1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu về đám tang của người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyên Thuận Châu, tỉnh Sơn La

89 1,6K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về đám tang của người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Trường học Trường Đại học Sơn La
Chuyên ngành Văn hoá dân tộc
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Sơn La
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 773,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 2 CHƢƠNG 1TỔNG QUAN VỀ NGƢỜI THÁI Ở TỈNH SƠN LA VÀ NGƢỜI THÁI ĐEN Ở BẢN NÀ LẠN, XÃ TÔNG LẠNH, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA .......................................................................................................... 7 1.1. Nguồn gốc người Thái ................................................................................ 7 1.2. Người Thái ở Sơn La .................................................................................. 9 1.3. Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội của xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La .............................................................. 9 1.4. Người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ..................................................................................................................... 11 CHƢƠNG 2 HÀNH TRÌNH TANG MA CỦA NGƢỜI THÁI ĐEN BẢN NÀ LẠN,XÃ TÔNG LỆNH, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA .............. 22 2.1. Ngày thứ nhất ............................................................................................ 22 2.2. Ngày thứ hai.............................................................................................. 28 2.3. Ngày thứ ba ............................................................................................... 39 2.4. Ngày thứ tư ............................................................................................... 44 CHƢƠNG 3 TANG MA CỦA NGƢỜI THÁI ĐEN Ở BẢN NÀ LẠN, XÃ TÔNG LẠNH, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA: SỰ BIẾN ĐỔI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN VĂN .......................................................................... 56 3.1. Biến đổi trong nghi lễ tang ma ở bản Nà Lạn ........................................... 56 3.2. Giá trị nhân văn trong nghi lễ tang ma của người Thái đen ở bản Nà Lạn .... 66 KẾT LUẬN ............................................................................................................ 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 77 PHỤ LỤC ............................................................................................................... 82 2 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Con người sinh ra, lớn lên rồi già đi. Không ai tránh được vòng quy luật "Sinh - Lão - Bệnh - Tử" và đến một lúc nào đó phải lìa cõi trần. Đó là lẽ sinh tử, là quy luật tự nhiên và khi con người chết đi thì việc làm tang ma là một việc hệ trọng trong chu kỳ đời người trên cõi trần gian. Mỗi quốc gia, mỗi tộc người có cách thức tổ chức nghi lễ tang ma khác nhau như địa táng, hỏa táng, thiên táng, thủy táng... Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có những phong tục tập quán riêng góp phần hình thành nên tính đa dạng của văn hoá Việt Nam. Việc gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hoá đa dạng đó là điều hết sức quan trọng đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chính vì thế, trong văn kiện Đại hội XI của Đảng đã có những định hướng quan trọng về phát triển văn hoá “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Người Thái là một trong những dân tộc có nền văn hóa đặc sắc trong cộng đồng các dân tộc ở nước ta. Người Thái có nhiều nhóm, nhiều nhánh, trong đó có nhánh Thái Đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La còn lưu giữ được những phong tục tập quán, sinh hoạt cộng đồng, từ ăn, mặc, ở cho đến đời sống tín ngưỡng, tâm linh mang đậm bản sắc văn hóa tộc người. Đặc biệt là phong tục tang ma thể hiện được tính nhân văn sâu sắc, phản ánh đầy đủ những giá trị văn hóa tộc người bao gồm: đời sống văn hóa tâm linh gắn với con người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, mối quan hệ và tình cảm của người sống với người chết, gia đình với dòng họ, cộng đồng, tộc người này với cộng đồng tộc người khác...Ngoài ra nó còn phản ánh đời sống văn hóa hàng ngày của 3 đồng bào như nhà cửa, trang phục, đồ ăn, thức uống... Hiện nay, bối cảnh xã hội mới phần nào đã tác động đến các hoạt động nghi lễ cổ truyền nói chung và nghi lễ tang ma của tộc Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lệnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nói riêng làm cho không ít nét văn hóa, nghi lễ ở đây đã và đang biến đổi. Là một người làm công tác giảng dạy về lĩnh vực văn hóa tại địa phương, tôi rất mong muốn được tìm hiểu kỹ hơn về đời sống văn hóa của tộc người Thái đen nơi đây để góp phần gìn giữ, bảo tồn kho tàng văn hóa dân gian phong phú của đồng bào và cũng giúp cho các bài giảng của tôi hay hơn, gần gũi hơn với các em học sinh. Và tôi chọn một nét văn hóa tiêu biểu là tang ma của người Thái đen để tìm hiểu ở luận văn này và cũng là thực hiện mong muốn đó của tôi. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Văn hóa của người Thái trong đó có tang ma là một chủ đề nghiên cứu rất rộng và thu hút nhiều nhà nghiên cứu, trong đó nổi bật là các công trình nghiên cứu như: Cuốn sách Luật tục Thái ở Việt Nam, Cầm Trọng, Ngô Đức Thịnh, Nxb Văn hóa dân tộc (1999) đã tập trung vào các phong tục tập quán đã trở thành luật lệ của bản mường mà tất cả mọi người đều phải tuân theo và thực hiện trong sinh hoạt hàng ngày như cưới hỏi, tang ma, cúng bái…Nghiên cứu về Phong tục tang lễ của người Thái đen xưa kia, tác giả Lường Vương Trung (2011), Nxb Thanh niên [38] đã dành số trang từ trang 11 đến trang 66 để mô tả khá chi tiết về một đám tang từ khi chuẩn bị cho đến các nghi thức hành lễ của người Thái ở Sơn La. Công trình Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam (2008), Nxb Thông tấn - Hà Nội [23] cũng đã mô tả khá kỹ về toàn bộ đời sống của người Thái ở Tây Bắc bằng ảnh chụp thực tế. Tác giả Nguyễn Đăng Duy trong Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam (2004), Nxb Văn hóa dân tộc [5] đề cập một cách toàn diện về đời sống văn hoá sản xuất, văn hóa tổ chức đời sống, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Thái. Tác phẩm Mỹ thuật dân tộc Thái ở Việt Nam, của Phan Ngọc Khuê (2004), Nxb Mỹ thuật [16] quan tâm đến các hình thức 4 trang trí nhà mồ của người dân tộc Thái. Qua các tác phẩm trên, chúng tôi thấy hầu hết các tác giả đã đề cập, nghiên cứu về nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến lịch sử, xã hội cũng như truyền thống văn hóa dân tộc Thái song còn khá hiếm những công trình đề cập riêng đến tang ma của người Thái đen và người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La. Thêm nữa, do các mối quan tâm và mục đích khác nhau nên các tác giả công trình trên đề cập đến nghi lễ tang ma của người Thái chủ yếu dừng lại ở việc mô tả nghi lễ mà chưa đề cập đến được nhiều khía cạnh khác nhau trong đám tang của người Thái. Vì tộc Thái có nhiều nhóm, nhiều ngành, cư trú ở nhiều địa bàn khác nhau nên tập trung vào nghiên cứu các nét văn hóa của một nhóm Thái như ở đề tài này cũng sẽ rất có ý nghĩa trong việc hiểu biết thêm về nét văn hóa đa sắc màu của tộc người Thái ở Việt Nam. 3. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu tìm hiểu về đám tang của người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyên Thuận Châu, tỉnh Sơn La chúng tôi hy vọng sẽ hiểu được rõ hơn những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Thái đen thể hiện trong đám tang. Tìm hiểu đám tang của người Thái đen để thấy được các sắc thái riêng và sự biến đổi của nó trong đời sống xã hội hiện nay, nhằm xác định những giá trị đặc sắc của nó và góp phần làm phong phú thêm sự đa dạng của môi trường văn hóa các dân tộc Việt Nam. Qua đám tang, chúng tôi cũng mong muốn tìm hiểu các nghi thức hành lễ, tính nhân văn, tính cộng đồng được thể hiện trong đám tang của người Thái. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu chính là tang lễ của người Thái đen bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La với tất cả

Trang 1

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI THÁI Ở TỈNH SƠN LA VÀ NGƯỜI THÁI ĐEN Ở BẢN NÀ LẠN, XÃ TÔNG LẠNH, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA 7

1.1 Nguồn gốc người Thái 7

1.2 Người Thái ở Sơn La 9

1.3 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội của xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La 9

1.4 Người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La 11

CHƯƠNG 2 HÀNH TRÌNH TANG MA CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN BẢN NÀ LẠN,XÃ TÔNG LỆNH, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA 22

2.1 Ngày thứ nhất 22

2.2 Ngày thứ hai 28

2.3 Ngày thứ ba 39

2.4 Ngày thứ tư 44

CHƯƠNG 3 TANG MA CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở BẢN NÀ LẠN, XÃ TÔNG LẠNH, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA: SỰ BIẾN ĐỔI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN VĂN 56

3.1 Biến đổi trong nghi lễ tang ma ở bản Nà Lạn 56

3.2 Giá trị nhân văn trong nghi lễ tang ma của người Thái đen ở bản Nà Lạn 66

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 82

Trang 2

2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Con người sinh ra, lớn lên rồi già đi Không ai tránh được vòng quy luật

"Sinh - Lão - Bệnh - Tử" và đến một lúc nào đó phải lìa cõi trần Đó là lẽ sinh tử,

là quy luật tự nhiên và khi con người chết đi thì việc làm tang ma là một việc hệ trọng trong chu kỳ đời người trên cõi trần gian Mỗi quốc gia, mỗi tộc người có cách thức tổ chức nghi lễ tang ma khác nhau như địa táng, hỏa táng, thiên táng, thủy táng

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có những phong tục tập quán riêng góp phần hình thành nên tính đa dạng của văn hoá Việt Nam Việc gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hoá đa dạng đó là điều hết sức quan trọng đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Chính vì thế, trong văn kiện Đại hội XI của

Đảng đã có những định hướng quan trọng về phát triển văn hoá “Xây dựng nền

văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”

Người Thái là một trong những dân tộc có nền văn hóa đặc sắc trong cộng đồng các dân tộc ở nước ta Người Thái có nhiều nhóm, nhiều nhánh, trong đó

có nhánh Thái Đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn

La còn lưu giữ được những phong tục tập quán, sinh hoạt cộng đồng, từ ăn, mặc,

ở cho đến đời sống tín ngưỡng, tâm linh mang đậm bản sắc văn hóa tộc người Đặc biệt là phong tục tang ma thể hiện được tính nhân văn sâu sắc, phản ánh đầy

đủ những giá trị văn hóa tộc người bao gồm: đời sống văn hóa tâm linh gắn với con người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, mối quan hệ và tình cảm của người sống với người chết, gia đình với dòng họ, cộng đồng, tộc người này với cộng đồng tộc người khác Ngoài ra nó còn phản ánh đời sống văn hóa hàng ngày của

Trang 3

3

đồng bào như nhà cửa, trang phục, đồ ăn, thức uống

Hiện nay, bối cảnh xã hội mới phần nào đã tác động đến các hoạt động nghi lễ cổ truyền nói chung và nghi lễ tang ma của tộc Thái đen ở bản Nà Lạn,

xã Tông Lệnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nói riêng làm cho không ít nét văn hóa, nghi lễ ở đây đã và đang biến đổi

Là một người làm công tác giảng dạy về lĩnh vực văn hóa tại địa phương, tôi rất mong muốn được tìm hiểu kỹ hơn về đời sống văn hóa của tộc người Thái đen nơi đây để góp phần gìn giữ, bảo tồn kho tàng văn hóa dân gian phong phú của đồng bào và cũng giúp cho các bài giảng của tôi hay hơn, gần gũi hơn với các em học sinh Và tôi chọn một nét văn hóa tiêu biểu là tang ma của người Thái đen để tìm hiểu ở luận văn này và cũng là thực hiện mong muốn đó của tôi

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Văn hóa của người Thái trong đó có tang ma là một chủ đề nghiên cứu rất

rộng và thu hút nhiều nhà nghiên cứu, trong đó nổi bật là các công trình nghiên

cứu như: Cuốn sách Luật tục Thái ở Việt Nam, Cầm Trọng, Ngô Đức Thịnh, Nxb

Văn hóa dân tộc (1999) đã tập trung vào các phong tục tập quán đã trở thành luật

lệ của bản mường mà tất cả mọi người đều phải tuân theo và thực hiện trong sinh

hoạt hàng ngày như cưới hỏi, tang ma, cúng bái…Nghiên cứu về Phong tục tang

lễ của người Thái đen xưa kia, tác giả Lường Vương Trung (2011), Nxb Thanh

niên [38] đã dành số trang từ trang 11 đến trang 66 để mô tả khá chi tiết về một đám tang từ khi chuẩn bị cho đến các nghi thức hành lễ của người Thái ở Sơn

La Công trình Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam (2008), Nxb Thông tấn - Hà Nội

[23] cũng đã mô tả khá kỹ về toàn bộ đời sống của người Thái ở Tây Bắc bằng

ảnh chụp thực tế Tác giả Nguyễn Đăng Duy trong Nhận diện văn hóa các dân

tộc thiểu số Việt Nam (2004), Nxb Văn hóa dân tộc [5] đề cập một cách toàn

diện về đời sống văn hoá sản xuất, văn hóa tổ chức đời sống, văn hóa vật chất và

văn hóa tinh thần của người Thái Tác phẩm Mỹ thuật dân tộc Thái ở Việt Nam,

của Phan Ngọc Khuê (2004), Nxb Mỹ thuật [16] quan tâm đến các hình thức

Trang 4

4

trang trí nhà mồ của người dân tộc Thái

Qua các tác phẩm trên, chúng tôi thấy hầu hết các tác giả đã đề cập, nghiên cứu về nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến lịch sử, xã hội cũng như truyền thống văn hóa dân tộc Thái song còn khá hiếm những công trình đề cập riêng đến tang ma của người Thái đen và người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La Thêm nữa, do các mối quan tâm và mục đích khác nhau nên các tác giả công trình trên đề cập đến nghi lễ tang ma của người Thái chủ yếu dừng lại ở việc mô tả nghi lễ mà chưa đề cập đến được nhiều khía cạnh khác nhau trong đám tang của người Thái Vì tộc Thái có nhiều nhóm, nhiều ngành, cư trú ở nhiều địa bàn khác nhau nên tập trung vào nghiên cứu các nét văn hóa của một nhóm Thái như ở đề tài này cũng sẽ rất có ý nghĩa trong việc hiểu biết thêm về nét văn hóa đa sắc màu của tộc người Thái ở Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tìm hiểu về đám tang của người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyên Thuận Châu, tỉnh Sơn La chúng tôi hy vọng sẽ hiểu được rõ hơn những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Thái đen thể hiện trong đám tang

Tìm hiểu đám tang của người Thái đen để thấy được các sắc thái riêng và

sự biến đổi của nó trong đời sống xã hội hiện nay, nhằm xác định những giá trị đặc sắc của nó và góp phần làm phong phú thêm sự đa dạng của môi trường văn hóa các dân tộc Việt Nam

Qua đám tang, chúng tôi cũng mong muốn tìm hiểu các nghi thức hành lễ, tính nhân văn, tính cộng đồng được thể hiện trong đám tang của người Thái

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu chính là tang lễ của người Thái đen bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La với tất cả

Trang 5

5

những thành tố văn hóa liên quan như: Hành trình của một đám tang; mục đích ý nghĩa của các nghi lễ; thành phần tham gia; các khía cạnh về kinh tế, xã hội, mạng lưới xã hội cũng như các chiều cạnh biến đổi của đám tang

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn được thực hiện chính trong phạm vi địa bàn là bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La - nơi cư trú của nhóm Thái Đen Ngoài ra, để có được một số sự so sánh hoặc đối chứng cần thiết, chúng tôi cũng

mở rộng phạm vi nghiên cứu của mình ra một vài bản lân cận để tìm hiểu kỹ hơn

về các vấn đề liên quan

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như sau:

Tổng hợp và phân tích các nguồn tài liệu đã công bố: Chúng tôi sẽ tập hợp, phân tích và kế thừa các công trình nghiên cứu về người Thái ở Việt Nam nói chung, người Thái đen nói riêng và các tư liệu lịch sử, văn hóa, xã hội tại địa phương để có được những hiểu biết khái quát và cơ bản về tộc/nhóm người này cũng như địa bàn nghiên cứu

Điền dã dân tộc học với quan sát tham dự, phỏng vấn sâu tại cộng đồng Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La Chúng tôi đã tham dự nhiều đám tang trong thời gian từ giữa năm 2013 đến nay và phỏng vấn nhiều đối tượng khác nhau như: các cán bộ làm công tác văn hóa, những người thày cúng, những người thuộc các thành phần xã hội khác nhau tham dự đám tang, gia chủ tổ chức đám tang…Chúng tôi cũng đã chú ý phỏng vấn nhiều người ở các độ tuổi khác nhau, thuộc các nghề nghiệp, các thành phần

xã hội, các điều kiện kinh tế khác nhau để có được ý kiến đa chiều về tang ma Chúng tôi cũng đã xin phép và được chấp nhận việc ghi âm, chụp ảnh, quay phim từ những người cung cấp thông tin

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu…để phục vụ cho việc thu thập tư liệu cũng như xử lý tư liệu

Trang 6

6

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn sẽ cung cấp thêm một số tư liệu về tang ma của người dân tộc Thái đen và góp phần hiểu thêm về văn hóa truyền thống tộc người này ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La Đồng thời nhìn nhận rõ hơn về một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng còn tồn tại với sắc thái văn hóa riêng của tộc người này trong xã hội hiện nay

Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về toàn bộ hoạt động của một nghi lễ tang ma từ khâu chuẩn bị đến khi kết thúc một đám tang của người Thái đen bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La Chính vì vậy, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, cán bộ công tác trong lĩnh vực văn hóa để họ hiểu biết rõ hơn về các phong tục tập quán của từng dân tộc, thuận lợi cho công việc chung của địa phương

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Tổng quan về người Thái ở tỉnh Sơn La và người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

Chương 2 Hành trình tang ma của người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

Chương 3 Tang ma của người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La: Sự biến đổi và những giá trị nhân văn

Trang 7

7

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI THÁI Ở TỈNH SƠN LA VÀ NGƯỜI THÁI ĐEN Ở BẢN NÀ LẠN, XÃ TÔNG LẠNH, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

1.1 Nguồn gốc người Thái

Theo kết quả số liệu tổng điều tra dân số ngày 1/4/2001 của Tổng cục thống kê [5, Tr 304], dân tộc Thái có 1.328.752 người, là dân tộc có dân số đông thứ 3 ở Việt Nam, có mặt khắp cả nước Sơn La 485.507 người, Nghệ An 200,132 người, Thanh Hóa có 225,336 người; Điện Biên 186,270 người, Lai Châu 119,803 người, Yên Bái 53,104 người, Hòa Bình 31,386 người, Đắc Lắk 17,135 người, Đắk Nông 10,311 người

Người Thái [16, Tr 23] tự gọi họ là “Côn Tay” hoặc “Côn Thay” và còn có những tên gọi khác như: Tay Thanh, Man Thanh, Tay mười, Hàng Tang, Tay Dọ Người Thái ở Tây Bắc (Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Nghệ An) vẫn chiếm số đông nhất Cho đến nay chúng ta biết đến ba ngành Thái chính là Thái Đen (Tay Đăm), Thái Trắng (Tay Đơn hoặc Khao) và Thái Đỏ (Tay Đeng) Người Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái (ngữ hệ Thái - Ka Đai) là con cháu của người Thái di cư từ vùng đất thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc

Qua các tư liệu về người Thái đã ghi lại: Từ lâu đời quê hương người Thái nằm trong một vùng rộng lớn thuộc khu vực Xíp - xoong - păn - na (mười hai cánh đồng) ở Vân Nam, Trung Quốc, khu Mường Ôm, Mường Ai (thuộc các châu Tùng Lăng, Hoàng Nham), khu mường Bỏ té (thuộc miền Tây Nam Vân Nam, Thượng Lào giáp Điện Biên) và Mường Thanh (Điện Biên) Họ đã trải qua các đợt thiên di lớn và rồi có mặt đông đúc ở miền Tây Bắc Việt Nam

Ở phía Bắc, ngành Thái trắng sau khi làm chủ được vùng thung lũng Mường Lay đã theo dọc Sông Đà xuống Mường Chiên (Quỳnh Nhai), Mường Chiến (Mường La) và nhập vào cánh đồng Phù Yên hoà với người Mường

Trang 8

8

Khoảng thế kỉ XI - XII người Thái thuộc ngành Thái đen do hai tù trưởng Tạo Ngần, Tạo Xuông dẫn đầu đã đi từ Mường Ôm, Mường Ai qua Mường Lò - Luông (nay là Mường Là thuộc Vân Nam) vào Tây Bắc Đầu tiên tới Mường Lò (Nghĩa Lộ), họ đã khai khẩn Mường Lò và tập trung người Thái ở đây do Tạo Lò đứng đầu Đến đời con Tạo Lò là Lạng Chượng đã dùng lực lượng quân sự phát triển thế lực lên Mường Chiên, Mường Trai, Ít Ong (vùng tả ngạn sông Đà thuộc huyện Mường La), sau đó vượt Sông Đà tiến vào các vùng Mường Bú, Mường

La rồi Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Quài (Tuần Giáo) và cuối cùng Lạng Chượng đã dừng chân ở Mường Thanh (Điện Biên) Cuộc di dân này kéo dài đến hai mươi năm Những người Thái mới đến đã cùng người đồng tộc và cư dân bản địa khác mở mang đất đai trên những thung lũng thuộc lưu vực sông Đà, sông Mã, trở thành những cánh đồng tương tự như ngày nay Ở Mường Muổi (Thuận Châu) sau khi đã ổn định, một bộ phận người Thái đen lại tiếp tục di cư qua Lào vào miền Tây Nghệ An, nay là nhóm Tày Muổi

Người Thái ở Tây Bắc tập trung dân số đông nên văn hóa của họ đóng vai trò rất quan trọng đối với khu vực này và đó cũng là nền văn hóa còn lưu giữ được nhiều những yếu tố truyền thống cổ xưa, ít bị pha trộn với các nền văn hoá xung quanh

Người Thái cùng cư trú với các tộc người Khơ Mú, La Hả, Kháng, Mông, Mường, xinh Mun…Có 3 ngành: Thái đen, Thái trắng, Thái đỏ Đông nhất là ngành Thái đen Người Thái đen tập trung ở các vùng Điện Biên, Tuần Giáo (Tỉnh Điện Biên); Văn Chấn, Trạm Tấu, Thị xã Nghĩa Lộ (Tỉnh Yên Bái); các huyện Thuận Châu, Mai Sơn, Mường La, Sông Mã, Sốp Cộp, Yên Châu, Thành phố Sơn La (tỉnh Sơn La) Ngành Thái trắng cư trú tập trung ở Mường Lay, Mường Nhé (tỉnh Điện Biên); Phong Thổ, Mường Tè, Than Uyên (Tỉnh Lai Châu); Quỳnh Nhai, Ngọc Chiến - Mường La (tỉnh Sơn La) Ngành Thái đỏ tập trung ở vùng Mộc Châu, Phù Yên, Bắc Yên (tỉnh Sơn La); Các huyện Đà Bắc, Mai Châu (tỉnh Hoà Bình) (theo văn bản của Nhà nước thì người Thái ở vùng này được xếp

Trang 9

9

vào nhóm Thái trắng, nhưng chính họ tự xưng mình là Tay đeng (Thái đỏ), hay Tay Éng, Tay Khoong - Từ Thanh Hoá sang

1.2 Người Thái ở Sơn La

Người Thái ở Sơn La [4, Tr.13] gồm 4 ngành (chi) với 485.507 người, chiếm 51,2% dân số toàn tỉnh

Thái trắng cư trú ở Mường Chiên (Quỳnh Nhai), Ngọc Chiến (Mường La) Thái đen ở Thuận Châu, Mường La, Mai Sơn, Yên Châu, Sông Mã Đặc biệt Thái đen ở Yên Châu lại khác hẳn so với ở vùng trên cả về tiếng nói, ăn mặc, tập tục

Chi (ngành) Thái ở Mộc Châu tự gọi là Thái đỏ (Tay đeng) Ở Bắc Yên, Phù Yên lại tự xưng là Tay đón (Thái trắng), ở xã Huy Bắc tự gọi là Tay khoong (người khoong) - “khoong” là một địa danh miền Tây Thanh Hóa (nơi họ từng ở ngày xưa) Nhóm Thái ở Pác Ngà (Bắc Yên) tự gọi là Tay Eng (người Eng),

“Eng” cũng là địa danh ở Thanh Hóa

Tay đeng (Thái đỏ Mộc Châu) gốc gác từ Vân Nam qua Lào: từ Luông Pha Băng qua Mường Xáng; Mường Xăm, qua rừng Mường Xén vào đất Giao Chỉ (đời Lý) thuộc Nghệ An Từ Mường xén họ tỏa ra Thanh Hóa qua Hồi Xuân,

La Hán vào Mường Mun (Lai Châu) rồi lên Mộc Châu Sơn La

1.3 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội của xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

Xã Tông Lạnh [3, Tr 6] nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Sơn La trong vùng địa hình có độ cao trung bình từ 800 - 810m, so với mặt nước biển, có diện tích

tự nhiên là 1.444 ha, nằm chạy dọc theo con suối Nậm Muổi bên đường Quốc lộ

6 (Hà Nội - Hoà Bình - Sơn La- Điện Biên), cách Thành phố Sơn La 28 Km, cách huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên 57 Km

Toạ độ địa lý: 21012' đến 21041' vĩ độ bắc 103020' đến 103059' kinh độ đông Phía Đông giáp xã Chiềng Pấc, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, phía Tây

Trang 10

10

giáp thị trấn huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, phía Nam giáp xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, phía Bắc giáp xã Noong Lay, huyện Thuận

Châu, tỉnh Sơn La

Thiên nhiên đã phú cho xã Tông Lạnh một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Về lâm sản, ở đây có trên 70 loài cây, nhiều loài đã được ghi vào

sách đỏ Việt Nam: đinh hương, săng lẻ, vàng tâm, dổi, kền kền, pơ mu… Nhìn

chung vùng này trước đây, chỉ cách đây khoảng hai mươi năm nhiều cánh rừng vẫn chưa bị tàn phá, thảm thực vật còn dầy, động vật cũng phong phú, nhất là

các loài thuộc bộ móng guốc, gặm nhấm như lợn rừng, hươu, nai, nhím, sóc

Theo thống kê năm 2009, xã Tông Lạnh gồm 16 bản, có 830 hộ với 10.852 nhân khẩu, có 5 dân tộc anh em cùng chung sống trong xã, tổng giá trị sản xuất hàng năm đạt vào khoảng 20.445.46 triệu đồng Trong đó, tổng giá trị sản xuất nông, lâm, chiếm 12.600.80 triệu đồng, sản xuất dịch vụ chiếm 6.320.16 triệu đồng còn lại là là các loại hình sản xuất khác Thu nhập bình quân

là 1.570.000/1tháng/1 người

Riêng dân tộc Thái đen tại xã có số lượng đông nhất chiếm 80% họ chung sống với nhau tập trung thành những bản làng và tiểu khu đông đúc xen

kẽ là một số cư dân của các dân tộc khác đến làm ăn, buôn bán Mỗi bản thường

có từ 40 đến 50 hộ, bản lớn có tới trên 100 hộ Do người Thái có tập quán ở nhà sàn và cũng thích nghi với cách sinh hoạt này, mỗi nhà đều có khoảng đất rộng

Trang 11

11

và ít khi có bờ rào ngăn cách giữa nhà này với nhà kia Mỗi bản đều có ranh giới rất cụ thể, có khu rừng, ruộng nước, nương, bãi chăn gia súc, rừng cấm, rừng ma, rừng đầu nguồn nước…người Thái là một trong những cư dân đã sống tại đây rất lâu đời ở đây nên người Thái đã lựa chọn cho mình những vị trí đẹp và thuận lợi cho đời sống và từ đó lập bản lập mường Đó là những nơi đồi núi thấp, gần sông, suối, có địa thế rộng rãi, bằng phẳng thuận tiện cho việc canh tác, đi lại…Bên cạnh bộ máy hành chính, mỗi bản đều có hệ thống chức dịch và được hưởng những quyền lợi và các nghĩa vụ kèm theo

Mỗi bản gồm nhiều gia đình của nhiều dòng họ cư trú Các bản đều có khu vực đất đai và vùng thiên nhiên thuộc sở hữu tập thể, mối quan hệ thích tộc

và thân tộc là do hôn nhân mang lại: (Ải Noọng) - (Lung Ta) và (Nhinh Sao)

luôn ràng buộc và chi phối với tập quán tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong lúc gặp hoạn nạn, khó khăn

Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và con người như vậy là cơ

sở hình thành bản sắc văn hóa, những luật tục, mang nhiều nét riêng đặc thù từ ngàn đời nay của người dân bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

1.4 Người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

1.4.1 Điều kiện kinh tế

Người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh

Sơn La là những cư dân nông nghiệp Ngành nghề chính là trồng lúa nước, lúa

nếp, các thứ hoa màu; chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, dê, cá…đan lát, dệt thổ cẩm Bên cạnh đó là một số loại hình dịch vụ buôn bán nhỏ lẻ tập trung chủ yếu ở những nơi đông dân cư Người Thái đen là cư dân sinh sống lâu đời nhất ở đây,

vì vậy ngay từ đầu đặt chân đến mảnh đất này, người Thái đã tập trung đến việc khai phá ruộng đất ở những thung lũng thành những cánh đồng rộng lớn

Với bộ nông cụ làm ruộng như cày, mai, xẻng; các biện pháp kĩ thuật liên hoàn (làm đất, làm mạ, gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch); đặc biệt là hệ thống

Trang 12

12

thuỷ lợi “dẫn thuỷ nhập điền” mương, phai, lái, lịn và cọn nước, cùng với các nghi lễ tín ngưỡng liên quan Qua nhiều thế hệ, người Thái đen đã đúc kết và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất Hiện nay, người Thái đen ở bản

Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã chuyển sang làm hai

vụ lúa Vụ chiêm cấy tháng 2, thu hoạch tháng 5; vụ mùa cấy tháng 7 thu hoạch tháng 10 Ngoài ra, họ còn làm nương rẫy, đó là lối canh tác “phát đốt, gieo trồng” Công cụ để làm nương rẫy chủ yếu là: dao, rìu, móc, khều, gậy chọc lỗ bọc sắt hoặc không bịt sắt, nạo cuốc để làm cỏ, nhíp để gặt Sản phẩm thu về là ngô, khoai, sắn Ngoài việc trồng trọt, người Thái đen ở đây cũng rất giỏi trong việc chăn nuôi trâu, bò, lợn gà, cá ruộng…săn bắn muông thú, hái lượm lâm thổ sản, rau, măng…đánh cá ở các sông suối Do ý thức tự cung tự cấp này mà họ hiểu rất rõ về vai trò của chăn nuôi, trồng trọt, hái lượm, săn bắt…trong cuộc sống Vì vậy, người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thường dùng những thức ăn có sẵn như: rau rừng, thịt thú rừng

(măng, nấm, thỏ, chim…), các loại côn trùng như: ong, trứng kiến, dế…hầu hết

là họ thường dùng những thứ mình trồng và kiếm được Đến nay cuộc sống của người dân được phần nào cải thiện nên thức ăn có phần phong phú hơn

Các nghề thủ công ở bản Nà Lạn cũng phát triển Người phụ nữ Thái đen nơi đây có tính cần cù, chịu thương chịu khó, đôi bàn tay khéo léo cùng với trí sáng tạo dệt nên những tấm vải thổ cẩm theo các mô típ hoa văn hình thù chim, hoa cỏ, cây cối rất tinh xảo Họ đã làm ra nhiều sản phẩm nổi tiếng như: khăn piêu, mặt chăn, mặt gối, túi thổ cẩm…Các chàng trai không những tài giỏi về săn bắn, thiết kế dựng lên những nếp nhà sàn khang trang, thoáng mát mà còn có tài đan lát các vật dụng trong gia đình rất đẹp như: ếp, bung, cóm khẩu, tấm phên trải sàn nhà, chài, lưới…Bên cạnh đó do điều kiện địa hình tự nhiên chạy dọc theo đường quốc lộ nên rất thuận lợi cho các loại hình dịch vụ ở đây phát triển, hình thành nên các tiểu thương, các doanh nghiệp với các ngành, nghề đa dạng, đời sống của nhân dân trong khoảng mười năm trở lại đây thay đổi một cách rõ rệt

Trang 13

(sau này có loại nhà vì kèo mới sử dụng đến cưa, đục, bào…) Điều đặc biệt là

ngôi nhà sàn truyền thống này hoàn toàn không dùng đinh sắt hay dây thép mà chỉ dùng lạt mây, tre hay sợi dây rừng để buộc đòn tay làm mái

Đặc biệt hơn đó là nhà sàn chỉ có số gian lẻ không những thế mà cả số đòn tay, cầu thang lên xuống, số lượng cửa chính, cửa sổ, cả thanh chắn cửa sổ cũng là số lẻ Bởi lẽ đồng bào cho rằng con số lẻ là con số may mắn, là con số phát triển cần phải thêm vào Hai đầu hồi của nhà được đặt cầu thang, bên

(Quản) bẩy bậc là dành cho nam giới và khách tới chơi nhà, bên (Chan) chín bậc

Trang 14

14

là nơi đặt gian thờ cúng Hóng và nơi tiếp khách Tầng ba trong ngôi nhà sàn là phần gác trên quá giang Khứ Hươn phần này chủ yếu là để thóc lúa, nhất là thóc giống và những đồ đun nấu trong nhà Xưa kia đây cũng là nơi cất giữ đồ đạc quý trong nhà như vàng bạc, nồi đồng, ninh đồ xôi chưa được dùng đến

Nhà ở của người Thái hay các dân tộc khác cũng vậy, nó là một trong những nhu cầu cần thiết cho sinh hoạt gia đình, mang đậm tính văn hoá của cộng đồng và nhà sàn cũng là giá trị văn hoá lâu đời của người Thái

- Trang phục

Cũng như nhiều dân tộc khác, trang phục của phụ nữ Thái bản Nà Lạn thể hiện rõ nhất bản sắc văn hóa tộc người [12, Tr 96] - [16, Tr 63] Một bộ trang phục nữ Thái gồm: áo ngắn (Xửa Cỏm), áo dài (Xửa Chái và Xửa Luổng), váy (Xỉn), thắt lưng (Xải Cỏm), khăn (Piêu), nón (Cúp), xà cạp (pepăn khạ), các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay, xà tích…Xửa Cỏm (áo ngắn bó sát người có hàng cúc bướm) có thể may bằng nhiều loại vải với màu sắc khác nhau Chính hàng khuy bạc hay kim loại đã làm cho Xửa Cỏm trở thành chiếc áo đặc trưng của bộ nữ phục Thái Theo quan niệm dân gian Thái, hai hàng cúc bạc trên hai vạt áo Xửa Cỏm là tượng trưng cho sự kết hợp nam với nữ, tạo nên sự trường tồn của nòi giống Phụ nữ Thái còn mặc hai loại áo dài là (Xửa Chái) và (Xửa Luổng) Xửa Chái may bằng vải chàm đen, kiểu áo 5 thân, cài cúc phía bên tay trái, cổ đứng, gấu áo phủ quá đầu gối Theo tục lệ, phụ nữ có chồng mới mặc Xửa Chái vào dịp cưới xin, hội hè (Xửa Luổng) là áo khoác ngoài, may dài, rộng, chui đầu, có tay hoặc không có tay Phụ nữ Thái từ khi còn trẻ đã may loại áo này, một dành cho bản thân khi về già và một dành biếu mẹ chồng khi về làm dâu Các cụ già mặc áo Xửa Luổng lộn trái mặc vào ngày thường, chỉ khi chết mới mặc mặt phải

Nói về bộ trang phục nữ Thái đen không thể thiếu chiếc khăn piêu Chiếc khăn piêu được các cô gái Thái thêu thùa rất cầu kì, nó thể hiện sự khéo léo của mỗi cô gái Khăn Piêu là đặc trưng của người dân tộc Thái với đường nét tinh xảo

và hoa văn mang đậm chất núi rừng hoang sơ cùng màu sắc sặc sỡ

Trang 15

15

So với nữ phục thì nam phục Thái đơn giản hơn, ít chứa đựng sắc thái tộc người và cũng biến đổi nhanh hơn Trang phục nam giới gồm: áo, quần, thắt lưng và các loại khăn Áo nam giới có hai loại, áo cánh ngắn và áo dài Áo ngắn may bằng vải chàm, kiểu xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn Khuy áo làm bằng đồng hay tết thành nút vải Áo không có trang trí hoa văn chỉ trong dịp trang trọng người ta mới thấy nam giới Thái mặc tấm áo cánh ngắn mới, áo được xẻ tà hai bên hông Trang phục Thái phản ánh rõ nét đặc điểm của cư dân nông nghiệp trồng trọt, sự chinh phục, tìm tòi các nguyên liệu trong thiên nhiên để tạo

ra trang phục đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống Trang phục vượt qua cả giá trị vật chất thuần túy của nó thể hiện lối sống, quan niệm thẩm mỹ, đạo đức, tư tưởng

xã hội, tín ngưỡng

- Văn hoá gia đình và dòng họ

Gia đình người Thái đen bản Nà Lạn cũng như nhiều dân tộc khác, là gia đình phụ hệ bao gồm ông, bà, cha, mẹ và con cái Đó cũng là một đơn vị kinh tế đồng thời một tế bào xã hội và là hiện tượng phổ biến hiện nay của người Thái ở Sơn La Khi hai cá thể nam nữ kết hợp thành một tổ hợp gia đình, thì ở người Thái, cũng hình thành quan hệ ba chiều, trong đó, mỗi chiều là một họ mà thực chất là một nhóm thân thuộc Dòng họ giữ vai trò quan trọng trong đời sống của gia đình

Toàn bộ anh em trai cùng một cha, ông nội, cụ nội, hợp thành quan hệ

huyết thống gọi là Ải Noọng, xa hơn nữa thì có chung một tổ tiên gọi là Đẳm

[18, Tr 118 -119]

Tất cả anh em trai của vợ gọi là Lung Ta tức họ ngoại, họ của các ông cậu

Tất cả các anh em cọc chèo hợp thành một nhóm gọi là Nhinh Sao hay

họ nhà trai

Người Thái rất chú trọng đến việc dạy dỗ con cái Con gái theo mẹ làm nghề truyền thống của phụ nữ từ 8 đến 10 tuổi Cũng ở tuổi này bắt đầu tập lao động, làm nương dệt vải…Con trai làm các công việc đồng áng, lên rừng để khi

Trang 16

16

lớn lên các em vững trãi trong cuộc sống đặc biệt sau khi lấy vợ, trong thời gian

ở rể , bố vợ có trách nhiệm dạy dỗ con rể lao động, làm những việc từ mài dao đan gùi…đến các tập quán, lễ nghi trong ứng xử hàng ngày

Tuy người Thái theo truyền thống phụ hệ nhưng trong mỗi gia đình, sự bình đẳng, lấy tình thương yêu vợ chồng làm đầu vẫn là nét văn hoá nổi bật Huyết thống dòng cha của người Thái được thể hiện ở tín ngưỡng đặc biệt quan trọng đó là thờ cúng tổ tiên, gọi là thờ Ma Nhà hay Ma Đẳm Trong mỗi cộng đồng cùng Đẳm đều thấy có một chiếc gươm thiêng Đáp Đẳm được truyền từ đời này qua đời khác, theo dòng trưởng

Cộng đồng người Thái cũng theo phong tục tập quán tôn trọng dòng họ ông cậu Lung Ta được biểu hiện trong cách ứng xử hợp lý giữa họ nhà trai Nhinh Sao với họ ông cậu Lung Ta này Đó là khi bên Lung Ta có việc tang ma thì bên Nhinh Sao phải có nghĩa vụ chia xẻ, đóng góp Ngược lại, bên Nhinh Sao dựng nhà mới, Lung Ta sẽ đến dựng cột thiêng, bỏ vào lỗ chôn cột hoặc chân đá

kê, vật thiêng bằng bạc để làm nền cho sự phát lộc Lung Ta là người dựng bếp chính cho ngôi nhà mới, rồi đặt ba ông đầu rau và nhóm bếp lửa lần đầu tiên

- Tín ngưỡng, phong tục

Nói về phong tục tập quán, trong cái chung của người Thái thì mỗi ngành lại có những đặc điểm riêng của mình Người Thái trắng, Thái đỏ có tết nguyên đán nhưng người Thái đen lại không có, bởi người Thái trắng và Thái đỏ họ tính theo lịch âm lịch như người Kinh và người Hán, còn người Thái đen lại tính theo lịch riêng của mình Giữa lịch Thái đen và lịch âm lịch chênh nhau rất đáng kể,

ví dụ: Tháng 3 âm lịch lại là tháng 9 của lịch Thái đen; tháng giêng của lịch Thái đen là tháng 7 âm lịch…Cho nên người Thái đen xưa kia không có khái niệm về

ăn tết nguyên đán Những ngày tết nguyên đán, người Thái đen cũng nghỉ ngơi, yến tiệc, vui chơi nhưng không phải là Tết mà là tháng “Xên Hươn” (cúng nhà cuối năm)

Ở mỗi vùng, mỗi bản thường có các ông "Mo" hoặc “Po mự" để lo việc xem

Trang 17

17

ngày tốt, xấu cho những ai có nhu cầu như các ngày cưới vợ, gả chồng, dựng nhà, lên nhà mới, tang ma…Các ông mo thường có cuốn sổ cổ làm căn cứ cho việc tính toán lịch và chọn ngày, chọn giờ phục vụ cho dân khi có nhu cầu

Người Thái khi tiến hành một công việc hệ trọng nào đấy thường quan tâm đến một số ngày như vễn ók (ngày sinh), vễn tỗng (ngày cúng tổ), mự kảu kôn (ngày bố mẹ mất), mự hùa đỏn (ngày đưa hồn bố mẹ lên nhà), mự xành phãy

pá (ngày thiêu xác bố, mẹ)…Những ngày này người ta tính theo ngày của lịch Thái và không được tiến hành các công việc hệ trọng

Mỗi ngành Thái có những đặc điểm riêng (kể cả tiếng nói và tên chỉ các đồ vật) nhưng họ vẫn nghe được, hiểu được nhau Giữa các ngành Thái họ sống bên nhau rất gần gũi, chan hoà, không có sự tách biệt và rất tôn trọng nhau

Người Thái quan niệm chết là về Mường trời tiếp tục sống ở thế giới đó Hoả táng là tục lệ đã có từ ngàn xưa của người Thái đen ở một số vùng của Tây Bắc và đặc biệt là ở bản Nà Lạn Họ tin rằng khi thi hài được “tắm rửa” bằng lửa, linh hồn sẽ lên được mường trời, tiếp tục “sống” trong một thế giới khác

Người Thái nói chung và người Thái ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nói riêng không theo Tôn Giáo nào, chỉ thờ “Phi” (ma tưởng tượng) người chết làm lễ chia của (bỏ mả), không có giỗ chạp hàng năm, trong tang ma có lễ gọi hồn, dẫn hồn về mường trời

Cũng như nhiều dân tộc khác, họ cũng có quan niệm về hồn, vía mà họ gọi

là Khuôn (Hồn) Bất kể cái gì được sinh ra và tồn tại trên trái đất đều có hồn Từ những núi non, cây cối, hòn đá đến các động vật nhỏ nhất, như con kiến, con mọt đến những động vật to nhất như voi cũng có hồn, vía Còn con người thì quan niệm ở mỗi tộc người có thể khác nhau, nhưng nhìn chung tộc người nào cũng có

hồn và ít nhất mỗi con người cũng có từ ba hồn trở lên Ví dụ: Người Việt có ba

hồn bảy vía hoặc bảy hồn chín vía Người Mường tuy không nói rõ bao nhiêu hồn

vía, nhưng lễ cầu thọ hay còn gọi là vía mạnh (Voái Sẳn) phải đi kiếm chín loại gai, múc nước ở chín vực suối, khe…để đặt lên bàn cúng hồn, vía Bày mâm cúng

Trang 18

18

cũng phải lót chín lượt lá chuối Người Thái thì hoàn toàn khác và có thể là một

tộc người có quan niệm nhiều hồn, vía nhất: "Xam xíp khuôn mang nả, hả xíp

khuôn mang lăng" (Ba mươi hồn phía trước, năm mươi hồn phía sau) Như vậy,

người Thái có tới 80 hồn Có một số vùng quan niệm một con người có tới 110

hồn “Hốc síp khuôn mang nả, hả síp khuôn mang lăng” (Sáu mươi hồn phía

trước, năm mươi hồn phía sau) Mỗi bộ phận ở trên cơ thể con người đều có

hồn riêng: hồn đầu, hồn tai, hồn mắt, hồn lưỡi, răng, cổ, chân, tay, gan, phổi

v.v…Tất cả các hồn đó gộp lại thành hồn chung - “Hồn người” Hồn Người còn

gọi là Hồn Chủ hay Hồn Mình (Khuôn Chảu) Nếu đau mắt thì họ cho là hồn

mắt bị xúc phạm mà bỏ đi, hoặc ma nào đó dụ đi nên làm cho mắt bị đau…Tất

cả các bộ phận trên cơ thể con người mà bị đau thì có nghĩa là hồn đó bị xúc phạm hay bị ma ám, ma dụ đi nên mới đau Mỗi khi bị đau mà làm thuốc không khỏi thì họ đi xem bói để tìm ma Tìm được ma rồi họ mới tổ chức lễ cúng (Xên) để xin và gọi hồn về

Đối với một con người họ cho hồn, vía là quan trọng bậc nhất Một con người mà không có hồn thì người đó không thể sống và tồn tại được Bởi hồn là nhựa sống và là chỗ dựa tinh thần của thân xác Giữa hồn và thân xác không thể tách rời nhau được Cho nên việc cầu hồn cúng vía là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết đối với họ Ngày nay quan niệm này đã nhạt đi song họ vẫn tin rằng linh hồn luôn tồn tại

Đặc điểm ở người Thái Tây Bắc là không có Thần, Thánh mà chỉ gọi chung là Ma (Phi): Ma cây đa (Phi Co Bả), ma núi, ma rừng (Phi Pu, Phi Pá), ma

sông, suối v.v…Và hồn cũng là một loại ma - Ma hồn (Phi Khuôn), vì hồn cũng

như các loại ma khác mắt thường không nhìn thấy được Thờ cúng tổ tiên là một phong tục thể hiện tình cảm và đạo lý truyền thống của người Việt Nam nói chung và người Thái Tây Bắc nói riêng Đó là lòng thành kính biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ đã khuất Đây là một tín ngưỡng phổ biến và nổi bật của các tộc người Việt Nam Tục thờ cúng tổ tiên được thể hiện qua các

Trang 19

19

nghi lễ cụ thể ở từng tộc người Đối với người Thái Tây Bắc, họ có nơi thờ cúng

tổ tiên cho toàn tông tộc, dòng họ hay gia đình Đó có thể là một hòn đá thiêng, một gốc cây, hay một khu rừng cấm…(ma họ) được thờ ở nơi thờ dòng họ Những gia đình trong một họ thờ và cúng họ mình (Xên Đẳm) vào một dịp nào

đó trong năm, cũng như kiêng không ăn thịt một con vật tổ nào đó… Họ Quàng (Hoàng) không ăn thịt hổ1, họ Lò không ăn thịt chim Tăng Lo, họ Hà thờ chim bìm bịp2

[18, Tr.10]…Những người sống chung trong một gia đình thờ ma nhà (Phi Hươn) Người trưởng gia có quyền thay mặt gia đình cúng ông bà, tổ tiên, làm chủ lễ “Xên Hươn” Trưởng gia nắm vận mệnh của gia đình

Người Thái quan niệm tổ tiên của họ ở trên trời được các Then cai quản thông qua hồn chúa đất Hồn sống trên trời vài trăm năm và rồi chết lần thứ hai trở thành Phi quay lại mặt đất thành kiến, sâu, bọ; sâu bọ chết đi biến thành thứ rêu chuyên mọc những chỗ ẩm ướt…Với riêng nhánh người Thái đen lại quan niệm, chết có thiêu xác mới lên được trời Đây chính là nguồn gốc tục hỏa táng của người Thái đen

Người Thái thờ ma ngay cạnh Hóng - cạnh nơi ngủ của gia trưởng và cả gia đình Cứ mười ngày một lần làm lễ Pạt Tông - lễ cúng ma nhà (phải có cá và rau làm đồ cúng) Ma nhà luôn bên cạnh gia đình và chăm sóc đến đời sống gia đình Với tổ tiên ở trên trờihay ở bãi tha ma, không ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống gia đình bằng ở Hóng nên các ma trên chỉ được mời về chứng giám vui chơi trong các dịp gia đình có “đại sự” như cưới xin, ma chay, lên nhà mới…Cơm cúng trong các dịp trên thường là cơm lam, thịt chim, thịt ếch, cá đĩa rau hay đĩa măng

Đối với người Thái, chết chưa phải là hết, thể xác và linh hồn vẫn còn hằng lui tới với gia đình Người Thái quan niệm, thế giới người sống ra sao thì thế giới cõi chết cũng vậy Do đó, người chết cũng cần phải có vốn liếng để bắt

Trang 20

đã đi lấy chồng thì không được làm cơm cúng, kiêng đi lại gần chỗ thờ cúng

Nghi lễ làm Hóng thường được tổ chức mỗi năm một lần Trong ngày làm Hóng, con cháu bao giờ cũng về tề tựu đông đủ để làm lễ cúng ông bà tổ tiên Sau lễ cúng, gia chủ sẽ mời bà con con dân bản tham dự bữa cơm thân mật để hưởng những lễ vật được sử dụng trong lễ cúng Tục thờ cúng tổ tiên được phản ánh trong các truyện kể dân gian của người Thái chưa phản ánh trực tiếp đến nghi lễ thờ cúng mà mới chỉ đề cập đến các hình thức thờ cúng của người dân Thờ cúng tổ tiên là cách thể hiện lòng thành kính đối với ông bà, cha mẹ và những người đã khuất, cũng là biểu hiện của đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của đồng bào Thái

Đối với những gia đình duy tâm hoặc có người hay ốm đau thì họ thường làm thêm một ban thờ nhỏ ngoài nhà để thờ cúng ma đói ma khát, ma lang thang Vào những ngày mùng một, ngày rằm, hay khi trong nhà có người ốm đau họ thường thắp hương, bày hoa quả, bánh kẹo để cúng các ma với hi vọng những hồn ma sẽ không quấy rầy gia đình, phù hộ cho gia đình được mạnh khỏe, làm

ăn thuận lợi

Tiểu kết

Người Thái đen cư trú đại đa số ở vùng Tây Bắc, vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt, mùa đông khô hạn, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Đặc điểm khi hậu và đất đai rừng núi đã định hình nên những phương thức sản xuất truyền thống: Lúa ruộng, lúa nương, săn bắn, hái lượm Trong đời sống văn hóa,

Trang 21

21

người Thái đen giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống: ngôn ngữ, chữ viết, trang phục, nghệ thuật, phong tục tập quán Người Thái quan niệm rằng vạn vật hữu linh, đối với người Thái, chết chưa phải là hết, thể xác và linh hồn vẫn còn tồn tại Họ cho rằng, thế giới người sống ra sao thì thế giới của người chết cũng vậy mọi vật đều có linh hồn và có thần linh cai quản cho nên mỗi khi gặp khó khăn họ thường làm lễ để cúng khấn kêu gọi các vị thần linh giúp đỡ Chính vì vậy cuộc sống của người Thái đều gắn liền với những nghi thức cúng bái, cầu xin thần linh cho con người khoẻ mạnh, mùa màng bội thu, vật nuôi sinh sôi đầy đàn không bị dịch bệnh…

Bản Nà Lạn xã Tông Lạnh thuộc địa bàn vùng núi cao miền Tây Bắc, nơi người Thái đen chiếm số dân đông nhất Đây là vùng có điều kiện tự nhiên rất đa dạng, những đặc điểm tự nhiên này đã tạo nên những dấu ấn đậm nét trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân ở đây, nhất là dân tộc Thái đen Do sống cùng người Kinh và một số dân tộc khác cho nên ít nhiều họ cũng bị ảnh hưởng về một số chiều cạnh kinh tế, văn hóa, cùng với yếu tố môi trường, khí hậu người Thái đen nơi đây luôn dâng lên các vị thần linh, tổ tiên dòng họ và tất

cả những người có công khai phá ra bản mường những lễ vật là thành quả lao động của họ như: lúa, gạo, trâu, lợn, gà, rau, quả…để tỏ lòng thành biết ơn, lòng kính trọng, tin tưởng vào sức mạnh và sự phù trợ của đấng thần linh luôn che chở cho con người thoát khỏi mọi sự đe doạ của bệnh tật, đói rét, thiên tai khắc nghiệt và cầu cho mùa màng bội thu

Trang 22

22

CHƯƠNG 2

HÀNH TRÌNH TANG MA CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN BẢN NÀ LẠN,

XÃ TÔNG LỆNH, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

Con người sinh ra, lớn lên, già và chết (sinh, lão, bệnh, tử) trong đó chết

và mai táng là một thủ tục quan trọng, phải thực hiện nhiều công đoạn nhất trong các phong tục của người Thái Hoả táng là tục lệ đã có từ ngàn xưa của người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Sau khi một người qua đời thì công tác chuẩn bị cho đám tang là bước đầu tiên, tiếp theo

là các nghi lễ, cuối cùng là an táng Nghi lễ tang ma và các tập tục liên quan đến tang ma của người Thái đen ở bản Nà Lạn, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La là một trong những nét văn hoá của dân tộc, phản ánh quan niệm về tôn giáo tín ngưỡng, tập quán địa phương và mối quan hệ giữa con người với con người Chúng tôi sẽ miêu tả một cách có hệ thống đám tang theo trình tự thời gian từ khi mất cho tới khi dựng xong nhà mồ cho người mất và lễ mời người vong hồn mất về nhập vào gia tiên

2.1 Ngày thứ nhất

2.1.1 Lúc lâm chung

Khi trong nhà có người hấp hối sắp tắt thở, người nhà phải gọi trưởng tộc đến chủ trì, chọn một nhóm dâu, rể đến túc trực, anh em họ hàng đến tập trung nghe xem người chuẩn bị chết có thể căn dặn được con cháu điều gì không và theo dõi xem nhịp thở của người sắp mất thế nào

Sau khi tắt thở, người thân vuốt mắt và đỡ cằm thi hài để khỏi mắt mở, miệng há khu vực người chết nằm được quây lại bằng một tấm ri đô bằng vải

Người chết được tắm rửa bằng nước thơm và thay quần áo Nước thơm dùng để tắm cho người chết thường được đun lên với một ít hoa - lá thơm có trong gia đình như: hoa bưởi, củ sả, lá hương nhu…Người Thái cho rằng dùng

Trang 23

23

nước tắm có mùi thơm dịu sẽ có tác dụng khử các mùi hôi tanh cho cơ thể người chết, như thế khi về "Mường Trời" sẽ được sạch sẽ, thơm tho Việc tắm rửa cho người chết phải được thực hiện trước khi liệm, do đó nước tắm cần được chuẩn

bị nhanh chóng trước khi thi thể bị lạnh cứng Nước tắm đun cho đến khi có thể nhúng tay thấy ấm là được Người ta thả hoa vào nước, cầm nhành hoa nhúng nước, vảy trên đầu, lên mặt và khắp thân thể người vừa mất Sau đấy lấy khăn mới hay xé vuông vải trắng làm khăn, nhúng nước ấm, lau rửa mặt mũi, mình mẩy, chân tay thật sạch sẽ Rồi lấy lược, thường là lược bằng sừng trâu chải tóc, nếu người có búi tóc thì búi lại cho thật gọn đẹp Người cầm hoa vừa vảy nước

và vừa nói “Người đã bỏ đời, đã lìa sống, hãy tắm nước hoa biến thành người

lành, chải đầu thành người hay người mới lên với tổ tiên”

Sau khi được gội đầu, chải, búi tóc và thay quần áo, người mất được mặc

đồ cẩn thận Đối với nhà nghèo, đồ thay là những bộ quần áo hàng ngày còn tốt, đối với gia đình giàu có thì đồ thay là đồ mới, với những người cao tuổi hoặc chết

do bệnh tật lâu ngày thì đồ thay là đồ mới đã được chuẩn bị từ trước

Việc tắm rửa, thay đồ cho đến khâm liệm chỉ những người ruột thịt cùng với họ hàng thân cận mới được làm còn các bậc dâu, rể và người ngoài không được tham gia Thông thường người bố mất việc tắm rửa là con trai, hoặc em trai, cháu trai còn mẹ mất thì việc tắm rửa sẽ là con gái, em gái, cháu gái…Người vừa mất được đặt xuống đệm mới, thay trang phục mới (xửa luổng), dùng thắt lưng bằng tơ lụa để thắt (Xải Cỏm), không được dùng thắt lưng bằng các chất liệu khác Chiếc áo dài mặc ngoài phải là màu đen, những áo dài màu khác đều mặc lồng bên trong Đặt hai bàn tay người chết úp lên bụng Chẻ lạt nhỏ tròn, vót nhọn đầu mà khâu liền các mép vải liệm quanh thi hài với nhau, tiếp theo lấy vuông vải trắng và vuông vải Khuýt (Thổ Cẩm) chập vào nhau phủ lên mặt người mất Trường hợp chồng chết thì vợ lấy khăn Piêu mới gấp tư gối đầu, nếu có thì cả khăn piêu của con dâu Trường hợp người vợ chết thì lấy khăn Piêu của con dâu hoặc cháu dâu tặng, nếu không có thì lấy Piêu của người chết

Trang 24

24

gối đầu (ngoài chiếc đội đầu) Người ta cho một số đồng bạc trắng vào miệng, vào tay và khâu vào cổ áo cho người chết Nếu gia đình có điều kiện có thể khâu lên mảnh vải căng trên cây nêu (Co Cao) cho người chết hoa tai và vòng tay bằng bạc, làm như vậy để khi lên trời họ sẽ có chút tiền để tiêu Lược dùng để chải đầu khi tắm rửa được chặt đôi ra, một nửa đặt vào gối, cạnh đầu thi hài, một nửa để vợ hay chồng giữ lại cho đến khi chết thì cho vào liệm theo như thế, vợ hay chồng cắt ít tóc cho vào cùng nửa chiếc lược Sau khi đã thao tác xong các việc trên, người chết được đắp chăn mới, không trùm đầu, chỉ đắp từ cổ xuống Tiếp theo, lấy chiếc màn của vợ chồng đang dùng (nếu góa bụa hay chưa vợ chưa chồng lấy màn bản thân đang nằm) chập hai quai lại, căng theo dọc dưới xà

để trùm kín thi hài Khi khâm liệm (Cộn Pang) phải có hai mảnh thổ cẩm lót dọc hai bên sườn của người mất, quần áo buộc dọc thân Việc khâm liệm được thực hiện dưới một chiếc xà nhà nếu là đàn ông trong gia đình thì thi hài được đặt dưới xà nhà gian tiếp giáp với gian để bàn thờ, phụ nữ và con trẻ ở những gian tiếp theo Người ta khâm liệm cho người chết dưới xà ngang giữa hai cột cái trong nhà, (gọi là cột Xau Hẹ) Theo quan niệm của người Thái đen, ma nhà trú ngụ trên xà ngang đó, khâm liệm ở đây để ma nhà biết mà đi Trường hợp chồng

đã mất, vợ trở thành chủ gia đình thì cũng được khâm liệm tại chỗ dưới xà bên gian thờ gia tiên như ông chủ Nếu trường hợp con cái chết, ai nằm gian nào thì được khâm liệm dưới xà gian đó Trên mái nhà đối diện với nơi đặt người chết, người ta thường dỡ một viên ngói hoặc lấy ngọn giáo chọc thủng, dựng một cành tre nối ra chỗ thủng đó Dưới gầm sàn nơi liệm người chết, người ta dùng đinh đóng xuống Làm như vậy, người Thái đen cho rằng họ đã mở cửa đất, cửa trời báo với trời gia đình có người thân qua đời và mở cửa cho người chết về với tổ tiên…

2.1.2 Chuẩn bị nghi thức Tức và Phăn Hóng (báo với trời và hàng xóm nhà

có người mất)

Sau khi khâm liệm xong, người thân gào khóc gọi hồn một hồi rồi tất cả

Trang 25

25

trở lại không khí im lặng để bình tĩnh chuẩn bị mọi công việc Người Thái đen quan niệm rằng khóc lúc này người chết sẽ vương vấn phần hồn và không ra đi thanh thản được…Sau khi đã tiến hành xong xuôi những công việc trên thì tiếp đến công việc chuẩn bị nghi lễ Tức

Gia đình mổ một con vịt chặt lấy đầu, hai cánh và hai chân để nguyên cả lông, buộc túm treo lên xà phía trên chân thi hài, gọi là Pết Khảm Khái, tức là vịt

để vong hồn cưỡi vượt sông Ta Khái trên trời và tiếng kêu của con vịt sẽ giúp đưa đường cho người chết qua sông để mau lên trời về với tổ tiên Tiếp theo họ cắt đồng bạc trắng thành chín mảnh và lấy vải gói thành chín gói nhỏ, một quả trứng gà luộc, một nắm xôi, gói chung thành một gói, cả gói trứng, xôi và chín gói bạc lại được gói chung một gói bằng mảnh vó hay chài cũ buộc túm treo lên

xà, phía trên thi hài Gói xôi trứng là thức ăn đường và chín gói bạc là tiền lộ phí của vong hồn

Khi thực hiện nghi thức Tức, và Phăn Hóng, người ta lấy: Một rổ đựng một súc vải và đĩa trầu cau, một rổ đựng thức ăn chua và ngọt gọi là Pan Xổm Van, một rổ đựng đĩa con gà luộc, đặt các rổ đó cạnh thi hài Người con trai cả, cầm một thanh kiếm trần đi ra ngoài sàn, vợ, con theo mang ra các rổ vải, gà, thức ăn chua ngọt đặt dưới chân mái đầu hồi Người con trai cả rút kiếm chỉ lên trời3

kêu to ba lần: “trời ơi bố (mẹ) tôi đã chết rồi” có nghĩa là báo cho Trời và Then biết Rồi tất cả quay vào nhà và mang rổ đựng các thứ vào, riêng rổ thức ăn chua ngọt thì đổ đi Người con trai cả đi vào trước, đến bếp lửa chính (Chi phay Cang) chém ba nhát kiếm tượng trưng, một nhát vào sàn bếp đồng thời đạp đổ hòn rau cái, một nhát vào Nả Hóng (bàn thờ) và một nhát vào Pha Hóng (vách bàn thờ), dỡ Pha Hóng xuống đất

Sau khi đã dỡ Pha Hóng xong, người con trai cả quay vào quỳ bên thi hài, phía Nả hóng, mà gọi ba lần “bố ơi!” hay “mẹ ơi!” rồi hét to “trời ơi bố tôi chết

3

Theo phong tục cũ còn bắn kèm súng kíp tạo tiếng nổ báo tin cho bà con trong bản

Trang 26

26

rồi!” hay “trời ơi mẹ tôi chết rồi!” Đến lúc này tất cả người thân mới cùng gào khóc Trường hợp không Phăn hóng, thì chỉ đưa rổ đựng các thứ nói trên ra đặt trước chân mái hồi sàn, kêu trời, rồi gào khóc bên thi hài Sau khi đã đã thực hiện nghi thức Tức, mọi người thân tha hồ khóc thương Vì chưa Tức, là chưa báo cho Trời biết có người chết nên chưa được khóc ồn ào làm náo động Trời Đất, sau khi làm Tức xong, Trời biết có người chết thì trong gia đình mới được phép ồn ào

Hàng xóm, sau khi nghe người con trai hô như vậy ai biết sẽ tập trung đến

và giúp chủ nhà các công việc chuẩn bị đầu tiên Trưởng tộc đứng ra có lời nhờ hàng xóm làm thế nào để ma tốt, ma lành và công việc của người quá cố được tiến hành suôn sẻ (dệt lẳm ly phi chăn) Nhận lời nhờ của trưởng họ, mọi người tập trung bàn nhau về ngày đưa tang Người Thái, rất kiêng kỵ ngày (Con Ong)4

đó là ngày Mão, ngày vất vả - nếu chết vào ngày này là phải đắp chiếu coi như còn sống chờ hôm sau mới coi là “chết” Ngoài ra còn kỵ ngày Hợi, phải đợi giờ Dần làm giờ chết để trị các loại ma (Phi) Chủ trì đám tang thường là Trưởng bản (Po Bả) Sau khi đã thống nhất được ngày đưa tang sẽ phân công công việc cho mọi người

2.1.3 Họp bàn quyết định quy mô làm lễ tang (Heo)

Người có vai trò quyết định các công việc trong gia đình, cùng anh em ruột thịt và những người họ hàng thân cận họp nhau tại bên cạnh thi hài để bàn việc làm lễ tang Cơ bản là tùy thuộc vào tình hình kinh tế của gia đình mà quyết định quy mô làm Heo ít hay nhiều, nghĩa là có khả năng đến đâu làm đến đấy Trường hợp gia đình quá nghèo không có khả năng làm Heo chỉ quàn thi hài qua một đêm tại nhà là mang địa táng luôn, không hỏa táng Địa táng gọi là Phăng Cô

Nguyên tắc làm Heo là 30, 50, 70, 90, 110, 130, 150 cứ theo như thế mà lên Dù nghèo, nếu làm Heo cũng phải làm mức tối thiểu là 30 Xưa kia người

4

Ngày kiêng kỵ theo lịch Thái

Trang 27

27

giàu sang, quyền cao chức trọng có thể làm hàng mấy trăm Heo Song mức độ phổ biến áp dụng trong nhân dân và những người có chức sắc hiện nay thường là từ 30 đến 110 hay 130 Heo Nguyên tắc về tỷ lệ gia súc phải mổ theo quy mô làm Heo: Heo 30 mổ một con lợn khoảng 50kg trở lên, Heo từ 50 đến 90 mổ một trâu hoặc

bò, Heo từ 110 đến 130 mổ một trâu, một bò hoặc hai trâu, Heo từ 150 đến 190

mổ ba trâu…Trường hợp mổ nhiều gia súc có thể số bò nhiều hơn hay số trâu nhiều hơn hoặc ngang nhau, tùy theo khả năng của gia đình, song với điều kiện không được phép tất cả đều là bò, nếu tất cả đều là trâu thì được phép Ngoài ra, lợn gà của con cháu và họ hàng thân cận mang đến mổ thờ phúng (Dệt Ngai) thì không kể, càng nhiều càng tốt

Ngoài việc họp bàn về quy mô lễ tang, hình thức an táng, cuộc họp còn bàn về việc lấy Khươi Cốc, Khươi Ham Nếu người quá cố đã di chúc lấy ai làm Khươi Cốc thì cứ thế mà theo, nếu không thì cuộc họp quyết định Luật lệ về người được mời làm Khươi Cốc như sau:

Thông thường trước khi qua đời, người ta sẽ chọn cho mình trong số các con rể một người làm Khươi Cốc (người làm nhiệm vụ đưa đường) Nếu không kịp chọn thì sẽ cử ra một trong số các con rể mà người quá cố yêu quý nhất Thứ nhất là con rể cả, nếu vì lí do nào đó không thể làm được mới đến rể thứ hai, thứ ba Trường hợp không có con rể mới lấy cháu rể hoặc con rể của anh trai hoặc

em trai, nếu các trường hợp trên cũng không có thì lấy chồng của chị hay em gái hoặc các con trai của họ với điều kiện người lấy làm Khươi Cốc là người có đủ

vợ đủ chồng, không góa bụa Khươi Ham là lấy những người thuộc chi gái (Nhinh Sao)

Số lượng chọn, mời các Khươi bao gồm: Khươi Cốc, Khươi Ham: Heo từ

30 đến 90 chọn bốn người, Heo từ 110 đến 190 chọn sáu người nếu chọn Po Bả: Heo bình thường chọn một đến hai người

Về nhiệm vụ của các Khươi và Po Bả: Khươi Cốc làm nhiệm vụ dẫn đường

Trang 28

28

cho vong hồn đi vào mường trời, nói chung là chuyên trách về phần hồn đọc số

“pắp sống” (sổ đưa ma), bàn giao tài sản cho người chết Khươi Ham làm nhiệm vụ khiêng linh cữu, đi mai táng và nấu nướng phục vụ những người đến giúp làm Heo Po Bả làm nhiệm vụ thay mặt gia đình cai quản mọi mặt, như các đồ dùng, các thứ đồ ăn uống, nắm quân số người đến giúp làm Heo từng ngày, cắt đặt mâm

ăn uống cho từng bộ phận làm Heo tức là làm quản gia Sau khi bàn định xong xuôi tất cả, người ta cắt cử người đi báo tang các bản trong vùng và những người họ hàng thân cận ở xa để biết mà đến với lễ tang Khươi Cốc, Khươi Ham, Po Bả nếu ở

xa thì tang chủ cử người đi mời riêng

2.2 Ngày thứ hai

2.2.1 Mai Khươi Cốc (Mời Khươi Cốc)

Trước khi tiến hành làm Heo, nghi thức thứ nhất là Mai Khươi Cốc bởi chưa Mai Khươi Cốc chưa thể tiến hành làm Heo Mai có nghĩa là mời chính thức và giao nhiệm vụ cho người làm Khươi Cốc Nếu người sẽ lấy làm Khươi Cốc, ở gần mà đến kịp thời, sau cuộc họp bàn định như đã nói trên là mời ngay, trường hợp ở xa đến muộn thì thực hiện các thủ tục sau nghi thức Tức cũng được, song vẫn phải trước các nghi thức khác ngoài Tức

-Nghi thức Mai Khươi Cốc

Người nhà làm một mâm lễ bao gồm một con gà, một chai rượu, một ít

trầu cau đến nhà người được chọn làm Khươi Cốc để làm lễ xin (người nhà tôi

mất rồi đến với tổ tiên, đến với trời đất cần có người đưa đường, dẫn lối, phục

vụ các bữa ăn cho ông bà mặc dù gia đình có rất nhiều người, nhiều con nhưng anh hoặc cháu là người được ông, bà yêu quý nhất xin anh, cháu đứng ra đảm nhận công việc nặng nề này) Người được chọn làm Khươi Cốc sẽ làm các động

tác và lời nói từ chối không muốn làm công việc đau buồn này, bên gia đình có người mất thì khăng khăng không thay đổi…sau một thời gian từ chối không

được phải nhận lời, Khươi Cốc gọi anh em bên phía nhà mình đến bàn việc (nhà

Trang 29

nữ (màu đen), một thanh kiếm có cả vỏ, một chiếc rìu - lấy lá xanh bọc lưỡi, một vòng tay bạc, một chiếc đũa, một đọt bông, một túi trắng, ngoài ra còn có: một cái nồi, một cái chậu một cái thớt và những bát to, bát nhỏ, đĩa, chén, một đệm

có cả khăn trải, một chăn, một gối Tất cả những thứ trên trừ kiếm và rìu đều phải mới, chưa sử dụng Các thứ đó được đặt dưới chân thi hài và mời vợ chồng người làm Khươi Cốc đến ngồi bên cạnh Những người làm nhiệm vụ Khươi

Cốc đứng hàng ngang, chắp tay ngang bụng, người đại diện trong gia đình nói:

“Bố, mẹ, anh, chị của chúng tôi đã làm ăn sinh sống với bản mường chẳng có

gì đáng chê đáng trách, tại bởi sang mùa mới thời điểm năm nay quạ đen sà xuống bến, dịch lớn sà xuống bản xuống mường, mới mắc phải đau phải ốm, nhưng rồi tắm nước chẳng mát, cúng bái chẳng khỏi, mới bỏ sinh thời, lìa đời sống Nhưng mà cần có người làm bữa trưa chiều cho ăn và dẫn đường chỉ lối lên với tổ tiên thành Đẳm hay ma đẹp, bởi thế chúng tôi mới nhờ đến vợ chồng (tùy đối tượng xưng hô) mà làm bữa chiều trưa cho ăn và dẫn đường chỉ lối cho ông (bà) của chúng tôi lên với tổ tiên thành Đẳm hay ma đẹp” Rồi họ sụp lạy và

quỳ gối, đặt tay trên đùi

Người được mời làm Khươi Cốc đáp lễ:

“Bố (tùy đối tượng xưng hô) của chúng tôi làm ăn sinh sống với bản mường chẳng có gì đáng chê đáng trách, tại bởi sang mùa mới thời điểm năm nay quạ đen sà xuống bến, dịch lớn sà xuống bản xuống mường, mới mắc phải

Trang 30

30

đau phải ốm, nhưng rồi tắm nước chẳng mát, cúng bái chẳng khỏi, mới bỏ sinh thời, lìa đời sống Chẳng chê tôi kém hiểu kém biết, người vụng về như nỏ như tên vu vơ mà còn sai khiến làm bữa chiều trưa cho ăn và dẫn đường chỉ lối lên với tổ tiên thành Đẳm hay ma đẹp, tôi chẳng dám lời nào chối từ”

Sau khi Khươi Cốc dứt lời, tốp đang quỳ đứng dậy Khươi Cốc nhận các thứ đồ đã mang đến giao Từ đây trở đi Khươi Cốc ăn, ở, ngủ tại gia đình tang chủ Các thứ đồ của mà tang chủ đã giao đó Khươi Cốc dùng trong việc làm lễ tang gồm: một bộ quần áo dài đen chàm để Khươi Cốc mặc vào tang lễ, một dải khăn đen chàm cuốn đầu, một dải khăn trắng cuốn xuống lưng bụng để biểu thị cùng để tang, một đồng bạc trắng buộc vào đầu khăn đen, một vòng bạc trắng, một thanh gươm có vỏ và chuôi nạm bạc, một cái thớt, một đôi bát, đôi đũa, đôi thìa Khi làm xong nhiệm vụ, tang chủ biếu thêm cho Khươi Cốc một gánh thóc, hai bát gạo nếp và một chai rượu Bên tang chủ nếu có điều kiện kinh tế cho Khươi Cốc và vợ của Khươi Cốc mỗi người một chiếc nhẫn vàng Sau khi Khươi Cốc thực hiện xong các thủ tục, mọi người có thể vào viếng

Những lễ vật mà chủ nhà dành cho Khươi Cốc mang về sau tang lễ có ý nghĩa: các thứ tang chủ đã giao cho Khươi Cốc tức là phần cho vong hồn, Khươi Cốc lấy cả thì vong hồn mới nhận được ở mường trời, nếu Khươi Cốc bỏ cái nào thì vong hồn sẽ bị mất cái đó

Đám tang thường quàn linh cữu tại nhà qua hai đêm, trường hợp làm Heo nhiều phải tổ chức quy mô lớn tốn nhiều thời gian thì có thể quàn linh cữu tại nhà qua nhiều ngày đêm5 Ở đây chúng tôi chỉ xin nói về lễ tang bình thường phổ biến

là quàn linh cữu qua hai đêm Theo tục lệ, quàn linh cữu qua hai đêm là để người chết nằm nhà hai đêm với con cháu trước khi về mường trời

Trang 31

31

những người ruột thịt mặc và khăn tang cho những người họ hàng đội Quần áo tang lễ Xuổng Xửa Tộc dành cho vợ hay chồng cùng các con của người chết và đội khăn tang Khăn lón, con gái, con dâu, cháu trai, cháu gái, chị dâu, em dâu, chị gái, em gái và những người trong dòng họ dự tang lễ đều đội khăn tang Khăn Lón, riêng Lung Ta đội khăn Khuýt

Trong đám tang của người Thái đen, họ hàng gần xa với tang chủ chia làm hai loại Một loại được mang khăn tang Bả hua đón và một loại không mang khăn tang Bả hua đăm6

những người mang khăn tang Bả hua đón cũng chia làm hai loại (Nhinh Sao) anh em bên nội đeo khăn tang trắng, (Lung Ta) anh em bên ngoại đeo khăn tang đỏ

Khươi Cốc mặc áo dài đen, quần trắng, vấn khăn dài đen và vuông vải trắng gấp dài, phủ qua đỉnh đầu, cài hai đầu vào vành khăn đen, đeo túi trắng - dây vắt qua ngực, dùng ba chiếc dây lưng màu: một dây thắt trong, hai dây thắt đai ngoài, đeo thanh kiếm ngang lưng Vợ của Khươi Cốc gọi là Nàng Khươi Cốc: mặc bộ váy áo dài đen, đội lồng hai khăn - khăn trắng trong, khăn piêu đen ngoài, dùng một dây lưng màu Cả Khươi Cốc và Nàng Khươi Cốc đều ăn vận những thứ của tang chủ giao khi Mai Khươi Cốc

2.2.3 Vị trí ngồi

Những người ruột thịt và họ hàng thân cận: là nữ giới ngồi cạnh linh cữu phía sàn Chan, là nam giới ngồi cạnh linh cữu phía Quản, Khươi cốc và Nàng Khươi Cốc ngồi phía chân linh cữu; những con dâu, cháu dâu, con rể, cháu rể chỉ được phép ngồi từ giữa nhà trở xuống phía dưới; những người đến dự tang lễ không ngồi gần linh cữu

2.2.4 Nhiệm vụ của nam giới khi đến giúp làm Heo

Đàn ông đến giúp lễ tang gọi là Khửn Lông Đến Khửn Lông là đến giúp làm Heo, cho nên nam giới đến Khửn Lông đều mang theo dao hay kiếm

6

Bả hua đăm là những người anh của người chết, theo phong tục không phải đeo khăn tang

Trang 32

32

- Làm Choong (quan tài tạm)

Việc làm Choong khá đơn giản, gia đình tang chủ chuẩn bị sẵn gỗ, tre cho những người đến Khửn Lông làm Khác với các dân tộc khác, quan tài của người Thái đen có tục hỏa táng chỉ đóng sơ sài bằng các tấm ván mỏng ghép vào nhau,

có nơi chỉ đan bằng tre với hình thức thô sơ, tạm bợ bởi vì khi thực hiện việc hỏa táng, người ta thường đốt theo thi hài

- Làm Nộc Ma (chim ngựa làm phương tiện cho linh hồn người chết là nam giới lên trời)

Thường thường người ta lấy chạc cây làm bởi một bên cành làm thân, một bên cành làm cổ luôn cho tiện, gọt đẽo thân giống chim, còn cổ, đầu, tai giống ngựa Riêng đầu và tai phải làm rời, xong mới lắp vào Sau khi lắp xong, từ cổ trở lên giống ngựa ngẩng cao đầu, thân tạo hình giống hình chim Dưới bụng đục

lỗ tra cán, dài khoảng sải tay, đồng thời cán cũng coi là chân luôn, bởi chim ngựa chỉ một chân Sau đấy mới trang trí: mắt, mũi, kẻ miệng, bờm được quét bằng mực đen Đai cương, dây cương, dây chằng ngực, dây chằng đuôi đều được làm bằng dây sợi nhuộm đen Người ta cắt vải màu nâu hay đỏ nhạt làm lót yên và cắt giấy khác nhau làm yên, dán trên lưng Rồi lấy ống tre nhỏ hay trúc nhúng nước phẩm đen, tím, xanh mà chấm lên thành những nốt tròn xen kẽ màu khắp thân và cổ Làm ba que dẹt bằng nhau, một đầu vót nhọn, que nào cũng được bọc suốt bởi băng giấy màu gập đôi, rủ xuống hai bên rộng, cắt ngang tách từng mảnh nhỏ, tạo thành chuỗi tua lòa xòa, các que tua này được cắm vào thân chim bởi đầu nhọn, hai que làm hai cánh, một que làm đuôi Người ta thường có hai cách gọi: Mạ Pík (ngựa cánh) hay là Nộc Ma, phần nhiều quen gọi là Nộc Ma

- Làm Ho (nhà cho linh hồn người chết)

Cách tính tầng của Ho, người ta không tính tầng dưới cùng bởi coi nó là nền, chỉ tính từ tầng trên trở lên, nghĩa là tầng thứ hai thành tầng thứ nhất, như vậy khi nói có mấy tầng là tính các tầng từ tầng trên trừ tầng dưới cùng Việc

Trang 33

33

làm Ho, cũng dựa trên mức độ của Heo, Heo càng nhiều càng làm to và nhiều tầng, chẳng hạn Ho hai tầng, ba tầng Ho được cấu tạo theo bốn góc và bốn mặt vuông, tầng trên nhỏ hơn tầng dưới, càng lên cao càng nhỏ dần Ho bình thường phổ biến là hai tầng

Về trang trí, ở ba cọc trên đỉnh Ho, mỗi cọc dán ốp một thứ giấy màu khác nhau; cả mái trên lẫn mái dưới đều phủ một lớp vải trắng, rồi dán phủ kín nền vải bằng giấy các màu được cắt thành những hình người cách điệu, từng băng thể hiện từng giới một, dán xen kẽ băng nam băng nữ cầm tay nhau múa hát Những giấy trang trí càng có được nhiều màu càng tốt, song dù ít cũng phải có được bốn màu: đỏ, vàng, xanh, tím, Ho là nơi để các linh hồn của người chết gặp mặt và vui chơi

- Làm (Pi) (hoa chuối giống như tên lửa để làm phương tiện lên trời cho người chết)

Pi được làm bằng gỗ tròn mềm, đường kính khoảng 12cm , dài khoảng 30

cm Phía đầu tiện nhỏ sâu vào khoảng 5cm thì để gờ rộng khoảng 4cm; phía đuôi cũng làm giống phía đầu nhưng ngọn đuôi hơi loe; thân của nó được tính giữa hai gờ đầu và đuôi, tiện thon tròn về hai phía đầu, giữa để phình, nhưng phía đuôi thon nhỏ và dài hơn phía đầu, ngoài gờ đầu gọi là cuống, xẻ bớt cuống đi một nửa để tiện buộc ép vào ngọn Ko Tung, lấy ống trúc hay tre nhỏ nhúng phẩm xanh, tím chấm lên khắp thân Pi thành những nốt tròn Pi có thể là Pi đơn hoặc Pi kép Số lượng Pi tỷ lệ thuận với số lượng Heo, chẳng hạn: Heo 30 một chiếc Pi, Heo 50 đến 90 hai chiếc Pi, Heo 110 bốn chiếc

2.2.5 Nhiệm vụ của nữ giới đến giúp làm Heo

Công việc làm Heo phần cắt, khâu, may cần nhiều nữ giới đến giúp tang chủ để chuẩn bị các thứ cho đám tang như làm Xuổng Xửa Tộc, Khăn lón, Mák Khánh, làm Chao Uôn, cờ, trang trí ô, nón, quạt, Chao Phạ

- Làm nón, ô, quạt và các thứ cần chuẩn bị khác

Trang 34

34

Việc làm nón, ô, quạt ít nhất cũng phải có mỗi thứ một cái, nếu Heo nhiều thì ô và quạt mỗi thứ từ hai cái trở lên Mỗi chiếc ô được trang trí giống như cái lọng với các hoa văn rực rỡ Nón và quạt thì trang trí đơn giản hơn, chỉ viền vải màu quanh mép, riêng nón có làm thêm chóp bằng giấy vàng dán vào đỉnh, quai nón bằng vải màu, dây treo quạt bằng chỉ màu…

Làm cờ: Cờ được làm bằng Khuýt và tơ, mỗi mặt đều rộng gang tay và dài một sải tay, khâu khép đầu trên hai băng vào nhau khoảng 30cm, lấy vải màu khâu ốp hai mặt vào cho dày, cắt vát cân tạo thành đỉnh nhọn giữa và luồn cây trong cho cứng, trên đỉnh nhọn dính cây chỉ để buộc theo cán, hai bên phía đỉnh đều đính giấy hình trăng tròn, hai băng Khuýt và tơ được thả song song xuống, hai mép của mũi băng đều viền khác nhau, đầu cuối của băng được cắt vát nhọn giữa và khâu ốp vải màu hai bên mặt, từ chỗ cắt vát trở xuống, mảnh màu hai bên thành hình tam giác cân ngửa, giữa mặt tam giác hai bên đều gián giấy vàng hình nửa vành trăng, góc nhọn dưới cùng đính tua nhiều màu được gọi là Hang

Tủ, xong đính hai dải tua vào hai góc bên cạnh phía trên đỉnh, thả dài xuống ngang hai băng Khuýt, mỗi dải tua là mỗi vải màu khác nhau và đều rộng bằng ngón tay cái

Làm Chao Uôn: Chao Uôn được làm bằng một sải vải trắng, cả khổ, hai đầu không khâu, khâu gập dọc một bên mép để luồn cán, hai góc ngoài đính tua đen, giống cờ lá chuối Chao Uôn, cờ, ô, nón, quạt được đem treo dưới chân linh cữu, trước mặt Khươi Cốc

Làm Chao Phạ: ghép hai băng vải trắng và Khuýt cùng khổ với nhau, bên băng vải trắng khâu gập dọc mép ngoài để luồn suốt cây Chao Phạ cây tre dài từ gốc đến ngọn đã nói ở phần trên, băng vải dài xuống dưới hơn băng Khuýt một chút bởi nó cần trùm xuống gần sát gốc cây Chao Phạ, độ ngắn dài cũng tỷ lệ thuận Heo ít hay nhiều, mức bình thường: Heo 30 dài 5 sải, Heo từ 50 đến 90 dài

7 sải, Heo từ 110 dài 9 sải…Mép ngoài của băng Khuýt đính các ngấn tua màu

Trang 35

35

Làm Lỉu: Số lượng Heo được tính theo số lượng Lỉu, tức là bao nhiêu Lỉu thì bấy nhiêu Heo, trừ Chao Phạ không tính vào số lượng, chính vì thế người ta thường gọi là Lỉu Heo Chẳng hạn Heo 30 là 30 Lỉu, Heo 50 là 50 Lỉu, Heo 70 là

70 Lỉu Trong tổng số Lỉu, có một nửa số Lỉu làm bằng vải trắng và một nửa bằng Khuýt Mỗi sải vải trắng và mỗi sải Khuýt chia thành ba Lỉu, rộng cả khổ, khâu gập một bên dọc mép để tra cán, hai đầu không khâu, hai góc ngoài đính tua khác màu, Lỉu làm giống cờ lá chuối Lỉu được treo vào Ko Tung Luông - trụ dưới Chao Phạ

2.2.6 Các nghi thức phúng viếng, đánh thức vong hồn dậy

Nghi thức Khửn Choong: sau khi Choong đã làm xong thì mổ con lợn khoảng 40, 50 kg trở lên để làm lễ Khửn Choong, gọi là (Mu Khửn Choong) Nghi thức mổ lợn Khửn Choong được tiến hành như sau: Khươi Cốc ăn vận, vấn khăn, đeo túi, đeo kiếm, thắt đai như đã nói ở phần y phục tang lễ Tiếp theo Khươi Cốc cầm bó đuốc, đứng dưới chân thi hài mà nói to, ý nói rằng: người đã qua đời mà biến thành kiếp khác, gia đình có con lợn làm lễ Khửn Choong, người hãy nhớ lấy Nói rồi Khươi Cốc cầm bó đuốc xuống gầm sàn nhà Trong khi đó các Khươi Ham đã bắt con lợn đem đặt dưới gầm, chính dưới nơi đặt thi hài Khươi Cốc tuốt kiếm, giơ đuốc qua họng lợn, dùng kiếm cứa họng lợn, sau

đó trở lên nhà Các Khươi Ham đem lợn đi mổ Sau khi moi ruột làm sạch xong cắt rời đầu, cắt rời bốn đùi Cắt rời hai mảng sườn, xương sống cắt thành bốn đoạn, để mông lẫn đuôi Rồi đem luộc tất cả thịt lẫn bộ lòng, chỉ lấy ít xương sườn gắp nướng Sau khi luộc chín toàn bộ thịt lòng chất vào mâm, cùng đĩa lòng, nộm, đĩa sườn nướng, hai đĩa xôi, hai bát nước canh, tám chén rượu, tám cái thìa, tám đôi đũa, tám bát con

Tiếp theo người ta khiêng Choong đến, bê thi hài cùng mọi thứ đã khâm liệm, kể cả chiếu lót dưới đặt vào Choong Nhập xong thì đặt Choong tại chỗ khâm liệm Lấy hòm kê phía chân thi hài cho cao ngang sàn Choong và đặt trên

Trang 36

36

đó cái mâm con Trong mâm con đặt một thìa, một đôi đũa, một bát xôi, một đĩa

để đựng thịt mỗi lần thờ cúng Lấy vuông vải Khuýt và vuông vải trắng chập vào nhau, vải Khuýt ở trên, vải trắng dưới để đậy mâm Sau đó, Khươi Cốc bê mâm lợn Khửn Choong đến đặt sát mâm con kê cao, đặt bên mâm một chai rượu Tất

cả con cái, vợ hay chồng và anh em họ hàng thân cận ngồi vào vị trí của mình Những người ruột thịt: nam quỳ gối, nữ ngồi bệt Khươi Cốc quỳ gối trước mâm, tuốt kiếm trần, ngửa lưỡi chống mũi xuống sàn Nàng Khươi Cốc ngồi sau

Khươi Cốc hướng về phía bên sàn nói to và dõng dạc: “Hỡi ơi! Bố (Mẹ) của ta

đã chết thành ma, ra đi thành Đẳm, tắm nước thành người lành, chải đầu thành người hay người mới, lên với Đẳm với họ, giờ đây gia đình có con lợn làm lễ Khửn Choong hộ người và Dệt Ngai (làm bữa trưa) cho người ăn Hãy dậy hỡi người! Dậy ăn cơm, dậy mà ăn trưa, lật chăn hoa ăn bữa Khi còn sống người

ăn cùng mâm nhiều kẻ, giờ đây người chết người khắc ăn cơm mâm một đôi đũa, đừng rủ con ăn cùng, đừng gọi cháu ăn theo, anh sẽ ăn hãy đũa xau, em sẽ ăn hãy đũa gạt, hãy gằm mặt ăn như mèo, xanh mắt ăn như diều như cắt Ăn xong người hãy phù hộ con nhiều đàn, độ trì cháu nhiều lứa ” Trong khi Khươi Cốc

nói thì Nàng Khươi Cốc và mọi người thân cúi rạp người, hướng về phía Choong

Sau khi nói xong, Khươi Cốc chuyển sang khóc thức gọi vong hồn dậy ăn cơm, cả nàng Khươi Cốc lẫn mọi người đồng thanh khóc than theo Khươi Cốc

(nội dung tóm tắt lời đánh thức vong hồn xem phần Phụ lục 1, Tr.82)

2.2.7 Các nghi thức Bók ngai (Thờ phúng)

(Bók Ngai) nghĩa là thờ phúng Sau lễ Khửn Choong là các lễ thức Bók ngai Theo tục lệ, những người thân phải mang vải, rượu, lợn, gà đến phúng viếng, mức bình thường: vải bốn sải, rượu hai chai, gạo khoảng sáu bát, tuy nhiên những cặp vợ chồng con trai và con gái thì những số nói trên phải nhiều hơn Còn phần thịt chỉ có lợn và gà Nguyên tắc: mỗi đôi vợ chồng con trai, con

Trang 37

37

gái, vợ chồng anh trai, vợ chồng em trai và vợ chồng cháu nội của người mất đều phải mang lợn đến thờ phúng (Dệt Ngai), còn những anh em, con cháu bên ngoại, bên cô dì thì chỉ mang gà đến Dệt Ngai, trước tiên phải đưa đến gần Choong mà giao nộp cho vong hồn Cách giao nộp thì một người nào đó đại diện trong gia đình hay người trong thân tộc, đứng cạnh Choong nói hộ xưng tên người mang lễ vật và lễ vật gồm những gì, số lượng bao nhiêu, những lễ vật đó mang cho vong hồn đưa lên trời gây dựng nhà cửa, rồi cầu phù hộ người mang lễ vật Bởi quan niệm vạn vật hữu linh, những của, vật đã giao nộp thì linh hồn

nó sẽ trở thành của, thành vật của vong hồn sau khi làm thủ tục giao nộp xong thì lợn, gà đem mổ và luộc chín Ai chuẩn bị xong trước là làm lễ Bók Ngai trước Cách thức bầy Bók Ngai đều làm như bày mâm Khửn Choong đã nói trên Mâm Bók Ngai được người nhà bê đến đặt gần chỗ Khươi Cốc, một người trong thân tộc nói với vong hồn: xưng tên người làm mâm Bók Ngai là gà hay lợn, rồi cầu vong hồn phù hộ người làm Bók Ngai cùng con, cháu mạnh khỏe, phát đạt, phúc thọ Sau đó tất cả đồng thanh khóc thức gọi vong hồn dậy mà ăn như đã nói trong lễ Khửn Choong Sau khi xong lễ, mâm Bók Ngai được bê ra, người làm mâm Bók Ngai mời đại diện bên tang chủ cùng ăn một chút lấy lệ, rồi dọn

đi Người khác làm Bók Ngai tiếp, cứ như thế Những lần thực hiện Bók Ngai như thế này gọi là Bók Ngai nọi (Thờ phúng nhỏ), không kéo dài, nó được diễn

ra suốt mấy ngày tang lễ, song không được quá buổi sáng ngày cuối cùng

Mỗi lần Bók Ngai Khươi Cốc lấy đùi gà hay đùi lợn đặt vào đĩa trên mâm con kê cao ở cuối Choong, bỏ đùi gà, lợn của lần trước ra, nghĩa là mỗi lần Bók Ngai là mỗi lần thay đùi thịt

2.2.8 Quắm Tô Mương (kể chuyện mường)

Trong đám tang làm Heo nhất thiết phải có đọc Tô Mương vào đêm thứ nhất và đêm thứ hai (nếu quàn linh cữu 2 đêm) Vào khoảng 10 giờ đêm trở đi mới bắt đầu đọc Tô Mương Trước khi tiến hành cần có hai thứ: Một là đốt lửa

Trang 38

38

dưới đất, ngoài hiên, thẳng với đầu của linh cữu - chất củi gỗ bảo đảm có lửa hồng đến tận sáng hôm sau; hai là thắp nến, ngọn nến to đặt tại đầu Choong tức đầu thi thể và nến nhỏ xung quanh thi thể gọi là Tiên Kinh (nến thân) thắp cho đến hết

Trong khi đọc Tô Mương thì tất cả đều im lặng, không kêu khóc to, không làm ồn

Người thực hiện đọc Tô Mương là Khươi Cốc Bắt đầu vào Tô Mương, Khươi Cốc ngồi tại chỗ của mình, quay mặt vào Choong, đặt thanh kiếm trước

mặt, giở quyển Tô Mương ra Khươi Cốc nói mào đầu: “Hỡi cha, (mẹ) người đã

chết nên ma, ra đi thành Đẳm, giờ đây tôi là Khươi Cốc, tôi sẽ kể chuyện bản, thuật chuyện mường cho nghe, hãy nhớ lấy, ghi lấy, mang lên kể với ông cha, thuật lại với tổ tông! Nếu nhỡ tôi có sai sót hãy bỏ qua và hãy phù hộ tôi, hỡi người!” Rồi Khươi Cốc bắt đầu đọc quyển Tô Mương Song không phải đọc như

đọc truyện bình thường, theo giọng điệu đặc biệt riêng kể lể pha lẫn khóc thương, chậm rãi, ngân nga thấm đậm buồn thảm Trường hợp vì lý do nào đó mà người Khươi Cốc không thể đọc Tô Mương được đến hết được thì vẫn buộc phải đọc hết

7 trang đầu rồi mới cho người khác đọc thay Tô Mương còn được gọi là Quắm

Tô Mương (Truyện kể bản Mường) là một bộ thông sử của tộc người Thái, ngành Thái đen trình bày những sự kiện nửa hư, nửa thực qua cuộc “mang gươm đi mở cõi” cách đây khoảng gần nghìn năm của chúa đất Thái đen ở Mường Lò, Nghĩa

Lộ, Yên Bái (phần tóm tắt nội dung Tô Mương xem phụ lục 2, Tr.82)

2.2.9 Hảy Xán Xông (khóc tiễn đưa)

Cũng trong đêm thứ hai, sau khi đã đọc Tô Mương xong, vào khoảng bốn giờ sáng thì bắt đầu đọc Xán Xông Đó là lúc người thân khóc thương tiễn biệt vong hồn lên trời Người làm nhiệm vụ Xán Xông là con trai, nếu người mất không có con trai hoặc con trai không biết chữ để đọc được quyển Xán Xông thì anh hay em trai ruột - đối với nam; hoặc chồng - đối với nữ Nếu những người

Trang 39

39

thân nói trên không thể làm nổi thì phải thuê người khác đọc Xán Xông hộ

Bước vào nghi thức Xán Xông, những người thân phải mặc quần áo, đội khăn tang lễ đầy đủ, ai nấy ngồi vào vị trí quy định của mình, xung quanh Choong Người làm nhiệm vụ đọc quyển Xán Xông ngồi sát cạnh Choong, vai

đeo túi đựng gói gà nướng, gói xôi, gói muối, gói trầu vỏ (có thể con trai hay em

trai ngồi cạnh đeo túi cũng được) Những anh em trai ngồi sát gần và nắm tà áo người đọc bài Xán Xông Mọi người đều im lặng, chỉ có tiếng của người đọc Xán Xông Giọng điệu Xán Xông cũng rất đặc biệt, vừa khoan thai thê thảm vừa buồn thương da diết, cảnh chia ly giữa người sống và người chết và tiễn biệt

vong hồn người thân lên trời vĩnh viễn biệt tăm (nội dung tóm tắt bài Xán Xông

xem phần Phụ lục 3, Tr.84)

Kết thúc bài Xán Xông, mọi người cùng đồng thanh gọi hồn của mình về nhà Sau đấy người đọc Xán Xông gỡ túi khỏi vai, giở các gói trong túi ra, những anh em ngồi trực làm nhiệm vụ Xán Xông cùng nhau ăn tại chỗ Việc này mang ý nghĩa là họ Xán Xông tiễn vong hồn người thân lên trời, họ phải mang theo thức ăn đường để hồn vía của mình khỏi đói, khỏi ăn cơm thịt của mường

ma, sau khi đã trở về nhà họ phải ăn tượng trưng

Có một điều đặc biệt là người đến viếng có thể uống rượu và ăn một món thức ăn trên mâm cỗ cúng với Khươi Cốc ngay nơi quàn người mất, họ quan niệm rằng ăn uống với Khươi Cốc như vậy là để chia sẻ với sự vất vả của người làm Khươi Cốc và cho hồn người mất ăn theo

2.3 Ngày thứ ba

2.3.1 Chuẩn bị chỗ an táng

Sau khi Xán Xông xong, từ sáng sớm, Khươi Cốc cùng tang chủ, anh em, con cháu họ hàng đi chọn chỗ an nghỉ cuối cùng cho người quá cố Trước khi đi, Khươi Cốc khấn trước linh cữu, mời vong hồn đi theo để chọn chỗ an nghỉ và ưng chỗ nào hãy mách bảo Vào trong rừng tha ma, tang chủ ngắm ưng chỗ nào

Trang 40

40

thì Khươi Cốc gieo quẻ sấp ngửa tại đó theo cách như sau:

Khươi Cốc phát quang một khoảng nhỏ và quét sạch rác rưởi; cắm vào đó chiếc đũa, đầu trên chẻ kẹp cái đọt bông, chặt một đoạn cây tươi tròn nhỏ, dài khoảng 15cm, bổ đôi làm que gieo sấp ngửa Rồi Khươi Cốc cắm mũi kiếm xuống đất, cạnh chiếc đũa, quay lưỡi sang phía mình và lấy xấp vải trắng cùng với vòng tay bạc trong túi đang đeo ra đặt đối diện lưỡi kiếm Khươi Cốc quỳ gối trên xấp vải gấp nhỏ khổ thành chiều dài, cầm sấp hai que song song trên bốn ngón tay, miệng xướng những câu nói với vong hồn quá cố ý nói là người đã qua đời biến thành kiếp khác, tôi là Khươi Cốc đến chọn chỗ an nghỉ cho người, nếu ưng an nghỉ chỗ này hãy cho que sấp ngửa Nói xong Khươi Cốc hất ngang hai que và quả trứng gà vào lưỡi kiếm Sau khi hai que va vào lưỡi kiếm rơi xuống đất mà một que ngửa, một que sấp nằm song song, quả trứng vỡ thì vong linh đã ưng nơi an nghỉ tại đây, chỗ đũa kẹp đọt bông cắm là giữa tim Nếu hai que tuy sấp ngửa nhưng lại vắt chéo nhau hoặc đầu ra đầu vào và quả trứng không vỡ thì vong linh chưa thật ưng tại đây mà muốn an nghỉ nơi khác, như vậy phải di chuyển gieo que những nơi gần quanh đó Mỗi lần gieo quẻ đều phải tiến hành đúng động tác như đã nói trên và thay que sấp ngửa mới Chọn được chỗ nào, Khươi Cốc để nguyên chiếc đũa cắm kẹp đọt bông

Sau khi đã chọn được chỗ an nghỉ Khươi Cốc và tang chủ ra về Anh em, con cháu họ hàng ở lại phát quang rộng, quét dọn sạch sẽ chỗ định hỏa táng Tiếp theo người ta dựng Koong Phon, nghĩa là chất đống củi để thiêu xác lên chỗ

đã dọn dẹp Koong Phon hình chữ nhật, dài khoảng một mét; đóng bốn cọc gỗ tươi chặn hai bên dọc của hai đầu, xếp từng lớp ba thanh gỗ khô, to ngang bắp đùi, dàn thưa đều: hai thanh hai bên nằm sát cọc, một thanh nằm chính giữa và giữa khoảng cách các thanh gỗ khô thì đặt những thanh gỗ tươi nhỏ, tất cả củi được xếp thành bẩy lớp, cao ngang ngực, người được giao chỉ đạo làm Koong Phon phải tính toán làm sao cho lượng củi đủ để cháy thiêu hết xác (tùy theo người béo, người gầy) chứ không được bổ sung thêm trong quá trình hỏa táng

Ngày đăng: 09/06/2014, 16:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục (tái bản), Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2005
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII)
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
5. Nguyễn Đăng Duy (2004), Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
6. Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
7. Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hóa học Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
8. Nguyễn Khoa Điềm (2001), Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Minh Đường (2010), Nghi lễ dân gian - Nghi lễ tang ma, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ dân gian - Nghi lễ tang ma
Tác giả: Minh Đường
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2010
10. Nguyễn Hồng Hà (2001), Văn hóa truyền thống dân tộc với việc giáo dục thế hệ trẻ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa truyền thống dân tộc với việc giáo dục thế hệ trẻ
Tác giả: Nguyễn Hồng Hà
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
11. Lê Như Hoa (2003), Bản sắc văn hóa dân tộc trong lối sống hiện đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa dân tộc trong lối sống hiện đại
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
12. Đỗ Thị Hòa (2003), Trang phục các tộc người thiểu số, nhóm ngôn ngữ Việt – Mường và Tày – Thái, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang phục các tộc người thiểu số, nhóm ngôn ngữ Việt – Mường và Tày – Thái
Tác giả: Đỗ Thị Hòa
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2003
13. Đỗ Huy (2001), Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay nhìn từ góc độ giá trị học, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay nhìn từ góc độ giá trị học
Tác giả: Đỗ Huy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
14. Đỗ Huy và Trường Lưu (1990), Bản sắc dân tộc của văn hóa, Nxb Viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc của văn hóa
Tác giả: Đỗ Huy và Trường Lưu
Nhà XB: Nxb Viện
Năm: 1990
15. Vũ Ngọc Khánh (2012), Việt Nam phong toàn biên, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong toàn biên
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2012
16. Phan Ngọc Khuê (2004), Mỹ thuật dân tộc Thái ở Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật dân tộc Thái ở Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc Khuê
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2004
17. Vi Trọng Liên (2002), Vài nét về người Thái ở Sơn La, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về người Thái ở Sơn La
Tác giả: Vi Trọng Liên
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
18. Hoàng Lương (2005), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc Việt Nam, Nxb Đại học Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: Nxb Đại học Văn hóa
Năm: 2005
19. Hoàng Nam – Lê Ngọc Thắng (1984), Nhà sàn Thái, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà sàn Thái
Tác giả: Hoàng Nam – Lê Ngọc Thắng
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1984
20. Hoàng Nam (2001), Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2001
21. Lò Cao Nhum (2008), Bếp trong đời sống người Thái, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bếp trong đời sống người Thái
Tác giả: Lò Cao Nhum
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2008
48. Trang thông tin điện tử - http://thuanchau.sonla.gov.vn 49. Trang thông tin điện tử - http://sonla.gov.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w