Tràng Giang BÀI LÀM Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu Xuất hiện vào giai đoạn toàn thịnh của phong trào Thơ Mới, nhà thơ Huy Cận (1919 2005) là một trong những thi sĩ có công đưa phong trà[.]
Trang 1Tràng Giang
BÀI LÀM Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu
Xuất hiện vào giai đoạn toàn thịnh của phong trào Thơ Mới, nhà thơ Huy Cận (1919-2005) là một trong những thi sĩ có công đưa phong trào này lên đến đỉnh cao Ở độ chín nhất, phong cách thơ Huy Cận là sự kết hợp nhuần nhuyễn những yếu tố cổ điển, nhất là cổ điển Đường thi và những yếu tố trong thơ mới Cụ thể,
đó là sự hoà hợp nỗi sầu vạn kĩ của ông cùng cả nỗi sầu vũ trụ và nhân tình trong thơ Đường Nỗi niềm ấy thường chung đúc vào hình ảnh điển hình của cái tôi trong tập “Lửa thiêng" (1940) - mảnh hồn đầy ảo não giữa trời thơ mới đang đi dần vào bế tắc Trong đó, “Tràng giang” có thể xem là một nốt nhạc buồn trong bản giao hưởng đa sầu đa cảm của “Lửa thiêng” Bài thơ được Huy Cận viết vào tháng 9 năm 1939 Khi đó, chàng sinh viên 20 tuổi Huy Cận đang học trường Cao đẳng Canh nông Vào những buổi chiều, Huy Cận thường đạp xe ra bến Chèm nhìn song Hồng cuốn cuộn chảy, nỗi buồn không vơi mà kết tỉnh lại thành cảm xúc trào dâng "Từng lời, từng lời bắt đầu như có dòng nước lũ cuốn ra từ lòng tôi” (Huy Cận) Mang nỗi buồn u hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, làm rung động bao con tim của thế hệ bạn đọc
Ngay từ đầu bài thơ Huy Cận đã đưa chúng ta đến với một nét đẹp cổ điển mà ít
ai có, chỉ khi đến với Huy Cận chúng ta mới cảm nhận được Đó là cách đặt tên nhan đề bài thơ Hai chữ “Tràng giang” đều là tiếng Hán cổ mang đậm màu sắc Đường thi “Tràng” là biến âm của từ “Trường”, Huy Cận không gọi là “Trường giang” vì nó trùng với tên một con sông của Trung Hoa, khác với mục đích mà nhà thơ muốn hướng tới Điệp vần “ang” vừa mở ra một bề dài rộng mênh mang cho dòng sông, vừa tạo dư ba cho nỗi buồn bâng khuâng man mác của thi nhân Dòng sông như được nới rộng tới vô cùng vô tận, giờ đây nó không chỉ là một dòng sông đơn thuần mà còn là dòng đời, là dòng chảy thời gian viên mãn, xa xăm của Đường thi vọng về thực tại Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” cũng đã mở rộng ra trước mắt chúng ta một không gian rộng lớn “trời rộng, sông dài”, một nỗi buồn da diết “bâng khuâng ”, mông lung, mơ hồ, không thể gọi tên Một lần nữa lời đề từ lại khái quát nên chủ đề của bài thơ chính là nỗi niềm không biết bày tỏ cùng ai khi đứng giữa trời đất mênh mông và bao la Đó chính là cảm hứng chủ đạo của toàn bài thơ và cũng đồng thời tô đậm nét riêng trong hồn thơ Huy Cận trước năm 1945: nỗi buồn, nỗi sầu vạn kỉ trước không gian bao la không cùng của thiên nhiên và vũ trụ
Dường như, Huy Cận đã đem hồn thơ với nỗi buồn thiên cổ đầy sầu mộng của mình để lượm lặt những nỗi buồn nhân thế mà đem vào trang thơ “Tràng Giang"
có thể nói là bài thơ thể hiện rõ nhất điệu hồn ấy của phong cách thơ Huy Cận Đặc biệt hai khổ đầu bài thơ, là những nét vẽ buồn man mác phủ lên toàn bộ phong cảnh
Sóng cuộn Tràng Giang buồn điệp điệp
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Trang 2Lọt thỏm giữa dòng sông, giữa vũ trụ mênh mông vô định là những hình ảnh lẻ mọn, nhỏ nhoi khiến cho không gian trở nên thật khác lạ Có lẽ cái chất thơ của sông nước đã nhập vào những câu thơ này để phô bày vẻ đẹp của nó Nếu câu thơ thứ nhất gợi được những vòng sóng đang lan xa, gối lên nhau, xô đuổi nhau đến vô tận, thì câu thứ hai lại vẽ ra những luồng nước cứ song song, rong ruổi mãi về cuối trời Không gian vừa mở ra bề rộng, vừa vươn theo chiều dài Tác giả
“Tràng giang” đã đẩy các từ láy xuống cuối câu Nhờ thế hai từ láy nguyên “điệp điệp” và “song song” tạo ra được dư ba Nghĩa là lời thơ đã ngừng mà âm hưởng vẫn còn vang vọng như dội mãi vào vô biên Trước không gian mênh mông, vô tận của sóng nước, Huy Cận như thả hồn mình nơi ấy, để rồi từng con sóng cũng biết “buồn điệp điệp” - một nỗi buồn không mãnh liệt trào dâng mà miên man không dứt Câu thơ như dung chứa cả hai đợt sóng, sóng nước và sóng lòng Đây
là con sóng đa tầng đa nghĩa khiến cho dòng sông cựa mình biến thành một thực thể vô thường Nhạc sóng và nhạc lòng, không gian vũ trụ và không gian tâm tưởng hoà quyện vào nhau tạo thành thứ sắc màu tâm lý, màu buồn đổ bóng lên vạn vật: “Con thuyền xuôi mái nước song song" Hai chữ “xuôi mái" đầy bất lực
và phó mặc, tất cả mọi quyền lực được trao trọn cho số phận, cho sự chiếm lĩnh của không gian và thời gian
Vốn dĩ thuyền và nước là hai thứ không thể tách rời nhau nhưng trong câu thơ tác giả viết “thuyền về nước lại sầu trăm ngã” ẩn chứa một uẩn khúc hay đúng hơn là nỗi sầu của sự chia lìa không báo trước, nghe xót xa và nghe quạnh lòng hiu hắt quá Một nỗi buồn đến tận cùng, mênh mang củng sông nước dập dềnh Dường như, câu thơ đã nói lên được tâm trạng của các nhà thơ mới nói chung ở thời kỳ đó, một kiếp người đa tài nhưng vẫn long đong, loay hoay giữa cuộc sống bộn bề chật chội như thế này Có thể nói, ba câu thơ đầu mang màu sắc cổ điển
vẽ lên hình ảnh một con thuyền nhỏ bé, lênh đênh, trôi dạt giữa dòng sông rộng lớn, cô đơn
Tê tái nhất vẫn là hình ảnh “Củi một cảnh khô lạc mấy dòng" Đây là câu thơ bảy chữ vỡ vụn thành sáu mảnh đầy nhói buốt, cô đơn Từ “củi” được đảo lên đầu dòng thơ ngầm chỉ trạng thái chết chóc của cô đơn vì cô đơn vốn là cội nguồn của cái chết Xưa nay không ai chết vì buồn nhưng lại chết vì cô đơn “Một" là số
từ thể hiện sự lẻ loi đơn độc bởi cô đơn thường là một mình “Cành" gợi lên sự nhỏ nhoi, yếu ớt gợi thân phận của kiếp người “Khô" là trạng thái cằn cỗi thiếu sức sống, “lạc” là sự trôi dạt bơ vơ “Mấy dòng” lại là cái mênh mông vô định của không gian, cũng là sự lạc loài bơ vơ của cảm xúc Ở đây có thể thấy, Huy Cận
đã đưa vào trong thơ những chất liệu từ đời thực, những chất liệu sống để diễn tả một cách chân thực, mộc mạc nhất sự cô đơn, mất phương hưởng thậm chí là bế tắc của chính tác giả, hay của những cái tôi thơ Mới lúc bấy giờ
Câu thơ trải qua một cuộc hành trình từ kiếp củi đến kiếp người Đó là hành trình đầy cô đơn tuyệt vọng của con người nhỏ nhoi, yếu ớt bị lọt vào giữa vũ trụ mênh mông rợn ngợp Và một quan niệm nhân sinh hiện đại, sự tự ý thức về nỗi cô đơn được hình thành trên cơ sở của sự thức tỉnh cá nhân mạnh mẽ mà trước đây chưa từng có Khi đánh giá thơ ông, Xuân Diệu nói rất tình: “Thơ Huy Cận không gắn đến cái hằng ngày, cái trước mắt mà là cái ngàn năm" Đây là một quan niệm nhân sinh mới mẻ thể hiện sự vụt tỉnh của ý thức cá nhân, thôi thúc Huy Cận sáng tạo nên một hình ảnh tương phản thể hiện rõ cảm quan buốt nhói về thời gian ngay trên chính dòng sông “Tràng giang”
Trang 3Nếu trong khổ thơ mở đầu của bài thơ, tác giả vẽ nên không gian sông nước mênh mông thì trong khổ thơ thứ hai, tác giả lại mở ra không gian nơi cồn nhỏ Hai câu thơ mở đầu khổ thơ thứ hai đã vẽ nên một không gian hoang vắng, hiu quạnh
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Với việc sử dụng nghệ thuật đảo ngữ cùng từ láy “lơ thơ”, “điu hiu” đặc biệt gợi cảm, tác giả đã vẽ nên một bức tranh nơi cồn nhỏ vừa thưa thớt, hoang vắng Đấy cũng là sự cảm nhận bằng thị giác Bên cạnh đó, tác giả còn có sự cảm nhận bằng thính giác: cảm nhận về âm thanh cuộc sống tiếng chợ chiều Cảnh vật như thiếu vắng hơi ấm của cuộc sống con người Thêm vào đó, sự hoang vắng, tĩnh mịch của không gian càng được tô đậm thêm qua câu thơ “đâu tiếng làng xa văn chợ chiều” Có thể nói, đây là một câu thơ có nhiều cách hiểu, “đâu” là đâu có, là phủ nhận âm thanh của tiếng chợ chiều hay là đâu đó, gợi lên âm thanh yếu ớt của tiếng chợ Nhưng có lẽ dẫu hiểu theo cách nào đi chăng nữa thì câu thơ vẫn gợi lên trong lòng người đọc nổi buồn, sự hoang vắng, tàn tạ, thiếu vắng đi sự sống của con người Chợ vốn là là hình ảnh của không gian sống, là biểu tượng của cuộc sống nhộn nhịp, đông đúc Nhưng chợ ở đây, cũng là chợ chiều đã vãn Cảnh vật héo buồn, sinh hoạt và cuộc sống của con người cũng đi dần vào thế nghỉ ngơi, vào sự buồn bã hiu quạnh Tác giả như không tìm thấy sợi dây liên hệ với cuộc đời, mang đến sự vô vọng Và dường như trong câu ba và câu bốn, không gian rợn ngợp kia như được mở rộng cả về bốn phía làm cho cảnh vật vốn
đã vắng vẻ lại cảng thêm cô liêu và tình mịch hơn
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu,
Tứ thơ như đột ngột được nhắc bổng lên để toả ra đôi bờ và phía “cồn nhỏ”,
“làng xa" gợi cảm giác về vũ trụ quá rộng nhưng rỗng và lạnh Không gian trong thơ cổ thưởng bị đập bẹp với hai chiều cao - thấp Huy Cận cũng làm như vậy nhưng khi diễn tả chiều rộng, ông bổ sung thêm chiều sâu “sâu chót vót” khiến không gian được dựng dậy, mở rộng về tử phía tạo không gian hình lập phương
ba chiều hiện đại đầy ám ảnh Huy Cận còn khéo léo tạo ra nỗi ám ảnh dai dẳng cho người đọc bằng thủ pháp đổi lập giữa hai khổ thơ Nếu khổ thơ thứ nhất là sự nhói buốt bởi cái nhìn nhỏ nhoi và hữu hạn của kiếp người trong sự “vô thủy vô chung" của không gian thì khổ thơ thứ hai lại choảng váng trước cái thăm thăm
vô cùng của vũ trụ Thiên nhiên một lần nữa xuất hiện trong thơ nhưng chỉ là những cảnh vật gợi sự khô héo, đìu hiu tàn lụi Những cồn nhỏ như đang nương vào cơn gió để khe khẽ kể về nỗi buồn của mình Và ngọn gió, dường như cũng mang trong nó nỗi buồn man mác của cảnh vật mà hồn thơ âu sầu ảo não của Huy Cận đã họa thành Hai câu thơ cuối của khổ có thể nói là tuyệt bút nên thơ của Huy Cận, cách dùng từ độc đáo của thi nhân đã lột tả một cách chính xác cảm giác của nhân vật trữ tình khi đứng trước thiên nhiên rộng lớn Những
chuyển động đối lập nhau: lên - xuống cùng với cách tạo về đối “nắng xuống” -
“trời lên” tạo cảm giác như một chiếc tủ giam lỏng dồn nén con người ở giữa cảm thấy ngột ngạt, bí bách và chán chương trong sự vận động xoay guồng của tạo hóa “Sâu chót vót” là cụm từ độc đáo, vừa diễn tả độ sâu, vừa diễn tả độ cao, vừa tạo cảm giác mở về sự cảm nhận của người đọc Và rồi tiếp nối mạch cảm xúc ấy, là cảm giác cô liêu, cô đơn đến cùng cực của con người giữa sông dài trời
Trang 4rộng, giữa sự vô tận Đây là nỗi buồn cô đơn đến rợn ngợp của con người cá nhân
bé nhỏ trước không gian ba chiều bao la, luôn luôn có niềm khát khao hoà hợp, cảm thông giữa người và người trong tình cảnh đất nước và tỉnh thương yêu nhân loại Thiên nhiên trước giờ là đề tài chung của thi nhân, là cảm hứng dạt dào bất
tử Nhưng rõ ràng, sự xuất hiện của con người, bóng dáng của cái tôi cá nhẫn là một nét mới - hoàn toàn đứt lia với “cái ta” cổ kinh trung đại để dẫn thân vào khám phá những chiều kích nội tâm Là nhà thơ nổi tiếng của phong trào thơ mới, Huy Cận đã để lại những dấu ấn khó phai trên thi đàn, vừa tiếp nối, gìn giữ những nét cổ điển trong thơ xưa vừa thực hiện cuộc khai phá ngoạn mục trong hành trình thơ mới
Thế giới Huy Cận là thế giới của “Buồn bã không gian/Mây bay lững thấp giăng màn âm u” ("Thu rừng") Trong thế giới ấy, thời gian dừng lại, lặng lẽ chuyển hóa thành tĩnh tại, thành một điểm của không gian Hình thái cảm ứng ấy đặc biệt được biểu hiện trong bài thơ “Trảng giang" Đó là khúc trữ tỉnh của một chiếc linh hồn nhỏ, mang mang thiên cổ sầu “Tràng giang” là một bức tranh phong cảnh Phong cảnh “Tràng giang” không có màu sắc
Bèo dạt về đâu, hàng nổi hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Khổ thơ thứ ba này là cái rùng minh lạnh toát mồ hôi của sự đứt mối giao cảm Vạn vật vỡ vụn, đứt mối liên hệ dồn con người về phía cô đơn và ngột thở trong cái không gian ba chiều hun hút Nỗi cô đơn của khổ thơ được diễn tả bằng hình ảnh cánh bèo truyền thống nhưng mang linh hồn hiện đại “Bèo dạt về đâu, hàng nổi hàng” Câu thơ là sự ngân dài qua ba biến tẩu, từ kiếp “củi” đến kiếp “bèo”
và cuối cùng là kiếp “người” Đặc sắc nhất là chữ “dạt” đứng sau chữ “bèo” gợi
sự chới với, chơi vơi Càng ấn tượng hơn nữa là hai chữ “không”: "không cầu”,
"không đỏ” như những nhát dao cắt đứt mọi mối liên hệ dù là mỏng manh nhất khiến thế giới thống nhất trở nên vỡ vụn, vạn vật hoàn toàn bị cô lập Đây là thủ pháp nghệ thuật dùng cái không để diễn đạt cái có, lấy cái “không cầu”, “không đò" để diễn tả nỗi cô đơn đã chiếm lĩnh hết vị trí của ô-xi trong cái không gian hình lập phương ba chiều ấy Một đặc trưng nữa của thơ mới là cái buồn gắn với cái đẹp, tác giả cũng tạo ra một câu thơ lấp lánh vẻ đẹp như dòng sông dưới ánh trăng nhưng hoang vắng và lặng lẽ như “cõi không người": “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” Hai chữ "bờ xanh" và “bãi vảng” khiến câu thơ đẹp như trong miền cổ tích ngày xưa hay từ lời ru đưa nổi nhưng hoang vắng lạ thưởng Thực chất đây là thủ pháp dùng cái lặng lẽ ở bên ngoài để rổn tụ, để lắng đọng những cái đang náo động, đang nhảy múa toán loạn bên trong Đó là nỗi khắc khoải, nỗi khát khao của tâm hồn ham sống cho ra sống Từ láy “mênh mông” được tác giả đẩy lên đầu câu thơ nhằm khéo léo mở ra tầm nhìn bao quát toàn cảnh "tràng
giang” Trong cái nhìn bao quát ấy, Huy Cận càng như thất vọng trước cái hoang vắng, lạnh lẽo của thiên nhiên Hình ảnh cây cầu và chuyển đỏ ngang xuất hiện trong đoạn thơ không chỉ là hiện thân cho dấu vết của sự sống con người
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng nhận xét rằng: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng, ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu, càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta
Trang 5điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta say đắm cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ
Ta ngơ ngắn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận” Và bài thơ “Tràng Giang" điển hình cho phong cách sáng tác, cho nỗi buồn mang mác, u hoài của nhà thơ
“Buồn thương, sầu não là âm hưởng chính khiến “Lửa thiêng” như bản ngậm ngùi dài Tập thơ dẳng dặc một nỗi buồn nhân thế, một nỗi đau đời” (Hoài Thanh) Trong đó, người đọc biết đến Huy Cận nhiều nhất qua bài “Tràng giang” trích trong tập thơ này “Tràng giang” đã khắc họa thành công cái lăng kính sầu vạn
cô cùng hiện thực giàu sắc thái Chính vì lẽ đó, bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận đã khắc họa thành công hai về đẹp: cổ điển và hiện đại và khổ cuối bài thơ
là minh chứng đậm sâu nhất cho sự hòa quyện của hai yếu tố này
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cảnh nhỏ bỏng chiều sa Lòng quê dợn dợn với con nước
Không khỏi hoàng hôn cũng nhớ nhà Khổ thơ nói đến hoàng hôn trên tràng giang từ một cái nhìn xa vời vợi Câu thơ được gợi từ hai câu thơ trong bài “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu “Quê hương khuất bóng hoàng hôn-Trên sông khói sóng cho sầu lòng ai”.Dường như, trước mắt nhà thơ là những núi mây nhô lên, đùn lên lớp lớp màu trắng bạc Cảnh sắc thiên nhiên rất tráng lệ Bầu trời mang màu xanh thẳm, hoặc tím thầm trong khoảnh khắc hoàng hôn làm màu mây ở cuối chân trời mới ánh lên màu bạc ấy Giữa cái bao la mênh mông bỗng xuất hiện một cánh chim nhỏ nhoi Cánh chim dang chở nặng bóng chiều, bay vội vã Trên cái nền tím sẫm, nhạt nhòa của bóng chiều hôm, hiện lên những núi bạc mây cao và một con chim lạc đàn
nghiêng cánh nhỏ Hai nét vẽ ấy tượng trưng cho những cảnh chiều hôm trong tâm tưởng người lữ thứ: Ngàn mai gió cuốn chim bay mới (Bà Huyện Thanh Quan) Chim hôm thoi thóp về rừng (Nguyễn Du) Nghệ thuật tương phản giữa cánh chim nghiêng nhỏ bé và mờ dần với núi mây bạc hùng vĩ, với trời đất bao la
đã làm cho cảnh đất trời và trảng giang thêm mênh mông hơn, xa vắng hơn, và cũng buồn hơn Khổ thơ cuối cùng là đỉnh điểm của cảm xúc, là sự lắng tụ ý tưởng của bài thơ Tác giả tạo ra hai hoàng hôn, hoàng hôn của cảnh vật với sự đối lập của hai phạm trù không hoàng hôn và lỏng quê được nói đến trong đoạn thơ mãi mãi khơi gợi trong ta hình bóng quê hương yêu dấu Tràng giang đã và đang mang theo bao vạn lí tình trong hồn ta Bằng biện pháp sắp đặt các sự vật của vũ trụ trong “mối quan hệ vô quan hệ", các thủ pháp nghệ thuật tu tử và tạo
ra mối tương quan giữa các từ ngữ trong bài thơ “Tràng giang”, Huy Cận đã đem đến cho người đọc nhiều khoái cảm thẩm mỹ mới lạ về không gian vũ trụ và con người với ý thức cá nhân bừng tỉnh mà trước đây chưa từng có Đặc biệt hơn cả là tác giả đã nhẹ nhàng “đánh bẩy” người đọc vào nỗi ám ảnh không gian dài dẳng
lạ thưởng
Bài thơ có sự kết hợp nhuẩn nhuyễn giữa yếu tố cổ điển, nhất là yếu tố Đường thi với yếu tố thơ mới Đồng thời có nhiều yếu tố hiện đại thể hiện “tinh thần Thơ mới” và sự sáng tạo mới mẻ của Huy Cận: Một cái “Tôi" thơ lãng mạn, giàu cảm xúc trước tạo vật Hình ảnh sinh động, cảm giác tĩnh vi phong phú, nhiều sáng tạo bất ngờ Đặc biệt chất Đường thi thẩm đượm: từ thể thơ, thi đề, thi tử thi liệu
Trang 6đến những thủ pháp nghệ thuật đặc trưng (phép đối ngẫu, từ láy dùng theo lối song đối
Cổ điển, hiện đại đan xen hòa hợp đã mang đến cho “Tràng giang” âm hưởng nhịp nhàng với cảm xúc buồn hiu, lạnh lẽo “Tràng giang” đã hiện lên như một bản nhạc êm đềm, thiết tha mang nỗi lòng của Huy Cận gửi vào chốn mênh mông sâu thẳm chẳng có bến bờ nào Một nỗi niềm chan chứa ưu tư của tác giả
về tình yêu quê nhà, đất nước, con người của chính mình ông Một cảm xúc rất chân thật trước bầu trời thiên nhiên mênh mông, bao la đến bất tận!