1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc

110 849 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Trường học Trường Đại học Tây Bắc
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Sơn La
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong công cuộc đổi mới khi đất nƣớc ta đang bƣớc vào thời kỳ CNH-HĐH với mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, hoạt động quản lý dù ở phƣơng diện vĩ mô hay vi mô đều có ý nghĩa quan trọng và đƣợc coi là một tài nguyên để phát triển xã hội. Đối với hoạt động của con ngƣời trong mọi lĩnh vực cụ thể nhƣ học tập, lao động, sản xuất, GD&ĐT thì vấn đề chất lƣợng luôn đƣợc quan tâm vì nó biểu thị rõ kết quả, mục đích và là thƣớc đo khả năng làm việc của tập thể hay cá nhân. Nghị quyết trung ƣơng 2 khóa VIII và Đại hội IX đã đề ra cho giáo dục nhiệm vụ nâng cao chất lƣợng, hiệu quả giáo dục, thực hiện giáo dục toàn diện, tạo ra sự chuyển biến cơ bản về chất lƣợng giáo dục, nhất là ở các trƣờng đại học, cao đẳng. Việc phát triển hợp lý quy mô giáo dục phải đƣợc thực hiện gắn chặt với yêu cầu phát triển KT-XH, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ CNH-HĐH, phát huy nội lực, chủ động hội nhập, phát triển bền vững và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục [15]. Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một khâu quan trọng và cần thiết trong quá trình đào tạo sinh viên đang học tập tại trƣờng. Thông qua đánh giá giúp cho cán bộ quản lý giáo dục và ngƣời dạy biết đƣợc ngƣời học biết, hiểu và vận dụng nhƣ thế nào và nhà quản lý cần thay đổi cái gì trong kế hoạch đào tạo. Kết quả đạt đƣợc khẳng định mức độ đạt hoặc chƣa đạt dựa trên các tiêu chí, tiêu chuẩn đặt ra. Ngoài ra kết quả đào tạo là một trong những minh chứng đánh giá chất lƣợng đào tạo, cũng nhƣ khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động. Trong những năm gần đây, từ khi Cục Khảo thí và Kiểm định chất lƣợng giáo dục đƣợc thành lập năm 2003, công tác đánh giá kết quả học tập của sinh viên đƣợc chú trọng nhiều hơn, việc ứng dụng thi trắc nghiệm khách 2 quan đƣợc triển khai rộng khắp từ tuyển sinh đại học đầu vào đến các đề thi học kỳ và thi tốt nghiệp (đầu ra). Năm 2006, Bộ giáo dục và đào tạo (Bộ GD&ĐT) ban hành quy chế 25 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy. Theo đó, các trƣờng đại học và cao đẳng thực hiện đào tạo theo học chế mềm dẻo, kết hợp niên chế với học phần. Đây có thể đƣợc xem là bƣớc khởi đầu cho chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ. Công tác kiểm tra đánh giá học lực sinh viên cũng đƣợc chú trọng cho phù hợp với sự thay đổi này. Do vậy, việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả sinh viên là một khâu quan trọng trong giáo dục dạy học tiếp thu kiến thức và kỹ năng của sinh viên, góp phần điều chỉnh hoạt động giáo dục - dạy học của mình. Kiểm tra đánh giá giúp học sinh tự đánh giá trình độ của mình và từ đó, hình thành động cơ học tập đúng đắn. Kết quả kiểm tra, đánh giá giúp các nhà giáo dục có đƣợc các thông tin cần thiết và trong công tác quản lý kiểm tra, đánh giá của nhà trƣờng. Việc kiểm tra, đánh giá giúp giáo viên nhận đƣợc những phản hồi tích cực trong việc thu thập thông tin để nắm bắt đƣợc những thông tin ngƣợc để kịp thời có sự điều chỉnh cách dạy, nội dung cho phù hợp nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học. Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên không những tác động vào giáo viên, sinh viên mà còn cả bản thân ngƣời quản lý, trong đó yếu tố chính là: kế hoạch - mục tiêu - tổ chức chỉ đạo - kinh nghiệm giảng dạy - học tập - quy trình kiểm tra đánh giá. Đó chính là lý do lựa chọn hƣớng nghiên cứu: “Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trƣờng Đại học Tây Bắc.” 2. Mục đích nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu công tác kiểm tra đánh giá và quản lý kiểm tra đánh giá từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập sinh viên nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo của trƣờng Đại học Tây Bắc.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc đổi mới khi đất nước ta đang bước vào thời kỳ HĐH với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, hoạt động quản lý dù ở phương diện vĩ mô hay vi mô đều có ý nghĩa quan trọng và được coi là một tài nguyên

CNH-để phát triển xã hội Đối với hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực cụ thể như học tập, lao động, sản xuất, GD&ĐT thì vấn đề chất lượng luôn được quan tâm vì nó biểu thị rõ kết quả, mục đích và là thước đo khả năng làm việc của tập thể hay cá nhân Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII và Đại hội IX đã

đề ra cho giáo dục nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, thực hiện giáo dục toàn diện, tạo ra sự chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, nhất là ở các trường đại học, cao đẳng Việc phát triển hợp lý quy mô giáo dục phải được thực hiện gắn chặt với yêu cầu phát triển KT-XH, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ CNH-HĐH, phát huy nội lực, chủ động hội nhập, phát triển bền vững và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục [15]

Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một khâu quan trọng và cần thiết trong quá trình đào tạo sinh viên đang học tập tại trường Thông qua đánh giá giúp cho cán bộ quản lý giáo dục và người dạy biết được người học biết, hiểu và vận dụng như thế nào và nhà quản lý cần thay đổi cái gì trong kế hoạch đào tạo Kết quả đạt được khẳng định mức độ đạt hoặc chưa đạt dựa trên các tiêu chí, tiêu chuẩn đặt ra Ngoài ra kết quả đào tạo là một trong những minh chứng đánh giá chất lượng đào tạo, cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động

Trong những năm gần đây, từ khi Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập năm 2003, công tác đánh giá kết quả học tập của sinh viên được chú trọng nhiều hơn, việc ứng dụng thi trắc nghiệm khách

Trang 2

quan được triển khai rộng khắp từ tuyển sinh đại học đầu vào đến các đề thi học kỳ và thi tốt nghiệp (đầu ra) Năm 2006, Bộ giáo dục và đào tạo (Bộ GD&ĐT) ban hành quy chế 25 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy Theo đó, các trường đại học và cao đẳng thực hiện đào tạo theo học chế mềm dẻo, kết hợp niên chế với học phần Đây có thể được xem là bước khởi đầu cho chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ Công tác kiểm tra đánh giá học lực sinh viên cũng được chú trọng cho phù hợp với sự thay đổi này

Do vậy, việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả sinh viên là một khâu quan trọng trong giáo dục dạy học tiếp thu kiến thức và kỹ năng của sinh viên, góp phần điều chỉnh hoạt động giáo dục - dạy học của mình Kiểm tra đánh giá giúp học sinh tự đánh giá trình độ của mình và từ đó, hình thành động cơ học tập đúng đắn Kết quả kiểm tra, đánh giá giúp các nhà giáo dục

có được các thông tin cần thiết và trong công tác quản lý kiểm tra, đánh giá của nhà trường Việc kiểm tra, đánh giá giúp giáo viên nhận được những phản hồi tích cực trong việc thu thập thông tin để nắm bắt được những thông tin ngược để kịp thời có sự điều chỉnh cách dạy, nội dung cho phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên không những tác động vào giáo viên, sinh viên mà còn cả bản thân người quản lý, trong đó yếu tố chính là: kế hoạch - mục tiêu - tổ chức chỉ đạo

- kinh nghiệm giảng dạy - học tập - quy trình kiểm tra đánh giá Đó chính là

lý do lựa chọn hướng nghiên cứu: “Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc.”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu công tác kiểm tra đánh giá và quản lý kiểm tra đánh giá từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập sinh viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường Đại học Tây Bắc

Trang 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác kiểm tra đánh giá và quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc

4 Giả thuyết khoa học

Nếu công tác quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong nhà trường được chú trọng và quan tâm hơn nữa thì sẽ nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung và chất lượng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên nói riêng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận về kiểm tra đánh giá và quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên

Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về công tác kiểm tra đánh giá

và quản lý công tác KT ĐG kết quả học tập của sinh viên đại học Tây Bắc

Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên Tây Bắc

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

6.1 Nghiên cứu đề xuất biện pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên đại học Trường Đại học Tây Bắc

6.2 Chủ thể quản lý: Hiệu trưởng trường Đại học Tây Bắc

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân loại và hệ thống khái quát hóa những vấn đề cơ bản của đề tài làm cơ sở nghiên cứu thực tiễn các biện pháp quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại phòng Đào tạo Trường Đại học Tây Bắc

Trang 4

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra viết và phương pháp phỏng vấn

Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy học về phương pháp giảng dạy, về hoạt động quản lý quá trình học trên lớp đối với các môn học

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Xem xét và so sánh kinh nghiệm quản lý hoạt động dạy học tại các trường đại học và các cơ sở đào tạo khác Qua đó rút ra kinh nghiệm thực tiễn quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong nhà trường

Phương pháp chuyên gia: gặp gỡ trao đổi trực tiếp với những chuyên gia, cán bộ quản lý trong nhà trường từ trưởng bộ môn các khoa trở lên về thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá và những vấn đề cần giải quyết

Phương pháp điều tra viết bằng bảng hỏi để đánh giá thực trạng về kiểm tra, đánh giá

Phương pháp khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của biện pháp thực hiện quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên

7.3 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu thu thập

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ

KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 1.1 Sơ lược nghiên cứu vấn đề

Mục tiêu của giáo dục đại học là cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo

ở trình độ nhất định cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Với cách tiếp cận này, chất lượng đào tạo có thể được đánh giá qua năng lực đáp ứng nhu cầu nhân lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành được chương trình đào tạo Việc xác định rõ được quan niệm về chất lượng, phương pháp đánh giá chất lượng có thể là một cách hiệu quả để đổi mới giáo dục đại học, là một bước đi quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực có

đủ trình độ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chính vì vậy khâu kiểm tra, đánh giá để nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ừng nhu cầu của xã hội và thị trường lao động

Ở Châu Âu và Mỹ, lĩnh vực khoa học về đo lường trong giáo dục phát triển mạnh vào thời kỳ thế chiến thứ nhất với những dấu mốc quan trọng như trắc nghiệm trí tuệ Stanford Binet xuất bản năm 1916, Bộ trắc nghiệm thành chấm trắc nghiệm bằng máy IBM năm 1935, việc National Counil on Measurement in Education (NCME) thành lập vào thập niên 1950 và Educational Testing Service (ETS) ra đời năm 1947, một ngành công nghiệp

đã hình thành ở Mỹ

Từ đó đến nay Khoa học về đo lường trong tâm lý giáo dục đã phát triển nhanh Điều đáng quan tâm là lý thuyết đáp ứng câu hỏi Item Respond Theory (IRT) đạt những thành tựu quan trọng nâng cao độ chính xác của phương pháp trắc nghiệm nói chung và trên cơ sở đó công nghệ trắc nghiệm

thích ứng nhờ máy tính (Computerized Adapting Testing) Ra đời, công nghệ

E-RATE chấm tự động trắc nghiệm tiếng Anh nhờ máy tính của EST đã được

Trang 6

triển khai qua mạng Internet trong những năm gần đây [30]

Ở Việt Nam, Khoa học về đo lường và đánh giá trong giáo dục trước đây trong tình trạng khá lạc hậu và chậm phát triển, đến nay ngành khoa học này vẫn còn khá mới mẻ và non trẻ ở nhiều trường đại học Trước năm 1975

ở Miềm Nam có vài người được đào tạo về khoa học này từ các nước Phương Tây, trong đó có giáo sư Dương Thiệu Tống về “Trắc nghiệm và đo lường thành tích học tập” Trong đó, ông đi sâu vào nghiên cứu những nguyên lý căn bản về đo lường và đưa ra nhận định: Kiểm tra, đánh giá phải dựa trên mục tiêu dạy học Bên cạnh đó, ông còn chỉ ra những điểm khác biệt giữa phương pháp luận đề và phương pháp trắc nghiệm, cách sử dụng từng phương pháp phù hợp với mục tiêu đánh giá

Trong những năm 1990 công trình nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá trong giáo dục Việt Nam còn rất ít, vào năm 1994 thì vấn đề kiểm tra, đánh giá trong nhà trường được chú trọng nghiên cứu sâu ở các cuộc hội thảo về kiểm tra, đánh giá do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức Nội dung các cuội hội thảo trên chủ yếu bàn về cách thức, hình thức kiểm tra đánh giá trong các kỳ thi, trong đó tính ưu việt của phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn được kết luận là phương pháp tối ưu để sử dụng trong các kỳ thi nói chung

Các tác giả: Đặng Vũ Hoạt đã nêu hệ thống chức năng kiểm tra, đánh giá, Hà Thị Đức nghiên cứu cơ sở lý luận thực tiễn và hệ thống đảm bảo tính khách quan trong quá trình kiểm tra, đánh giá tri thức học sinh sư phạm: đã nêu lý luận và việc thực hiện các chức năng kiểm tra, đánh giá theo đơn vị kiến thức là phương pháp đánh giá khách quan nhất; Trần Thị Tuyết Oanh đã nêu trong “Đánh giá trong giáo dục” đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về kiểm tra, đánh giá một cách hệ thống; Nguyễn Đình Chỉnh: “Vấn đề câu hỏi của giáo viên đứng lớp - Kiểm tra, đánh giá việc học tập của học sinh” Bên

Trang 7

cạnh các trên, một số bài báo, những ý kiến tranh luận, những kinh nghiệm thực tiễn trong vấn đề kiểm tra, đánh giá tạp chí ở các giáo dục, tạp chí phát triển giáo dục như bài “đổi mới phương pháp đánh giá, kết quả học tập ở các trường đại học nước ta” của Lâm Quang Thiệp bàn về phương hướng phát triển khoa học về đo lường trong giáo dục ở nước ta [29]

Năm 2000, Bộ giáo dục và đào tạo và Dự án Việt Bỉ xuất bản quyền

“Các vấn đề đánh giá trong giáo dục” Ở đây, các tác giả B.S Bloom Hameline đề cập đến tầm quan trọng của mục tiêu giáo dục đối với kiểm tra, đánh giá; các tác giả khác thì bàn rất nhiều đến các khía cạnh của đánh giá trong giáo dục như Charles Hadji bàn về tâm lý của người đánh giá giáo dục trong bài: “Đánh giá các hành động giáo dục”, từ đó đưa ra vấn đề đánh giá phải phục vụ đào tạo; Charles delome khẳng định đánh giá phải liên tục, thường xuyên; Philippe Meirieu khẳng định đánh giá phải phân biệt hoá…

Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập gắn liền với mục tiêu và nội dung đào tạo Vừa mang tính định lượng lại mang cả tính định tính Do vậy, hoạt động này là một công việc khó khăn phải đầu tư nhiều công sức mới có kết quả mong muốn Trong những năm đầu thế kỷ XXI, bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho giáo dục Việt Nam và có những bước phát triển quan trọng về quy mô, chất lượng cũng như các điều kiện đảm bảo chất lượng Đã có một số đề tài nghiên cứu, hội thảo, tạp chí về vấn đề quản lý kiểm tra, đánh giá Xong chưa thật chuyên sâu về vấn đề này Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu về cơ sở lý luận và đưa ra những giải pháp nâng cao nhận thức trong việc quản lý kiểm tra, đánh giá chỉ ra được vai trò, mục đích, ý nghĩa của hoạt động này ngày được nâng cao và đạt hiệu quả cao nhất Đồng thời sự phát triển mạnh mẽ của Khoa học giáo dục và khoa học quản lý giáo dục về vấn đề kiểm tra, đánh giá cũng được đề cập nhiều trong sách lý luận như: giáo dục học, phương pháp dạy học

Trang 8

Trong các nghiên cứu đề xuất các biện pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường đại học trong giai đoạn đổi mới, đã có một số đề tài nghiên cứu như: “Các biện pháp quản lý đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên” Luận văn thạc sĩ Giáo dục học Nguyễn Thị Kim Bông (2006) Đại học

sư phạm Huế; “Đổi mới công tác quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên” Tạp chí giáo dục số 49/2003; “Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm, đánh giá kết quả học tập của sinh viên Trường Đại học dân lập Văn Lang” Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học Võ Văn Tuấn (2005) Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Hà Nội Các đề tài trên chủ yếu nghiên cứu chuyên biệt về việc kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của sinh viên

mà chưa đề cập đến vấn đề quản lý một cách tổng thể hoạt động này

Hiện nay công tác nghiên cứu về quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên của phòng Đào tạo trường Đại học Tây Bắc vẫn chưa được nghiên cứu một cách cụ thể Đồng thời hoạt động này một số cán bộ quản lý

và giáo viên còn xem nhẹ chính vì thế cần có biện pháp quản lý với một quy trình phù hợp, khách quan, công bằng hơn trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong bối cảnh tạo theo tín chỉ là rất cần thiết

1.2 Một số khái niện cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý và các chức năng quản lý

1.2.1.1 Quản lý

Là một khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hoá và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt Quản lý là khoa học về phân loại và

xử lý các mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Với tư cách

là khoa học, quản lý đòi hỏi các nhà quản lý phải không ngừng học tập để nâng cao năng lực quản lý Quản lý là một nghệ thuật vì nó là một hoạt động

Trang 9

đặc biệt, đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt những tri thức, kinh nghiệm

đã được đúc kết để áp dụng vào việc tổ chức con người và công việc Trên nhiều lĩnh vực khác nhau và cách tiếp cận khác nhau người ta đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:

Theo tác giả Bùi Văn Quân đã định nghĩa khái niệm: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp theo quy luật khách quan để gây ảnh hưởng tới đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại, ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động

Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ trong “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” đã nêu: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu Quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [19]

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”

Theo Nguyễn Đức Minh đã đưa ra định nghĩa về quản lý cho tất cả các lĩnh vực: “Quản lý là quá trình tác động có mục đích của con người vào một

hệ thống nào đó làm thay đổi hiện trạng của hệ thống đó hoặc đưa vào hệ thống đó những thuộc tính mới” [17]

Các định nghĩa trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều phản ảnh mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý

1.2.1.2 Quản lý giáo dục

Trang 10

Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt Bản chất của giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội hệ thống kinh nghiệm xã hội Giáo dục là một loại hình hoạt động cơ bản của xã hội loài người nhằm chuyển giao những giá trị vật chất và tinh thần của loài người cho thế hệ sau; là một nhu cầu không thể thiếu được cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau Hiện nay các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục cho rằng: Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý

Theo Đặng Quốc Bảo: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là: “Hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2]

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [18]

Theo tác giả Trần Kiểm khi đề cập đến khái niệm quản lý giáo dục đã khẳng định giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đeo đuổi những mục đích của mình Chỉ có con người mới có khả năng khách thể hoá mục đích Khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều quan niệm và cấp độ khác nhau như cấp vĩ mô và cấp vi mô:

- Đối với cấp vĩ mô: quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ

sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục

Trang 11

- Đối với cấp vi mô: quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

Từ những khái niệm trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô ta cũng có thể thấy

rõ 4 yếu tố của quản lý giáo dục đó là: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý như sơ đồ sau:

Sơ đồ: 1.1 Quản lý giáo dục

Khách thể quản lý

Trang 12

Trong thực tiễn, các yếu tố trên không tách rời nhau mà ngược lại, chúng có quan hệ tương tác gắn bó với nhau

Do vậy có thể hiểu khái niệm quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống theo đường lối và nguyên lý giáo dục

1.2.1.3 Quản lý nhà trường

Nhìn nhận một cách tổng quát, nhà trường là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội

Theo tác giả Phạm Minh Hạc, Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh

Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu, Quản lý nhà trường được hiểu trên hai phương diện:

Thứ nhất: Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa là hoạt động của

các cơ quan, các tổ chức có trách nhiệm quản lý giáo dục như Bộ giáo dục và đào tạo, Sở Giáo dục và đào tạo, Phòng giáo dục và đào tạo và các cấp chính quyền (đơn vị hành chính từ Trung ương đến địa phương) đối với các cơ sở giáo dục (nhà trường) trong phạm vi địa bàn được phân cấp quản lý’’

Thứ hai: Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa là hoạt động của chủ

thể quản lý một cơ sở giáo dục (hiệu trưởng hoặc người có chức vụ tương đương như hiệu trưởng) đối với các hoạt động giáo dục mà họ được giao trực tiếp cán bộ quản lý’’

Quản lý nhà trường là những tác động của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) lên khách thể quản lý nhà trường (đội ngũ cán bộ quản lý cấp dưới, giáo viên hoặc giảng viên, học sinh hoặc sinh viên, nhân viên và các lực

Trang 13

lượng tham gia khác) nhằm đưa các hoạt động của nhà trường, chủ yếu là dạy học và giáo dục, đạt tới mục tiêu

1.2.2 Các chức năng quản lý

Chức năng quản lý là phương thức, nội dung và quy trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong quá trình quản lý Nhìn chung, các nhà khoa học đã thống nhất quản lý có các chức năng cơ bản sau:

Kế hoạch là việc chủ thể quản lý căn cứ vào cơ hội và thức đối với tổ

chức, khó khăn và thuận lợi của tổ chức, dự kiến nhân lực, tài lực, vật lực, thời gian và lộ trình hoạt động; đồng thời dự kiến và lựa chọn các phương pháp thực hiện để tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu

Tổ chức là việc chủ thể quản lý căn cứ vào kế hoạch đã có mà thiết lập

cơ cấu bộ máy, bố trí nhân lực, ấn định chức năng và nhiệm vụ cho các bộ phận và cá nhân, thiết lập quy chế và quy chế hoạt động, sắp xếp và phân bổ nguồn lực vật chất cho các bộ phận và cá nhân để họ có đủ điều kiện thực hiện các công việc được giao

Chỉ đạo là việc chủ thể quản lý hướng dẫn thực hiện công việc, liên kết,

động viên, kích thích, giám sát và trực tiếp uốn nắn các hoạt động của các bộ phận hoặc cá nhân đó thực hiện kế hoạch

Kiểm tra đánh giá là việc chủ thể quản lý thu thập thông tin về kết quả

các bộ phận của từng hoạt động của từng bộ phận hoặc cá nhân để so sánh kết quả đó với mục tiêu đã định trong kế hoạch, tìm nguyên nhân dẫn đến các mức độ kết quả hoạt động; từ đó có các quyết định nhằm phát huy các mặt tốt, điều chỉnh các sai lệch nhỏ và xử lý các sai phạm

Như vậy, để thực hiện được các chức năng trên, thì chủ thể quản lý phải

thu thập kịp thời, đầy đủ và xử lý chính xác các thông tin phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý Thông tin quản lý có vai trò như một dạng tài nguyên

mà người quản lý nhất thiết phải khai thác để thực hiện các chức năng quản

Trang 14

lý Như vậy, thông tin quản lý có mối quan hệ mật thiết với các chức năng quản lý Có nhiều nhà khoa học cho là việc thu thập và xử lý thông tin cũng là một chức năng quản lý của người quản lý

Các chức năng quản lý nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, tác động và chi phối lẫn nhau tạo thành một chu trình quản lý của người quản lý được bắt đầu kế hoạch hoá

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ của chức năng quản lý

1.2.3 Biện pháp quản lý

Là tổng thể những cách thức tiến hành của chủ thể quản lý bằng những phương tiện khác nhau nhằm tác động đến khách thể bị quản lý để giải quyết những vấn đề trong chuỗi hoạt động làm cho hệ đó vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đó đề ra Để cho hệ quản lý hoạt động đó có hiệu quả cao thì chủ thể quản lý cần vận dụng các nguyên tắc quản lý một cách phù hợp có tính khoa học trong mỗi tình huống nhất định từng đối tượng nhất định nhằm đưa đối tượng mình quản lý hoạt động theo đúng mục tiêu định hướng Biện

Kế hoạch

Kiểm tra

Tổ chức Thông tin

quản lý

Chỉ đạo

Trang 15

pháp quản lý giáo dục phải phù hợp với mục đích quản lý giáo dục và có tính khoa học nó đòi hỏi chủ thể quản lý phải nắm vững đối tượng quản lý với những đặc điểm vốn có để có những tác động trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng đó

Do đó người quản lý phải có kiến thức sâu rộng, có kinh nghiệm gắn kết các biện pháp với nhau và giải quyết các mâu thuẫn giữa các biện pháp mâu thuẫn nội tại trong từng biện pháp, biết phần nào tiên đoán trước tình huống, hoàn cảnh sẽ gặp phải trong quản lý, để đưa ra các quyết định quản lý hữu hiệu và tối ưu nhất Chính lúc này đòi hỏi hơn lúc nào hết trình độ, bản lĩnh và nghệ thuật của nhà quản lý

1.2.4 Quản lý kiểm tra đánh giá

Kiểm tra trong quản lý giáo dục: là chức năng quan trọng của nhà quản

lý, chức năng này xuyên suốt quá trình quản lý kể cả đối với nhà quản lý ở cơ

sở giáo dục như trong một trường học Có thể hiểu kiểm tra là hoạt động quan sát và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình hoạt động của đối tượng bị quản lý Kiểm tra trong quản lý giáo dục là hệ thống các nội dung gồm: đánh giá, phát hiện, điều chỉnh các sai lệch Trong trường học kiểm tra là giai đoạn kết thúc của quá trình dạy và học, là một chức năng cơ bản, chủ yếu của quá trình dạy và học gồm:

+ Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là quá trình xác định trình độ đạt được những mục tiêu của môn học

+ Phát hiện lệch lạc: Kiểm tra sẽ phát hiện được những mặt đạt được và chưa đạt được mà môn học đề ra đối với sinh viên Qua đó tìm được khó khăn trở ngại trong quá trình học tập

+ Điều chỉnh lệch lạc: Qua kiểm tra giáo viên tìm được những điều chỉnh cần thiết trong quá trình giảng dạy, loại trừ những lệch lạc, tháo gỡ những khó khăn trở ngại, thúc đẩy quá trình chiễm lĩnh tri thức của người học

Trang 16

Thời điểm kiểm tra:

+ Đầu vào: Việc kiểm tra này nhằm tuyển lựa những sinh viên có thể học theo mục tiêu đào tạo

+ Quá trình: Trong quá trình học tập không theo quy định, chẳng hạn kiểm tra hết chương hay kiểm tra sự chuyên cần lên lớp đều đặn, thảo luận tổ, nhóm… loại kiểm tra này không cần báo trước

+ Đầu ra: Sau khi học xong học phần là loại kiểm tra có quy định

Vì vậy, muốn việc kiểm tra có kết quả, cần có kế hoạch kiểm tra rõ ràng làm căn cứ cung cấp những chỉ tiêu xác đáng cho việc kiểm tra, sắp xếp

tổ chức kiểm tra khoa học và hợp lý nhằm xác định chính xác nhiệm vụ của từng bộ phận, cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch Việc kiểm tra cần tiến hành thường xuyên và kết hợp nhiều hình thức linh hoạt Thực chất của việc kiểm tra là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý, giúp chủ thể quản lý nắm được bộ máy, đề ra được các biện pháp điều chỉnh, sửa chữa, chỉnh lý để điều khiển một cách tối ưu hoạt động của bộ máy

- Đánh giá: Là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc

Theo tác giả Deketele của Trường Đại học Tổng hợp Louvain La Neuve (Bỉ - 1980) đã đưa ra khái niệm chung về đánh giá: đánh giá là xem

Thành phần

Đánh giá Kết quả

Điều chỉnh Phát hiện

lệch lạc

Trang 17

xét mức độ phù hợp giữa một tập hợp thông tin có giá trị, thích hợp và đáng tin cậy phù hợp với mục tiêu đề ra để so sánh, đánh giá nhằm đưa ra một quyết định

Nhiều tác giả như Tylor, Croubach, Alkin, Stuffebean, Stake, Scriven… đã đưa ra định nghĩa về đánh giá trong hệ thống giáo dục như sau:

“Đánh giá, trong bối cảnh giáo dục, có thể định nghĩa như một quá trình được tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của học sinh về mục tiêu của đào tạo Nó có thể bao gồm những sự mô tả (liệt kê) về mặt định tính hay định lượng những hành vi (hoạt động) của người học cùng với những nhận xét, đánh giá những hành vi này đối chiếu với sự mong muốn đạt được về mặt hành vi đó”

Khi đánh giá thường dựa vào các thông tin, dữ liệu như:

+ Số đo (Measurement): Là điểm số làm bài kiểm tra của sinh viên + Lượng giá (Assessment): dựa vào số đo đưa ra những kết luận ước lượng trình độ kiến thức, kỹ năng của từng sinh viên

+ Lượng giá theo chỉ tiêu (Norm reference assessment): so sánh số đo mỗi cá nhân trong tổng hợp chung của cả lớp

+ Lượng giá theo tiêu chí (Criterion reference assessment): so sánh số

đo của cá nhân với tiêu chí đề ra ban đầu

Mục đích của đánh giá là để phản hồi cho sinh viên về cách học tập, tạo động cơ và kích thích sinh viên học tập, hỗ trợ và thúc đẩy việc học tập, xác định tại sao, khi nào và học như thế nào Chính vì vậy đánh giá là biểu thị thái

độ, đòi hỏi sự phù hợp theo một chuẩn nhất định, qua đánh giá giúp học sinh

nỗ lực phấn đấu, tránh những sai sót trong học tập Cụ thể hơn quá trình đánh giá là cả một quá trình gồm một chuỗi xác định (cho điểm, xếp loại, định giá),

đo định giá, đánh giá chung và quyết định, đây là mô hình tuần hoàn, là 4 bước quan trọng của dây chuyền trong quy trình đánh giá

Trang 18

Kiểm tra, đánh giá của sinh viên: Kiểm tra đánh giá của sinh viên là

đánh giá kết quả trong các mối quan hệ hoạt động cơ bản, đặc trưng như: Đánh giá sinh viên trong mối quan hệ học tập, với tập thể, với người thân; trong mối quan hệ của công, với đời trong quá trình học tập của sinh viên, đánh giá ý thức tự giác, độc lập và đúng đắn thể hiện qua các hoạt động, đánh giá mức độ thường xuyên hay không của những biểu hiện về phẩm chất và

năng lực, gồm quy trình sau:

- Nắm vững mục tiêu của việc đánh giá tri thức sinh viên

- Xác định các tiêu chuẩn cơ bản khi đánh giá tri thức của sinh viên

- Ý nghĩa của việc kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra, đánh giá kết quả một hoạt động là nhằm phát hiện và uốn nắm kịp thời những sai sót, điều chỉnh có hiệu quả hoạt động đang tiến hành theo phương thức cơ bản đã đề ra, đồng thời xác định kết quả hoạt động trên

cơ sở đối chiếu với yêu cần hoàn thiện hoạt động một cách tích cực dành kết quả tối ưu Đối với quá trình dạy học đó là một quá trình đào tạo và tự đào tạo con người mới theo mục đích giáo dục Quá trình dạy học cần phải được tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, bởi vì cấu trúc của quá

Trang 19

trình dạy học đòi hỏi phải có sự vận hành của phần liên hệ ngược, vì thiếu nó không thể đảm bảo việc điều chỉnh và sửa đổi quá trình này, không thể dự kiến và cụ thể hoá những nhiệm vụ cơ bản của kiểm tra, đánh giá

- Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá:

Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một bộ phận cấu thành và là giai đoạn cuối cùng của quá trình dạy - học Kiểm tra, đánh giá trong giảng dạy phải bắt đầu bằng một sự xác định những mục tiêu dạy - học một cách rõ ràng Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên là người giáo viên phát hiện được sự phù hợp hay không phù hợp giữa tình trạng kiến thức, kỹ năng của sinh viên với tiêu chuẩn đã xác định nhu cầu học tập của sinh viên Điều đó xuất phát từ việc kiểm tra, đánh giá của giáo viên đề ra mục đích gì? Phân loại hoặc tuyển chọn… làm cho sinh viên biết được khả năng của mình so với yêu cầu chung của việc học tập Mặt khác, cũng là căn

cứ để đánh giá giáo viên về năng lực giảng dạy Như vậy, việc kiểm tra, đánh giá không chỉ phán xét học sinh mà còn có tác dụng tích cực trong việc điều chỉnh hệ thống nâng cao chất lượng đào tạo và là cơ sở để đổi mới phương pháp dạy - học ở những phần mà quá trình đánh giá cho là chưa đạt, đồng thời kiểm tra, đánh giá giúp giáo viên nhận ra điểm mạnh, điểm yếu trong việc giảng dạy của mình

- Hình thức của kiểm tra, đánh giá:

+ Yêu cầu đảm bảo tính toàn diện của việc kiểm tra, đánh giá: mục đích của nhà trường chúng ta là đào tạo con người phát triển hài hoà, năng động, sáng tạo, do vậy khi kiểm tra, đánh giá phải chú ý đến các mặt nhân cách cuả sinh viên Việc hướng dẫn đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung vào các mặt kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, những phẩm chất, năng lực Như vậy, có hai mặt rất cơ bản là đức và tài Vì vậy khi kiểm tra, đánh giá cần chú ý đầy đủ các yếu tố cơ bản của mỗi mặt trên Kiểm tra, đánh giá một cách toàn diện là

Trang 20

hướng đến sự thành công, hướng đến nhân cách người học Do vậy, trong quá trình kiểm tra, đánh giá tuyệt đối không được đánh giá một cách phiếm diện

+ Yêu cầu đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống tra, đánh giá: kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh cần phải tiến hành thường xuyên và có hệ thống Nếu kiểm tra, đánh giá không thường xuyên và thiếu hệ thống, khoảng cách những lần kiểm tra, đánh giá không đều đặn, không có sự giúp đỡ uốn nắn kịp thời thì sẽ hạ thấp hứng thú và nề nếp trong học tập, không đạt được kết quả mong muốn

+ Yêu cầu đảm bảo tính phát triển của kiểm tra, đánh giá: Trong quá trình kiểm tra, đánh giá luôn luôn phải theo dõi xem xét kịp thời phát hiện và đánh giá các động lực phát triển, sự tiến bộ của sinh viên dù là những động lực phát triển, những nhân tố đó mới chớm nở cũng cần phải kịp thời ghi nhận, nâng niu và tạo điều kiện để những nhân tố đó có cơ hội phát triển

Như vậy ý nghĩa của việc quản lý kiểm tra, đánh giá: là một hoạt động nhằm phát hiện và uốn nắn kịp thời những sai sót, điều chỉnh có hiệu quả hoạt động đang tiến hành theo phương thức cơ bản đã đề ra, đồng thời xác định kết quả hoạt động trên cơ sở đối chiếu với yêu cầu, mục đích đề ra cho hoạt động những thời điểm nhất định, tạo điều kiện thúc đẩy, hoàn thiện hoạt động một cách tích cực dành kết quả tối ưu Đó với quá trình dạy học đó là một quá trình đào tạo và tự đào tạo con người mới theo mục đích giáo dục Quá trình dạy học cần phải được tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, bởi vì cấu trúc của quá trình dạy học đòi hỏi phải có sự vận hành của thành phần liên hệ ngược, vì thiếu nó không thể đảm bảo việc điều chỉnh và sửa đổi quá trình này, không thể dự kiến và cụ thể hoá những nhiệm vụ cơ bản của kiểm tra, đánh giá

Trang 21

Sơ đồ 1.3: Kiểm tra, đánh giá

1.2.5 Kết quả học tập

Có một số quan niệm về kết quả học tập “Kết quả học tập là bằng chứng sự thành công của học sinh/sinh viên về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục” (James Madison University, 2003; James O Nichols, 2002) Một quan niệm khác là “Kết quả học tập là kết quả của một môn học, một chuyên ngành hay của cả một khóa đào tạo.” hay “Kết quả học tập của sinh viên bao gồm các kiến thức, kĩ năng và thái độ

mà họ có được Các kiến thức, kĩ năng này được tích lũy từ các môn học khác nhau trong suốt quá trình học được qui định cụ thể trong chương trình đào tạo Trường Cabrillo quan niệm về kết quả học tập của sinh viên “là kiến thức, kỹ năng và thái độ sinh viên đạt được và phát triển trong suốt khóa học.”

Những quan niệm này tuy cách nói khác nhau nhưng tất cả đều cho rằng kết quả học tập là gồm các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học

có được trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường

MỤC TIÊU

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

ĐÁNH GIÁ

SINH VIÊN

KIỂM TRA

Trang 22

- Đánh giá năng lực học tập gồm có đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ + Đánh giá kiến thức; đánh giá theo các cấp độ: biết - hiểu - vận dụng - phân tích - tổng hợp - đánh giá, khả năng diễn đạt, ứng xử…

+ Đánh giá kỹ năng: đánh giá kỹ năng thực hiện có kết quả hoạt động trên cơ sở tri thức có được; đánh giá các kỹ năng: đọc, viết, lao động, tư duy…Đặc biệt đánh giá các kỹ năng cụ thể sau: biết vận dụng kiến thức, kỹ năng nhận biết, biết học tập theo nề nếp, có phương pháp, biết tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của mình

+ Đánh giá thái độ: đánh giá theo cấp độ của thái độ: tiếp thu - hưởng ứng - đánh giá - tổ chức lại hệ thống giá trị mới - hành động theo giá trị mới Đặc biệt đánh giá các thái độ: ham hiểu biết, tự giác học tập, thu vào những điều đã học, không tin vào những điều trái khoa học, không đồng tình với những hành động vi phạm kỷ luật học tập, không thật thà trong học tập

- Phẩm chất đạo đức: tập trung vào đánh giá đạo đức (tri thức đạo đức

và niềm tin đạo đức) và hành vi đạo đức được thông qua (tính chính xác, tính phổ biến, tính ổn định, động cơ của hành vi)

Vậy việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một bộ phận hợp thành rất quan trọng và tất yếu của toàn bộ quá trình dạy - học Kết quả toàn bộ quá trình dạy - học ở một mức độ quan trọng phụ thuộc vào việc

tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên một cách đúng đắn Công tác kiểm tra, đánh giá trong dạy - học là một việc làm phức tạp, bởi lẽ kết quả cuối cùng (sản phẩm cuối cùng - người học được đào tạo trong nhà trường) là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố tác động tới

1.3 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên đại học

Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên đại học được áp dụng theo quy chế 43 của bộ giáo dục và đào tạo Quy chế này quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, bao gồm: tổ chức

Trang 23

đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét công nhận tốt nghiệp Quy chế này áp dụng đối với sinh viên các khoá đào tạo hệ chính quy ở trình độ đại học và cao đẳng trong Trường thực hiện theo hình thức tích luỹ tín chỉ

- Đánh giá học phần

+ Đối với các học phần lý thuyết hoặc lý thuyết kết hợp thực hành, thí

nghiệm hoặc thảo luận: Điểm học phần gồm hai thành phần chính là điểm đánh giá quá trình và điểm thi kết thúc học phần Điểm đánh giá quá trình

được tính từ nhiều điểm bộ phận bao gồm: Điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận Thi kết thúc học phần là bắt buộc và điểm thi kết thúc học phần phải có trọng số không dưới 50%

Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong

đề cương chi tiết của học phần

+ Đối với các học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành Điểm trung bình cộng của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành

+ Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề thi, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá bộ phận, trừ bài thi kết học phần

- Điểm học phần

Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 làm tròn đến một chữ số thập phân (gọi là thang tiện ích) Điểm học phần là tổng của tất cả các điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần (theo thang tiện ích) sau khi đã nhân với trọng số tương ứng, được làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó chuyển sang hệ điểm chữ A,

Trang 24

B, C, D, F Mức điểm chữ của mỗi học phần lại được quy đổi theo thang điểm

4 khi tính điểm trung bình học kỳ và điểm trung bình chung tích luỹ Cách quy đổi điểm được thực hiện theo bảng dưới đây:

Điểm theo

thang tiện ích

Điểm quy đổi

Phân loại Xếp hạng Điểm chữ Điểm số

+ Điểm I: Dành cho sinh viên đã dự học và tham gia các nội dung liên quan của học phần như thí nghiệm, thực hành, thảo luận nhưng vì lý do bất khả kháng (ốm đau, tai nạn, lý do chính đáng khác,…) không thể dự thi kết thúc học phần

Trường hợp sinh viên chưa đủ điểm thi, kiểm tra trong các điểm bộ phận của điểm đánh giá quá trình, giảng viên thông báo và chủ động cho sinh viên trả nợ điểm trước khi nộp bảng điểm đánh giá quá trình cho khoa và

Trang 25

phòng Đào tạo Sau khi đã được giảng viên bố trí cho trả nợ điểm bộ phận, sinh viên nào không dự thi, kiểm tra để trả nợ điểm sẽ bị nhận điểm 0 đối với cách thành phần đánh giá bị nợ điểm

+ Thủ tục xin điểm I: Sinh viên phải làm đơn kèm theo chứng lý hợp lệ trình bày với giảng viên phụ trách học phần Căn cứ vào ý kiến của giảng viên, trưởng khoa xét duyệt cho phòng Đào tạo

+ Sinh viên nhận điểm I ở học phần nào, nếu có thể, phải dự thi để xoá điểm I ngay trong kỳ thi kết thúc học phần của kỳ đó, kết quả thi xoá điểm I vẫn được đính để đánh giá kết quả học tập học kỳ như bình thường

+ Trường hợp sinh viên không thể dự thi để xoá điểm I ngay trong kỳ thi kết thúc học phần của học kỳ bị nợ điểm sẽ được đánh giá kết quả học tập sau học kỳ chỉ dựa trên kết quả của các học phần đã đủ điểm Nếu sinh viên không rơi vào diện bị buộc thôi học sẽ được học tiếp ở học kỳ tiếp theo và phải đăng ký thi để xoá điểm I trong kỳ thi kết thúc học kỳ này Trường hợp này, kết quả thi xoá điểm I chỉ được sử dụng để tính điểm trung bình chung tích luỹ, không tính vào điểm trung bình chung học kỳ của học kỳ thi trả nợ

và không cập nhật để tính lại điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích luỹ của học kỳ trước

Thời hạn tối đa được phép dự thi xoá điểm I là một học kỳ sau học kỳ

bị nợ điểm, quá thời hạn này nếu sinh viên vẫn chưa dự thi để xoá điểm I thì

sẽ bị nhận điểm F

+ Điểm X: Dành cho các học phần mà giảng viên chưa kịp báo cáo điểm về phòng Đào tạo vì lý do khách quan Giảng viên phải báo cáo điểm trong thời gian sớm nhất có thể

- Tổ chức thi, số lần thi, vắng thi

+ Cuối mỗi học kỳ, trường tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi phụ

để thi kết thúc học phần Kỳ thi phụ dành cho những sinh viên không tham dự

Trang 26

kỳ thi chính hoặc có học phần bị điểm F ở kỳ thi chính và được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính

+ Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số tín chỉ của học phần đó, ít nhất là 2/3 ngày cho một tín chỉ Hiệu trưởng quy định cụ thể thời gian dành cho ôn thi và thời gian thi cho các kỳ thi

+ Đối với mỗi học phần, trong buổi thi kết thúc học phần, nếu sinh viên

có lý do chính đáng không thể dự thi, được trưởng khoa cho phép sẽ được vắng thi và được nhận điểm I Trường hợp này sinh viên phải đăng ký thi để xoá điểm I

+ Sinh viên bỏ thi không có lý do chính đáng đối với học phần nào sẽ phải nhận điểm F đối với học phần đó

- Điểm trung bình chung học kỳ, trung bình chung tích luỹ

+ Học phần đã tích luỹ: là học phần đã được đánh giá kết quả và đạt một trong các mức điểm A, B, C, D

+ Số tín chỉ tích luỹ: là tổng số tín chỉ của các học phần đã tích luỹ.+ Điểm trung bình chung học kỳ: là trung bình có trọng số của điểm số

(sau khi đã quy đổi từ mức điểm chữ sang điểm số theo thang điểm 4) của tất

cả các học phần mà sinh viên đã đăng ký học trong học kỳ (không kể các học phần điều kiện), với trọng số là số tín chỉ của các học phần đó Điểm trung bình chung học kỳ là cơ sở để đánh giá kết quả học tập, xét học bổng, khen thưởng, xét tiến độ học tập sau mỗi học kỳ Điểm trung bình chung học kỳ được tính theo công thức sau đây và được làm tròn đến hai chữ số thập phân:

Trang 27

Trong đó: a là điểm trung bình chung học kỳ, ai là điểm học phần thứ i,

ni là số tín chỉ của học phần thứ i, n: là số học phần của viên đăng ký học trong

học kỳ

+ Điểm chung bình chung tích luỹ: là trung bình có trọng số của điểm

số (sau khi đã quy đổi từ mức điểm chữ) của các học phần đã tích luỹ tính đến thời điểm xét (không tính đến học phần điều kiện) Cách tính điểm trung bình chung tích luỹ tương tự như tính điểm trung bình chung học kỳ, điểm trung bình chung tích luỹ tương tự như tính điểm trung bình chung học kỳ, điểm trung bình chung tích luỹ là cơ sở để đánh giá kết quả học tập trong suốt thời gian học, xếp hạng học lực, xếp hạng tốt nghiệp, xét học ngành thứ hai và xét tiến độ học tập sau mỗi học kỳ

1.4 Quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên đại học

1.4.1 Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá

Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng kiểm tra đánh giá Kế hoạch kiểm tra đánh giá là bảng phân chia nội dung chương trình đào tạo theo thời gian một cách hợp lý, dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ của chương trình đào tạo và các điều kiện được đảm bảo, nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo, mục tiêu từng môn học

1.4.2 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá

Lãnh đạo nhà trường chỉ đạo phòng Đào tạo hoặc Phòng Khảo thí phối hợp với các khoa thực hiện kết hoạch kiểm tra đánh giá đã được xây dựng Lãnh đạo các khoa chỉ đạo các bộ môn trong khoa dựa trên kế hoạch kiểm tra đánh giá để có kế hoạch giảng dạy phù hợp với các quy định về chương trình, nội dung và bám sát mục tiêu để có căn cứ trong việc biên soạn câu hỏi kiểm tra đảm bảo tính thống nhất, toàn diện và đạt kết quả

1.4.3 Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch

Trang 28

Đánh giá nội dung kế hoạch, chương trình, mục tiêu kiểm tra đánh giá, xây dựng kế hoạch hoạt động, thời gian phân bổ chương trình đào tạo nguồn tài chính

1.5 Những yêu cầu về kiểm tra đánh giá và quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Kiểm tra đánh giá và quản lý kiểm tra đánh giá kết của học tập của sinh viên phải thực hiện các quan điểm chủ yếu dưới đây

- Một là: tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của chính phủ về “Đổi mới một cách cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020” nhằm đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Hai là: tập trung vào thực hiện chuẩn đầu ra (Phẩm chất chính trị, nhân văn và sức khoẻ, chuẩn kiến thức, kỹ năng) của ngành đào tạo trình độ đại học (Ban hành theo quyết định số 283/QĐ-ĐHTB ngày 30 tháng 9 năm

2010 của Hiệu trưởng trường Đại học Tây Bắc

- Ba là: giảng viên và sinh viên phải thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình đã quy định trong Luật giáo dục (2009) và trong Điều lệ trường Đại học,

đánh giá kết quả học tập của sinh viên

1.6 Những yếu tố có ảnh hưởng đến quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập

1.6.1.Chương trình đào tạo

Trong thị trường dịch vụ giáo dục, chương trình đào tạo là một loại

Trang 29

hình sản phẩm dịch vụ đặc biệt Thuật ngữ “chương trình đào tạo” ở Việt Nam đang sử dụng với hai cách hiểu, tương ứng với hai ý nghĩa khác nhau trong bảng từ vựng về giáo dục.

Theo cách hiểu thứ nhất, “chương trình đào tạo” là một văn bản quy định mục đích và mục tiêu cụ thể đặt ra đối với một ngành đào tạo, các khối kiến thức và các môn học, thời lượng dành cho mỗi môn học, tổng thời lượng

mà nhà trường tổ chức giảng dạy để trang thiết bị các kiến thức, kỹ năng, thái

độ cần thiết cho sinh viên theo một ngành học Nghĩa này tương đương với nội dung của thuật ngữ tiếng Anh “Curriculum”

Theo cách hiểu thứ hai, “chương trình đào tạo” là nội dung, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động học thuật của một đơn vị đào tạo đang triển khai để đào tạo một ngành học trong một bậc học nhất định, thường được ký hiệu là mã ngành Nghĩa này tương đương với nội dung của thuật ngữ tiếng Anh “Program”

Chương trình học là một yếu tố cơ bản của chương trình đào tạo, là tất

cả nội dung kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, các hoạt động xã hội, phương pháp giảng dạy, học tập, nghiên cứu mà người học được tiếp nhận trong một chương trình đào tạo

“Chương trình đào tạo” trong bài viết này được sử dụng theo cách hiểu thứ hai Để tránh nhầm lẫn, chúng tôi xin tạm gọi “Chương trình đào tạo” theo cách hiểu thứ nhất là “chương trình học” Đơn vị đào tạo ở đây thường là cấp khoa hoặc bộ môn tuỳ theo cơ cấu tổ chức của từng đơn vị Đối với trường Đại học Tây Bắc, đơn vị đào tạo là cấp khoa

1.6.2 Công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin và truyền thông giúp cho chủ thể quản lý dạy học

thiết lập và vận hành được hệ thống thông tin quản lý dạy học giúp cho chủ thể quản lý dạy học có được các quyết định quản lý dạy học đúng đắn và kịp

Trang 30

thời Mặt khác, các tiện ích của công nghệ thông tin và truyền thông giúp cho người dạy và người học sưu tầm được nội dung, đổi mới phương pháp và hình

thức tổ chức dạy học, cải thiện được phương thức đánh giá kết quả học tập

1.6.3 Người dạy

- Giảng viên là người có phẩm chất, đạo đức,tư tưởng tốt, có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm Có bằng thạc sĩ trở lên đối với giảng viên giảng dạy các môn lý thuyết của chương trình đào tạo đại học; có bằng tiến sĩ đối với giảng viên giảng dạy và hướng dẫn chuyên đề, luận văn, luận án trong các chương trình đào tạo thạc

sĩ, tiến sĩ Có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu công việc, đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp

- Trợ giảng là người giúp việc cho giảng viên trong việc chuẩn bị bài giảng, phụ đạo, hướng dẫn bài tập, thảo luận, thí nghiệm, thực hành và chấm bài

Giảng viên đang tập sự, các nghiên cứu sinh, học viên cao học đang học tập, nghiên cứu ở bộ môn và các sinh viên giỏi năm cuối khoá, các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn thuộc các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, kinh doanh, dịch vụ trong và ngoài trường có thể tham gia làm trợ giảng

Trang 31

Tôn trọng giảng viên, cán bộ và công nhân viên của nhà trường, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện Tham gia hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội Gìn giữ và bảo vệ tài sản của nhà trường Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường

- Vận động các doanh nghiệp tài trợ cho việc xây dựng cơ sở vật chất,

đủ trang thiết bị, phòng thí nghiệm…

b Quản lý tài chính

Trường đại học công lập được áp dụng chế độ tài chính quy định tại nghị định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính Phủ về quy định quyền tự chủ, tự chịu tránh nhiệm về thực hiện nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối đơn vị sự nghiệp công lập

Các trường đại học tư thục được áp dụng chế độ tài chính quy định tại nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về

Trang 32

chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường và quy chế về tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục

Trường đại học thực hiện công khai tài chính về kiểm toán tài chính hàng năm theo quy định của pháp luật

c Thiết bị dạy học

Thiết bị kỹ thuật đầu tư cho hoạt động dạy học Các yếu tố này chính là phương tiện vật chất mang tính tất yếu để tạo ra sự phát triển chung trong quá trình dạy học như công nghệ thông tin và truyền thông giúp cho chủ thể quản

lý dạy học thiết lập và vận hành được hệ thống thông tin quản lý dạy học giúp cho chủ thể quản lý dạy học có được các quyết định quản lý dạy học đúng đắn

và kịp thời Mặt khác, các tiện ích của công nghệ thông tin và truyền thông giúp cho người dạy và người học sưu tầm được nội dung, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, cải tiến được phương thức đánh giá kết quả dạy học

d Phương pháp giảng dạy

Phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo Phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp

sẽ tạo điều kiện để giảng viên, và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy cho người học

e Phương pháp kiểm tra, đánh giá

Trường đại học lựa chọn phương pháp quy trình và xây dựng hệ thống đánh giá đảm bảo khách quan và chính xác, đảm bảo xác định được mức độ tích luỹ kiến thức và kỹ năng của người học, xác định được hiệu quả giảng dạy và mức độ phấn đấu, nâng cao trình độ của giảng viên Đánh giá quá trình

và kết quả g dạy - học được thực hiện theo quy định của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường

Trang 33

1.6.6 Văn bản, quy định, quy chế về kiểm tra, đánh giá

Luật pháp chính sách, điều lệ, quy chế của mỗi cơ sở giáo dục, các quy định về chương trình, nội dung,phương pháp, hình thức tổ chức, phương thức đánh giá kết quả dạy học… đối với mỗi ngành, chuyên ngành đào tạo có ý nghĩa định hướng và điều chỉnh các hoạt động của chủ thể quản lý dạy học và chủ thể dạy học trong xác định mục đích, lựa chọn nội dung tìm kiếm các phương pháp và hình thức tổ chức sử dụng các phương thức dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên … Chính vì vậy, luật pháp, chính sách, điều lệ, quy chế giáo dục có ảnh hưởng đến kết quả quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên

1.6.7 Phản hồi từ người học, nhà tuyển dụng và xã hội

Cần định kỳ thu thập ý kiến phản hồi từ các bên liên quan một cách xác thực, số lượng khảo sát đủ lớn, phù hợp đa dạng để các ý kiến mang tính đại diện cao Có thể thiết kế mẫu phiếu khảo sát theo đặc thù của ngành/ chuyên ngành đào tạo mà đơn vị đang quản lý về học thuật

Trang 34

Nếu các nhà quản lý thực sự quan tâm đến hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập hướng vào người học nhằm nâng cao tính khách quan, công bằng tạo động lực thúc đẩy quá trình dạy - học giữa thầy và trò

Để làm rõ cơ sở lý luận về biện pháp quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, đề tài đã nêu và phân tích một số khái niệm liên quan như: Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường, các chức năng quản lý, biện pháp quản lý, quản lý kiểm tra đánh giá… đồng thời dựa vào mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ phát triển giáo dục trong gia đoạn hiện nay để phân tích một cách sâu sắc và toàn diện những nội dung của công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Song bên cạnh dó, để có cơ sở chắc chắn, khoa học hơn cần có cơ sở thực tiễn để đề xuất các biện pháp, vì vậy đề tài tiếp tục nghiên cứu phần thực trạng các biện pháp quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc ở chương 2

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

2.1 Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội khu vực Tây Bắc và một

số đặc điểm về trường Đại học Tây Bắc

2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội khu vực Tây Bắc

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Tây Bắc chủ yếu bao gồm các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Hoà Bình, Lao Cai, Yên Bái, diện tích tự nhiên khoảng 46.335 km2, dân số khoảng 3.187.218 người, với 23 dân tộc anh em chung sống: Thái, H’Mông, Hoa, Kinh, Mường, Tầy, Dao, Lào, La Ha, Xinh mun, Khơ Mú, Mảng, La Hủ… Đây là vùng lãnh thổ phía Tây Bắc của Tổ Quốc, phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), có đường biên giới dài 513 km; phía Tây giáp với hai tỉnh Hủa Phăn và Phong Sa Lỳ của nước CHDCND Lào với đường biên giới dài phía Đông, Đông Nam và Nam tiếp giáp các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thanh Hoá, Hoà Bình

Tây Bắc có địa hình phức tạp, bị cắt xẻ bởi những dãy núi đá vôi trong dãy Hoàng Liên Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và vòng cung Sông Mã chạy từ Đông sang Tây, tạo thành những đỉnh núi cao như: Xà Phình (2.879m), Pu Luông (2.985m), Phan Xi Păng (3.143m) so với mực nước biển Bên cạnh đó, Tây Bắc có những con sông lớn như: Sông Đà, sông

Mã và rất nhiều sông, suối, hồ lớn nhỏ Sự đan xen giữa các địa hình thung lung, cao nguyên với những dãy núi đá cao và cao trung bình, cũng sự quanh

co của các sông suối đã tạo cho khu vực Tây Bắc những vùng khí hậu khác biệt tạo sự đa dạng về các hệ sinh thái, điều kiện để đa dạng hoá nông nghiệp

và lâm nghiệp

Vị trí địa lý khu vực Tây Bắc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về an ninh,

Trang 36

quốc phòng và quan hệ giao lưu quốc tế Quốc lộ 6 là đường giao thông huyết mạnh nối vùng Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và vùng châu thổ Sông Hồng Có sân bay quốc tế tại Điện Biên và một sân bay nội địa tại Nà Sản (Sơn La).Trong lịch sử, Tây Bắc được coi là vùng đất “Tam Mã” qua Lào vào Vân Nam và Hưng Hoá Hiện nay, Tây Bắc là một khu vực có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị, quân sự và trong giao lưu quốc tế

2.1.1.2 Về kinh tế - xã hội

Tây Bắc là mảnh đất có bề dày lịch sử và văn hoá Các dân tộc sinh sống trong khu vực Tây Bắc đều có những nét văn hoá, truyền thống tín ngưỡng riêng, các phong tục, tập quán độc đáo được thể hiện qua các điệu múa, các lễ hội, tết cưới, tang, cúng… Bên cạnh đó, với rất nhiều hiện vật được tìm thấy có giá trị nghiên cứu như: Trống đồng, thạp đồng, dìu đá… chứng minh Tây Bắc là địa bàn sinh sống lâu đời của cư dân Việt cổ và nằm trong phạm vi nền văn hoá Đông Sơn phát triển rực rỡ của đất nước ta Cùng với bề dày truyền thống văn hoá, Tây Bắc còn là mảnh đất lịch sử Các dân tộc Tây Bắc giầu truyền thống yêu nước, đã có những đóng góp tích cực trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của cả nước, Đảng

bộ và nhân dân các tỉnh Tây Bắc đã giành được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

Về lĩnh vực kinh tế: Kinh tế các tỉnh Tây Bắc đã có bước phát triển nhất

định Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định năm sau cao hơn năm trước, Nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá; quá trình chuyển đổi

cơ cấu cây trồng vật nuôi đạt kết quả khả quan góp phần xoá đói, giảm nghèo

và phát triển kinh tế nông thôn Công nghiệp có bước chuyển biến tích cực, nhiều dự án lớn đã được đầu tư, nhất là trong lĩnh vực thuỷ điện Tuy nhiên,

so với mặt bằng cả nước, khu vực Tây Bắc vẫn căn bản là một khu vực kinh

Trang 37

tế nông lâm nghiệp chậm phát triển nhất cả nước Năm 1998 số hộ nghèo ở khu vực Tây Bắc chiếm 73.4% GDP bình quân đầu người năm 2010 mới đạt khoảng 600 USD/người/năm, trong khi bình quân GDP cả nước là 1.200USD/người/năm

Về lĩnh vực văn hoá - xã hội: Có sự phát triển đồng bộ với sự phát triển

kinh tế Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có nhiều tiến bộ, phát triển mạnh cả về quy mô và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu trong thời kỳ đổi mới Mạng lưới các cấp học, ngành học được quan tâm đầu tư và được bố trí tương đối hợp lý theo địa bàn phân bố dân cư Quy mô giáo dục phổ thông tiếp tục phát triển, số học sinh các cấp học tăng bình quân 0,8%/năm, chất lượng dạy - học được nâng lên, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm hẳn Việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm được các tỉnh khu vực Tây Bắc quan tâm Theo

số liệu của Ban chỉ đạo khu vực Tây Bắc cung cấp tháng 4 năm 2009: Tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân vào khoảng 150/vạn dân (cả nước: 220/1 vạn dân)

Cơ cấu lao động chuyển theo hướng tăng nhanh ở các ngành công nghiệp và dịch vụ (Nông - Lâm nghiệp chiếm 34,09%, Công nghiệp, xây dựng chiếm 28,64%, Dịch vụ chiếm 36,98%) Số lao động có việc làm… Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm, lĩnh vực y tế dự phòng, tiêm chủng, bảo vệ sức khoẻ trẻ em, khám chữa bệnh có nhiều chuyển biến tích cực Cơ

sở khám chữa bệnh được đầu tư và nâng cấp Ngoài ra, các lĩnh vực khác như văn hoá thông tin, khoa học công nghệ, thể dục thể thao đều có hướng tiến bộ

Bên cạnh những thành quả đạt được, văn hoá - xã hội khu vực Tây Bắc vẫn còn những hạn chế như: Chất lượng giáo dục đào tạo còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước Số lao động có tay nghề chiếm chưa đầy 55% thiếu hẳn những chuyên gia đầu ngành thuộc các lĩnh vực quản lý kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản…Số lượng y tá, bác sĩ đạt khoảng 17 người/vạn dân, thuộc loại thấp nhất cả nước

Trang 38

Bên cạnh đó, khu vực Tây Bắc là một khu vực phức tạp về an ninh, chính trị Các tệ nạn xã hội vẫn tồn tại và có những diễn biến phức tạp như: Nghiện hút, cờ bạc, tảo hôn, mê tín…Một bộ phận bà con dân tộc ít người khu vực Tây Bắc vẫn bị các hủ tục đè nặng, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng Đặc biệt lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc các thế lực thù địch đã tìm mọi cách chống phá khối đoàn kết giữa các dân tộc Tây Bắc, mối quan hệ giữa nhân dân và chính quyền thông qua các chiêu bài về “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, gây ra không ít những phức tạp, bất ổn về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội khu vực Tây Bắc

Để từng bước đưa khu vực Tây Bắc thoát khỏi tình trạng kém phát triển, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội Ngày 15 tháng 4 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 79/QĐ-TTg về phương hướng phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng vùng trung du miền núi phía Bắc cùng với việc xây dựng nhà máy thuỷ điện Sơn La, Lai Châu, đã tạo ra cơ hội to lớn cho các tỉnh Tây Bắc Trong gia đoạn 2010 -

2015 và tầm nhìn đến năm 2020, các tỉnh khu vực Tây Bắc đều nêu mục tiêu phấn đấu thoát khỏi tình trạng khó khăn và rút ngắn khoảng cách với các tỉnh phát triển, tạo lập đồng bộ các yếu tố cơ bản làm tiền đề phát triển kinh tế, xã hội, đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế mỗi năm đạt 14 - 14.5%, cải thiện cơ cấu GDP để nông lâm nghiệp chiếm 28 - 29%; công nghiệp và xây dựng chiếm 34 - 35%; dịch vụ chiếm 37 - 38% Văn hoá xã hội phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên…

Trường Đại học Tây Bắc là trường Đại học duy nhất ở khu vực Tây Bắc, những đặc điểm về vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội khu vực Tây Bắc luôn ảnh hưởng lớn đến chiến lược phát triển của Nhà trường, đặc biệt là vấn đề đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội của các tỉnh Tây Bắc

Trang 39

2.1.2 Lịch sử phát triển của trường Đại học Tây Bắc

Trường Đại học Tây Bắc là Trường Đại học đa vùng, đa ngành, đa cấp,

đa lĩnh vực trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, được thành lập trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc, có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng đồng thời nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ cho các tỉnh Tây Bắc và các tỉnh lân cận, góp phần triển khai thực hiện phát triển kinh tế, xã hội vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ

Trường Đại học Tây Bắc đóng ở địa phương miền núi, kinh tế xã hội nghèo nàn, lạc hậu; trình độ dân trí thấp, thông tin hạn hẹp…Trường Đại học Tây Bắc được thành lập ngày 23/3/2001 theo Quyết định số 39/2001/QĐ -TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc Trường Đại học Tây Bắc với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ có trình độ cao cho các tỉnh Tây Bắc Tiền thân là Trường Sư phạm cấp II Tây Bắc được thành lập tháng 10/1960 với nhiệm vụ đào tạo đội ngũ giáo viên cấp 2 đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa, giáo dục của các tỉnh Tây Bắc, trải qua hơn 50 năm xây dựng, trưởng thành, vượt qua mọi khó khăn thử thách nhà trường vẫn từng bước đi lên

Có thể nói, thành tựu nổi bật nhất của nhà trường trong 50 năm qua là

đã góp phần đào tạo được trên 5000 sinh viên có trình độ cao đẳng và đại học Trên đà phát triển của nhà trường, từ năm học 2007 - 2008 những khoá sinh viên ngoài sư phạm như: Nông học; Lâm sinh, Kế toán, Công nghệ Thông tin đã tốt nghiệp ra trường, bổ sung đáng kể nguồn cán bộ có trình độ cao cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội trong vùng

Tất cả những giáo viên được nhà trường đào tạo đều có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiều người đã trở thành giáo viên dạy giỏi, chiến sĩ thi đua

và có không ít người trở thành cán bộ cốt cán trong các Ban, Ngành của hai tỉnh Sơn La, Lai Châu và khu vực Tây Bắc…

Trang 40

Riêng đối với công tác đào tạo bồi dưỡng của nhà trường đã góp phần khắc phục được tình trạng thiếu giáo viên và sự yếu kém về năng lực chuyên môn nghiệp vụ Đồng thời công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên cũng góp phần bổ sung nguồn nhân lực có trình độ cao cho vùng, phấn đấu mỗi năm có thể đào tạo được 2.500 sinh viên đại học, cao đẳng (hiện nay mỗi năm chỉ đào tạo được trên 1.500 sinh viên đại học và cao đẳng) và đến năm 2020 Đại học Tây Bắc phải đạt tổng thể 28.000 sinh viên đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của vùng Tây Bắc

Ngày đăng: 09/06/2014, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Khoa giáo Trung Ƣơng (2002), Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới. Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung Ƣơng
Năm: 2002
2. Đặng Quốc Bảo (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai, vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai, vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
10. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề về chương trình và quá trình dạy học; NXB Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
11. Nguyễn Đình Chỉnh (1995), Kiểm tra dánh giá việc học tập cả học sinh, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra dánh giá việc học tập cả học sinh
Tác giả: Nguyễn Đình Chỉnh
Năm: 1995
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện hội nghị lần thứ 7 BCHTW khoá X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 7 BCHTW khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
18. Đỗ Thị Lan Hương (2006), Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình, Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, tỉnh Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình
Tác giả: Đỗ Thị Lan Hương
Năm: 2006
19. Nguyễn Sinh Huy (chủ biên), Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Văn Lẻ (1995), Giáo dục học đại cương tập I & II, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương tập I & II
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy (chủ biên), Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Văn Lẻ
Năm: 1995
20. Trần Kiểm (2006), Khoa học Quản lý Giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học Quản lý Giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2006
21. Kế hoạch chiến lược trung hạn phát triển Trường Đại học Tây Nguyên từ năm 2007 - 2020 (2007), Đăk Lăc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch chiến lược trung hạn phát triển Trường Đại học Tây Nguyên từ năm 2007 - 2020 (2007)
Tác giả: Kế hoạch chiến lược trung hạn phát triển Trường Đại học Tây Nguyên từ năm 2007 - 2020
Năm: 2007
23. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2005
25. Đặng Khắc Quân (2006), Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh của Hiệu trưởng tiểu học huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La khi bỏ thi tốt nghiệp, Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục. Tỉnh Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh của Hiệu trưởng tiểu học huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La khi bỏ thi tốt nghiệp
Tác giả: Đặng Khắc Quân
Năm: 2006
26. Bùi Văn Quân (2007) Giáo trình quản lý giáo dục, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý giáo dục
Nhà XB: NXB giáo dục
28. Trịnh Đức Thắng (2003), Học tập một kho báu tiềm ẩn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập một kho báu tiềm ẩn
Tác giả: Trịnh Đức Thắng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
30. Dương Thiệu Tống (1995), Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Bộ giáo dục và đào tạo - Trường Đại học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập
Tác giả: Dương Thiệu Tống
Năm: 1995
32. Nguyễn Đình Tùng (2006), Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh tại các trường THPT tỉnh Bạc Liêu. Luận Văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục tỉnh Bạc Liêu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh tại các trường
Tác giả: Nguyễn Đình Tùng
Năm: 2006
7. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2005), Báo cáo về tình giáo dục tại kỳ họp Quốc hội Khóa X, tháng 11/2005 Khác
8. Bộ giáo dục & đào tạo (2004), Quy chế 25 về tổ chức đào tạo thi, kiểm tra và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy Khác
9. Bộ giáo dục & Đào tạo (2006), Quy chế 43 về tổ chức đào tạo thi, kiểm tra và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy Khác
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII Khác
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ƣơng khóa VIII. NXB Chính trị quốc gia Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2.  Mối quan hệ của chức năng quản lý - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ của chức năng quản lý (Trang 14)
Sơ đồ 1.3: Kiểm tra, đánh giá - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Sơ đồ 1.3 Kiểm tra, đánh giá (Trang 21)
Sơ đồ 1.4. Bộ máy tổ chức Trường Đại học Tây Bắc - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Sơ đồ 1.4. Bộ máy tổ chức Trường Đại học Tây Bắc (Trang 41)
Bảng lấy từ phụ lục 1.1. phản hồi từ sinh viên số lƣợng xin ý kiến 120  người - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Bảng l ấy từ phụ lục 1.1. phản hồi từ sinh viên số lƣợng xin ý kiến 120 người (Trang 44)
Bảng 2.2. Đội ngũ cán bộ quản lý của nhà trường - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Bảng 2.2. Đội ngũ cán bộ quản lý của nhà trường (Trang 45)
Bảng 2.3. Đội ngũ giảng viên của nhà trường - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Bảng 2.3. Đội ngũ giảng viên của nhà trường (Trang 46)
Bảng 2.4. Kết quả xếp loại học tập của sinh viên đại học năm học 2011  - 2012 theo quy chế 43 - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Bảng 2.4. Kết quả xếp loại học tập của sinh viên đại học năm học 2011 - 2012 theo quy chế 43 (Trang 47)
Bảng 2.5. Kết quả xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Bảng 2.5. Kết quả xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá (Trang 50)
Bảng 2.7. Kết quả đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch KTĐG - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Bảng 2.7. Kết quả đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch KTĐG (Trang 52)
Bảng 2.8. Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Bảng 2.8. Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên (Trang 54)
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết (Trang 78)
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm mức độ khả thi của biện pháp - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm mức độ khả thi của biện pháp (Trang 80)
Bảng 3.3.Thứ bậc các biện pháp đề xuất về tính cần thiết và tính khả thi - Biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Tây Bắc
Bảng 3.3. Thứ bậc các biện pháp đề xuất về tính cần thiết và tính khả thi (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w