả năng khái quát hóa nội dung
học tập L.P Anaxtaxova (1981) với tác phẩm: “Công tác độc lập của học sinh về sinh học đại cương” Brunov và các tác giả khác với: “Hình thành các hoạt động trí tuệ của học sinh” G.M Murtazin (1989) với: “Các phương pháp và hình thức dạy học Sinh học” Tác giả V.V Đavưđôv (2000), trong cuốn Các dạng khái quát hoá trong dạy học, đã trình bày một số dạng khái quát hóa làm cơ sở cho việc hệ thống
hóa kiến thức trong dạy học [7983] Năm 2000, ở Nga trong cuốn “Sinh học đạicương – Vở bài tập cho học sinh” các tác giả T.S.Sukhova, T.A.Kozlova và
N.I.Sonhin (Т.С Сухова – Т.А Козлова – Н.И Сонин 2000, Общая Биология
рабочая тетрадь к учебнику 10 – 11 классы, Москва) đã đưa ra các bài tập về hệ
thống hóa kiến thức Hình thức hệ thống hóa mà các tác giả này sử dụng là: lập bảng
hệ thống hóa [108, tr.ang 4, 6, 8, 9, , 170 - ]; ] vẽ sơ đồ hệ thống hóa [108, trang 5,
29, 36, , 167- ]; ]; dùng hình để diễn đạt nội dung hệ thống hóa [108, tr.ang 24 -,
166- .]; ] đặc biệt là rất nhiều bài tập viết câu trả lời ngắn Các tác giả Т.В.Иванова – Г.С Калинова – А.Н Мягкова lại sử dụng sơ đồ điền từ với nhiều dấuchấm hỏi (?) để HS điền nội dung [107, tr ang 94 -, 100- 123] bên cạnh việc sửdụng các bản đồ khái niệm và sơ đồ khái quát nội dung [107 tr ang 35-37,75, 181 -
123]
Năm 2002, trong cuốn “Sinh học– Chuẩn bị cho kiểm tra” các tác giảD.S.Kalinova, A.N.Miagkova, V.S.Kuzmenko và V.Z.Reznikova đã đưa ra các đề
Trang 19kiểm tra về hệ thống hóa kiến thức Ngoài ra các tác giả khác như N M Iacôlep, N.
M Veczilin cũng cho rằng việc ôn tập là một trong những việc học tập cơ bản, nếuthiếu nó người học khó đạt tới sự thành công trong học tập Cần phải có một hệ thống
ôn tập để phát triển những khái niệm cơ bản [10050], [10151]
Ở Pháp, năm 1904 Alfred Binet đã đưa ra bài trắc nghiệm về trí thông minhtrong đó có nhiều câu hỏi về hệ thống hóa Theo Jean - Marc Denommé vàMadeleine Roy: Người học khai thác cái mà anh ta đã biết, với sự giúp đỡ củangười dạy để nắm bắt và thu lượm tri thức mới Tiến sĩ Edward de Bono, trong cuốn
“Dạy trẻ phương pháp tư duy” đã đưa ra chương trình giảng dạy tư duy gọi tắt là
CoRT, gồm 60 bài học tư duy và chia làm 6 phần Chương trình CoRT cũng baogồm cả những phần chỉ dẫn để GV có thể áp dụng giảng dạy Đặc biệt để địnhhướng sự chú ý tác giả đã đưa ra công cụ gọi tắt là CAF, nhằm làm tăng và mở rộngnhận thức [25, tr 137 – 140] Jeannette Vos – Gorden Dryden (1997), trong cuốn
“Cách mạng học tập” đã đưa ra cách sử dụng lược đồ liên tưởng thay cho ghi chép
bằng 3 điểm chính với 5 nguyên lý chính để đọc dữ liệu từ bản đồ [44, tr 162 –164]
vào Vào những năm 70 của thế kỉ XX trong các tài liệu lí luận dạy học cóchú ý khuyến khích dùng phương pháp Graph để rèn luyện tính chủ động, tích cựccho học sinh từ bậc tiểu học cho đến trung học Lí thuyết Graph có cơ sở khoa họccủa nó là hệ thống hóa Xét về mặt lịch sử, lí thuyết Graph ra đời cách đây 200 nămtrong quá trình giải các bài toán đố Nhưng trong thời gian rất lâu nó ở ngoài lềphương hướng chính của các nhà bác học, mặc dù vị trí của nó đã ở “vương quốc”Toán học Mãi đến những năm 30 của thế kỉ XX lí thuyết Graph mới được xem nhưmột ngành Toán học riêng biệt và được trình bày lần đầu tiên trong công trình củaKomig – nhà toán học Hungary Ngày nay Graph đã thâm nhập một cách hữu cơvới các mức độ khác nhau vào hầu hết Toán học hiện đại và có ứng dụng hiệu quảtrong khoa học giáo dục Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tin học nhiều nướctrên thế giới (Anh, Mĩ, Úc, Hà Lan, Bỉ, Pháp, ) đã tiến hành cài đặt chương trìnhkiểm tra kĩ năng hệ thống hóa trên máy tính Nhiều phần mềm đã được sử dụng kháphổ biến như:
Trang 20• MindManager - MindManager chỉ chạy được trên hệ điều hành Microsoft
Windows (Phần mềm này đã được sử dụng khá nhiều tại Việt Nam)
• FreeMind - Phần mềm nguồn mở, chạy trên hệ điều hành Windows, Mac
và Linux Hiện nay nhóm mã nguồn mở của HueCIT đã nghiên cứu và viết tài liệuhướng dẫn sử dụng
•ALPS (ARC Learning Profile Scales) - phần mềm lập báo cáo Đây là phần mềm
đang được sử dụng rất nhiều ở Úc dựa trên quan điểm học tập phát triển, khung họctập phát triển để lập báo cáo (www.naplan.edu.au - mẫu báo cáo cơ quan của Úc)
• phần mềm SPSS và ConQuest – Đây là những phần mềm có thể cho biết những
thông tin chính xác về năng lực của HS giúp các em học tập phát triển
• Một số phần mềm khác: ConceptDraw MINDMAP, Visual Mind, AxonIdea Processor, Inspiration,…
Quan điểm hệ thống và cấu trúc hệ thống đã được đề cập tới trong triết họcnhư: Ph.Anghen, V.I.Lênin, K.Marx, L.V Bertalanffy…
Ph Anghen đã nhấn mạnh rằng sự tác động qua lại là nguyên nhân bên trongqui định sự phát triển và vì vậy sự phát triển của tư duy lí thuyết trong khoa họckhông chỉ là sự gia công sắp xếp lại các tài liệu đã được tích lũy trong các nghiêncứu khác nhau mà chính là việc xác định các mối quan hệ biện chứng giữa các trithức đó với nhau trong một chỉnh thể toàn vẹn [384]
Trong Bút kí triết học, V.I.Lênin đã chú ý nhiều đến các khái niệm chỉnh thể,cái chung tương ứng với khái niệm hệ thống, cái riêng tương ứng với khái niệm bộphận, cũng như mối liên hệ biện chứng giữa các bộ phận với nhau và với hệ thống,giữa hệ thống này với hệ thống khác [146]
Tập “Tư bản” của K.Marx được coi là một mẫu mực kinh điển nghiên cứu
hệ thống xã hội như là chỉnh thể và các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội thểhiện trong đó các nguyên lý nghiên cứu sự toàn vẹn hữu cơ (bắt nguồn từ trừutượng đến cụ thể, sự thống nhất của phân tích và tổng hợp, của logic và lịch sử, làmsáng tỏ những mối liên hệ đa dạng và sự tương tác giữa chúng, sự tổng hợp nhữnghiểu biết cấu trúc - chức phận…) Theo ông, xã hội là một hệ thống tự thân phát
Trang 21triển, trải qua các giai đoạn khác nhau và các giai đoạn đó được gọi là hình thái kinh
tế - xã hội Tác phẩm đó là thành phần quan trọng nhất của phương pháp luận duyvật biện chứng của nhận thức K.Marx cũng đã cho rằng tính hệ thống là một thuộctính đặc trưng cho tất cả mọi sự vật, hiện tượng, quá trình của giới tự nhiên cũngnhư đời sống xã hội Nguyên lý tính hệ thống trong lý luận và phương pháp luậncủa K.Marx được xem là cơ sở của tư duy hệ thống [282]
Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh học Ludwig VonBertalanffy (tên gọi: Lý thuyết chung về những hệ thống - General Systems Theory,1968) và bắt nguồn từ Ross Ashby (Giới thiệu tới điều khiển học, 1956) Ngay từbuổi đầu hình thành lý thuyết tổng quát về hệ thống, bằng trực cảm và bằng thựcnghiệm, các nhà sáng lập như Bertalanffy, Wiener, Ashby…đã đưa ra một hệ thốngcác quan niệm và các vấn đề cơ bản như tính toàn thể, tính nổi trội (emergence), mộttính chất được xem là cơ bản nhất của các hệ thống phức tạp, có thể diễn tả vắn tắtnhư sau: một toàn thể là nhiều hơn, phong phú hơn tổng của các thành phần, tínhmở…của các hệ thống; hành vi hướng đích và cơ chế phản hồi (feedback), tính nộicân bằng, tính tổ chức và tự tổ chức của hệ thống; đồng thời đề xuất nhiều loại môhình như mô hình hệ động lực, mô hình ôtômat và ôtômat mạng, mô hình mạng nơ-ron hình thức… để khảo sát các tính chất của hành vi như ổn định, cân bằng, khảnăng tự tái sản sinh, tự tái tổ chức… bài toán điều khiển học, do đó các hệ thống điềukhiển quan trọng cả về lý thuyết và ứng dụng thực tiễn, đã là một vấn đề được tậptrung nghiên cứu trong nhiều thập niên vừa qua L.V Bertalanffy cho rằng “hệthống” là tập hợp các yếu tố liên kết với nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất
và tương tác với môi trường [10597] Quan điểm hệ thống đặt mọi sự vật, hiệntượng trong hệ thống đang vận động không ngừng và luôn tự đổi mới, giúp ta hiểu
sự vật đúng hơn, điều khiển vận động theo những quy luật vốn có của nó Theo
Miller “Hệ thống là tập hợp các yếu tố cùng với những quan hệ tương tác giữa chúng với nhau” [5666]
Trong các lĩnh vực khác nhau về Sinh học đã có rất nhiều ý kiến của các nhàkhoa học đề cập đến bản chất, vai trò của nhận thức, của tiếp cận cấu trúc hệ thống.I.Pavlop thành công trong nghiên cứu sinh lý người khi và chỉ khi đã xem con
Trang 22người như một hệ thống toàn vẹn tự điều chỉnh N.I.Vavilop đã thành công trongnghiên cứu loài khi xem xét loài như là một hệ thống mở phức tạp V N Xucatsov,I.I.Vernadxki… là những nhà Sinh học nghiên cứu đối tượng sống bằng tiếp cận hệthống Thuyết tiến hoá Sinh học do S.Darwin nghiên cứu đề xuất không chỉ đã áp
dụng vào giới tự nhiên tư tưởng phát triển mà còn khẳng định ý tưởng về sự tồn tại
các cấp độ tổ chức trên cơ thể của sự sống - là một tiền đề quan trọng nhất của tưduy hệ thống trong Sinh học Nhiều nhà khoa học đã vận dụng tiếp cận hệ thốngvào việc trình bày logic nội dung của các giáo trình Sinh học và phương pháp giảng
dạy Sinh học như: “Quan điểm hệ thống - cấu trúc vận dụng vào giảng dạy Sinh học ” (W.Voigt-SH trong nhà trường số 3 năm 1969, Berlin); “Phương pháp luận
hệ thống và ý nghĩa Sinh học của nó trong SH” (P.I Gupalo- Sinh học trong nhà trường
- số2 - 1971, Matxcova); “Vấn đề liên quan giữa sự tổ chức và tiến hoá của các hệ thống sống” (K.M.Khailop Tạp chí “những vấn đề triết học” số 4-1966, Matxcova);
“Thuyết cấu trúc và vị trí của nó trong phương pháp luận hệ thống” (A.A Manrilopxki
- Những vấn đề nghiên cứu hệ thống- Nxb Khoa học Matxcova 1970); “Mối tương quan giữa hai phương pháp luận lịch sử và cấu trúc hệ thống nhằm nghiên cứu bản chất và mức độ tổ chức của sự sống” (V.A Alecxayep) trong cuốn “Phát triển những khái niệm mức độ cấu trúc” – Nxb Khoa học Matxcova 1972.
Tuy nhiên, những vấn đề cơ sở lí luận dạy học của việc hệ thống hoá kiếnthức, đặc biệt việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh cũng chưađược quan tâm nghiên cứu thoả đáng
2.2 Tình hình nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ năm 1971 Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang là người đầu tiên đãnghiên cứu chuyển hoá grap toán học thành grap dạy học và đã công bố nhiều côngtrình trong lĩnh vực này [3457], [58], [3659], [3774], [35] Trong các công trình đó,Giáo sư đã nghiên cứu những ứng dụng cơ bản của lý thuyết grap trong khoa họcgiáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực giảng dạy Hoá học Giáo sư đã hướng dẫn nhiều
Trang 23nghiên cứu sinh và học viên cao học vận dụng lý thuyết grap để dạy một số chương,một số bài cụ thể của chương trình hoá học ở trường phổ thông
Nguyễn Kì: “Phương pháp dạy học tích cực” Nxb Giáo dục, Hà nội, 1994;
“ Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm ”, Trường CBQL Giáo dục
- Đào tạo, NCGD – số 3/1996 Trong các tài liệu này, tác giả Nguyễn Kì đã xem hệthống hóa như là một biện pháp hữu hiệu để thực hiện dạy học theo phương pháptích cực [45]
Trong lĩnh vực dạy Sinh học ở phổ thông đã có nhiều công trình nghiên cứucủa các tác giả:
Năm 1973, tại Liên Xô (cũ) tác giả Nguyễn Như Ất trong công trình luận ánPhó tiến sĩ khoa học sư phạm đã vận dụng lý thuyết grap kết hợp với phương pháp
ma trận (matrix) như một phương pháp hỗ trợ để xây dựng logic cấu trúc các kháiniệm “tế bào học” trong nội dung giáo trình môn Sinh học đại cương trường phổthông của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do tác giả kiến nghị [3]
Năm 1975, trong luận án tiến sĩ với đề tài: “Nâng cao chất lượng hình thành
và phát triển khái niệm trong chương trình Sinh vật học đại cương lớp 9, 10 phổ thông”, tác giả Trần Bá Hoành đã chỉ rõ vai trò của của vấn đề hình thành và phát
triển khái niệm, phân tích được sự khác biệt giữa chương trình Sinh vật học đạicương với chương trình các lớp dưới Tác giả cũng đưa ra căn cứ lựa chọn, phânloại các khái niệm trong chương trình Sinh vật học đại cương từ đó đề ra phươngpháp hình thành và phát triển các khái niệm Đưa khái niệm mới học vào hệ thốngkhái niệm đã biết được tác giả xem là một bước trong hình thành khái niệm [4828]
Trong cuốn “Đổi mới PPDH, chương trình và SGK”, tác giả Trần Bá Hoành đã xem
hệ thống hóa là một biện pháp quan trọng để dạy cách xử lí thông tin (đặt câu hỏi,thảo luận, hệ thống hóa) [31, tr ang 158; 87]
Theo các tác giả Trần Bá Hoành (Chủ biên) – Trịnh Nguyên Giao trong
cuốn“Đại cương phương pháp dạy học Sinh học” thì: “Bản đồ khái niệm vẽ ra các mối liên hệ, các móc xích kết nối các kiến thức mới học được với nhau, kết nối các thông tin mới với những thông tin đã có Bản đồ khái niệm giúp cho trí nhớ dễ dàng
Trang 24tái hiện các thông tin có liên quan dựa vào những khái niệm then chốt”[32, tr ang
176; 50]; Các tác giả này đã đưa ra một số bài tập để rèn kĩ năng lập bản đồ khái
niệm cho HS [32, tr ang 177 – 178; 50]
Trần Bá Hoành: “Rèn trí thông minh của học sinh qua chương biến dị – di truyền”; “Giáo trình dạy học Sinh học” (1972, 1975, 1979, 1982, 1985, 1993);
“Một số cơ sở lí thuyết của các phương hướng cải cách môn Sinh học phổ thông”;
“Phát huy tính tích cực của học sinh trong chương trình Sinh học 12” Bằng hệ
thống các bảng, sơ đồ, các câu hỏi – đáp, các chỉ dẫn cụ thể, hệ thống các tài liệutrên là những minh chứng sinh động về hệ thống hóa kiến thức trong dạy học sinhhọc phổ thông
Theo các tác giả Nguyễn Quang Vinh (Chủ biên) – Cao Gia Nức –Trần Đăng
Cát, trong cuốn“Phương pháp dạy học môn Sinh học ở Trung học Cơ sở” thì: Bài
củng cố, hoàn thiện kiến thức có chức năng ôn tập, củng cố, hệ thống hóa, khái quáthóa và bổ sung các lỗ hổng kiến thức cho học sinh, đồng thời nâng cao những kiếnthức học sinh đã được học, rèn luyện phát triển tư duy cho học sinh [5380]
Năm 1973, tại Liên Xô (cũ) tác giả Nguyễn Như Ất trong công trình luận ánPhó tiến sĩ khoa học sư phạm đã vận dụng lý thuyết grap kết hợp với phương pháp
ma trận (matrix) như một phương pháp hỗ trợ để xây dựng logic cấu trúc các kháiniệm “tế bào học” trong nội dung giáo trình môn Sinh học đại cương trường phổthông của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do tác giả kiến nghị [543]
Tác giả Đinh Quang Báo có những nghiên cứu về: “Phát triển hoạt động nhận thức của học sinh trong các bài Sinh học ở trường phổ thông Việt Nam”;
“Dạy học Sinh học ở trường phổ thông theo hướng hoạt động hoá người học” Năm 1986 trên tạp chí NCGD số 2, có giới thiệu “Hình thành các biện pháp học tập trong dạy học sinh học” Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành :“ Lí luận dạy học sinh học” Nxb GD, 1996 Nguyễn Đức Thành (chủ biên) : “ Dạy học Sinh học ở THPT ” tập 2, Nxb GD, 2002 Các tác giả này đã khẳng định hệ thống hóa là một trong các biện pháp
học tập trong dạy học sinh học, đưa ra phương pháp dạy bài ôn tập tổng kết theo hình thức
hệ thống hóa [718706; 69]
Trang 25Nguyễn Kì: “Phương pháp dạy học tích cực” Nxb Giáo dục, Hà nội, 1994; “
Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm ”, Trường CBQL Giáo dục
-Đào tạo, NCGD – số 3/1996 Trong các tài liệu này, tác giả Nguyễn Kì đã xem hệthống hóa như là một biện pháp hữu hiệu để thực hiện dạy học theo phương pháptích cực [6945]
Luận án tiến sỹ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh: Nâng cao hiệu quả dạy học giải phẫu - sinh lý người ở trung học cơ sở bằng áp dụng phương pháp Graph, tác giả đã sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống làm cơ sở
phương pháp luận của việc chuyển hoá Gráp toán học thành Gráp dạy học Sinh học.Căn cứ vào đặc thù của phương pháp tiếp cận cấu trúc hệ thống là hướng nghiêncứu vào việc khám phá tính chỉnh thể của các đối tượng và các cơ chế đảm bảo tínhchỉnh thể đó; chuyển hoá Gráp toán học thành Gráp dạy học được tác giả thực hiệntheo những nguyên tắc cơ bản của tiếp cận cấu trúc hệ thống Vận dụng tiếp cận cấutrúc hệ thống để phân tích đối tượng thành các yếu tố cấu trúc, xác định các đỉnhcủa Gráp trong một hệ thống mang tính lôgíc khoa học, qua đó thiết lập các mối quan
hệ của các yếu tố cấu trúc trong một tổng thể [8320]
Luận văn thạc sĩ: “Ứng dụng lí thuyết Graph xây dựng và sử dụng sơ đồ để
tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Sinh học ở THPT” của
Phạm Thị My (2000) Trong đó tác giả chú ý đến việc xây dựng các sơ đồ về cácnội dung kiến thức trong chương trình SH phổ thông và đưa ra một số phương pháp
và biện pháp sử dụng sơ đồ mà sự phân loại sơ đồ dựa vào tiêu chí nội dung kiếnthức [9749]
Luận văn thạc sĩ: “Xây dựng và sử dụng bảng hệ thống trong dạy học Sinh học 10” của Trần Hoàng Xuân (2003) Tác giả đã nêu khái niệm rồi phân tích vai
trò của bảng hệ thống trong việc dạy của GV và việc học của HS [85, tr ang 14 –
Trang 26khách quan, hình thành khái niệm, quy luật khoa học”[34, tr ang 10; 95] Tác giả đãđưa ra 3 nguyên tắc và 4 biện pháp để rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức chohọc sinh 12 THPT trong dạy tiến hóa [34, tr ang 17 – 36;95].
Gần đây, để đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theohướng tích cực các nghiên cứu ứng dụng tổ chức bài tổng kết một lần nữa được chú
ý Tiêu biểu là các công trình của Mai Văn Hoá: “Những giải pháp cơ bản bồi dưỡng phương pháp tự học cho học viên đào tạo sĩ quan ở các trường đại học quân sự”, Hoàng Thị Lợi: “Biện pháp rèn luyện kỹ năng ôn tập cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú”, Đào Nguyên: “ Sử dụng phương pháp graph kết hợp một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn tập tổng kết hoá học 11 THPT” Các nghiên
cứu đều cho rằng, ôn tập có vai trò hết sức quan trọng đối với việc củng cố, mởrộng, đào sâu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, đồng thời qua đó mà điều chỉnh, sửa chữanhững thiếu sót trong học tập cho người học Trong dạy học Sinh học THPT đã cónhiều công trình nghiên cứu vận dụng việc xây dựng bảng hệ thống, sơ đồ để vừa
hệ thống hóa kiến thức, vừa như là một biện pháp dạy học phát triển tư duy logiccho học sinh Hiện nay có rất nhiều loại sách, bài tập, thiết kế giáo án, tài liệu thamkhảo, trình bày có hệ thống các câu hỏi lí thuyết, bài tập, phương pháp giải mỗi loại,
sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức, có tác dụng tốt cho việc giảng dạy, học tập mônSinh học như: Vũ Đức Lưu, Đặng Hữu Lanh, Lê Đình Trung, Bùi Văn Sâm, TrịnhNguyên Giao, Nguyễn Minh Công, Nguyễn Thu Hòa - Nguyễn Thị Là, Đỗ ThịPhượng, …
Riêng trong lĩnh vực dạy Sinh học 9 ở THCS đã có các công trình nghiêncứu của một số tác giả:
Nhóm tác giả do PGS.TS Lê Đình Trung (Chủ biên) trong cuốn “Tự học, tự kiểm tra theo chuẩn kiến thức kĩ năng môn Sinh học 9” năm 2009, đã hướng dẫn
HS tự học theo hệ thống câu hỏi và bài tập được thiết kế theo chuẩn kiến thức kĩnăng môn Sinh học 9 với 228 câu hỏi [73, tr ang 12 – 110; 78]
Ngô Văn Hưng: “Dạy học Sinh học 9” Nxb Giáo dục - 2005, trong tài liệu
này, tác giả đã chú ý phân tích kĩ năng hệ thống hóa và minh họa bằng nhiều sơ đồ kháiniệm, bảng tổng kết, hình ảnh hệ thống hóa, câu hỏi khái quát theo kĩ năng hệ thống hóa
Trang 27[9036] Để giúp GV dạy chương trình Sinh học 9 mới, tác giả Ngô Văn Hưng đã
cùng với một nhóm GV giỏi biên soạn cuốn“Giới thiệu giáo án Sinh học 9” – Nxb
Hà Nội 2005, trong cuốn này đã hướng dẫn GV cách lập bảng so sánh hệ thống hóa,
cách lập bản đồ khái niệm dùng trong các bài ôn tập tổng kết [9138] Nhiều côngtrình của Ngô Văn Hưng và các tác giả khác đã hướng dẫn HS rèn luyện kĩ năng hệthống hóa thông qua việc HS phải trả lời các câu hỏi hay làm các bài tập trong quátrình học tập môn Sinh học 9 [891], [9237], [9339] Trong các tài liệu này, các tácgiả đã chú ý phân tích kĩ năng hệ thống hóa và minh họa bằng nhiều sơ đồ khái niệm,bảng tổng kết, hình ảnh hệ thống hóa, câu hỏi khái quát theo kĩ năng hệ thống hóa
Trang 28Nhận xét chung
Từ tổng quan các tài liệu trên về lý thuyết hệ thống, hệ thống hoá, kĩ năng hệthống hóa trong nhận thức và trong dạy học, có thể rút ra một số kết luận liên quanđến việc nghiên cứu đề tài luận án của chúng tôi là:
- Bản chất của hoạt động nhận thức khoa học là tìm hiểu thu nhận thông tin,gia công trí tuệ, xử lí thông tin để hình thành những tư tưởng, hình thức của tư duynhư khái niệm, phán đoán, qui luật, định luật,… phản ánh bản chất sự vật, hiệntượng khách quan Theo quan điểm của Pavlop thì sự kiện là “ không khí” của nhàkhoa học, có sự kiện nhà khoa học xử lí bằng các thao tác tư duy để đi đến nhữngkhái quát khoa học về bản chất đối tượng nghiên cứu Trong quá trình xử lí thôngtin đó không thể không trải qua quá trình hệ thống hóa nội dung thông tin Như vậy
hệ thống hóa là biện pháp logic cơ bản trong chuỗi thao tác trí tuệ xử lí thông tin đểdẫn tới các kết luận khái quát, khoa học
Sự kiện phân tích – tổng hợp đối chiếu – so sánh … hệ thống hóa
khái quát hóa – trừu tượng hóa hình thành các hình thức tư tưởng (các kháiniệm, qui luật, định luật, … khoa học)
- Năng lực hệ thống hóa của chủ thể nhận thức được đánh giá bằng trình độ
kĩ năng, kĩ xảo hệ thống hóa Kĩ năng hệ thống hóa được hình thành, phát triểntrong quá trình hoạt động nhận thức và đến lượt mình nó lại là công cụ của nhậnthức thế giới
- Dạy học thực chất là quá trình tổ chức học sinh tìm kiếm, thu nhận, xử líthông tin bằng các thao tác logic Như vậy dạy học không truyền thụ kiến thức cósẵn mà bằng hoạt động xử lí thông tin, học sinh chiếm lĩnh tri thức khoa học Dạycông cụ logic cho học sinh có thể ví như cung cấp “cần câu” để học sinh tự “câucá” Đó là bản chất của phương pháp dạy học tích cực
- Sinh học ngày càng phát triển theo xu hướng khái quát lí thuyết khắc phục dầnquan điểm sinh học mô tả Sự kiện, hiện tượng, tài liệu cụ thể về các đối tượng sinh học
là “không khí” để các nhà sinh học hệ thống hóa, khái quát hóa thành các khái niệm, quiluật sinh học Chương trình sinh học phổ thông quán triệt xu hướng đó cả về nội dung, cả
Trang 29về phương pháp dạy học Các tài liệu này đã chỉ ra rèn kĩ năng hệ thống hóa kiến thứccho học sinh là một trong các yêu cầu của dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Đề xuất cấu trúc các hành động cấu thành kĩ năng hệ thống hoá, xây dựngqui trình và các biện pháp rèn luyện HS các kĩ năng hệ thống hoá kiến thức nhằmnâng cao chất lượng kiến thức, và phát triển hoạt động học tập tích cực của học sinhtrong dạy học Sinh học 9
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Kĩ năng hệ thống hoá, qui trình và các biện pháp rèn luyện học sinh kĩ năng hệthống hoá kiến thức trong quá trình dạy học Sinh học 9
4.2 Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 9 ở một số trường THCS tại 11 tỉnh và thành phố đại diện chocác vùng, miền trong cả nước: Tuyên Quang, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Gia Lai, Bến Tre và Thành phố
Hồ Chí Minh
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xác định đúng các hành động cấu thành kĩ năng hệ thống hóa kiến thức
và tổ chức các biện pháp rèn luyện học sinh kĩ năng đó theo một qui trình hợp lí thì
sẽ vừa tổ chức được các hoạt động học tập tích cực, tự lực cho HS; vừa dạy cáchhọc vừa nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh
Trang 306 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
6.1 Nghiên cứu thực tiễn: Tiến hành khảo sát thực tế rèn luyện kĩ năng hệ thống
hóa trong dạy học Sinh học 9 của GV ở một số trường THCS tại 11 tỉnh và thànhphố
6.2 Nghiên cứu lí thuyết: Đề xuất “Quy trình hệ thống hóa kiến thức” và các biện
pháp rèn luyện học sinh kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy học Sinh học 9
- Nhiệm vụ hệ thống hóa kiến thức trong dạy học nói chung, trong dạy họcSinh học 9 nói riêng
- Các hành động cấu thành kĩ năng hệ thống hóa kiến thức
- Các biện pháp tổ chức hành động để rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức
- Qui trình hợp lí để rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức
- Các tiêu chí đánh giá chất lượng rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa
6.3 Nghiên cứu thực nghiệm
- Thực nghiệm quy trình rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạyhọc sinh học 9 ở một số trường THCS tại 11 tỉnh và thành phố
- Đánh giá tác dụng của các biện pháp, qui trình đã đề xuất theo những tiêuchí đã xác định (như phần nghiên cứu lí thuyết đã nêu), kiểm tra giả thuyết đã nêu
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp khảo sát thực trạng
- Điều tra bằng phiếu hỏi về thực trạng dạy kĩ năng hệ thống hóa kiến thứctrong dạy học sinh học 9 ở một số trường THCS tại 11 tỉnh và thành phố
- Quan sát sư phạm: Dự giờ, phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh THCS
để phát hiện những thành công và hạn chế trong việc rèn kĩ năng hệ thống hóa kiếnthức trong trường THCS hiện nay
- Sử dụng phần mềm Microsoft Excel, SPSS và chương trình Conquest đểphân tích dữ liệu rút ra những kết luận nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về dạy học Sinh học 9,phân tích chương trình, chuẩn kiến thức kĩ năng và sách giáo khoa Sinh học 9
Trang 31- Nghiên cứu tổng quan và phân tích các tài liệu (tâm lí học, giáo dục học, líluận dạy học Sinh học,…) liên quan đến việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp GV và HS, sử dụng phiếu điềutra, trao đổi với các cán bộ quản lí giáo dục Tham khảo ý kiến của những chuyên gia
có kinh nghiệm về phương pháp dạy học Sinh học nói chung và rèn kĩ năng hệ thốnghóa kiến thức nói riêng
7.3 Phương pháp thực nghiệm và thu thập số liệu
- Soạn giáo án dạy thực nghiệm và đối chứng
- Dạy thực nghiệm và đối chứng
- Thu thập số liệu từ quá trình thực nghiệm
Trang 327.4 Phương pháp xử lí kết quả điều tra và thực nghiệm.
- Phương pháp sử dụng toán thống kê để xử lí kết quả cho biết độ tin cậy vềmặt định lượng
- Phân tích kết quả thực nghiệm để có nhận xét, đánh giá định tính về chấtlượng kiến thức và kĩ năng hệ thống hóa được hình thành ở học sinh
- Sử dụng phần mềm Microsoft Excel, SPSS và chương trình Conquest đểphân tích dữ liệu rút ra những kết luận nghiên cứu
- Sử dụng phần mềm SPSS và chương trình Conquest để phân tích dữ liệu,điều chỉnh câu hỏi ứng đáp và các mô hình hồi qui tiềm ẩn
8 THỜI GIAN VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu của đề tài luận án: Bắt đầu từ tháng 12 03 năm 20056đến tháng 11 10 năm 2009
Giới hạn nghiên cứu của đề tài luận án: chỉ ra các hành động cấu thành kĩnăng hệ thống hóa kiến thức; các biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiếnthức; xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa; dạythực nghiệm Sinh học 9 ở một số trường THCS
9 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Phần I Mở đầu
Phần II Kết quả và thảo luận
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiếnthức
Chương 2: Rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa trong quá trình tổ chức các hoạt độngdạy học Sinh học 9
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 33- Xác định các biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức.
- Xác định qui trình hợp lí để rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức (logiccác hành động phù hợp với nội dung, chương trình và SGK)
- Xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa
- Các bài dạy thực nghiệm (trình tự logic khách quan kết hợp logic sư phạmphù hợp nội dung và đối tượng học sinh)
- Đề xuất nhiều phương án khác nhau để dạy tất cả các bài trong sách giáokhoa Sinh học 9, biên soạn hàng trăm câu hỏi trắc nghiệm khách quan và trắcnghiệm tự luận Các kết quả nghiên cứu này đã được tác giả luận án đăng trong cáctạp chí và sách chuyên khảo cũng như các tài liệu tập huấn cho GV sinh học THCStoàn quốc trong những năm qua
Trang 34Phần II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hệ thống là gì? Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên [56, tr.ang 418;56] nêu khái niệm
“Hệ thống” có 4 nghĩa:
- Tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệhoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất (ví dụ: Hệ thống tínhiệu giao thông, hệ thống đường sắt, hệ thống đo lường, hệ thống tổ chức)
- Tập hợp những tư tưởng, nguyên tắc, qui tắc liên kết với nhau một cáchlogic, làm thành một thể thống nhất (ví dụ: Hệ thống tư tưởng, hệ thống các qui tắcngữ pháp)
- Phương pháp, cách thức phân loại, sắp xếp sao cho có trật tự logic (ví dụ:
Hệ thống phân loại thực vật)
- Tính chất có trật tự, có quan hệ logic giữa các yếu tố (ví dụ: học tập có hệthống, kiến thức thiếu hệ thống, sai lầm có hệ thống)
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên [56, tr.ang 418;56] nêu khái niệm
“Hệ thống hóa” có nghĩa: làm cho trở nên có hệ thống (ví dụ: Hệ thống hóa nhữngkiến thức đã học được)
Từ điển tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên: “Hệ thống” khi
là một danh từ có nghĩa: tập hợp nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ trong một chỉnhthể (ví dụ: Hệ thống tổ chức); Khi là một động từ thì “Hệ thống hóa” có nghĩa: làmcho có hệ thống (ví dụ hệ thống lại các phần đã trình bày) [86, tr ang 321;86].Theo từ điển Bách khoa Việt Nam Nxb Từ điển bách khoa - Hà Nội
2002, Tập 2, trang 253: “ H ệ thống là một tập hợp những yếu tố, những bộ
Trang 35phận có mối liên hệ qua lại với nhau, tác động lẫn nhau và tạo thành một chỉnh thể nhất định”
Như vậy, có thể phân biệt một cách khái quát:
+ “Hệ thống” là danh từ dùng để chỉ một tập hợp các phần tử có mối quan hệ,tác động tương hỗ theo những quy luật nhất định trở thành một chỉnh thể
+ “Hệ thống hóa” là động từ có nghĩa: làm cho (cái gì đó) trở nên có hệ thống.+ “Tính hệ thống” chỉ tính chất của một sự vật, hiện tượng được thể hiện cótrật tự, có quan hệ logic giữa các yếu tố
Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng cóquan hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất Hệ thống hóa là làm cholớp sự vật hiện tượng trở nên hệ thống, là biện pháp sắp xếp một cách logic các yếu
tố, các nội dung thông tin về các đối tượng, hiện tượng nghiên cứu được chỉnh thểhóa theo một quan điểm nhất định nhờ đó phản ánh được đầy đủ đặc điểm bản chất
Hệ thống hóa chỉ thực hiện được trên cơ sở thông tin được xử lí qua phân tích,tổng hợp Hệ thống hóa có thể diễn đạt bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau:bảng biểu, sơ đồ logic dạng bản đồ khái niệm, sơ đồ hình vẽ, phim,
Trong dạy học, khi tiếp cận với một nguồn thông tin nào đó người tathường phân tích để sắp xếp chúng theo những quan hệ nhất định tạo thành một
tổ hợp hệ thống logic nhờ đó cho ta một kiến thức gọi là hệ thống hoá kiếnthức Như vậy hệ thống hoá kiến thức là đặt mỗi kiến thức vào đúng tọa độtrong mối quan hệ nhất định Hệ thống hoá kiến thức là một quá trình thực hiệncác thao tác logic để sắp xếp kiến thức vào một hệ thống nhất định để cho mộthiểu biết mới sâu sắc về bản chất đối tượng nghiên cứu
Trang 361.1.2 Vai trò của việc hệ thống hoá kiến thức trong dạy học
Theo A.M.Xokhor thì cấu trúc một đoạn tài liệu giáo khoa là tổ hợp nhữngmối liên hệ bên trong các khái niệm và mối quan hệ qua lại cuả các phần tử chứađựng trong đoạn tài liệu đó GV cần tổ chức cho HS nhận thức được các mối quan
hệ đó Trong dạy học việc hệ thống hóa kiến thức được sử dụng để giáo viên giacông nội dung tài liệu, sách giáo khoa một cách cô đọng nhưng vẫn tải được nhiềuthông tin từ đó tổ chức HS lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc Với công cụ đó GV
tổ chức cho học sinh nghiên cứu các nguồn tài liệu và diễn đạt những thông tin đọcđược, gia công nó theo một định hướng nhất định để rút ra được những kiến thứcmới về tính chất, mối quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật và hiện tượng Hệthống hoá kiến thức giúp HS chuyển các kiến thức từ tái hiện giáo khoa thành trithức mang tính hệ thống, chế biến theo một qui trình cá nhân nhận thức phù hợpđược chiết xuất từ năng lực của người học
Như vậy, việc hệ thống hoá kiến thức giúp HS tìm kiến thức mới, củng cốnhững điều đã học, sắp xếp chúng thành một hệ thống chặt chẽ, đồng thời hìnhthành kiến thức dưới một góc độ mới, biết cách diễn đạt ý tưởng của mình bằngngôn ngữ của chính mình khi nghiên cứu nội dung kiến thức Sinh học Như vậy hệthống hoá kiến thức không chỉ rèn luyện cho HS kĩ năng tư duy logic để lĩnh hộikiến thức mà còn rèn luyện HS kĩ năng diễn đạt ý tưởng bằng những hình thức ngônngữ phong phú hiệu quả Trong dạy học việc hệ thống hoá kiến thức sẽ có tác dụngrèn luyện học sinh những phẩm chất trí tuệ như:
- Rèn luyện kĩ năng đọc tóm tắt tìm ra ý chính, cơ bản, cốt lõi nhất trong tàiliệu, sách giáo khoa; đồng thời thiết lập được mối quan hệ giữa các thành phần kiếnthức Quá trình này đòi hỏi học sinh phải vận dụng thành thạo các thao tác tư duy cơbản như: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát, trừu tượng hoá, xác lập các mốiquan hệ, diễn đạt nội dung bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau, … Đây làquá trình gia công chuyển hoá tri thức sách vở thành tri thức của bản thân Như vậy,việc hệ thống hoá kiến thức giúp học sinh sử dụng được các nguồn tài liệu đa dạng,phát triển tư duy logic, tư duy hình tượng, tư duy biện chứng
Trang 37- Qua việc hệ thống hoá kiến thức, học sinh biết cách đối chiếu, so sánh sựvật hiện tượng để tìm ra quy luật, nghĩa là rèn luyện học sinh khả năng khái quáthoá rút ra kết luận.
- Việc hệ thống hoá kiến thức còn giúp cho học sinh vừa chiếm lĩnh kiếnthức, vừa hình thành phương pháp để đi tới chiếm lĩnh kiến thức cho bản thân, pháttriển năng lực tiếp nhận và giải quyết vấn đề, năng lực tự học và thói quen tự học,sáng tạo, giúp cho học sinh có thể tự học suốt đời Đây là một trong những yêu cầucăn bản của lí luận dạy học nói chung và lí luận dạy học Sinh học nói riêng
1.1.3 Kĩ năng và kĩ năng hệ thống hóa kiến thức
1.1.3.1 Kĩ năng
Là khả năng vận dụng có mục đích và sáng tạo những kiến thức thu nhậnđược trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế để giải quyết một nhiệm vụ mới Kĩnăng vừa thể hiện kĩ thuật hành động, vừa thể hiện năng lực của con người tronghoạt động nhận thức, hoạt động xã hội Kĩ năng được hình thành bằng con đườngluyện tập, tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong nhữngđiều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện thay đổi
Kĩ năng bậc thấp được hình thành lần đầu tiên qua các hoạt động giản đơn.Khi kĩ năng đạt tới thành thạo, khéo léo thì trở thành kĩ xảo Và khi có tri thức kếthợp với kĩ xảo sẽ nảy sinh kĩ năng bậc cao
Theo K.K.Platonov; G.G.Golubev có 5 mức độ hình thành kĩ năng như sau:Mức độ 1: Hình thành kĩ năng sơ đẳng, ý thức được mục đích hành động, biếtđược cách thức thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết đã có (kĩ năng bậc thấp)
Mức độ 2: Biết cách làm nhưng chưa thành thạo Có thể hiểu biết phươngthức hành động, sử dụng được những kĩ xảo đã có
Mức độ 3: Có hàng loạt kĩ năng nhưng còn mang tính riêng lẻ, chưa kết hợpđược với nhau
Mức độ 4: Có kĩ năng phát triển cao Có sự phối hợp và sử dụng sáng tạovốn hiểu biết và các kĩ xảo đã có Biết lựa chọn kĩ năng phù hợp với mục đích
Mức độ 5: Có tay nghề cao, sử dụng thành thạo, sáng tạo các khả năng khác nhau
Trang 38Kĩ năng và năng lực
Theo gốc Hán Việt “kĩ” là khéo léo, “năng” là có thể Kĩ năng là khả năngvận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn Kĩnăng đạt tới mức hết sức thành thạo gọi là kĩ xảo Năng lực người giáo viên là khảnăng thực hiện các hoạt động dạy học/ giáo dục với chất lượng cao Năng lực bộc lộtrong hoạt động và gắn liền với một số kĩ năng tương ứng
Kĩ năng có tính riêng lẻ, cụ thể, năng lực có tính tổng hợp khái quát; kĩ năng
và năng lực đều là sản phẩm của quá trình đào tạo rèn luyện (bao gồm cả tự đào tạo,
tự rèn luyện) Kĩ năng đạt mức thành thạo thì thành kĩ xảo, năng lực đạt mức caođược xem là tinh thông nghề nghiệp
Giáo viên là chuyên gia của việc dạy học Năng lực của giáo viên (năng lực
sư phạm) bao gồm: năng lực dạy học; năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán, đánhgiá, tư vấn; năng lực phát triển nghề nghiệp (riêng) và năng lực phát triển trườnghọc Một đặc điểm của lao động sư phạm là sáng tạo Giáo viên không thể máy móc
áp dụng cùng một nhóm kĩ năng đã biết vào mọi tình huống Giáo viên phải biết lựachọn nội dung, phối hợp các kĩ năng thích hợp để hoàn thành một nhiệm vụ dạyhọc/ giáo dục trong hoàn cảnh xác định mới có thể thành công [30]
+ Kĩ năng dạy học: Kĩ năng dạy học nói tới khả năng thực hiện có kết quả
một số thao tác hay một loạt thao tác của một hành động giảng dạy bằng cách lựachọn, vận dụng những tri thức những cách thức và quy trình hợp lý
+ Các nhóm kĩ năng dạy học:Mỗi khâu của quá trình dạy học có những nhóm
kĩ năng dạy học tương ứng: kĩ năng chuẩn bị lên lớp; kĩ năng lên lớp; kĩ năng thực hiệncác hình thức tổ chức dạy học khác; kĩ năng kiểm tra đánh giá kết quả dạy học
Trong mỗi nhóm lại gồm những kĩ năng tương ứng, ví dụ kĩ năng chuẩn bịbài lên lớp có các kĩ năng: xác định mục tiêu bài học; phân tích chương trình vàsgk; nghiên cứu đặc điểm, trình độ học sinh; xây dựng kế hoạch dạy học; soạn giáoán; chuẩn bị các phương tiện dạy học
Trang 391.1.3.2 Kĩ năng hệ thống hoá kiến thức
Là khả năng phân tích và sắp xếp một cách logic các yếu tố, các nội dungthông tin về đối tượng, hiện tượng theo một quan điểm nhất định nhờ đó cho chủthể nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về đối tượng đó
- Cấu trúc kĩ năng hệ thống hóa
+ Xác định mục đích, nội dung cần hệ thống hóa (hệ thống hóa nhằm đạtmục tiêu gì ?; hệ thống hóa những nội dung nào? hệ thống hóa nội dung một mục,một bài, một chương, một phần hay toàn bộ chương trình?)
+ Phân tích các yếu tố có giá trị như là các đơn vị thông tin có thể sắp xếpvào một chỉnh thể nhất định
+ Xác định và triển khai hình thức diễn đạt bộc lộ được logic sắp xếp cácđơn vị thông tin theo một định hướng đã được xác định
+ Rút ra các kết luận từ kết quả của hệ thống hóa
Như vậy thực chất của việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng hệ thống hóa là
tổ chức học sinh thực hiện các hành động sau đây:
+ Rèn luyện xác định mục đích, nội dung cần hệ thống hóa
+ Phân tích các đơn vị nội dung với một giá trị tương thích với mục đích hệthống hóa vừa xác định (thực chất là xác định và đưa ra nguyên tắc sắp xếp các đơn
vị thông tin trong hệ thống)
+ Tổ chức học sinh xác định hình thức diễn đạt hệ thống hóa
+ Rút ra kết luận từ các thông tin được hệ thống hóa ở trên
Chúng ta phân tích từng hành động đã nêu để thấy rõ thực chất của việc rènluyện cho học sinh kĩ năng hệ thống hóa như sau:
- Rèn luyện xác định mục đích, nội dung cần hệ thống hóa
+ Xác định hệ thống hóa nhằm đạt mục tiêu gì ? (hệ thống hóa nhằm đạt tớikiến thức về một nội dung trong bài học; hệ thống hóa kiến thức nhằm củng cố ôntập cuối bài học; hệ thống hóa kiến thức nhằm ôn tập chương; hệ thống hóa kiếnthức nhằm ôn tập chuẩn bị cho kiểm tra giữa kì hay cuối kì, cuối năm học)
Trang 40+ Phân tích nội dung sách giáo khoa (chủ đề, một bài, một chương, mộtphần) để xác định mạch logic nội dung theo một định hướng nhất định.
+ Lập mối quan hệ giữa các khái niệm
- Phân tích các đơn vị nội dung với một giá trị tương thích với mục đích
hệ thống hóa vừa xác định.
+ Liệt kê các khái niệm, tìm mối quan hệ để lập bản đồ khái niệm
+ Phân tích các tiêu chí để so sánh các đối tượng
+ Phân tích các yếu tố hình thái, cấu trúc tương ứng với chức năng
+ Phân tích các yếu tố logic của một cơ chế, một quá trình sinh học
+ Chỉ ra mối quan hệ giữa các loại chức năng
- Tổ chức học sinh xác định hình thức diễn đạt nội dung hệ thống hóa
+ Diễn đạt bằng sơ đồ logic dạng bản đồ khái niệm
+ Diễn đạt bằng bảng so sánh, bảng phân loại, bảng hệ thống hóa,
+ Diễn đạt bằng sơ đồ hình
+ Diễn đạt bằng đồ thị
1.1.3.3 Kỹ năng diễn đạt nội dung hệ thống hóa
- Vai trò của kỹ năng diễn đạt nội dung hệ thống hóa
+ Đây là một biện pháp để tích cực hóa hoạt động nhận thức, là con đườnghình thành tri thức Kỹ năng diễn đạt nội dung khoa học vừa là tri thức, vừa là phẩmchất năng lực tự học của học sinh Diễn đạt nội dung khoa học bằng ngôn ngữ hợp
lý là mức độ cao của tri thức
+ Vận dụng các biện pháp diễn đạt nội dung để tổ chức cho học sinh lĩnh hộicác kiến thức mới
+ Có thể dùng các biện pháp này để kiểm tra chất lượng thông hiểu tài liệugiáo khoa Đạt được kỹ năng này, tài liệu trở thành đối tượng sở hữu của học sinh
- Kỹ năng diễn đạt nội dung hệ thống hóa
Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnhvực nào đó vào thực tế Đó là sự chín muồi của các phẩm chất, nhân cách và nănglực của mỗi cá nhân trong một hoạt động nhất định Trong hoạt động học tập khihọc sinh tự xác định hình thức diễn đạt ý tưởng của mình là đã chứng tỏ trình độ