1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và vấn đề kiểm soát vốn ở việt nam hiện nay

28 539 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 289,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm đầu tư gián tiếp nước ngoài: Điều 3 Luật Đầu tư của Việt Nam được thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ tháng 7/2006 đã xác định: “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

BỘ MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ



Đề tài:

ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ VẤN

ĐỀ KIỂM SOÁT VỐN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GVHD : TS Nguyễn Thị Liên Hoa SVTH : Nhóm 14 – NH Đêm 2

Huỳnh Văn Vũ Phạm Thị Thủy Nguyễn Thị Thành Tâm Nguyễn Phương Thùy Trang Nguyễn Hoàng Quốc Thụy

TP Hồ Chí Minh 02-2008

Trang 2

I CƠ S Ở LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI

1 Khái niệm đầu tư gián tiếp nước ngoài:

Điều 3 Luật Đầu tư của Việt Nam được thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ tháng 7/2006 đã xác định: “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác; thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư” Theo cách hiểu này, đầu tư gián tiếp nước ngoài (ĐTGTNN)

là các khoản đầu tư gián tiếp do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện – để phân biệt với đầu tư gián tiếp trong nước do các nhà đầu tư trong nước thực hiện… thông qua 2 hình thức chủ yếu sau:

- Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác của các doanh nghiệp, của Chính phủ và của các tổ chức tự t rị được phép phát hành trên thị trường tài chính

- Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua Quỹ đầu tư chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính

Cách hiểu này là sát gần với định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment – FPI) là hoạt động mua chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) được phát hành bởi một công ty hoặc cơ quan Chính phủ của một nước khác trên thị trường tài chính trong nước hoặc nước ngoài

2 Đặc trưng cơ bản của ĐTGTNN là:

2.1 Thứ nhất, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát

hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng khoán;

2.2 Thứ hai, nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật chất,

công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như t rong FDI ĐTGTNN là đầu tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính

Trang 3

Như vậy có thể thấy ĐTGTNN là một khái niệm khá mới mẻ, nhất là ở nước

ta, vì chúng xuất hiện và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán quốc gia và quốc tế

Trên thực tế, ĐTGTNN là dùng để chỉ các hình thức đầu tư không phải là đầu

tư trực tiếp nước ngoài truyền thống (tức đầu tư để lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, lập liên doanh hoặc công ty cổ phần và kinh doanh theo hợp động hợp tác kinh doanh….), song sự phân biệt này không phải lúc nào cũng rạch ròi và thống nhất Chẳng hạn, khi nhà đầu tư dùng vốn của mình để mua cổ phiếu của doanh nghiệp, nếu tỷ lệ cổ phiếu do nhà đầu tư nắm giữ là thấp hơn mức nhất định (10% theo tiêu chuẩn của IMF và 30% theo tiêu chuẩn của Việt Nam hiện hành) thì là đầu tư gián tiếp, nhưng khi vượt ngưỡng này thì lại được xếp vào đầu tư trực tiếp và lúc này, nhà đầu tư có thể dùng quyền bỏ phiếu của mình để can thiệp trực tiếp vào thực tế quản lý, kinh doanh của doanh nghiệp…

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài:

Cũng như FDI, động thái dòng vốn ĐTGTNN chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ của các nhân tố như:

_ Bối cảnh quốc tế (hòa bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao và môi trường pháp lý quốc tế thuận lợi

_ Nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài

_ M ức độ tự do hóa và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự t hân thiện, thuận tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư trong nước

_ Sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, của các thể chế thị trường nói chung của nước tiếp nhận đầu tư…

Nhưng khác với FDI, vốn ĐTGTNN chịu ảnh hưởng trực tiếp mạnh hơn từ phía các nhân tố, như:

_ Sự phát triển và độ mở cửa của thị trường chứng khoán, chất lượng của các

cổ phiếu, trái phiếu do doanh nghiệp và nhà nước phát hành, cũng như các chứng khoán

có giá khác lưu thông trên thị trường tài chính

Trang 4

_ Sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian (trước hết là các Quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư t ài chính các loại, các Quỹ đầu

tư đại chúng, Quỹ đầu tư mạo hiểm, Quỹ thành viên)

_ Sự phát triển và chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán, trong đó có các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn và dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm doanh nghiệp và chứng khoán

_ Đặc biệt, dòng vốn ĐTGTNN sẽ chảy mạnh vào trong nước theo mức tỷ lệ thuận và cấp số nhân cùng với sự gia tăng quá trình cổ phần hóa các DNNN, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động hiệu quả ở trong nước, cũng như cùng với việc nới rộng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó

II TÌNH HÌNH VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP TẠI VIỆT NAM

1 Quá trình hình thành dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam:

Quá trình hình thành dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam có thể khái quát thành các giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1 (1988 – 1997): là thời kỳ mở đầu tư cho dòng vốn ĐTGTNN để

vào Việt Nam theo xu hướng đổi mới và mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra trong phạm vi cả nước và tạo động lực, hy vọng chung cho các nhà đầu tư nước ngoài Trong giai đoạn này, ở Việt Nam đã có 7 Quỹ đầu tư nước ngoài được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng 400 triệu USD

- Giai đoạn 2 (1998 – 2002): là thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng tài

chính – tiền tệ châu Á khiến các dòng vốn đầu tư t rực tiếp và gián tiếp nước ngoài đổ vào châu Á bị chững lại và Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng chung của xu hướng này với việc giảm sút và thu hẹp đáng kể quy mô thu hút cảu cả FDI và FPI Trong số 7 Quỹ đầu tư kể trên có 5 Quỹ rút khỏi Việt Nam, 1 Quỹ thu hẹp trên 90% quy mô quỹ, chỉ còn duy nhất Quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund được thành lập 7/1995 với quy mô vốn 35 triệu USD (nhỏ nhất trong số 7 Quỹ) là còn hoạt động cho đến nay

Trang 5

- Giai đoạn 3 (từ 2003 đến nay): là thời kỳ phục hồi trở lại của dòng vốn

ĐTGTNN vào Việt Nam cùng với xu hướng tăng cường cải thiện môi trường đầu tư, p hát triển các định chế thị trường tài chính, trong đó có lập sàn giao dịch chứng khoán ở thành phố Hồ Chí M inh tháng 7/2000 và TTGDCK Hà Nội tháng 3/2005, đặc biệt là chủ trương

và quyết tâm của Chính phủ đẩy mạnh cổ phần hóa và nới lỏng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các DNNN lớn được cổ phần hóa (từ 30% lên 49%)….Tính đến tháng 6/2006, cả nước đã có 19 Quỹ đầu tư nước ngoài với tổng vốn 1,9 tỷ USD đang hoạt động ở Việt Nam Tổng cộng đến nay vốn ĐTGTNN Việt Nam thu hút được bằng khoảng 2 – 3% so với tổng vốn FDI mà chúng ta đã thu hút được trong cùng thời kỳ (so với tỷ lệ trung bình 30 – 40% của các nước khu vực thì đây là tỷ lệ khiêm tốn…) Tuy nhiên, có thể cảm nhận khá rõ rệt và xác đáng những triển vọng rất sáng sủa của dòng ĐTGTNN đổ vào Việt Nam trong thời gian tới, đặc biệt từ sau khi Việt Nam triển khai các cam kết hội nhập WTO và thúc đẩy trên thực tế quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn đang hoạt động trong các lĩnh vực độc quyền hoặc gần như độc quyền hiện nay

2 Tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài:

Cũng như dòng vốn FDI, dòng FII đã, đang và sẽ có tác động cả tích cực và tiêu cực đến

đời sống kinh tế nước ta, thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu sau:

2.1 Những tác động tích cực:

2.1.1 Thứ nhất, trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư của xã hội Dòng vốn FII

khi đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng lượng FII trên thị trường vốn trong nước như một phép cộng đương nhiên vào tổng số dòng vốn này Hơn nữa, khi FII gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyền đến dòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước (Nói cách khác, các nhà đầu tư trong nước sẽ “nhìn gương” các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư gián tiếp của mình), kết quả tổng đầu tư gián tiếp

xã hội sẽ tăng lên Hơn nữa, FII gia tăng sẽ là một bảo đảm và tạo động lực mới hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư khác mạnh dạn thông qua các quyết định đầu tư t rực tiếp mới của mình, kết quả là gián tiếp góp phần làm tăng đầu tư t rực tiếp xã hội từ phía các nhà đầu tư

cả nước ngoài, cũng như t rong nước

2.1.2 Thứ hai, góp phần tích cực vào phát triển thị trường tài chính nói

riêng, hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường nói chung Việc gia tăng và phát triển

Trang 6

bộ phận thị trường FII sẽ làm cho thị trường tài chính (đặc biệt là thị trường chứng khoán) Việt Nam trở nên đồng bộ, cân đối và sôi động hơn, khắc phục được sự thiếu hụt, trống vắng và trầm lắng, thậm chí đơn điệu, kém hấp dẫn kéo dài của thị trường này trong thời gian qua Hơn nữa, điều kiện và kết quả đi kèm với sự gia tăng dòng FII này là sự phát triển nở rộ các định chế và dịch vụ tài chính – chứng khoán, trước hết là các loại quỹ đầu tư, công ty tài chính, và các thể chế tài chính trung gian khác, cũng như các dịch vụ

tư vấn, bổ trợ tư pháp và hỗ trợ kinh doanh, xác định hệ số tín nhiệm, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán và thông tin thị trường đồng thời, kéo theo sự gia tăng yêu cầu và hiệu quả áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường, trước hết trên thị trường chứng khoán… tất cả những điều này trực tiếp và gián tiếp góp phần phát triển mạnh mẽ hơn các bộ phận và tổng thể thị trường tài chính nói riêng, các thể chế và cơ chế thị trường nói chung trong nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam

2.1.3 Thứ ba, góp phần tăng cường cơ hội và đa dạng hóa phương thức đầu

tư, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và thu nhập của đông đảo người dân Việc phát

triển thị trường vốn đầu tư gián tiếp cả về bề rộng và bề sâu sẽ mang lại những cơ hội mới và sự đa dạng hóa trong lựa chọn các phương thức đầu tư cho các nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài và trong nước đông đảo các nhà đầu tư nước ngoài và cả trong nước, từ người dân, các doanh nhân đến các tổ chức và pháp nhân đầu tư chuy ên nghiệp và không chuyên nghiệp sẽ có thêm điều kiện lựa chọn hình thức sử dụng vốn của mình dưới các hình thức trực tiếp tự mình hay thông qua các định chế tài chính trung gian để mua - bán các cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán có giá khác của việt nam trên thị trường tài chính Việt Nam và nước ngoài Việc đầu tư này sẽ cho phép họ thu nhận được lợi nhuận từ sự chênh lệch giá cả khi mua - bán chứng khoán, cũng như từ lãi suất và cổ tức các chứng khoán mà họ sở hữu theo thoả thuận hoặc thực tế kết quả kinh doanh của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phát hành chứng khoán đó Điều này cũng đồng nghĩa với việc cải thiện thu nhập, mức sống của đông đảo các nhà đầu tư là người dân, tùy theo lượng vốn

và kỹ năng đầu tư chứng khoán mà họ có Hơn nữa, thông qua quá trình tham gia đầu tư gián tiếp này, các nhà đầu tư trong nước và người dân sẽ được dịp “cọ xát”, rèn luyện và bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, bản lĩnh đầu tư, nâng cao trình độ bản thân nói riêng, chất lượng nguồn nhân lực nói chung, phù hợp yêu cầu và điều kiện kinh doanh thị trường hiện đại

Trang 7

2.1.4 Thứ tư, góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước

theo các nguyên tắc và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế Sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và phát triển thị trường tài chính sẽ đặt ra những yêu cầu mới

và cũng tạo các công cụ, khả năng mới cho quản lý nhà nước nói chung và quản lý, quản trị doanh nghiệp nói riêng Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán

sẽ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp

và minh bạch hóa, cập nhật hóa thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp đã và sẽ phát hành hơn nữa Về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ lựa chọn đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển vọng phát triển tốt trong tương lai chính điều này sẽ cho phép quá trình chọn lọc nhân tạo; cho sự hỗ trợ

và phát triển các doanh nghiệp này trở nên khách quan và phù hợp cơ chế thị trường hơn (còn những doanh nghiệp khác mà chứng khoán của họ không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại định hướng và chất lượng quản trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể) Hệ thống luật pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến thị trường tài chính, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc điểm của thị trường này, cũng như theo các cam kết hội nhập quốc tế đồng thời, thông qua tác động vào thị trường tài chính, nhà nước sẽ đa dạng hóa các công cụ và thực hiện hiệu quả việc quản lý của mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp trên cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, thị trường tài chính nói riêng sẽ được cải thiện hơn

2.2 Một số tác động tiêu cực:

Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, việc gia tăng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam có thể gây ra một số tác động tiêu cực sau:

2.2.1 Thứ nhất, làm tăng mức độ nhạy cảm và bất ổn về kinh tế có nhân tố

nước ngoài Khác với FDI là nguồn vốn đầu tư lâu dài chủ yếu dưới dạng vật chất (xây dựng nhà máy, mua sắm thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu dùng cho sản xuất), khó chuyển đổi hoặc thanh khoản, FII được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính thuần túy với các chứng khoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản cao trên thị trường tài chính, nên các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn đầu tư của mình về nước, hay chuyển sang đầu tư dưới

Trang 8

dạng khác, ở địa phương khác tùy theo kế hoạch và mục tiêu kinh doanh của mình đặc trưng nổi bật này cũng chính là nguyên nhân hàng đầu gây nên nguy cơ tạo và khuyếch đại độ nhạy cảm và chấn động kinh tế ngoại nhập của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư Đặc biệt khi việc chuyển đổi và rút vốn đầu tư gián tiếp nói trên diễn ra theo kiểu tháo chạy đồng loạt trên phạm vi rộng và

số lượng lớn… Cần nhấn mạnh rằng, sự nhạy cảm và bất ổn kinh tế có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân bên trong, cũng có thể hoàn toàn do các nguyên nhân bên ngoài nước tiếp nhận đầu tư do phản ứng dây chuyền, làn sóng đô-mi-nô của các nhà đầu tư quốc tế như đã từng diễn ra trong cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước Trong tình huống như vậy, một sự đổ vỡ, một cuộc khủng hoảng đầu tư - tài chính - tiền tệ, thậm chí là khủng hoảng kinh tế là hoàn toàn có thể xảy

ra đối với nước tiếp nhận đầu tư nếu không có và triển khai tốt các phương án phòng ngừa hiệu quả

2.2.2 Thứ hai, làm gia tăng nguy cơ bị mua lại, sáp nhập, khống chế và lũng đoạn tài chính đối với các doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán Sự gia tăng

tỷ lệ nắm giữ chứng khoán, nhất là các cổ phiếu, cổ phần sáng lập, được biểu quyết của các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài đến một mức “vượt ngưỡng” nhất định nào đó sẽ cho phép họ tham dự trực tiếp vào chi phối và quyết định các hoạt động sản xuất, kinh doanh

và các chủ quyền khác của doanh nghiệp, tổ chức phát hành chứng khoán, thậm chí lũng đoạn doanh nghiệp theo phương hướng, kế hoạch, mục tiêu riêng của mình, kể cả các hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là, tính chất gián tiếp của vốn đầu tư nước ngoài đã chuyển hóa thành tính trực tiếp Nhà đầu tư gián tiếp sẽ chuyển hóa thành nhà đầu tư trực tiếp Thậm chí, về lô-gíc, quá trình diễn biến hòa bình này đạt tới quy mô và mức độ nào đó còn có thể làm chuyển đổi về chất quyền sở hữu và tính chất kinh tế ban đầu của doanh nghiệp và quốc gia

2.2.3 Thứ ba, làm tăng quy mô, tính chất và sự cấp thiết đấu tranh với tình trạng tội phạm kinh tế quốc tế Đầu tư gián tiếp quốc tế không chỉ làm gia tăng các nguy

cơ và tác hại của các hoạt động đầu cơ, lũng đoạn kinh tế vi phạm các quy định pháp lý của nước tiếp nhận đầu tư, mà còn là mảnh đất màu mỡ sinh sôi và phát triển các loại tội phạm kinh tế có yếu tố nước ngoài, thậm chí xuyên quốc gia, như hoạt động lừa đảo, hoạt động rửa tiền, hoạt động tiếp vốn cho các kinh doanh phi pháp và hoạt động khủng bố,

Trang 9

cùng các loại tội phạm và các đe dọa an ninh phi truyền thống khác Sự cộng hưởng của các hoạt động tội phạm và tác động mặt trái của dòng FII kể trên, nhất là khi chúng diễn

ra một cách có tổ chức của giới đầu cơ hay lực lượng thù địch chính trị quốc tế, sẽ ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt và lâu dài gây tổn hại tới hoạt động kinh tế lành mạnh và làm tăng tính dễ tổn - thương của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Thậm chí trong một số trường hợp, chúng còn làm mất uy tín nhà nước và gây sụp đổ một nội các chính phủ… Ngoài ra, sự gia tăng FII vào Việt Nam còn đặt ra yêu cầu chính phủ và các cơ quan trung ương phải chủ động đổi mới và sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế của mình theo nguyên tắc thị trường hơn, trong đó có việc sử dụng bảo lãnh nhà nước, quy định tỷ lệ và sử dụng các công cụ dự phòng, dư nợ cũng như các công cụ khác của các định chế tài chính – tiền tệ quốc gia và địa phương… Tất cả những điều này là cần thiết để đảm bảo sự thu hút và khai thác có hiệu quả các tác động tích cực của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

3 Các kênh thu hút vốn chính tại Việt Nam

Đến vào giữa năm 2007, lúc tổng vốn hóa thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam khoảng 20 tỉ đô la Mỹ (HOSE khoảng 15,5 tỉ, HASTC khoảng 4,5 tỉ), thì giá trị vốn hóa tính riêng cho đầu tư nước ngoài là gần 5 tỉ đô la M ỹ (khoảng 25% tổng thị trường) Cũng vào khoảng thời gian này, giới tài chính trong và ngoài nước đã đưa ra con

số ước đoán nguồn vốn FII đầu tư vào TTCK Việt Nam trong năm 2007 có thể lên đến 2

tỉ đô la M ỹ Đến năm 2007, số quỹ đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam là khoảng trên 60, với số vốn mai phục khoảng 6 tỉ đô la Trong số đó, chỉ riêng ba quỹ là Dragon Capital, Vina Capital và Indochina Capital đã có số vốn tròm trèm 4 tỉ đô la Mỹ Những thông tin vừa nêu cho thấy nguồn vốn đầu tư t ài chính nước ngoài đã tăng nhanh đáng kể

Số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê cho rằng vốn đầu tư tài chính vào thị trường chứng khoán cả năm 2007 ước đạt 5,3 tỉ đô la Mỹ, tăng 3 - 4 lần so với năm 2006

Năm 2007 cũng chứng kiến nhiều thương vụ FII lớn Nổi bật là việc Công ty Bảo hiểm tập đoàn Tài chính HSBC mua 10% cổ phần Bảo Việt với số tiền lên đến 225 triệu đô la M ỹ Ta thấy, chỉ một thương vụ thôi đã gần bằng con số “300 triệu đô la M ỹ

mơ ước” của hồi 2005! Nhiều quỹ đang theo đuổi các khoản đầu tư có quy mô khá cao Indochina Capital chẳng hạn, đã đưa ra tiêu chí từ 5-15 triệu đô la Mỹ mỗi khoản

Trang 10

Có thể nói chưa bao giờ dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) chảy vào Việt Nam thông qua các quỹ đầu tư lại mạnh mẽ như t rong năm 2007 Trong đó, thu hút nguồn vốn FII mạnh nhất là các lĩnh vực chứng khoán, bất động sản (BĐS) và cơ sở hạ tầng

3.1 S ức hút lớn của thị trường chứng khoán

Với Tập đoàn quản lý quỹ đầu tư Indochina Capital, tính đến nay, đã giải

ngân được 400 triệu USD (trong tổng vốn huy động của Quỹ Indochina Capital Vietnam Holdings Limited chuyên về chứng khoán là 600 triệu USD) Indochina Capital đang tìm

cơ hội để tiếp tục giải ngân 200 triệu USD còn lại, trong đó, một phần vốn lớn được bỏ vào các doanh nghiệp (DN) tư nhân ở những lĩnh vực đầy tiềm năng như t iêu dùng, dịch

vụ, xuất khẩu mà Việt Nam có thế mạnh

Chỉ trong một thời gian ngắn, Indochina Capital cũng như nhiều quỹ đầu tư nước ngoài khác đã thâu tóm hàng loạt DN trong nước thông qua hình thức mua bán cổ phần Cụ thể, Tập đoàn này đã đầu tư chiến lược vào Công ty cổ phần Đầu tư và Sản xuất Việt - Hàn (Hội An) bằng việc mua lại 15% cổ phần, đầu tư 100 t riệu USD để mua 20%

cổ phần của Công ty cổ phần Địa ốc Hoàng Quân, đầu tư 60 t riệu USD mua cổ phần của Hoàng Quân - M ê Kông (công ty thành viên trong hệ thống Hoàng Quân Corp.)

Theo ông Thomas J Ngô, Giám đốc danh mục đầu tư cấp cao của Indochina Capital, việc tìm kiếm một DN phù hợp với phương thức đầu tư chiến lược của Quỹ là rất quan trọng Sau khi xem xét, nếu nhận thấy đối tác hoàn toàn phù hợp với chiến lược đầu

tư của mình, Indochina Capital sẽ quyết định mua lại cổ phần Trong đó, đội ngũ quản lý giàu kinh nghiệm, quá trình kinh doanh thành công, vị trí dẫn đầu trên thị trường là những yếu tố mà Indochina Capital đặc biệt quan tâm

Về quy mô, Indochina Capital cho biết, sẽ linh hoạt trong việc phân bổ nguồn vốn, với mức bình quân khoảng 15 triệu USD cho một khoản đầu tư, tối thiểu là 5 triệu USD và tối đa là 65 triệu USD/khoản Tỷ lệ sở hữu cổ phần khi chọn một khoản đầu tư bình quân là 5 - 20%, cổ phần trong công ty tư nhân là 20 - 49%, cổ phần trong công ty nhà nước và niêm yết là 1 - 10%

Sản phẩm đầu tư của Indochina chọn sẽ là các loại chứng khoán thông thường, chứng khoán chuyển đổi và nợ tư nhân Dự kiến, trong năm 2008, Indochina

Trang 11

Capital sẽ rót thêm 1 tỷ USD vào thị trường chứng khoán Việt Nam và tiếp tục huy động thêm vốn khi giải ngân hết số tiền đó

Vina Capital là một quỹ đầu tư nước ngoài hoạt động rất thành công trên thị

trường Việt Nam trong những năm gần đây Trong đó, hai lĩnh vực mà VinaCapital bỏ vốn nhiều nhất là chứng khoán và BĐS Đến nay, VinaCapital quản lý 4 quỹ đầu tư, bao gồm Vietnam Op portunity Fund (VOF), VinaLand, Vietnam Infrastructure Limited và DFJ Capital L.P Trong đó, VOF là quỹ dạng đóng, niêm yết tại Thị trường chứng khoán London (AIM ), có vốn trên 1,1 tỷ USD VOF đặt trọng tâm đầu tư vào các ngành kinh tế chính, có tốc độ phát triển cao, như dịch vụ tài chính, bán lẻ, hàng tiêu dùng, du lịch, BĐS, hạ tầng và công nghệ thông tin

Theo ông Don Lam, Tổng giám đốc VinaCapital, VOF đã giải ngân được 900 triệu USD Trong đó, 50% vốn được giải ngân vào thị trường chứng khoán (cả niêm yết

và OTC) VOF sẽ huy động thêm vốn trong từng giai đoạn (khoảng 9 - 12 tháng/đợt) VinaCapital đang xây dựng kế hoạch huy động thêm vốn cho cả 4 quỹ đang quản lý

Còn Dragon Capital cho biết, tính đến nay, tổng giá trị tài sản mà họ quản lý

tại Việt Nam đã tăng lên trên 2 tỷ USD Nhiều quỹ do Dragon Capital quản lý chuyên đầu tư vào chứng khoán Dự kiến trong thời gian tới, Dragon Capital sẽ thành lập quỹ đầu

tư chuy ên về lĩnh vực BĐS và hạ tầng

Trong khi đó, Mekong Capital lại chọn hướng đầu tư vào khối DN tư nhân

tiềm năng M ekong Capital đang quản lý 3 quỹ đầu tư là M ekong Enterprise Fund I (tổng vốn 18,5 triệu USD và đã giải ngân hết), M ekong Enterprise Fund II (vốn 50 triệu USD

đã và đang giải ngân) và Việt Nam Azalea (chuẩn bị ra mắt để thu hút khoản vốn đầu tư trị giá 100 triệu USD cho khối tư nhân chưa niêm yết, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thu hút đầu tư, xây dựng thương hiệu, quảng bá, phân phối sản phẩm và thu hồi vốn)

Dòng vốn FII liên tục được đổ vào Việt Nam gần đây thông qua các quỹ mới Trong tháng 11/2007, Quỹ đầu tư Blackhorse Enhanced Vietnam Inc (BEVI) do Blackhorse Asset M anagement Pte Ltd (“BAM ”) của Singapore đã chính thức đi vào hoạt động tại Việt Nam, với tổng vốn huy động ban đầu là 110 triệu USD BEVI đầu tư vào các công ty đã niêm yết và chưa niêm yết trên TTCK Trong đó, hai mảng đầu tư chính của BEVI là xây dựng (khách sạn, cao ốc) và ngành hàng gia dụng Đến thời điểm này, BEVI đã giải ngân được 1/4 số vốn huy động ban đầu

Trang 12

3.2 S ôi động lĩnh vực bất động sản (BĐS ) và hạ tầng

Bên cạnh chứng khoán, dòng vốn giáp tiếp cũng ồ ạt đổ vào BĐS và hạ tầng

Indochina Capital là một trong những quỹ đầu tư nước ngoài đã đẩy mạnh đầu tư vào

các lĩnh vực này Tháng 12/2007, Indochina Capital đã ra mắt hai quỹ mới, với tổng vốn lên đến 1 tỷ USD và sẽ chính thức đi vào hoạt động trong năm 2008 Trong đó, Quỹ hạ tầng của Indochina Capital có tổng vốn 500 triệu USD, đầu tư vào các công trình và công

ty hoạt động trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng, công trình nghiên cứu sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, các dự án phát triển Dự kiến, công trình đầu tiên mà Quỹ hạ tầng của Indochina Capital đầu tư sẽ là Park City , tọa lạc tại Nam Sài Gòn, với tổng diện tích trên 100 ha

Indochina Land Holdings Fund 3 có tổng vốn huy động 500 triệu USD, đầu

tư vào các dự án tài chính và phát triển BĐS dân dụng, thương mại, bán lẻ, khách sạn và

khu nghỉ dưỡng, khu công nghiệp tại Việt Nam

Trước đó, Tập đoàn này đã có hai quỹ chuyên đầu tư về BĐS, là Indochina Land Holdings và Indochina Land Holdings Fund 2 Đến nay, Indochina Capital đã giải

ngân được 500 triệu USD vào lĩnh vực BĐS

Ông Peter Ryder, Giám đốc điều hành của Indochina Land (Indochina Capital) nhận định, với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam, nhu cầu về BĐS cao cấp của cá nhân và DN trong và ngoài nước cũng như nhu cầu về văn phòng cho thuê sẽ tăng cao trong thời gian tới Đó chính là cơ hội cho Indochina Land

Holdings Fund 3

Vina Capital cũng có quỹ đầu tư chuyên về BĐS và hạ tầng, đó là VinaLand

(chuyên về BĐS) với tổng vốn 680 triệu USD và đã giải ngân được 500 triệu USD; Vietnam Infrastructure Limited (chuyên về hạ tầng) với vốn 402 triệu USD Cả hai quỹ này của VinaCapital đã niêm yết tại AIM Ngoài ra, VinaCapital còn quản lý một quỹ đầu

tư mạo hiểm (DFJ) trị giá 30 triệu USD, chuyên đầu tư vào các công ty công nghệ thông tin có tốc độ phát triển cao tại Việt Nam

4 Đánh giá:

Khả năng hấp thụ vốn:

Nguồn vốn FII cho đến nay ước đạt khoảng 6,2 tỉ USD (tính theo thị giá), được đầu tư chủ yếu trên thị trường chứng khoán (khoảng gần 5 tỉ USD), phần còn lại

Trang 13

được đầu tư vào thị trường bất động sản Nói như Phó Viện trưởng Viện Kinh tế VN, ông Trần Đình Thiên, FDI, ODA và nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) tại VN đang

“lập kỷ lục mới”, mà chỉ nhìn vào, người ta có thể nói rằng “VN sắp cất cánh đến nơi”

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, TTCK VN đang ở trong tình trạng không hấp thụ hết vốn, hoặc hấp thụ kém Các công ty niêm yết cứ phát hành thêm cổ phiếu bằng tăng vốn điều lệ, mà chưa tiêu hóa kịp nguồn vốn huy động qua kênh này Số liệu từ Ủy ban Chứng khoán cho thấy, tổng vốn hóa của TTCK hiện chiếm khoảng 36% GDP và xấp xỉ 50% nếu cộng cả trái phiếu Nguồn vốn gián tiếp này đã tạo sức ép lên việc tăng giá tiền đồng VN, trong khi đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế khác đang tỏ ra kém hấp dẫn Tiền lãi từ TTCK lại đổ vào chính thị trường này, hoặc gần đây là vào lĩnh vực bất động sản Điều này đã làm phát sinh những cơn nóng lạnh khó kiểm soát

“Thị trường vốn tại VN không nên bị định đoạt bởi “tiền nóng”, mà nên do các nhà đầu tư với chiến lược lâu dài tại VN định đoạt”- ông Jeremy Amias, Giám đốc Điều hành khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Tập đoàn Citi Group, nói

4.2 Biện pháp nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế

Tổng thư ký Vafi, ông Nguyễn Hoàng Hải, cho rằng cần nhìn nhận tình trạng

khan hiếm tiền đồng là biểu hiện tốt của nền kinh tế khi hấp thụ được nhiều vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) FII sẽ ngày càng gia tăng hơn nhiều so với giai đoạn hiện nay

vì kinh tế nước ta sẽ còn tiếp tục tăng trưởng trong một khoảng thời gian dài cộng với quy mô TTCK ngày càng tăng lên nhiều lần Do vậy, cần phải có những giải pháp thích

hợp hấp thụ những nguồn vốn này

4.2.1 Các doanh nghiệp chỉ nên thu hút vốn khi thực sự cần vốn

Các doanh nghiệp chỉ nên thực hiện thu hút vốn khi thực sự cần vốn và có phương án sử dụng vốn có hiệu quả Tránh tình trạng nương dựa vào sự bùng nổ của thị trường chứng khoán, phát hành cổ phiếu một cách không tính toán để thu về một lượng

thặng dư lớn gấp nhiều lần vốn điều lệ nhưng sử dụng không hiệu quả

Các đợt phát hành gần đây của một số doanh nghiệp và tình trạng phát hành

cổ phiếu trong các ngân hàng là những ví dụ M ột khi đồng vốn sinh lời thấp sẽ dẫn tới hiệu quả đầu tư thấp Hiệu quả đầu tư t hấp nhưng lại cứ đổ vốn vào sẽ đi đến tăng trưởng nóng và lợi nhuận thấp Từ đó, nền kinh tế lâm vào nợ nần và con đường đến với khủng hoảng tài chính sẽ chẳng bao xa Để chứng minh cho nhận xét này, chuyên gia nói trên

Trang 14

đưa ra một công cụ tính toán sự tăng trưởng bền vững thông qua chỉ số Icor: Giả định rằng, năm 2006, tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 41% GDP, tăng trưởng thực là 8% thì chỉ số Icor là 41 : 8 = 5,1 Năm 2007, tăng trưởng trên 8,5% và vốn đầu tư khoảng 43% GDP thì Icor của năm 2007 là cũng khoảng 5 Thông thường, Icor của các nước chỉ

3 - 4 Theo chuyên gia này thì hiện tại, chỉ số Icor của Việt Nam ở mức trên 5 Đây là sự cảnh báo lớn về tăng trưởng thiếu bền vững

Tuy nhiên, về dài hạn thì việc dừng hoặc hạn chế thu hút vốn từ kênh thị trường chứng khoán nhằm giảm tác động lên lạm phát là không khả thi bởi không một một nền kinh tế nào không mong muốn có được nguồn lực từ dòng vốn này, nhất là dòng vốn FII TS Cao Sĩ Kiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn tài chính tiền tệ quốc gia nói:

“Vốn vào thì quan trọng nhất là phải sử dụng đồng vốn đó một cách hiệu quả Phải đầu tư vào sản xuất kinh doanh ra sản phẩm, để không chỉ tăng nguồn hàng phục vụ xuất khẩu

mà còn làm cân đối quan hệ tiền - hàng, tránh lạm phát

4.2.2 Cho phép DN huy động vốn ngoại tệ

Khả năng ngân hàng nhà nước mua ngoại tệ sẽ là hạn chế trong tình hình chính sách hiện nay vì chủ trương không cho tiền đồng tăng giá nhiều để khuyến khích xuất khẩu, nếu mua ngoại tệ nhiều có thể xảy ra tình trạng bao cấp giá mua ngoại tệ

Vì sao Ngân hàng Nhà nước phải mua USD? TS Vũ Đình Ánh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính) phân tích: “Phải mua vì trên thị trường quá nhiều USD từ các nguồn đầu tư gián tiếp (FII) và kiều hối M ặt khác, do quy định của Ngân hàng Nhà nước không cho phép đầu tư FII bằng USD nên các Ngân hàng Nhà nước buộc phải mua USD và chuyển VND cho họ” Cũng theo TS Ánh, một nguyên nhân khác cực kỳ quan trọng là tính đến nay, thâm hụt thương mại bị âm 9 tỷ USD nên phải có một khoản tương đương để bù vào đó

Trong khi đó, khả năng hấp thụ của hệ thống NHTM cũng bị hạn chế Bởi NHTM chỉ mua ngoại tệ phù hợp với nhu cầu bán ngoại tệ, bị khống chế ở trạng thái ngoại hối 30% so với vốn chủ sở hữu Chính vì vậy cần cho phép DN huy động vốn bằng ngoại tệ Khi cho phép DN được huy động vốn bằng ngoại tệ thì DN rất dễ dàng chấp nhận thanh toán ngoại tệ với tỷ giá liên ngân hàng (tỷ giá này có thể gây thiệt một chút so với thực tế nhưng DN có được rất nhiều lợi ích lớn hơn từ việc huy động được vốn) Vấn

Ngày đăng: 09/06/2014, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w