1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định của pháp luật hiện hành về btth do nhà cửa công trình xây dựng gây ra

64 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Bồi Thường Thiệt Hại Do Nhà Cửa, Công Trình Xây Dựng Gây Ra
Tác giả Hoàng Thị Lan Hương
Người hướng dẫn Ts. Trần Thị Huệ, Giảng Viên
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 76,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại là việc làm có ý nghĩa quan trọng và cũng là m

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Bài khóa luận này được hoàn thành dưới sự giúp đỡ

nhiệt tình của Ts Trần Thị Huệ – giảng viên bộ môn Luật dân

sự, khoa Luật dân sự, trường đại học luật Hà Nội, các thầy cô

giáo trong trường và các bạn sinh viên Qua đây, tôi xin được

gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất, lời chúc sức khỏe và hạnh phúc tới

Ts Trần Thị Huệ, các thầy cô và các bạn sinh viên.

Xin cảm ơn

Hoàng Thị Lan Hương

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 2

BLDS Bộ luật dân sự

BTNN Bồi thường nhà nước

LBTNN Luật bồi thường nhà nước

Trang 3

Trang

LỜI MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

Chương I: KHÁI NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM BTTH NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ

TRÁCH NHIỆM BTTH DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC

GÂY RA.

1.1 Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng

1.2 Trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra

1.2.1, Khái niệm

1.2.2, Đặc điểm

1.2.3, Giá trị quy định của pháp luật1.3 Khái quát các quy định của pháp luật về BTTH do nhà cửa,

công trình xây dựng khác gây ra

1.4 So sánh trách nhiệm BTTH do hành vi gây thiệt hại trái pháp

luật trong xây dựng nhà cửa, công trình xây dựng gây ra và trách nhiệm

BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

1.4.1 Những điểm giống nhau

1.4.2 Những điểm khác nhau

Chương II: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BTTH

DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA

Trang 4

2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công

trình xây dựng khác gây ra

2.2 Chủ thể trong quan hệ BTTH do nhà cửa, công trình xây

dựng khác gây ra

2.2.1, Người phải chịu trách nhiệm bồi thường

2.2.2, Người bị thiệt hại

2.3 Năng lực và nguyên tắc BTTH do nhà cửa, công trình xây

2.4.2, Mức bồi thường thiệt hại

2.5 Xác định thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây

ra

Chương III: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN GIẢI

QUYẾT, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN.

3.1 Thực trạng quy định của pháp luật

3.2 Thực tiễn giải quyết việc BTTH do nhà cửa, công trình xây

dựng khác gây ra

Trang 5

3.2.1, Thực tiễn giải quyết BTTH do nhà cửa, công trình xây

Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do tài sản gây ra nói riêng là một nội dung rất quan trọng

trong pháp luật Dân sự Việt Nam cũng như đa số quốc gia trên thế giới

Nó trở thành chủ đề khá thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học pháp

lý cũng như các nhà thực tiễn áp dụng pháp luật Đã có nhiều công trình

khoa học nghiên cứu về nội dung này hoặc liên quan đến nội dung này,

được thể hiện ở các cấp độ khác nhau như: Trách nhiệm bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng vài nét về thực tiễn xét xử và hướng hoàn thiện - Tạp

chí Kiểm sát, số 5/2003, trang 14,15,16 của Nguyễn Thanh Bình; Cần sửa

đổi, bổ sung chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng- Tạp chí Luật

học Trường Đại học Luật Hà Nội của Trần Thị Huệ; Luận văn cao học

-Những vấn đề cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng của Lê Thị Mai Anh; Đề tài khoa học cấp trường (ĐH Luật Hà nội)

– Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Trang 6

do Ts Trần Thị Huệ chủ biên Tuy nhiên, trách nhiệm BTTH do nhà cửa,

công trình xây dựng khác gây ra là một loại trách nhiệm BTTH do tài sản

gây ra lại chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể nào Trên cơ sở những công

trình nghiên cứu về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra nói riêng và trách

nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung bài khóa luận sẽ đưa ra một số

vấn đề lý luận cơ bản, các quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng,

những hạn chế và hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về BTTH

do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra giúp bổ sung thêm vào sự

hoàn thiện của các công trình nghiên cứu về vấn đề BTTH do tài sản gây

ra

Trong những năm gần đây cùng với tốc độ phát triển của các đô thị,

đặc biệt là ở các thành phố lớn việc đầu tư xây dựng các công trình nhà

cao tầng phát triển khá nhanh Để quản lý công tác xây dựng nói chung và

quản lý các công trình xây dựng nhà cao tầng ở đô thị nói riêng, Nhà nước

đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật; đến nay về cơ bản hệ

thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ và đồng bộ Tuy

nhiên, gần đây trong việc xây dựng nhà cao tầng, đặc biệt là xây dựng các

tầng hầm của các nhà cao tầng còn có nhiều vi phạm đã để xảy ra sự cố

ảnh hưởng lớn đến an toàn công trình và các công trình lân cận gây thiệt

hại về người và tài sản gây bức xúc trong xã hội

Trên thế giới và cả ở nước ta có không ít công trình xây dựng kể cả

những công trình hiện đại, phức tạp đã bị sự cố Có thể kể ra những sự cố

điển hình như sập đổ Bể bơi AquaPark ở Matxcơva; sập Ga Hàng không

Sân bay Charles de Gaulle ở Paris; sập hai nhịp neo cầu Cần Thơ đang thi

công; sụt toàn bộ Trụ sở Viện Khoa học xã hội miền Nam do tác động của

việc thi công tầng hầm Cao ốc Pacific tại TP.Hồ Chí Minh… Tất cả

những sự cố trên không chỉ liên quan tới những tác động đặc biệt của

thiên nhiên mà còn liên quan đến việc khai thác sử dụng quá khả năng cho

phép của công trình hoặc các nhân tố chủ quan khác

Trang 7

Điều này đặt ra những câu hỏi: Liệu những công trình càng hiện

đại, phức tạp thì càng ẩn chứa nhiều rủi ro? Pháp luật quy định thế nào về

vấn đề bảo đảm an toàn của nhà cửa, các công trình xây dựng, vấn đề

BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra? Vấn đề xác định chủ

thể BTTH, mức BTTH,…?

Trước những vấn đề này, sự điều chỉnh của pháp luật phù hợp với

yêu cầu thực tiễn là một đòi hỏi khách quan Trong khi đó TNBTTH do

nhà cửa, công trình xây dựng gây ra mới chỉ được các nhà làm luật dự liệu

rất “khiêm tốn”, chỉ trong một điều luật – Điều 627 Điều đó dẫn tới thiếu

cụ thể, không rõ ràng, chỉ được hiểu như một nguyên tắc, vì thế, gây khó

khăn không nhỏ cho những người làm công tác thực tiễn, cũng như các

chủ thể khác lúng túng trong việc thực hiện quyền yêu cầu và thực hiện

nghĩa vụ liên quan đến nhà cửa, công trình xây dựng khác khi gây thiệt

hại Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật về trách

nhiệm dân sự do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại là việc

làm có ý nghĩa quan trọng và cũng là một trong các nhu cầu cần thiết đối

với khoa học pháp lý dân sự ở Việt Nam hiện nay

Nhằm đảm bảo tư duy lô gic về mặt nội dung, tạo sự cân đối về

mặt hình thức của đề tài Bài khóa luận được trình bày theo kết cấu như

sau :

Phần mở đầu

Nội dung

Chương I: Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác

gây ra

Chương II: Quy định của pháp luật hiện hành về BTTH do nhà cửa, công

trình xây dựng khác gây ra

Trang 8

Chương III: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết, giải pháp hoàn

thiện

Kết luận

Mặc dù đã cố gắng nhiều trong quá trình nghiên cứu hoàn thành

khóa luận, nhưng với thời gian, điều kiện và khả năng có hạn nên bài

khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được nhiều ý

kiến đóng góp của thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn ! Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2009

Trang 9

sự của chủ thể này làm ảnh hưởng tới quyền dân sự của chủ thể khác thì bị coi là

có hành vi trái pháp luật Khi đó người có quyền dân sự bị xâm phạm đượcquyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng TNDS để bảo vệquyền và lợi ích chính đáng của mình TNDS được áp dụng thì người có hành vi

xử sự trái với quy định của pháp luật dân sự có thể phải gánh chịu một hoặc một

số hậu quả pháp lý như: Buộc chấm dứt hành vi vi phạm; Buộc xin lỗi cải chínhcông khai; Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; Buộc BTTH; Phạt vi phạm

Tóm lại, TNDS chính là quy định của luật dân sự về hậu quả pháp lý do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc người có hành vi vi phạm phápluật phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định

Luật dân sự hiện nay quy định hai loại trách nhiệm BTTH:

- BTTH do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng, là quy định của pháp luậtdân sự áp dụng khi các chủ thể gây thiệt hại không thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng nghĩa vụ dân sự của mình theo hợp đồng đã thỏa thuận

- BTTH ngoài hợp đồng, là quy định của pháp luật dân sự áp dụng đối vớibất kỳ chủ thể nào khi hành vi xử sự của họ trái với quy định của pháp luật nóichung mà gây thiệt hại cho chủ thể khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng, nhânphẩm, uy tín

Trang 10

Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một trong những hình thức cụ thểcủa TNDS Có thể nói, BTTH ngoài hợp đồng là một trong những chế định dân

sự có lịch sử ra đời sớm nhất Khác những loại TNDS khác được áp dụng ngaysau khi có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra thì trách nhiệm BTTH ngoài hợpđồng lại chỉ được áp dụng khi những hành vi đó đã gây ra trên thực tế một thiệthại nhất định

Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được hiểu là một loại TNDS áp dụngvới người nào có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác gây thiệt hại cho người đó thì phải BTTH do mình gây ra Về cơ bản, tráchnhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh không phải từ hợp đồng mà chủ yếu từhành vi gây thiệt hại trái pháp luật (trừ một số trường hợp quy định tại Điều 623,

1 2 Trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

1.2.1, Khái niệm trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Tại Điều 1, Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 đã ghi nhận: "Những quyềndân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành xử nó đúng với quyền lợi củanhân dân" Điều 15 BLDS 2005 quy định cá nhân có quyền nhân thân gắn với

Trang 11

tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản, quyền sở hữu, quyền thừa kếvà các quyền khác đối với tài sản Như vậy, khi tài sản của Nhà nước, của phápnhân, hoặc tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhânbị xâm hại, Nhà nước sẽ áp dụng những chế tài nhất định đối với người có hành

vi vi phạm trái pháp luật nhằm mục đích khắc phục những hậu quả và khôi phụclại tình trạng ban đầu cho người bị thiệt hại Trên cơ sở đó dẫn đến việc hìnhthành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Thông thường, thiệt hại xảy ra là dohành vi của con người nhưng hiện nay nhiều khi tự bản thân tài sản cũng có thểgây thiệt hại, ví dụ như nhà cửa, công trình xây dựng bị sụt lở; cây cối bị đổ,gẫy, Do vậy, ngoài trách nhiệm BTTH do hành vi của con người gây ra thìpháp luật còn quy định về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra Trong BLDS

1995 và 2005 không có quy định về khái niệm cũng như không có các quy địnhchung về trách nhiệm BTTH do tài sản gây mà chỉ quy định ở các trường hợpBTTH cụ thể Qua khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung cóthể hiểu: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là quy định củapháp luật dân sự mà khi áp dụng sẽ phát sinh một quan hệ dân sự, theo đó chủ sởhữu, người được chủ sở hữu giao cho quản lý, chiếm hữu, sử dụng tài sản mà đểtài sản đó gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho người khác thì phảibồi thường thiệt hại”

Theo Điều 627 BLDS 2005 thì trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình

xây dựng khác gây ra được quy định như sau: “Chủ sở hữu, người được chủ sở

hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”.

Nhà cửa, công trình xây dựng là một loại tài sản thuộc loại tài sản bất

động sản Do vậy, có thể dựa vào cách hiểu về trách nhiệm BTTH do tài sản gây

ra và Điều 627 BLDS 2005 để xây dựng khái niệm trách nhiệm BTTH do nhà

cửa, công trình xây dựng khác gây ra cụ thể là: “Trách nhiệm bồi thường thiệt

Trang 12

hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là quy định của pháp luật dân sự mà khi áp dụng sẽ phát sinh một quan hệ dân sự, theo đó chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao cho quản lý, chiếm hữu, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác mà để nhà cửa, công trình xây dựng đó gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho người khác thì phải bồi thường thiệt hại ” Trong đó “Công

trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vậtliệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết, định vị với đất, cóthể bao gồm phần dưới mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước,được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm: công trình xây dựngcông cộng; nhà ở; công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng vàcác công trình khác” [7, Điều 3] Còn nhà cửa hiểu một cách tổng quan nhất là

“công trình xây dựng có tường vách dùng để ở hay dùng vào mục đích khác”[22, tr365] Nhà cửa gồm nhà cao tầng, nhà kho, nhà tranh, nhà ngói…là mộtsản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng,thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết, định vị với đất, có thể bao gồmphần dưới mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựngtheo thiết kế

Kết hợp các khái niệm này chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát về tráchnhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra từ đó giải quyết các vấn đềthực tế một cách hiệu quả, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp cho cácđương sự

1.2.2, Đặc điểm

Trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là mộtloại trách nhiệm dân sự đặc biệt nên ngoài những đặc điểm của TNDS nói chung

nó còn mang những đặc điểm riêng sau:

- Trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là loạiTNDS ngoài hợp đồng phát sinh khi có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật củanhà cửa, công trình xây dựng, tức là nhà cửa, công trình xây dựng là nguyênnhân trực tiếp gây thiệt hại

Trang 13

- Khác với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con người trongxây dựng nhà cửa, công trình gây ra khi xác định trách nhiệm BTTH thì căn cứvào việc người nào có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải bồi thường,trường hợp BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra thì về nguyêntắc trách nhiệm BTTH được áp dụng cho chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng,người có nghĩa vụ trong việc quản lý nhà cửa, công trình xây dựng nhưng đã đểnhà cửa, công trình xây dựng đó gây thiệt hại cho người xung quanh, trừ trườnghợp họ chứng minh được thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hạihoặc người thứ ba khác Như vậy, người chịu trách nhiệm BTTH trong trườnghợp này là một nhóm chủ thể xác định.

- Lỗi được xem xét với tính chất là lỗi suy đoán, lỗi gián tiếp do sự quản

lý, trông coi không chặt chẽ của chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng nhà cửa,công trình xây dựng để nhà cửa, công trình xây dựng đó gây thiệt hại cho ngườikhác

Trong khoa học pháp lý dân sự hiện nay tồn tại học thuyết "trách nhiệm

khách quan" Nghĩa là, khi có thiệt hại xảy ra là phải có sự đền bù, bồi thường

một cách ngang bằng, không cần biết người gây ra thiệt hại có lỗi hay không.Khi các chủ thể trong hoạt động của mình đã gây ra thiệt hại kể cả khi gặp rủi rocho người khác đều phải có trách nhiệm bồi thường Điều này sẽ rất đúng nếuthiệt hại không phải do con người gây ra mà do máy móc, cây cối, nhà cửa, côngtrình xây dựng hoặc gia súc gây ra theo nguyên tắc chủ sở hữu, người được chủsở hữu giao quyền quản lý, sử dụng phải chịu trách nhiệm bồi thường Tuy

nhiên, không thể áp dụng thuyết “trách nhiệm khách quan” trong mọi trường

hợp vì như vậy sẽ thiếu chính xác và không công bằng cho các chủ thể liênquan Từ việc nghiên cứu nguyên nhân nội tại của hành vi gây ra thiệt hại người

ta thấy rằng: Lỗi phải được xem xét là một trong những cơ sở, là điều kiện củaTNDS, dù rằng lỗi trong TNDS chỉ là điều kiện suy đoán nhưng để bảo đảm sựcông bằng, thì người gây ra thiệt hại chỉ phải BTTH khi họ có lỗi [18, tr68]

Trang 14

Trong khoa học pháp lý ở Việt Nam tồn tại quan điểm cho rằng: cơ sở phátsinh TNDS là các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật dân sự Một trong nhữngyếu tố cấu thành đó phải là yếu tố lỗi của người có hành vi vi phạm Lỗi là mộttrong các điều kiện bắt buộc để áp dụng TNDS theo nguyên tắc chung được quyđịnh tại Điều 604 Bộ luật dân sự và các trường hợp ngoại lệ tại khoản 3, Điều

623 Bộ luật dân sự năm 2005 Tuy nhiên, nếu xét trong trường hợp BTTH donhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra yếu tố lỗi có thể không phải là một yếu

tố quan trọng để xác định trách nhiệm BTTH Ở đây chúng ta cần chú ý rằngthiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là do tự bản thân nhà, côngtrình xây dựng đó gây thiệt hại chứ không hề có sự tác động của bất cứ chủ thểnào Do vậy thật khó để quy kết trách nhiệm BTTH trong trường hợp này thuộc

về ai Nên sự suy đoán lỗi thuộc về chủ sở hữu nhà cửa, công trình xây dựng,người được chủ sở hữu giao quyền quản lý, sử dụng có vẻ hợp lý hơn cả Lỗi ởđây được hiểu là lỗi gián tiếp do sự quản lý nhà, công trình xây dựng của chủ sởhữu, hay nguời quản lý chưa chặt chẽ hoặc do khi xây dựng nhà cửa, công trìnhxây dựng khác chủ sở hữu đã không tính toán hết khả năng có thể gây thiệt hạicủa công trình Từ sự phân tích đó có thể thấy việc xác định trách nhiệm BTTH

do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại có thể nên xác định theo

thuyết “trách nhiệm khách quan”.

1.2.3, Giá trị của quy định pháp luật về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra

Trong thực tế hiện nay ngoài những thiệt hại do hành vi của con ngườigây ra, còn có nhiều thiệt hại do tài sản của con người là nguồn nguy hiểm cao

độ, nhà cửa, công trình xây dựng, súc vật, cây cối gây ra Vấn đề xác địnhtrách nhiệm dân sự của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng, người có tráchnhiệm trong việc quản lý đối với các thiệt hại do tài sản thuộc sở hữu, thuộctrách nhiệm quản lý của mình gây ra ngày càng có ý nghĩa pháp lý, ý nghĩa lýluận và thực tiễn quan trọng

Trang 15

Các quy định của pháp luật về BTTH do nhà cửa, công trình xây dựngkhác gây ra đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp liênquan đến thiệt hại mà nhà cửa, công trình xây dựng là nguyên nhân trực tiếp gây

ra Ngoài ra, cơ sở của trách nhiệm dân sự nói chung còn được xây dựng trênnguyên tắc lỗi Theo nguyên lý truyền thống, người bị thiệt hại muốn được bồithường còn phải dẫn chứng lỗi của người gây thiệt hại; ngoài ra họ còn có tráchnhiệm chứng minh sự thiệt hại do người có hành vi vi phạm pháp luật gây raphải gánh chịu khi do chính lỗi của người đó gây ra Trách nhiệm BTTH do nhàcửa, công trình xây dựng khác gây ra đã mở ra một hướng giải quyết tranh chấp,theo đó, khi nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thiệt hại, chủ sở hữu, ngườiđang quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng đương nhiên bị coi là có lỗi.Với quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xâydựng khác gây ra, quyền lợi của người bị thiệt hại được bảo đảm Việc xác địnhtrách nhiệm trên nguyên tắc lỗi và trách nhiệm chứng minh của người có quyền,lợi ích bị xâm phạm nhiều khi rất phức tạp và có thể còn có những bất lợi chongười bị thiệt hại Nhiều trường hợp tai nạn xảy ra do nhà cửa, công trình xâydựng bị sụp đổ hoặc do bị lún, nứt…nhưng thiệt hại thực tế đã xảy ra nhưngkhông do lỗi của ai Vì vậy, trong những trường hợp này, nếu bắt buộc người bịthiệt hại phải dẫn chứng lỗi tức là đã gián tiếp hạn chế quyền được đòi bồithường của họ, nhất là những trong trường hợp này thiệt hại không phải do conngười gây ra mà chỉ do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khácgây ra cũng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ sở hữu, người sử dụng,quản lý nhà cửa, công trình xây dựng Chủ sở hữu, người sử dụng, quản lý nhàcửa, công trình xây dựng khác có nghĩa vụ trông coi, quản lý, không để nhà cửa,công trình xây dựng của mình gây thiệt hại cho người khác Để thực hiện nghĩa

vụ đó, họ phải tuân thủ các quy tắc trong việc sử dụng, bảo quản, kịp thời pháthiện nguy cơ nhà cửa, công trình xây dựng khác có thể gây thiệt hại cho nhữngngười xung quanh để có biện pháp phòng ngừa, khắc phục thích hợp Khi tài sản

Trang 16

gây ra thiệt hại, chủ sở hữu, người quản lý tài sản bị suy đoán là có lỗi, trừtrường hợp họ chứng minh được lỗi thuộc về người khác.

Các quy định về trách nhiệm BTTH do tài sản mà cụ thể ở đây là tráchnhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra cũng góp phần làmminh thị các quy định pháp luật về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng giúp phápluật bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong các trườnghợp BTTH ngoài hợp đồng khác Và cũng góp phần làm minh thị hơn nhữngphán quyết của Tòa án làm tăng thêm niềm tin vào cơ quan xét xử của nhân dân

1.3 Khái quát các quy định của pháp luật về BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Để xác định trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây

ra cần xem xét nhiều văn bản pháp luật khác nhau, cụ thể:

- Bộ luật dân sự năm 2005 các quy định chung trong chương XXI, phần thứ

ba BLDS 2005 về BTTH ngoài hợp đồng, Điều 627 BLDS 2005 quy định vềBTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra

Nhìn chung hiện nay, các quy định của BLDS liên quan đến việc BTTH donhà cửa, công trình xây dựng gây ra còn quá ít (chỉ trong một điều luật, Điều627), gây khó khăn lớn cho cơ quan áp dụng pháp luật trong việc bảo vệ cácquyền và lợi ích chính đáng của các đương sự Khi mà BLDS được coi là vănbản pháp luật chính thống nhất quy định về vấn đề này thì việc bổ sung, sửa đổicác quy định về BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là hoàn toàncần thiết

Nhìn nhận một cách khách quan thì nội dung quy định tại Điều 627 là phùhợp với những trường hợp xác định trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trìnhxây dựng gây ra khi công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, còn nếu côngtrình đang được xây dựng, chưa hoàn thành thì quy định của điều luật là chưa

ổn Trong quá trình thi công công trình có sự tham gia của nhiều chủ thể khácnhau như chủ đầu tư, người thi công,… nếu do lỗi của họ dẫn đến nhà cửa, côngtrình xây dựng gây thiệt hại cho người khác thì trách nhiệm BTTH thuộc về ai

Trang 17

hay họ phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường, Điều 627 không quy định rõ.Ngoài ra còn một số hạn chế khác đã được trình bày ở Chương III của bài khóaluận này Các nhà làm luật cần phải nghiên cứu xem xét những hạn chế, thiếusót của BLDS để có những sửa đổi thích hợp.

- Luật xây dựng năm 2003

Trong luật chủ yếu quy định trách nhiệm BTTH do hành vi gây thiệt hại

trái pháp luật trong quá trình xây dựng công trình gây ra như Điều 57- Quyền

và nghĩa vụ của chủ đầu tư xây dựng công trình trong việc thiết kế xây dựngcông trình, Điều 59 - Thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng công trình,…Tuy nhiên trên cơ sở những quy định này của Luật xây dựng cơ quan áp dụngpháp luật phân biệt được trường hợp nào thiệt hại xảy ra là do nhà cửa, côngtrình xây dựng gây ra, trường hợp nào do hành vi trái pháp luật của con ngườitrong xây dựng công trình gây ra, từ đó lựa chọn hình thức xử lý phù hợp

- Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2007 quy định chitiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xây dựng về xử lý vi phạm trật

tự xây dựng đô thị Giống Luật xây dựng 2003 nghị định 180/2007/NĐ-CP cũng

có ý nghĩa tương tự đối với việc giải quyết các trường hợp BTTH do nhà cửa,công trình xây dựng khác gây ra

- Nghị định 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lýchất lượng công trình xây dựng

Nghị định không có điều luật nào quy định về trách nhiệm BTTH do nhàcửa, công trình xây dựng gây ra nhưng thông qua Điều 10, 11, 12, 16, 17… các

cơ quan có thẩm quyền có thể xác định chủ thể liên quan đến trách nhiệm BTTH

do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra

- Nghị định 16/2005 ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu

tư xây dựng công trình, Nghị định 112/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày29/9/2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP vềquản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

Trang 18

Tương tự nghị định 209 các nghị định này có ý nghĩa quan trọng trongviệc xác định chủ thể liên quan đến trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trìnhxây dựng khác gây ra.

- Dự thảo Luật BTNN của Chính phủ trình UBTVQH ngày 15/8/2008

Mặc dù sự ra đời của Luật BTNN là một tiến bộ, là sự phát triển lớn của

hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng nhưng trong dự thảoLuật BTNN mới chỉ quy định trách nhiệm BTTH của Nhà nước khi người thihành công vụ gây ra trong quá trình thi hành công vụ mà không có điều luật nàoquy định về trách nhiệm BTTH của Nhà nước khi tài sản trong đó có nhà cửa,công trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước gây thiệt hại Dự thảo LBTNN chỉ

có ý nghĩa đối với vấn đề BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra khi Bansoạn thảo bổ sung thêm các quy định về trách nhiệm BTTH do tài sản của Nhànước gây thiệt hại, trong đó có quy định trách nhiệm BTTH của Nhà nước donhà cửa, công trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước gây thiệt hại Từ đó bảo vệđược quyền và lợi ích chính đáng của người dân, đồng thời thể hiện được bảnchất của nhà nước ta là “nhà nước của dân, do dân, vì dân”

Bên cạnh các văn bản pháp pháp luật trên còn phải kể đến các văn bảnpháp luật khác do các bộ chủ quản ban hành như Quyết định 33/2006/QĐ-BXDngày 5/10/2006 ban hành công khai thủ tục hành chính và thái, tác phong củacán bộ, công chức trong lĩnh vực thẩm định thiết kế cơ sở dự án đầu tư xây dựngcông trình; Chỉ thị số 07/2007/CT-BXD ngày 5/11/2007 về tăng cường công tácquản lý xây dựng đối với công trình xây dựng nhà cao tầng; Quyết định số25/2005/QĐ-BGTVT ngày 13/5/2005 quy định về việc áp dụng tiêu chuẩn trongxây dựng công trình giao thông… Cuối cùng phải kể đến các văn bản pháp luật

do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành điều chỉnh hoạtđộng quản lý công trình xây dựng trên địa bàn Ví dụ như: Quyết định14/2007QĐ-UBND ngày 19/1/2007 của UBND thành phố Hà Nội quy định vềđảm bảo trật tự an toàn và vệ sinh môi trường trong quá trình xây dựng các côngtrình tại thành phố Hà nội; Quyết định 70/2006/QĐ-UBND ngày 20/9/2006 của

Trang 19

UBND thành phố Hà Nội quy định trách nhiệm quản lý chất lượng công trìnhxây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội…

Các văn bản pháp luật tuy không trực tiếp quy định về vấn đề BTTH donhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra nhưng trong quá trình giải quyết các

vụ án cụ thể chúng lại có ý nghĩa pháp lý rất lớn giúp cơ quan có thẩm quyềngiải quyết vụ việc chính xác và có hiệu quả hơn

1.4 So sánh trách nhiệm BTTH do hành vi gây thiệt hại trái pháp luật trong quá trình xây dựng nhà cửa, công trình xây dựng và trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

1.4.1, Những điểm giống nhau

Trách nhiệm BTTH do hành vi gây thiệt hại trái pháp luật trong quá trìnhxây dựng nhà cửa, công trình xây dựng và trách nhiệm BTTH do nhà cửa, côngtrình xây dựng khác gây ra đều là một loại trách nhiệm pháp lý thể hiện thái độcủa Nhà nước đối với việc gây thiệt hại trái pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của các chủ thể bị xâm hại và khôi phục lại tình trạng ban đầu củathiệt hại bằng biện pháp bồi thường của người có trách nhiệm, chỉ được áp dụngkhi có thiệt hại thực tế xảy ra Người có trách nhiệm BTTH có thể sẽ bị các cơquan nhà nước có thẩm quyền áp dụng một số biện pháp cưỡng chế nhất địnhnếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ trách nhiệm củamình Ngoài ra, trách nhiệm BTTH do hành vi gây thiệt hại trái pháp luật trongquá trình xây dựng nhà cửa, công trình xây dựng và trách nhiệm BTTH do nhàcửa, công trình xây dựng khác gây ra đều luôn mang lại hậu quả pháp lý bất lợicho người có trách nhiệm BTTH Không chỉ nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thấtcho người bị thiệt hại cả hai loại trách nhiệm này còn có ý nghĩa giáo dục mọingười về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọngquyền và lợi ích hợp pháp của người khác Tất cả những điều đó khẳng định vaitrò và ý nghĩa quan trọng của hai loại trách nhiệm này trong hệ thống các quyđịnh pháp luật dân sự cũng như trong thực tiễn đời sống

1.4.2, Những điểm khác nhau

Trang 20

 Căn cứ phát sinh

- Trường hợp BTTH do hành vi gây ra thì một điều kiện không thể thiếu làhành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật

- BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra do tự thân nhà cửa,công trình xây dựng gây ra nên không thể xem xét đến điều kiện có hành vi tráipháp luật của người gây thiệt hại

 Nguyên nhân gây thiệt hại

- Trách nhiệm BTTH phát sinh khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu củahành vi trái pháp luật của con người gây ra Trường hợp này người gây thiệt hạiđã thực hiện hành vi dưới dạng hành động hoặc không hành động và hành vi đóchính là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại Ví dụ: Anh M phá tường nhà đểxây dựng lại, tường đổ vào ông B làm ông B bị thương Trong ví dụ này nguyênnhân gây thiệt hại là do hành vi vô ý của anh M gây ra

- Trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là kếtquả tất yếu khi nhà cửa, công trình xây dựng là nguyên nhân trực tiếp gây rathiệt hại như nhà cửa, công trình xây dựng bị sụt, đổ gây thiệt hại, Ví dụ:Tường xây bao quanh nhà anh M do xây dựng quá lâu ngày bị tở kết cấu nên tự

đổ làm ông B bị thương Trường hợp này nguyên nhân gây thiệt hại là do nhàcửa, công trình xây dựng gây ra

 Chủ thể chịu trách nhiệm BTTH

- Về nguyên tắc thì người nào có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại thìngười đó phải BTTH do mình gây ra Tức là chủ thể chịu trách nhiệm BTTHtrong trường hợp này không thu hẹp trong một phạm vi nào cả Tuy nhiên, trongmột số trường hợp theo quy định của pháp luật thì cha mẹ, người giám hộ có thểphải chịu trách nhiệm BTTH thay cho người được giám hộ

- Về nguyên tắc trách nhiệm BTTH thuộc về chủ sở hữu hoặc người đượcchủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác Tức làtrách nhiệm BTTH thuộc về những chủ thể trong một phạm vi xác định Tuynhiên, không có trường hợp cha mẹ, người giám hộ bồi thường thay cho người

Trang 21

được giám hộ giống như trường hợp BTTH do hành vi trái pháp luật gây ra trừtrường hợp cha mẹ, người giám hộ đang quản lý nhà cửa, công trình xây dựngthay cho người được giám hộ

 Đối tượng bị xâm hại

- Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có thể xâm hại đến tài sản, tính mạng,sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín

- Nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại chỉ xâm phạm đến tàisản, tính mạng, sức khỏe mà không xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín.Tuy nhiên trong một số trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hạithì người có trách nhiệm BTTH còn phải bồi thường một khoản bù đắp về tổnthất tinh thần cho người được hưởng bồi thường Ví dụ: Tường nhà anh B đổ đèlên chị E khi chị đi qua làm chị E bị chết Anh A là chủ của công trình xây dựngnày ngoài việc phải BTTH cho tính mạng của chị E, anh A còn phải bồi thườngcho các con chị E một khoản bù đắp về tổn thất tinh thần khi chị E chết

Trang 22

CHƯƠNG II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA

2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Pháp luật hiện hành chỉ quy định về điều kiện phát sinh trách nhiệmBTTH ngoài hợp đồng mà không quy định về điều kiện phát sinh trách nhiệmBTTH do tài sản gây ra nói chung và trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trìnhxây dựng khác gây ra nói riêng Trên cơ sở những quy định về điều kiện phátsinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có thể thấy những điều kiện cơ bản phátsinh trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gồm những điều kiện:

Điều kiện 1: Có thiệt hại xảy ra.

Là một yếu tố cơ bản cấu thành trách nhiệm BTTH, thiệt hại được coi làđiều kiện bắt buộc và là tiền đề để quyết định có phát sinh trách nhiệm BTTHhay không Thông thường “thiệt hại” được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích vậtchất và tinh thần của một người do có sự kiện gây thiệt hại của người khác vàđược xác định bằng một khoản tiền cụ thể Thiệt hại đồng thời mang ý nghĩapháp lý và xã hội thể hiện ở chỗ nó tác động và làm ảnh hưởng đến những quan

hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Các loại thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra bao gồmthiệt hại về tài sản, sức khoẻ và tính mạng Riêng loại thiệt hại về danh dự, nhânphẩm, uy tín thì không thuộc phạm vi tác động gây thiệt hại của nhà cửa, côngtrình xây dựng khác Tuy nhiên, trong một số trường hợp thiệt hại do nhà cửa,công trình xây dựng gây ra có thể là thiệt hại về tinh thần, ví dụ: trường hợp nhàcửa, công trình xây dựng sụt đổ làm cho người bị thiệt hại cụt chân, tay ngoàimột khoản tiền BTTH về sức khỏe bị xâm hại người có trách nhiệm còn có thểphải bồi thường một khoản tiền để bù đắp những tổn thất về tinh thần cho ngườibị thiệt hại Hoặc trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại cho tính

Trang 23

mạng của một người thì bên cạnh việc bồi thường thiệt hại cho tính mạng người

có trách nhiệm BTTH còn phải bồi thường về tinh thần cho thân nhân người bịthiệt hại Như vậy, để xác định các loại thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựnggây ra cần phải căn cứ vào các trường hợp cụ thể

Khi đánh giá một thiệt hại để quy trách nhiệm bồi thường thì các nhà làmluật cũng như các chủ thể áp dụng pháp luật phải nhìn nhận thiệt hại một cáchkhách quan mà không được suy diễn chủ quan Chỉ khi có thiệt hại thực tế xảy ra

do nhà cửa, công trình xây dựng khác là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại vàthiệt hại đó có thể trị giá được bằng tiền thì mới áp dụng trách nhiệm BTTH donhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra theo Điều 627 BLDS 2005

Cách tính mức thiệt hại của từng loại thiệt hại do nhà cửa, công trình xâydựng khác gây ra vẫn tuân theo nguyên tắc chung được quy định tại điều 608,

dù có sự kiện gây thiệt hại của nhà cửa, công trình xây dựng nhưng sự kiện nàykhông trái pháp luật nên không phát sinh trách nhiệm BTTH Ngược lại, nếu chỉ

có sự kiện trái pháp luật nhưng không có thiệt hại do nhà cửa, công trình xâydựng gây ra thì trong trường hợp này cũng không phát sinh trách nhiệm BTTH

Ví dụ: Cổng nhà chị H do lâu ngày bị cũ nát, hư hỏng nặng dẫn đến việc bị đổxuống đường nhưng không hề gây thiệt hại cho chủ thể nào Như vậy, chúng tathấy rằng trong trường hợp này mặc dù có xảy ra sự kiện trái pháp luật của công

Trang 24

trình xây dựng là cổng nhà chị H bị đổ nhưng do không phát sinh thiệt hại nêntheo quy định của pháp luật cũng không phát sinh trách nhiệm BTTH của chị H.

Điều kiện 3: Có mối quan hệ nhân quả giữa sự tác động của nhà cửa, công

trình xây dựng khác đối với thiệt hại xảy ra

Nhà cửa, công trình xây dựng là những tài sản bất động sản chúng cóđặc tính bất di bất dịch được dùng theo các mục đích khác nhau gồm các côngtrình xây dựng trên mặt đất, mặt nước hoặc dưới mặt đất, mặt nước Có 2 khảnăng gây thiệt hại bởi nhà cửa, công trình xây dựng: một là, do hành vi của conngười tác động làm nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại; hai là, tự bảnthân nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại Nếu thiệt hại xảy ra trongtrường hợp thứ nhất thì căn cứ để xác định trách nhiệm BTTH được dựa trênnhững nguyên tắc chung của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Ý chí của chủthể được thể hiện thông qua hành vi tác động trực tiếp đến nhà cửa, công trìnhxây dựng, khi đó nhà cửa, công trình xây dựng chỉ đóng vai trò là những công cụ

để các chủ thể này gây thiệt hại cho người khác dù cố ý hay vô ý Còn tráchnhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra có thể áp dụng cơ chế “tựgây thiệt hại” Thiệt hại trong trường hợp này là do tác động tự thân của nhà cửa,công trình xây dựng gây ra chứ không phải từ sự tác động của hành vi của conngười Chẳng hạn nhà cửa, công trình xây dựng sụt lở, đổ vỡ, lún nứt gây rathiệt hại cho những người xung quanh mà không có sự tác động trực tiếp củacon người

Như vậy, mối quan hệ nhân quả giữa sự tác động của nhà cửa, công trìnhxây dựng khác đối với thiệt hại xảy ra thể hiện ở việc tự thân nhà cửa, công trìnhxây dựng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại và trong trường hợp này sẽphát sinh trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra

Điều kiện 4: Có lỗi của người sở hữu, người chịu trách nhiệm trực tiếp

quản lý, trông coi công trình xây dựng

Theo nguyên tắc chung về lỗi trong luật dân sự thì lỗi mang bản chất là

“lỗi suy đoán” tức là trong trường hợp này khi nhà cửa, công trình xây dựng gây

Trang 25

thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quyền quản

lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng bị suy đoán là có lỗi, người chịu tráchnhiệm về việc gây thiệt hại muốn loại trừ trách nhiệm BTTH của mình phảichứng minh mình không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại Nói cách khác, chủthể có trách nhiệm bồi thường phải chứng minh được việc gây thiệt hại do nhàcửa, công trình xây dựng gây ra là hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại, hoặc

do lỗi của người khác hay do sự tác động của sự kiện bất khả kháng Khi đóngười bị thiệt hại phải tự chịu trách nhiệm về việc gây thiệt hại, hoặc tráchnhiệm BTTH được chuyển sang cho người khác, hoặc thiệt hại bị coi là một rủi

ro của người bị thiệt hại

Xuất phát từ nguyên nhân sâu xa của trách nhiệm trông coi bảo quản baogồm các nghĩa vụ cơ bản như: không để người khác xâm phạm dẫn đến việc gâythiệt hại cho nhà cửa, công trình xây dựng; trông coi không để nhà cửa, côngtrình xây dựng gây thiệt hại cho người khác Người trông coi quản lý phải kịpthời phát hiện nguy cơ nhà cửa, công trình xây dựng có khả năng gây thiệt hạicho những người xung quanh để tìm cách khắc phục như sửa chữa nhà hoặc cộtđiện đã bị nghiêng…Trường hợp không có ngay biện pháp khắc phục kịp thờithì người trông coi phải có các cách thức thông báo tình trạng nguy hiểm củanhà cửa, công trình xây dựng để những người xung quanh tránh xa chúng hay cóbiện pháp tự bảo vệ Như vậy, bất luận trong trường hợp nào trước hết ngườiquản lý trông coi đều bị coi là có lỗi khi để nhà cửa, công trình xây dựng gâythiệt hại trừ trường hợp chỉ ra lỗi của người thứ ba hoặc do sự kiện bất khảkháng [18]

Tóm lại, trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra chỉphát sinh khi thoả mãn được 4 điều kiện như đã phân tích ở trên

2.2 Chủ thể trong quan hệ BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

2.2.1, Người phải chịu trách nhiệm bồi thường

Trang 26

Vấn đề xác định người chịu trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trìnhxây dựng gây ra khá phức tạp Về nguyên tắc, người phải chịu trách nhiệm bồithường trước hết phải là người có lỗi để cho nhà cửa, công trình xây dựng gâythiệt hại cụ thể là người sở hữu, người sử dụng, người chịu trách nhiệm quản lý,trông coi Có trường hợp chủ sở hữu nhà cửa, công trình xây dựng và ngườiđang trực tiếp quản lý trông coi chúng là một, nhưng có những trường hợp họ là

2 chủ thể độc lập Trường hợp chủ sở hữu nhà cửa, công trình xây dựng vàngười đang trực tiếp quản lý trông coi chúng là một thì dễ dàng xác định tráchnhiệm BTTH Trường hợp trường hợp chủ sở hữu nhà cửa, công trình xây dựngvà người đang trực tiếp quản lý trông coi chúng là 2 chủ thể độc lập thì việc xácđịnh trách nhiệm BTTH sẽ rất phức tạp

Có những khả năng sau đây dẫn đến chủ sở hữu và người có trách nhiệmquản lý trông coi là 2 chủ thể độc lập với các tư cách pháp lý khác nhau:

1 Nhà cửa, công trình xây dựng của Nhà nước giao cho một số chủ thểlà các cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình quản lý, sử dụng;

2 Nhà cửa, công trình xây dựng thuộc sở hữu cộng đồng dân cư giao chonhững chủ thể nhất định quản lý;

3 Nhà cửa, công trình xây dựng là di sản thừa kế đang do người kháctrong coi, quản lý;

4 Nhà cửa, công trình xây dựng đang bị kê biên để thi hành án;

5 Nhà cửa, công trình xây dựng được đang được quản lý, trông coi có ủyquyền;

6 Nhà cửa, công trình xây dựng đang được quản lý, trông coi không có

Trang 27

9 Nhà cửa, công trình xây dựng đang được cho người khác thuê hoặcmượn;

Để xác định ai là người phải chịu trách nhiệm bồi thường trong cáctrường hợp trên cần phải dựa vào cam kết thoả thuận giữa họ có thể theo hợpđồng uỷ quyền, cho thuê, cho mượn hay sự phân định trách nhiệm cụ thể trongquyết định giao nhà cửa, công trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữucộng đồng Trường hợp các bên không có cam kết, thoả thuận cụ thể thì sẽ ápdụng nguyên tắc: những người đang trực tiếp chiếm hữu, trông coi, quản lý vậtchất đối với nhà cửa, công trình xây dựng phải chịu trách nhiệm bồi thường

Trên thực tế có nhà cửa, công trình xây dựng bị bỏ hoang, không xác địnhđược người quản lý trông coi cũng như không xác định được ai là chủ sở hữu thìcũng không có ai phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu như nhà cửa, công trìnhxây dựng này gây thiệt hại cho người khác Ví dụ: Biệt thự Dã Quỳ Thượng bị

bỏ hoang trên đèo Phren, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng do được xây từ thờiPháp thuộc nên đã cũ nát lại cộng thêm mưa nắng, gió bão làm hư hỏng nhiềudẫn đến sụt đổ gây thiệt hại cho người dân đi ngang qua khu biệt thự Tuy nhiên,những người bị thiệt hại trong trường hợp này không được bồi thường vì khôngxác định được chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng khu nhà nên không thểquy kết trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ thể nào cả, thiệt hại xảy rađược coi là một rủi ro của người bị thiệt hại

Chúng ta có thể xem xét dưới những khía cạnh sau để xác định người có

trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra:

Dựa vào thời điểm xây dựng nhà cửa, công trình xây dựng

- Trước khi thi công:

+ Người được giao thẩm quyền thẩm định dự án xây dựng nếu đưa ra kếtquả thẩm định không chính xác hoặc không đảm bảo thời hạn thẩm định, để nhàcửa, công trình xây dựng gây thiệt hại thì phải BTTH theo điểm b khoản 2 Quyếtđịnh 33/2006/QĐ-BXD Ví dụ: Ông H có trách nhiệm thẩm đính dự án xây dựngchung cư T, do đưa ra kết quả thẩm định mặt bằng không đúng dẫn đến việc

Trang 28

công trình được xây trên mặt bằng trước là đầm lầy sau thi công bị sụt đổ gâythiệt hại cho người khác Trong trường hợp này trách nhiệm BTTH do nhà cửa,công trình xây dựng gây ra thuộc về ông H.

+ Người có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng phải chịu trách nhiệm vàphải BTTH do việc cấp giấy phép sai hoặc cấp giấy phép chậm theo Nghị định16-2005/NĐ-CP nếu hoạt động cấp giấy phép của mình dẫn đến việc nhà cửa,công trình xây dựng gây thiệt hại Ví dụ: Theo kết quả thẩm định để đảm bảo antoàn và không ảnh hưởng, tác động đến các công trình xung quanh tòa nhà AHchỉ được xây dựng không quá 18 tầng Nhưng trong giấp phép do bà B cấp, chủthầu được phép xây dựng tòa nhà 20 tầng Sau thi công tòa nhà gây nứt vỡ tườngnhà của người dân sinh sống gần đó gây thiệt hại về tài sản Trong trường hợpnày người có trách nhiệm BTTH được xác định là bà B

- Trong quá trình thi công:

+ Theo điểm b, c khoản 2 Điều 76 Luật xây dựng 2003 nhà thầu thi côngxây dựng công trình có nghĩa vụ thi công xây dựng theo đúng thiết kế, tiêuchuẩn xây dựng, đảm bảo chất lượng, tiến độ, an toàn và vệ sinh môi trường;kiểm định vật liệu, sản phẩm xây dựng Họ phải BTTH do sử dụng vật liệukhông đúng chủng loại, thi công không đảm bảo chất lượng dẫn đến nhà cửa,công trình gây thiệt hại theo khoản 2 Điều 19 Nghị định 209/2004/NĐ-CP

+ Theo khoản 3 Điều 20 Nghị định 209/2004/NĐ-CP tổng thầu phảiBTTH khi sử dụng vật liệu không đúng chủng loại, thi công không đảm bảo chấtlượng để nhà cửa, công trình gây thiệt hại do quy định tại khoản 4 Điều 20Nghị định 209/2004/NĐ-CP nhà thầu phải thực hiện các thí nghiệm kiểm tra vậtliệu, cấu kiện, vật tư, thiết bị công trình, thiết bị công nghệ trong quá trình thicông công trình

- Sau khi hoàn thiện công trình:

+ Nhà thầu khảo sát xây dựng, nhà thầu thiết kế xây dựng, nhà thầu thicông xây dựng, nhà thầu giám sát thi công phải BTTH nếu từ hoạt động của họdẫn đến nhà cửa, công trình xây dựng xảy ra sự cố gây thiệt hại kể cả sau thời

Trang 29

gian bảo hành theo khoản 3 Điều 30 Nghị định 209/2004/NĐ-CP Nhà thầu cónghĩa vụ bảo hành nhà cửa, công trình xây dựng không ít hơn 24 tháng đối vớimọi loại công trình cấp đặc biệt, cấp 1 và không ít hơn 12 tháng đối với côngtrình còn lại (Điều 29, Điều 30 Nghị định 209/2004/NĐ-CP) Đồng thời, nhàthầu còn có nghĩa vụ bảo trì nhà cửa, công trình xây dựng theo quy định từ Điều

31 đến Điều 34 Nghị định 209/2004/NĐ-CP

+ Các cá nhân, tổ chức để cho nhà cửa, công trình gây thiệt hại thì phảichịu trách nhiệm BTTH theo quy định của pháp luật

Tóm lại, dù là trước thi công, sau thi công hay trong quá trình thi côngcông trình xây dựng chủ thể nào để cho nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệthại cho người khác thì chủ thể đó phải có trách nhiệm BTTH theo các quy địnhcủa pháp luật

Dựa vào việc chiếm giữ, sử dụng, quản lý nhà cửa, công trình xây dựng tại thời điểm nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại:

- Trường hợp chủ sở hữu đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng, quản lý

nhà cửa, công trình xây dựng

Điều 165 Bộ luật dân sự quy định nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu,

theo đó “Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài

sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” Khi có thiệt hại do

nhà cửa, công trình xây dựng gây ra, trước tiên phải xem xét nghĩa vụ của chủ sởhữu trong việc tôn trọng và bảo vệ lợi ích chung, quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác, Do vậy, trách nhiệm bồi thường trước hết được đặt ra cho chủ sởhữu, trừ trường hợp chủ sở hữu chứng minh được trách nhiệm thuộc về ngườikhác hoặc do sự kiện bất khả kháng

- Trường hợp chủ sở hữu đã chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng, quản lý nhà cửa, công trình xây dựng cho người khác

Chủ sở hữu có thể trực tiếp chiếm hữu, sử dụng để khai thác công dụngcủa nhà cửa, công trình xây dựng hoặc chuyển giao quyền chiếm hữu cho người

Trang 30

khác và cho phép người này được quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựngcủa mình thông qua việc ủy quyền quản lý, cho thuê, cho mượn, chuyển giaotheo nghĩa vụ lao động Chủ sở hữu nhà cửa, công trình xây dựng có thểchuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng công trình xây dựng của mình thông quahai hình thức:

+ Chủ sở hữu chuyển giao nhà cửa, công trình xây dựng của mình cho

người khác quản lý, sử dụng theo quan hệ hành chính, lao động Trong trườnghợp này, người được chuyển giao có nhiệm vụ quản lý nhà cửa, công trình xâydựng theo nhiệm vụ được giao nếu để thiệt hại xảy ra thì phải có trách nhiệm bồithường

+ Chủ sở hữu chuyển giao nhà cửa, công trình xây dựng cho người khácchiếm hữu, sử dụng, quản lý theo một giao dịch dân sự như hợp đồng ủy quyền,hợp đồng thuê, mượn Tùy theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng cóthể xác định trách nhiệm BTTH khi nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại Ngoài ra trên thực tế có trường hợp chủ sở hữu bắt buộc phải chuyển giaonhà cửa, công trình xây dựng cho người khác theo quy định của pháp luật, ví dụ:trường hợp nhà nước trưng dụng hoặc tạm thu giữ, tịch thu nhà cửa, công trìnhxây dựng của các cá nhân, tổ chức khi cần thiết để bảo vệ lợi ích chung Trongnhững trường hợp này, trách nhiệm BTTH khi nhà cửa, công trình xây dựng gâythiệt hại cũng được chuyển giao theo các quyết định trưng dụng, tạm giữ, tịchthu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Còn trường hợp nhà cửa, công trìnhxây dựng bị người khác chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật ngoài ý chí của chủ sởhữu, người chiếm hữu hợp pháp thì luật dân sự không có quy định cụ thể Đây làmột “khoảng trống” của pháp luật dân sự hiện hành cần được sớm khắc phục

Dựa vào chủ thể sở hữu nhà cửa, công trình xây dựng

- Trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng thuộc quyền sở hữu, quản

lý, sử dụng của một cá nhân

Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia quan hệ dân sự,BLDS quy định năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân phụ thuộc vào các

Trang 31

mức độ năng lực hành vi dân sự, khả năng bồi thường và tình trạng tài sản của

cá nhân

Khoản 1 Điều 606 BLDS 2005 quy định: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên

gây thiệt hại thì phải bồi thường” Người từ đủ 18 tuổi trở nên có năng lực hành

vi dân sự đầy đủ; có khả năng bằng chính hành vi của mình xác lập và thực hiệnquyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 17 BLDS) Do vậy, khi nhà cửa, công trình xâydựng của họ gây thiệt hại cho những người xung quanh thì theo quy định củapháp luật họ phải có trách nhiệm BTTH

Trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng của một cá nhân chưa đủ 18tuổi hoặc đã 18 tuổi nhưng mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc không cótài sản riêng hay tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ bồi thường không

áp dụng theo nguyên tắc thông thường là cha mẹ, người giám hộ sẽ chịu tráchnhiệm bồi thường thay Bởi, nguyên nhân gây thiệt hại trong trường hợp này là

do tự bản thân nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại chứ không phải dohành vi trái pháp luật của chủ sở hữu, nó nằm ngoài khả năng kiểm soát của chủsở hữu Như đã phân tích ở trên thì lỗi của chủ sở hữu là lỗi suy đoán, lỗi giántiếp do không quản lý, trông coi để nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại.Trong khi đó, cha mẹ, người giám hộ chỉ có trách nhiệm giám sát hành vi củangười được giám hộ mà thôi, do vậy đương nhiên họ không hề có lỗi gì khi nhàcửa, công trình xây dựng của người giám hộ gây thiệt hại và đương nhiên họkhông phải chịu trách nhiệm BTTH thay

Trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng thuộc sở hữu của người đượcgiám hộ đang do người giám hộ quản lý, sử dụng gây thiệt hại thì trách nhiệmBTTH lại thuộc về người giám hộ theo quy định người được chủ sở hữu giaocho quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng phải chịu trách nhiệm bồithường khi nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại, trừ trường hợp lỗi hoàntoàn do người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng

Như vậy, đối với trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựnggây ra không có việc bồi thường bổ sung hay bồi thường phần còn thiếu của cha

Trang 32

mẹ cho con; của người giám hộ cho người được giám hộ Đây là điểm đặc biệtcủa trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra.

- Trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng thuộc quyền sở hữu, quản

lý, sử dụng của nhiều người

Khi nhà cửa, công trình xây dựng thuộc quyền sở hữu, quản lý, sử dụngcủa nhiều người gây thiệt hại thì sẽ phát sinh trách nhiệm liên đới BTTH giữanhững đồng sở hữu Theo quy định tại Điều 616 BLDS 2005 trách nhiệm liênđới bồi thường của từng người được xác định tương ứng với mức độ lỗi của từngngười, nếu không xác định được mức độ lỗi của thì họ phải bồi thường thiệt hạitheo phần bằng nhau, hoặc được xác định tương ứng với giá trị phần quyền của

họ trong tổng giá trị tài sản chung Quy định này chỉ mang tính chất chung vàtrong một mức độ nào đó chưa bao quát hết các trường hợp có thể xảy ra do vậytrong thực tiễn áp dụng còn gặp nhiều khó khăn Đối với trường hợp BTTH donhà cửa, công trình xây dựng gây ra do tính chất suy đoán của lỗi nên không thểxác trách nhiệm liên đới BTTH của các chủ thể theo mức độ lỗi của từng ngườimà phải xác định theo phần quyền sở hữu, quản lý, sử dụng của họ đối với nhàcửa, công trình xây dựng gây thiệt hại Việc xác định trách nhiệm liên đới BTTHgiữa những người đồng sở hữu nhà cửa, công trình xây dựng theo đó sẽ hợp lývà công bằng hơn

- Trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng thuộc quyền sở hữu, quản

lý, sử dụng của Nhà nước

Một trong những yêu cầu cơ bản của Nhà nước pháp quyền là công dân vàNhà nước phải được đối xử bình đẳng trong các quan hệ pháp luật dân sự Theo đó,khi quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức bị xâm phạm thì đối tượng cóhành vi xâm phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Vấn đề đặt ra là khiquyền lợi của công dân, tổ chức bị các cơ quan Nhà nước xâm phạm thì xử lý rasao, ai chịu trách nhiệm? Theo PGS.TS Dương Đăng Huệ - Vụ trưởng Vụ Phápluật dân sự, kinh tế Bộ Tư pháp: “Trong hơn 10 năm trở lại đây, thực tiễn pháp lý ởViệt Nam cho thấy nước ta đã manh nha hình thành chế định pháp luật BTNN, biểu

Ngày đăng: 18/08/2023, 15:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w