MỤC LỤC Lời cam đoan i Lời cảm ơn ii Mục lục iii Danh mục các từ viết tắt v Danh mục bảng vii 1: MỞ ĐẦU 1 1.1. Đặt vấn đề 1 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3 2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 3 2.2. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam và tỉnh Sơn La 5 2.2.1. Tình hình sản xuât ngô của Việt Nam 5 2.2.2. Tình hình sản xuất tiêu thụ ngô ở Sơn La 7 2.3. Những hạn chế và tiềm năng của đất dốc 9 2.3.1. Hạn chế 9 2.3.2. Tiềm năng 10 2.4. Vai trò của vật liệu che phủ và ƣu nhƣợc điểm của một số loại vật liệu sử dụng che phủ 12 2.4.1. Vai trò của vật liệu che phủ, cây trồng xen 12 2.4.2.Ƣu và nhƣợc điểm của một số loại vật liệu che phủ, cây trồng xen 13 2.5. Tình hình sử dụng vật liệu che phủ và trồng xen với ngô trên đất dốc ở một số nƣớc trên thế giới 15 2.6. Tình hình sử dụng vật liệu che phủ và trồng xen với ngô trên đất dốc ở Việt Nam 19 2.7. Những công trình nghiên cứu, dự án nghiên cứu sử dụng vật liệu che phủ và trồng xen với ngô trên đất dốc ở Việt Nam 21 2.8. Điều kiện tự nhiên tỉnh Sơn La 22 iv 3: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 3.1. Đối tƣợng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 24 3.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu 24 3.1.2. Địa điểm nghiên cứu 24 3.1.3. Thời gian nghiên cứu 24 3.2. Nội dung nghiên cứu 24 3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 24 3.3.1. Nội dung công thức 24 3.3.2. Các chỉ tiêu và phƣơng pháp theo dõi 25 3.3.3. Quy trình kỹ thuật canh tác 35 3.3.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu 36 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37 4.1. Đặc điểm khí hậu tại huyện Mộc Châu, Sơn La từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2012 37 4.1.1. Nhiệt độ 38 4.1.2. Lƣợng mƣa 39 4.1.3. Độ ẩm không khí 41 4.1.4. Số giờ nắng 42 4.2. Kết quả thí nghiệm 43 4.2.1. Các chỉ tiêu về sinh trƣởng của ngô 43 4.2.2. Các chỉ tiêu về chống chịu và sâu bệnh hại 54 4.2.3. Các chỉ tiêu về xói mòn và dinh dƣỡng trong đất 57 4.2.4. Các chỉ tiêu về năng suất ngô 61 4.2.5. Các chỉ tiêu về cây trồng xen 66 4.2.6. Hiệu quả kinh tế 73 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77 5.1. Kết luận 77 5.2. Đề nghị 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 LỜI CAM ĐOAN i LỜI CẢM ƠN ii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v DANH MỤC BẢNG vii MỤC LỤC iii v DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Tên gọi đầy đủ IPRI Viện nghiên cứu chƣơng trình lƣơng thực thế giới FAOSTAT Cơ sở giữ liệu thống kê của Tổ chức lƣơng thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc CIMMYT Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế CIRAD Trung Tâm Hợp Tác Quốc Tế về Nghiên Cứu Nông Học cho Phát Triển NOMAFSI Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc ACIAR Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Australia CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân QCVN Quy chuẩn Việt Nam BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn LAI Chỉ số diện tích lá NSLT Năng suất lý thuyết NSTT Năng suất thực thu NS Năng suất N, KP Ngô, không phủ N, P Ngô, phủ NL, KP Ngô, lạc, không phủ NL, P Ngô, lạc, phủ NĐT, KP Ngô, đậu tƣơng, không phủ NĐT, P Ngô, đậu tƣơng, phủ GĐ Giai đoạn A0 Độ ẩm RAVC Hiệu quả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ĐẶNG VĂN CÔNG
ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP TRỒNG XEN VÀ CHE PHỦ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ
LVN145 TẠI MỘC CHÂU - SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THẾ HÙNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ “Ảnh hưởng của biện pháp trồng
xen và che phủ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ngô LVN145 tại Mộc Châu - Sơn La” là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chính xác Luận văn sử dụng một số thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin này đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc trích dẫn
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả Luận văn
Đặng Văn Công
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp của mình ngoài sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của rất nhiều cá nhân và tập thể
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo hướng dẫn, PGS TS Nguyễn Thế Hùng đã chỉ dẫn tận tình và dành nhiều thời gian quý báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy, Cô trong Bộ môn Cây lương thực Khoa Nông học đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong các bước tiến hành luận văn, đóng góp ý kiến rất bổ ích cho sự thành công của luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè, gia đình, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Đặng Văn Công
Trang 42.4 Vai trò của vật liệu che phủ và ƣu nhƣợc điểm của một số loại vật liệu
2.4.2.Ƣu và nhƣợc điểm của một số loại vật liệu che phủ, cây trồng xen 132.5 Tình hình sử dụng vật liệu che phủ và trồng xen với ngô trên đất dốc ở
2.6 Tình hình sử dụng vật liệu che phủ và trồng xen với ngô trên đất dốc ở
2.7 Những công trình nghiên cứu, dự án nghiên cứu sử dụng vật liệu che
Trang 53: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
4.1 Đặc điểm khí hậu tại huyện Mộc Châu, Sơn La từ tháng 5 đến tháng
4.2.3 Các chỉ tiêu về xói mòn và dinh dưỡng trong đất 57
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
IPRI Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới
FAOSTAT Cơ sở giữ liệu thống kê của Tổ chức lương thực và nông
nghiệp của Liên hợp quốc
CIMMYT Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế
CIRAD Trung Tâm Hợp Tác Quốc Tế về Nghiên Cứu Nông Học
cho Phát Triển
NOMAFSI Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc
ACIAR Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Australia
CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
NĐT, KP Ngô, đậu tương, không phủ
NĐT, P Ngô, đậu tương, phủ
RAVC Hiệu quả kinh tế
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên thế giới 4
Bảng 2.8: Diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên thế giới 16Bảng 4.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu trong thời gian thí nghiệm 37
Bảng 4.2: Tỷ lệ nảy mầm của ngô trên các công thức thí nghiệm tại
Bảng 4.3: Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống ngô thí nghiệm tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu 2012 45 Bảng 4.4: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống ngô thí nghiệm tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 47 Bảng 4.5: Động thái tăng trưởng số lá của giống ngô thí nghiệm 50
Bảng 4.6: Chiều cao cây cuối cùng và chiều cao đóng bắp của giống ngô thí nghiệm tại Mộc Châu - Sơn La vụ hè thu năm 2012 52
Trang 9tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 54Bảng 4.8: Tỷ lệ đổ, trạng thái cây và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của
giống ngô thí nghiệm tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 55Bảng 4.11: Các yếu tố cấu thành năng suất của giống ngô thí nghiệm
Bảng 4.12: Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của giống ngô
Bảng 4.13: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cây lạc trong điều kiện
trồng xen với ngô tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 66Bảng 4.14: Các chỉ tiêu về năng suất của cây lạc trong điều kiện trồng
Bảng 4.15: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cây đậu tương trong điều
kiện trồng xen với ngô tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 70Bảng 4.16: Các chỉ tiêu về năng suất của cây đậu tương trong điều kiện
trồng xen với ngô tại Mộc Châu, Sơn La vụ hè thu năm 2012 72Bảng 4.17: Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm 74
Trang 101: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea mays L.) là một trong ba loại cây lương thực chủ yếu của
thế giới (lúa mì, lúa nước, ngô), đã được con người thuần hoá và trồng cách đây khoảng 5000 năm Hiện nay, ngô được gieo trồng rộng khắp thế giới với sản lượng hàng năm cao hơn bất kỳ cây lương thực nào Ở Việt Nam ngô là cây lương thực quan trọng sau lúa, là cây màu quan trọng ở cả đồng bằng, trung du và miền núi
Trong ngô hạt có chứa rất nhiều thành phần dinh dưỡng, đặc biệt là tinh bột và protein, ngoài ra còn chứa nhiều chất khoáng quan trọng như: Ca, Na, P, Fe Chính vì vậy mà nhiều nước trên thế giới và nhiều vùng trên thế giới dùng ngô làm cây lương thực chính Nhân dân các nước khu vực Trung và Nam Mỹ dùng tới 50 – 60 % ngô làm lương thực Ở nước ta trước đây nhân dân các dân tộc vùng Tây Bắc và Đông Bắc sử dụng 50 % – 60 % ngô trong các bữa ăn hàng ngày, có một số nơi người dân ăn ngô từ 5 – 6 tháng liền [21]
Ngô là cây thức ăn gia súc quý, ngoài tinh bột ngô sử dụng để chế biến thức ăn chăn nuôi thì thân lá ngô được sử dụng làm thức ăn xanh cho gia súc dưới dạng ăn tươi hay ủ chua Tại các nước phát triển ở Châu Âu và Bắc Mĩ gần 90% ngô được dùng trong chăn nuôi Trên thế giới 70 % sản lượng ngô dùng làm thức ăn gia súc Ở nước ta phát triển ngô ở những vùng có điều kiện
tự nhiên phù hợp là động lực cho việc xây dụng các nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm để đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính
Ngoài ra ngô còn là nguyên liệu cho công nghệ phẩm Ở Việt Nam, đồng bào H'mông đã dùng ngô nấu rượu từ rất lâu đời và chất lượng rượu ngô thơm ngon không kém rượu nấu bằng gạo Tại Mỹ công nghệ ép thân ngô làm đường siro dùng trong công nghiệp bánh kẹo đã được nghiên cứu thành công
và rất phát triển Tinh bột ngô được sử dụng để chế biến nhiều loại hoá chất
Trang 11như: cồn, axit, hydrat cacbon Hiện nay, có khoảng 670 mặt hàng được chế biến từ ngô [6]
Hiện nay tại khu vực Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng nhu cầu ngô hạt đang tăng nhanh, vì thế mà diện tích trồng ngô có xu hướng ngày một
mở rộng thêm Tuy nhiên, do diện tích canh tác trên đất bằng có hạn, chủ yếu
là canh tác trên đất dốc theo phương pháp truyển thống, một số nơi người dân canh tác ngô trên đất có độ dốc rất cao, độ dốc có thể lớn hơn 25 độ mà không
áp dụng các biện pháp chống xói mòn nên dẫn đến tình trạng xói mòn, rửa trôi rất mạnh, đặc biệt vào đầu mùa mưa Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên,
để góp phần giải quyết những khó khăn trong việc canh tác ngô bền vững và nâng cao năng suất ngô trên đất dốc chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Ảnh hưởng của biện pháp trồng xen và che phủ đến sinh trưởng,
phát triển và năng suất của giống ngô LVN145 tại Mộc Châu - Sơn La”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định ảnh hưởng của trồng xen và che phủ đến khả năng sinh trưởng phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại, năng suất và hiệu quả kinh tế của giống ngô LVN145
- Lựa chọn được kỹ thuật che phủ đất và trồng xen có tác dụng hạn chế xói mòn hiệu quả nhất
Trang 122: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Nghề trồng ngô trên thế giới vào những năm cuối của thế kỷ 20 đã có những bước tiến nhảy vọt nhờ ứng dụng rộng rãi thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác
Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới, vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển sử dụng 22% ngô làm lương thực Đến năm
2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), riêng Đông Nam Á nhu cầu tăng 70%
so với năm 1997, sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh là do dân số thế giới tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng nên nhu cầu thịt, trứng, sữa tăng mạnh dẫn đến đòi hỏi lượng ngô dùng cho chăn nuôi tăng [15]
Bảng 2.1 Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020
Vùng 1997 (triệu tấn) 2020 (triệu tấn) % thay đổi
Tình hình sản xuất ngô thế giới không ngừng tăng về diện tích đặc biệt
là năng suất đã đem lại sản lượng lớn Số liệu bảng 2.2 cho thấy: Trong năm
2001 diện tích ngô trên thế giới đạt 139,12 triệu ha, năng suất là 4,42 tấn/ha
và sản lượng đạt 614,98 triệu tấn Nhưng đến năm 2010 tổng sản lượng ngô
Trang 13đạt cao nhất từ trước đến nay 840,3 triệu tấn với diện tích là 161,76 triệu ha
và năng suất đạt 5,19 tấn/ha
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên thế giới
Độ (chưa đạt 2 tấn/ha)
Bảng 2.3 Một số nước có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới năm 2010
Nước Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (triệu tấn)
Trang 14Tóm lại: Để đáp ứng nhu cầu ngô tăng mạnh trên thế giới, không chỉ dựa vào cải thiện nền di truyền (giống mới) mà còn dựa vào kỹ thuật canh tác nhất là cho vùng khó khăn
2.2 Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam và tỉnh Sơn La
2.2.1 Tình hình sản xuât ngô của Việt Nam
Trong hơn 10 năm qua nghề trồng ngô ở Việt Nam phát triển đó là nhờ những thành tựu trong việc nghiên cứu và sử dụng ngô lai Thành công này đã thay đổi một cách sâu sắc diện mạo nghề trồng ngô ở nước ta vốn đã tồn tại nhiều yếu kém trong nhiều năm Năng suất ngô ở nước ta trước đây thuộc loại rất thấp so với năng suất ngô thế giới, năm 1960 chỉ đạt trên 1 tấn/ha, với diện tích hơn 200 nghìn hecta; đến đầu những năm 1980, năng suất cũng chỉ đạt 1,1 tấn/ha và sản lượng hơn 400.000 tấn do vẫn trồng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu Từ giữa những năm 1980, nhờ hợp tác với Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần nâng năng suất lên gần 1,5 triệu tấn/ha vào đầu những năm 1990 Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền với việc không ngừng mở rộng giống ngô lai ra sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới, một sự bắt đầu có lẽ quá muộn, nhưng tiếp sau đó lại rất vững chắc được đánh giá là với tốc độ nhanh hiếm thấy Tỷ lệ trồng giống lai ở nước ta từ 0,1% trên hơn 400 nghìn hecta trồng ngô năm 1990 đã tăng lên khoảng 95% trong số hơn 1 triệu hecta diện tích trồng ngô năm 2007 đã đưa Việt Nam vào một trong những nước sử dụng giống lai cao và có năng suất cao của khu vực Đông Nam Á Cùng với việc tăng cường
sử dụng giống lai, năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bình thế giới trong suốt hơn 20 năm qua
Diện tích, năng suất và sản lượng ngô 10 năm gần đây liên tục tăng (bảng 2.5) Năm 2001 diện tích trong ngô 729,5 nghìn ha, năng suất đạt 29,6
Trang 15tạ/ha, sản lượng 2161,7 nghìn tấn Đến năm 2010 diện tích tăng lên 1125,7 nghìn ha, năng suất đạt 41,1 tạ/ha, sản lượng 4625,7 nghìn tấn Theo thống kê
sơ bộ đến năm 2011 diện tích trồng ngô tiếp tục tăng đạt 1125,7 nghìn ha, năng suất 42,9 tạ/ha, sản lượng 4799,3 nghìn tấn
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2011
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Vùng Đông Bắc: Diện tích ngô khoảng 190 nghìn ha, ngô được trồng ở
độ cao 300 - 900m so với mặt nước biển Vụ chính là vụ Xuân, gieo khoảng tháng 2, tháng 3
Vùng Tây Bắc: Diện tích khoảng 105 nghìn ha, ngô được trồng ở độ cao
từ 600 - 1000 m Vụ chính là vụ Thu Đông gieo trong tháng 4, đầu tháng 5
Vùng Đồng Bằng Sông Hồng: Diện tích ngô 93 nghìn ha, ngô được trồng ở độ cao 0 - 2m, vụ chính là vụ Xuân gieo trong tháng 2, vụ thu gieo trong tháng 8 và vụ Đông gieo tháng 9 - đầu tháng 10
Vùng Bắc Trung Bộ: Diện tích 93 nghìn ha, ngô được trồng ở độ
Trang 16cao 0 - 200m Vụ chính là vụ Xuân gieo vào tháng 1, tháng 2; vụ Đông gieo vào tháng 10
Vùng Tây Nguyên: Diện tích 87 nghìn ha, Trồng ở độ cao 400 - 900m, vụ chính Thu Đông gieo vào tháng tư, đầu tháng 5
Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ: Diện tích 28.500 ha, trồng ở độ cao
0 - 1000m Vụ chính là vụ Thu Đông gieo vào tháng 4; vụ Đông gieo vào tháng 11, tháng 12
Vùng Đông Nam Bộ: Diện tích 123 nghìn ha, trồng ở độ cao 0 - 400m Vụ chính là Thu Đông gieo vào cuối tháng 4; vụ Đông Xuân gieo vào tháng 11, đầu tháng 12
Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: Diện tích 19.000 - 20.000 ha, trồng
ở độ cao 0 - 10m Vụ Đông Xuân gieo vào tháng 11, tháng 12
Điều kiện ở mỗi vùng có đặc điểm về địa hình, đất đai, điều kiện khí hậu khác nhau, nên cũng ảnh hưởng đến sản xuất ngô của từng vùng, như các vùng ở Miền núi, chủ yếu trồng ngô trên đất đồi, đất ruộng luân canh, nơi địa hình không bằng phẳng, do vậy sản xuất ngô còn gặp nhiều khó khăn
Mặc dù có sự phát triển không đồng đều giữa các vùng sản xuất ngô ở Việt Nam nhưng từ những kết quả đã đạt được chúng ta vẫn có thể khẳng định sản xuất ngô của Việt Nam trong thời gian qua đã có sự phát triển vượt bậc Tuy nhiên cũng còn không ít thách thức, một trong số những thách thức đáng chú ý đó là tình trạng độc canh cây ngô trên đất dốc đang diễn ra khá phổ biến ở hầu hết các vùng đất dố Vì vậy cần có những giải pháp kịp thời để vừa phát triển nghề sản xuất ngô vừa đảm bảo được tính bền vững
2.2.2 Tình hình sản xuất tiêu thụ ngô ở Sơn La
Ngô ở Sơn La được sản xuất vào 2 vụ chính đó là vụ Hè Thu trên các chân đất nương (trồng vào tháng 5 và thu hoạch vào tháng 8, tháng 9 hàng năm), vụ Đông trồng trên các vùng đất bãi ven sông suối Trong thời gian gần đây bà con đã trồng thử nghiệm ngô vụ Xuân trên các chân đất ruộng sau khi
Trang 17đã thu hoạch lúa Mùa Với lợi thế về đất đai và khí hậu của mình, sản xuất ngô ở Sơn La đã không ngừng phát triển trong những năm vừa qua Diện tích
và sản lượng ngô của Sơn La đã không ngừng tăng lên và chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng năng suất và sản lượng ngô của cả nước Theo số liệu của Tổng cụ thống kê thì diện tích ngô của Sơn La năm 1998 là 35,5 nghìn ha, đến năm 2009 diện tích ngô Sơn La là 132,1 nghìn ha, năm 2010 là 132,7 nghìn ha và năm 2011 là 127,6 nghìn ha (số liệu thống kê sơ bộ) Cùng với sự tăng lên về diện tích, sản lượng ngô của Sơn La cũng không ngừng tăng lên trong những năm vừa qua Năm 1998 sản lượng ngô của Sơn La là 82,3 nghìn tấn, đến năm 2009 con số này là 524,3 nghìn tấn, năm 2010 là 417,4 nghìn tấn
và năm 2011 là 506,1 nghìn tấn (số liệu thống kê sơ bộ) Điều này cho thấy ngô đã trở thành một loại cây trồng chính, có vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng của Tỉnh Sơn La
Hiện nay, diện tích ngô của tỉnh ổn định trong khoảng 130 nghìn ha, tăng gấp 5 lần so với năm 1995 Khoảng 97% diện tích gieo trồng bà con sử dụng các giống ngô lai, năng suất cao như LVN10, LVN17, CP888, CP989, CP333 Năm 2010, sản lượng đạt 417,4 nghìn tấn chiếm hơn 60% tổng sản lượng lương thực có hạt của tỉnh Năng suất ngô đạt cao tập trung chủ yếu ở những địa bàn có điều kiện thâm canh và những vùng chuyên canh sản xuất ngô hàng hóa như Thành phố Sơn La, huyện Mai Sơn, huyện Sông Mã Trên địa bàn tỉnh hiện có 160 cơ sở sấy ngô với công suất từ 8-30 tấn/mẻ, thu mua khoảng 80% sản lượng ngô toàn tỉnh Các cơ sở chỉ dừng ở việc sấy khô ngô hạt làm nguyên liệu bán về xuôi cho các cơ sở chế biến khác, chưa có
cơ sở chế biến sản phẩm từ ngô, chính vì vậy hoạt động thu mua này không đảm bảo tính ổn định, bền vững lâu dài cho nông dân trồng ngô
Cây ngô ở Sơn La chủ yếu là trồng ở trên nương phụ thuộc vào điều kiện
tự nhiên, đặc biệt là thời tiết và khí hậu Do địa hình dốc nên trồng ngô trên nương phụ thuộc nhiều vào “nước trời”, khi gặp thời tiết không thuận lợi thì
Trang 18nguy cơ mất mùa rất lớn Độ dốc lớn, hiện tượng xói mòn, rửa trôi, thoái hóa đất rất lớn, làm giảm năng suất, hiệu quả trong sản xuất ngô Trình độ canh tác ngô của nông dân còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa nông dân vẫn gieo trồng theo tập quán quảng canh Khâu thu hoạch và bảo quản ngô chưa được quan tâm đúng mức, làm giảm chất lượng sản phẩm Đây là những vấn đề đặt ra đối với cây ngô ở Sơn La
Để cây ngô ở Sơn La phát triển bền vững cần tập trung vào các giải pháp
về kỹ thuật như chọn và tạo giống tốt, chịu được thuốc trừ cỏ, kháng sâu bệnh; thử nghiệm nhiều dòng giống ở các vùng sinh thái khác nhau Điều chỉnh khoảng cách gieo trồng phù hợp với đặc điểm của tán lá ngô, sử dụng phân bón cân đối, chú trọng lựa chọn các biện pháp canh tác ngô trên đất dốc,
mở rộng biện pháp trồng xen gối với cây họ đậu, phòng trừ sâu bệnh bằng hệ thống quản lý dịch hại, sử dụng các kỹ thuật và biện pháp thích hợp trừ sâu bệnh cho cây ngô Gắn cơ sở chế biến với vùng sản xuất ngô Quản lý chặt chẽ các tổ chức, đơn vị được giao sản xuất, kinh doanh ngô giống đảm bảo cung ứng giống ngô đạt tiêu chuẩn chất lượng và vật tư phân bón cho sản xuất Chú trọng đầu tư thâm canh, đưa giống mới vào sản xuất tăng năng suất lên 5 tấn/ha vào năm 2012 Ngoài ra, củng cố mạng lưới các Câu lạc bộ khuyến nông cơ sở, tăng cường công tác đào tạo tập huấn cho nông dân, khuyến cáo nhân rộng các mô hình sơ chế, bảo quản nông sản quy mô nhỏ
Để cây ngô thực sự là cây lương thực chủ đạo, xóa đói giảm nghèo cho dân cần có sự vào cuộc nhiều hơn nữa của các cấp, các ngành chức năng
2.3 Những hạn chế và tiềm năng của đất dốc
2.3.1 Hạn chế
* Xói mòn và rửa trôi
Xói mòn và rửa trôi là những mối đe doạ thường xuyên đối với đất dốc
và vùng nhiệt đới ẩm, gây nên sự mất dinh dưỡng và độ phì của lớp đất mặt, dẫn đến sự axít hoá trong đất Những tác động này thậm chí còn trở nên tồi tệ
Trang 19hơn nếu như đất canh tác không có thảm thực vật che phủ hoặc là đất bị đốt cháy trước mùa mưa Ở Tây Phi, những vùng đất rừng được chuyển thành đất canh tác không có thực vật che phủ, chịu ảnh hưởng khí hậu khắc nghiệt đã mất đi lượng đất khoảng 115 tấn/ha/năm (Fournier, F, 1967) [3]
* Sự thoái hoá đất
Do đất rừng bị phá và đốt để trồng cây hàng năm làm lương thực, đất dốc ở nhiều vùng ngày càng bị thoái hoá nghiêm trọng Theo Garrity D.P (1993), có rất nhiều lý do dẫn đến những hạn chế và sự bất ổn định sản lượng trên đất dốc, nhưng nguyên nhân chủ yếu nhất vẫn là do thoái hoá đất nhanh cả về mặt sinh học, lý và hoá học Việc tăng độc tố nhôm trong đất là do đất bị axít hoá Thêm vào đó là sự giảm đáng kể của cá nguyên tố vi lượng như: P, K, Ca, Mn, Zn [3]
* Hạn hán vào mùa khô
Việc giữ nước trên đất dốc là một vấn đề thực sự khó khăn nên việc canh tác phải phụ thuộc nhiều vào lượng mưa Luôn luôn có những đợt hạn hán nghiêm trọng vào mùa khô Ở nhiều vùng còn không có đủ nước cho con người cũng như động vật Hạn hán là khó khăn chính đối với đất dốc; nếu mưa chỉ đến muộn khoảng 1 tháng so với dự tính thì một vụ mùa thất bại là chắc chắn Hạn vào mùa khô là do sự mất rừng cũng như do việc canh tác bừa bãi không thể kiển soát được trên đất dốc [3]
Ngoài ra, khu vực đất dốc còn có những hạn chế khác như: Tình trạng bị cách biệt; Tỷ lệ đói nghèo và trình độ văn hoá thấp; Giảm độ che phủ Đây cũng là một trong những khó khăn và trở ngại rất lớn đối với việc áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm đạt được mục tiêu canh tác bền vững
2.3.2 Tiềm năng
* Tiềm năng mở rộng đất canh tác
Đất dốc là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng khoảng 60% trong 1.500 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp trên thế giới (Dent.T.J, 1989) Ở Việt Nam, đất dốc chiếm khoảng 74% đất tự nhiên Trong diện
Trang 20tích 9,4 triệu ha đất nông nghiệp chỉ có 4,06 triệu ha là đất lúa, còn trên 5 triệu ha chủ yếu là đất dốc, trong đó đất nương rẫy trồng lúa khoảng 640 ngàn ha, diện tích còn lại là đất rừng và đất chưa sử dụng Do hầu hết đất bằng đã được sử dụng khá triệt để, nên miền núi là nơi duy nhất còn tiềm năng mở rộng đất canh tác [3]
* Tiềm năng lâm nghiệp
Rừng không chỉ là nguồn lợi tự nhiên quý giá về kinh tế, mà còn có giá trị cao trong bảo vệ môi trường, lưu giữ nguồn nước, cung cấp điều hoà ôxy
và cacbon Ở Việt Nam, rừng chỉ tồn tại ở vùng cao đất dốc
* Tiềm năng sản xuất cây hàng hoá và đa dạng sản phẩm
So với miền xuôi thì cơ cấu cây trồng ở miền núi đa dạng hơn Khi hầu hết đất bằng ở miền xuôi dành cho sản xuất lương thực thì miền núi là nơi có tiềm năng đất đai để trồng cây ăn quả, cây lương thực có giá trị cao,đó là chưa kể các loài rau quả ôn đới trồng trên các vùng núi cao [3]
* Tiềm năng phát triển chăn nuôi
Muốn đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính thì phải khai thác tiềm năng đất đai và cây thức ăn gia súc ở miền núi Nếu mở rộng chăn nuôi ở miền xuôi thì sẽ gặp trở ngại lớn về môi trường Hơn nữa đối với đại gia súc thì sẽ không có đủ đất để xây dựng chuồng trại, khu chăn thả và khu đồng cỏ Chỉ có miền núi mới đáp ứng được những yêu cầu này [3]
* Tiềm năng phát triển nguồn điện
Do có địa hình cao và nguồn nước dồi dào, miền núi là nơi có tiềm năng thuỷ điện rất lớn Các hồ chứa nước vừa phục vụ thuỷ điện vừa là nguồn nước tưới trong mùa khô và điều hoà lũ lụt trong mùa mưa Hiện nay, nguồn năng lượng điện của Việt Nam chủ yếu dựa vào thuỷ điện
Tóm lại, tuy còn nhiều trở ngại, miền núi là nơi có nhiều tiềm năng cơ bản cho sự phát triển Vì vây, cần quan tâm nhiều để vừa thúc đẩy sản xuất, đáp ứng nhu cầu cuộc sống của nông dân vùng cao, vừa phải bảo vệ tài nguyên và môi trường vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của cả dân tộc [3]
Trang 212.4 Vai trò của vật liệu che phủ và ưu nhược điểm của một số loại vật liệu sử dụng che phủ
2.4.1 Vai trò của vật liệu che phủ, cây trồng xen
Sản xuất ngô bền vững trên đất dốc là cải thiện và bảo vệ đất Biện pháp đơn giản, ít tốn kém nhất là sử dụng tàn dư cây trồng làm vật liệu che phủ Sử dụng vật liệu che phủ để che phủ bề mặt đất và tính liên tục của lớp phủ bề mặt là hai yếu tố cơ bản để phát triển canh tác bền vững trên đất dốc Cụ thể,
sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên đất dốc có những vai trò như sau:
- Giảm xói mòn do mưa và gió; đất tơi xốp, tăng độ hấp thu nước của đất, giảm dòng chảy bề mặt; giảm bốc hơi, tăng độ ẩm đất; dung hoà nhiệt độ
bề mặt đất; chống kết vón và đóng váng bề mặt đất; giảm cỏ dại, tăng hiệu quả phân bón; giảm đầu tư công lao động (làm cỏ, làm đất, bón phân); tăng hàm lượng chất hữu cơ cho đất; tạo điều kiện tốt cho hạt nảy mầm, bộ rễ phát triển khoẻ, cây sinh trưởng tốt; tăng và ổn định năng suất cây trồng
- Hạn chế du canh, cải thiện nguồn tài nguyên đất nước và rừng; chống lắng đọng các lòng hồ, đặc biệt là hồ thuỷ điện; giảm lũ lụt ở miền xuôi; giảm
ô nhiễm hoá học ở các vùng lân cận; giảm lượng khí cacbonic thải vào không khí do đốt phá rừng, tàn dư thực vật; giảm ngu cầu sử dụng phân vô cơ, cũng
có nghĩa là giảm ô nhiễm nguồn nước, tiết kiệm năng lượng và giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính khi sản xuất ra chúng
Bảng 2.5: Hiệu quả của vật liệu che phủ đến năng suất ngô
Công thức Năng suất (tấn/ha/vụ) Tăng (%) Ghi chú
Trang 22Nhìn chung, sử dụng một số vật liệu che phủ đất mang lại nhiều lợi ích
và đáp ứng được hầu hết các yêu cầu về sự bền vững trong canh tác đất dốc, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân miền núi và bảo vệ môi trường
Đối với đất dốc, nếu chúng ta làm đất càng kỹ mà không che phủ thì xói mòn sẽ sảy ra rất mạnh và nhanh Nếu canh tác bằng cách làm đất tối thiểu kết hợp sử dụng một số vật liệu che phủ thì lượng đất mất giảm đáng kể
Bảng 2.6: Hiệu quả của vật liệu che phủ đến dòng chảy bề mặt
và lượng đất bị xói mòn Lượng vật liệu
phủ (tấn/ha)
Dòng chảy bề mặt (%)
657 kg/ha so với không che phủ [7]
Bên cạnh biện pháp che phủ bằng xác thực vật thì trồng xen cũng tạo ra một lớp phủ sống, có nhiều tác dụng cụ thể như sau: hạn chế xói mòn đất, cung cấp dinh dưỡng cho đất thông qua hệ vi sinh vật cố định đạm ở bộ rễ, hạn chế sâu bệnh, khai thác dinh dưỡng trong đất, ánh sáng một cách hiệu quả hơn
2.4.2.Ưu và nhược điểm của một số loại vật liệu che phủ, cây trồng xen
Vật liệu che phủ là nhân tố tích cực góp phần làm tăng năng suất của cây ngô Hiện nay, người nông dân có thể sử dụng nhiều loại vật liệu sẵn có của địa
Trang 23phương như rơm rạ, thân cây ngô, cỏ dại, cỏ lào để làm vật liệu che phủ Tuỳ thuộc vào đặc tính của mỗi loại vật liệu che phủ mà có cách sử dụng cho phù hợp với điều kiện của mỗi hộ gia đình Nhìn chung khi che phủ có rất nhiều ưu điểm mà chúng ta có thể nhận thấy ngay đó là duy trì độ ẩm, chống xói mòn, cung cấp mùn và chất hữu cơ cho đất, làm xốp đất, tuy nhiên che phủ cũng có những hạn chế nhất định tùy thuộc vào từng loại vật liệu khác nhau
Bảng 2.6: Ưu điểm và nhược điểm của một số loại vật liệu che phủ cho
- Hệ thống đơn giản, dễ dàng thấy được tác dụng của các vật liệu che phủ (xói mòn, cỏ dại, hoạt động của vi sinh vật)
- Bổ sung lượng mùn cho đất lớn
- Khả năng sẵn có của rơm
rạ, thân lá ngô, cỏ tranh
- Cải tạo cấu trúc đất kém
Cỏ lào, đậu
mèo
- Có thể sử dụng rộng rãi trong nhiều điều kiện khác nhau
- Khả năng sẵn có của địa phương
- Lượng dinh dưỡng cho đất nhiều
- Kiểm soát cỏ dại
- Tốc độ phân huỷ nhanh
- Khó phủ đất đối với những cây già
- Cải tạo cấu trúc đấy trung bình
Nguồn: Dự án “Hệ thống nông nghiệp miền núi”, Bắc Kạn 2002 [7]
Trang 24Tương tự như đối với sử dụng vật liệu che phủ, trồng xen cũng là biện pháp được sử dụng khá phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam Đối với nhiều vùng canh tác nông nghiệp thì việc trồng xen cây trồng là biện pháp đơn giản
và được áp dụng rộng rãi, tuy nhiên đối với khu vực miền núi nơi có thói quen canh tác lạc hậu, việc trồng xen thường ít áp dụng Nguyên nhân việc trồng xen chưa được áp dụng rộng rãi ở khu vực miền núi là do việc trồng xen vẫn có nhiều nhược điểm, hạn chế Để đưa kỹ thuật trồng xen canh cây trồng đặc biệt là kỹ thuật trồng xen với ngô trên đất dốc thì cần khác phục được những hạn chế và phát huy những ưu điểm sau:
Bảng 2.7: Ưu, nhược điểm của một số loại cây trồng
xen với ngô trên đất dốc Tên cây
- Tăng thêm sản phẩm thu hoạch
- Phải làm cỏ bằng tay, do phun thuốc trừ cỏ cho ngô làm chết cây trồng xen
- Đậu leo lên cây ngô làm cây
bị gãy Khó khăn khi đi lại thu hoạch
Cỏ voi, cỏ
xả
- Hạn chế xói mòn
- Cung cấp thức ăn chăn nuôi
- Cạnh tranh ánh sáng với ngô, làm giảm diện tích trồng ngô
2.5 Tình hình sử dụng vật liệu che phủ và trồng xen với ngô trên đất dốc
ở một số nước trên thế giới
Tai hội nghị Quốc tế về Nông nghiệp bảo tồn lần thứ 2 ở Brazil năm
2003, các nhà nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp trên đất dốc cho thấy việc sử dụng vật liệu che phủ cho ngô đã có những bước tiến đáng kể Diện
Trang 25tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô toàn thế giới là 42,089 triệu ha [7]
Bảng 2.8: Diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên thế giới Nước Diện tích (triệu ha) % so với tổng diện tích trồng trọt
Nguồn: Hội nghị Quốc tế về Nông nghiệp bảo tồn lần 2, Iquasu, Brazil 2003 [7]
Ở các nước phát triển, nơi mà hiện nay chiếm 88% diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên thế giới Hiện nay, diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô ở các nước phát triển càng có xu hướng tăng lên do nhu cầu sử dụng ngô làm thức ăn cho gia súc và xuất khẩu Mỹ là nước đứng đầu về diện tích với 17 triệu ha, sau đó đến các nước như Brazil (13,499 triệu ha), Canada (6,5 triệu ha), Achentina (4,4 triệu ha) [7]
Ở một số khu vực đang phát triển khác, đặc biệt là châu Á và châu Phi tuy việc sử dụng vật liệu che phủ trong sản xuất ngô chậm hơn so với các nước phát triển song diện tích sử dụng vật liệu che phủ đã có những bước tiến đáng kể (diện tích chiếm 12% so với diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên thế giới) Nguyên nhân do việc sử dụng vật liệu che phủ cho sản xuất ngô là một biện pháp đơn giản và ít tốn kém Thêm vào đó, do năng suất và sản lượng ngô tăng lên do sử dụng vật liệu che phủ nên đã kích thích người nông dân mở rộng diện tích gieo trồng Ngoài ra, sự gia tăng dân số ở nước châu Phi và cũng như một số nước châu Á đã thúc đẩy việc gia tăng diện tích sử dụng vật liệu che phru cho sản xuất ngô để đảm bảo nhu cầu về lượng thực
Trang 26Cho đến nay, do thấy được hiệu quả vè kinh tế, xã hội và môi trường nên đã có rất nhiều quốc gia trên thế giới đưa kỹ thuật này áp dụng vào trong sản xuất nông nghiệp
Brazil: Sau 23 năm áp dụng phương pháp sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên đất dốc cho thấy: diện tích trồng ngô ở Brazil có sử dụng vật liệu che phủ ngày càng được mở rộng dẫn đến sản lượng ngô đã tăng nhanh, năm
1980 là 2.372.000 triệu tấn, năm 1992 là 30.506.000 triệu tấn và đến năm
2003 tăng lên 47.809.000 triệu tấn, trong khi diện tích canh tác ngô tăng giảm qua các năm từ 10.706.000 ha đến 13.499.000 ha
Madagaxca: Sử dụng vật liệu che phủ cho ngô bắt đầu được thử nghiệm
từ năm 1991 với diện tích 200 ha Diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô không ngừng tăng lên và đến năm 2004 diện tích đã đạt 200 nghìn ha Bình quân năng suất đạt 3,2 tấn/ha với sản lượng tương ứng là 640 nghìn tấn
Mêxico: Diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô là 490.000 ha với năng suất bình quân đạt 3,4 tấn/ha, sản lượng 1.666.000 tấn Cho đến nay sử dụng vật liệu che phủ cho ngô đã được áp dụng tại hầu hết các vùng của Mêxico
Hiện nay có rất nhiều nước thuộc vùng Đông Nam Á sử dụng vật liệu che phủ cho sản xuất ngô trên đất dốc như: Indonesia, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam
Nông nghiệp truyền thống qua nhiều thế kỷ người nông dân đã biết đến trồng xen với nhiều hình thức khác nhau Họ trồng xen nhiều loại cây trồng
để tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của gia đình Nông nghiệp hiện đại đã chuyển dần sản xuất tự cấp tự túc sang nền nông nghiệp hàng hoá
và điều này đã có xu hướng làm cho sản xuất độc canh tăng lên Vì muốn tạo
ra sản phẩm hàng hoá thì cần sản xuất trên quy mô lớn, áp dụng thâm canh Tuy nhiên, không phải hộ nông dân nào, hoặc vùng nào cũng có thể sản xuất trên quy mô lớn Những người nông dân sản xuất nhỏ chỉ quan tâm trồng
Trang 27đủ lương thực để duy trì cuộc sống gia đình, và họ nhận ra rằng xen canh là một cách để bảo đảm sinh kế của họ
Tại nhiều nước trên thế giới áp dụng trồng xen với nhiều hình thức khác nhau Ở Châu Phi trồng xen ngô với đậu đũa, đậu pigeon, đậu, cây lục lạc gai dầu, và lạc Các thử nghiệm được tiến hành ở nhiều trang trại sản xuất nhỏ ở Zimbabwe, Malawi, Đông Zambia, và phía bắc Mozambique Kết quả chỉ ra rằng trồng xen đậu pigeon với ngô ở mật độ 2 m2/cây là tốt nhất, với mật độ này thì đậu sẽ cung cấp tốt nhất ni tơ cho đất và không gây ra cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng với ngô [28]
Ở vùng Đông Phi người dân trồng xen ngô và mè (vừng), ngô và đậu, ngô và khoai lang, ngô và đậu đũa Ngô thường được gieo với khoảng cách 75
x 30 cm và gieo vào đầu mùa mưa, các loại cây trồng xen có thể trồng cùng thời điểm với ngô hoặc sau ngô 2 tuần Với hình thức này năng suất ngô tăng lên rõ rệt, tuy nhiên năng suất của cây trồng xen thì giảm hơn so với trồng thuần [29]
Ngoài ra, theo Giáo sư Nishimura - Cố vấn trưởng Dự án JICA tại trường Đại học Tây Bắc thì ở Inđônêxia có trồng xen ngô với cây Củ mài (Hoài sơn) Tuy nhiên cây củ mài là loại cây thân leo, trong quá trình sinh trưởng leo lên thân cây ngô làm đổ, gãy cây ngô và gây khó khăn cho khâu thu hoạch
Nhìn chung, trồng xen và che phủ cho ngô trên đất dốc được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng, kết quả cho thấy hiệu quả rõ rệt của việc trồng xen và che phủ đến năng suất ngô, hiệu quả kinh tế và chống xói mòn, bảo vệ đất Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế nhất định trong khâu kỹ thuật như khó chăm sóc, khó thu hoạch, một số đối tượng cây trồng xen chỉ phù hợp với 1 vùng sinh thái nhất định Vì vậy khi áp dụng vào Việt Nam cũng cần có thêm các nghiên cứu tại từng vùng sinh thái, từng địa phương để có đánh giá chính xác hiệu quả cũng như đưa ra được khuyến cáo cho người dân áp dụng
Trang 282.6 Tình hình sử dụng vật liệu che phủ và trồng xen với ngô trên đất dốc
ở Việt Nam
Có thể thấy rằng tuy còn nhiều hạn chế, nhất là những khó khăn về đời sống, sự thiếu thông tin về khoa học kỹ thuật, nhưng đồng bào các dân tộc miền núi luôn nhanh nhậy trong vấn đề áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới Chỉ xét riêng lĩnh vực sản xuất ngô thì việc sử dụng vật liệu che phủ cho ngô đã có những thay đổi đáng kể trên cả phương diện về quy mô và sản lượng
Sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc được dự án “ Hệ thống nông nghiệp miền núi” của CIRAD kết hợp với Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam áp dụng vào sản xuất ngô ở nước ta từ năm 1999, cho đến nay đã có rất nhiều hộ nông dân ở các vùng, các địa phương khác nhau đã áp dụng Do đó diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên đất dốc ngày càng được mở rộng, đặc biệt là ở các vùng Tây Bắc và Tây Nguyên
Hiện nay, diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên đất dốc ở Việt Nam vào khoảng 1000 ha Trong đó Sơn La là tỉnh có diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho sản xuất ngô là lớn nhất: 280 ha, Điện Biên 230 ha, Đắc Lắc
80 ha Sử dụng vật liệu che phủ cho sản xuất ngô đã mang lại năng suất cao
và thực sự đóng góp vào an ninh lương thực ở vùng cao, giúp nhiều hộ gia đình có thể xoá đói giảm nghèo
Điểm nổi bật nhất, gây ấn tượng nhất không chỉ với người trồng ngô
mà với nhiều nhà khoa học, các nhà quản lý đó là năng suất ngô khi sử dụng vật liệu che phủ Trong những năm qua sử dụng vật liệu che phủ cho ngô năng suất bình quân cao hơn so với không che phủ từ 1,5 – 2 lần Bình quân năng suất đạt 3 – 5 tấn/ha, năm 2006 nhiều hộ gia đình đạt năng suất 6 – 7 tấn/ha (huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La, huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu) [7], đến năm, 2011 năng suất ngô đạt 7 – 8 tấn/ha (huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La) Như vậy sử dụng vật liệu che phủ cho ngô năng suất cao và ổn định hơn so với phương pháp canh tác truyền thống không che phủ
Trang 29Hiện nay, bên cạnh việc sử dụng vật liệu che phủ cho ngô thì việc trồng xen với ngô cũng đã được người dân ở một số địa phương áp dụng
Tại huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La: người dân đã biết trồng xen bí đỏ, đậu nho nhe với ngô để tận dụng đất đai thu thêm sản phẩm phụ từ cây trồng xen Tuy nhiên việc trồng xen vẫn theo cách truyền thống đó là trộn lẫn hạt bí
đỏ, hạt đậu nho nhe với ngô sau đó gieo cùng với ngô, vì vậy mà mật độ của cây trồng xen không đều, phân tán nên khó chăm sóc, công tác bảo vệ thực vật khó khăn
Tại một số vùng của đồng bảo người dân tộc H’Mông như xã Co Ma huyện Thuận Châu; huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La; khu vực Đèo Pha Đin tiếp giáp 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên bà con đã biết trồng xen cây dưa mèo (một loại dưa chuột bản địa) với ngô
Một số khu vực khác như huyện Sông Mã tỉnh Sơn La bà con đã biết trồng xen cây củ đậu với ngô, sau khi thu hoạch ngô, cây củ đậu sẽ leo lên thân cây ngô và tiếp tục sinh trưởng đến khi thu hoạch
Ngoài những cách trồng xen ngô trên đất dốc theo phương thức truyền thống của bà con dân tộc thì cũng có một số dự án nghiên cứu về trồng xen triển khai ở một số tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc như dự án “Cải thiện hệ thống sản xuất và liên kết thị trường nông sản vùng cao Tây Bắc, Việt Nam – AGB/2008/002” triển khai tại 2 tỉnh Lai Châu và Sơn La, dự án này tập chung đánh giá ảnh hưởng của các loại cây họ đậu trồng xen với ngô đến hiệu quả kinh tế và bảo tồn đất; Chương trình vùng cao “The upland program” triển khai tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La cũng đã có 1 hợp phần nhỏ nghiên cứu
về trồng xen với ngô trên đất dốc với mục tiêu chống xói mòn, bảo vệ đất
Như vậy, ở Việt Nam việc trồng xen với ngô trên đất dốc đã được tiến hành ở một số địa phương, nhưng chủ yếu theo phương thức truyền thống nên hiệu quả chưa cao Một số dự án nghiên cứu đã thử nghiệm nhiều mô hình trồng xen với ngô đạt kết quả tốt, tuy nhiên cũng chưa áp dụng ra thực tế do
Trang 30còn nhiều lý do khách quan liên quan đến tập quán canh tác và thói quen sản xuất của người dân địa phương Vì vậy, trong khuân khổ đề tài này chúng tôi
hi vọng sẽ góp phần lựa chọn thêm 1 số đối tượng cây trồng xen phù hợp vừa
có tác dụng bảo vệ đất vừa nâng cao hiệu quả kinh tế để khuyến cáo người dân áp dụng
2.7 Những công trình nghiên cứu, dự án nghiên cứu sử dụng vật liệu che phủ và trồng xen với ngô trên đất dốc ở Việt Nam
Dự án “Hệ thống nông nghiệp miền núi” ở Chợ Đồn - Bắc Kạn do Trung tâm Hợp tác quốc tế nghiên cứu nông nghiệp phục vụ phát triển (CIRAD) tài trợ, đối tác là Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam )VASI) Dự án đi sâu vào nghiên cứu hiệu quả của các hệ thống canh tác khác nhau như che phủ bằng lớp phủ khô (các loại cỏ), lớp phủ sống (cây lạc dại, đậu mèo) và om đất Kết quả cho thấy che phủ bằng đậu mèo cho năng suất ngô cao nhất, trung bình 4,5 tấn/ha so với không che phủ là 3,12 tấn/ha
Dự án “Hệ thống nông nghiệp miền núi” ở Văn Chấn – Yên Bái do CIRAD và IRRI tài trợ, đối tác là Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp miền núi phía Bắc (NOMARC/VASI) Dự án đi sâu vào nghiên cứu hiệu quả của các loại vật liệu che phủ khác nhau ở những mức độ phủ khác nhau Kết quả cho thấy mỗi loại vật liệu che phủ khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau: che phủ bằng cây cỏ lào và đậu mèo sẽ cho năng suất cao hơn so với các loại vật liệu che phủ khác Mặt khác, ở những độ che phủ khác nhau cũng cho năng suất khác nhau: với mức phủ từ 5 – 7 tấn vật liệu che phủ trên 1 ha sẽ cho năng suất cao nhất Nếu lượng vật liệu che phủ ít hơn hoặc cao hơn đều làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng
Dự án phát triển nông thôn Sơn La – Lai Châu do cộng đồng chung Châu Âu tài trợ, đối tác là Sở Nông nghiệp các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu Dự án đã đưa ra các hệ thống canh tác sử dụng lớp vật liệu che phủ cho ngô như phủ bằng rơm rạ, phủ sống bằng cây đậu mèo, cây lạc dại và che phủ
Trang 31ở các độ dốc khác nhau Kết quả cho thấy sử dụng các loại vật liệu che phủ cho năng suất ngô cao và ổn định, chống xói mòn, giữ độ ẩm cho đất Do vậy
đã được người dân tiếp nhận với diện tích ngày càng mở rộng
Chương trình: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cây trồng bền vững trên đất dốc” do Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (NOMAFSI) thực hiện tại các tỉnh Tây Nguyên Chương trình nghiên cứu đưa
ra các hệ thống cây trồng có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc như cây cao
su, cà phê, ngô Kết quả cho thấy sử dụng vật liệu che phủ cho các loại cây này đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với không che phủ [7]
Chương trình vùng cao “The upland program” được thực hiện từ năm
2000 đến 2012 tại huyện Yên Châu tỉnh Sơn La, phối hợp giữa Trường Đại học Hohenhem của Đức với Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Một trong các hợp phần của dự án là nghiên cứu các biện pháp chống xói mòn trên đất dốc Trong đó, các thử nghiệm về trồng xen và che phủ cho ngô như: che phủ bằng xác thực vật, trồng xen lạc dại, trồng xen băng cỏ, trồng xen đậu nho nhe Kết quả cho thấy việc trồng xen với lạc dại, đậu nho nhe, che phủ làm tăng năng suất ngô Trồng xen băng cỏ năng suất ngô thấp hơn nhưng lại thu được một lượng sinh khối cỏ rất lớn làm thức ăn cho chăn nuôi trâu bò và cá
Dự án “Cải thiện hệ thống canh tác và liên kết thị trường nông sản vùng cao Tây Bắc – AGB2008/002” được thực hiện từ năm 2010 đến 2012 tại 2 tỉnh Sơn La và Lai Châu với sự tài trợ của tổ chức ACIAR Một trong các nội dung của dự án đó là thử nghiệm các biện pháp canh tác ngô trên đất dốc như che phủ bằng xác thực vật, trồng xen đậu nho nhe, trồng xen lạc, trồng xen đậu tương, trồng xen lạc dại Sau 3 năm thử nghiệm cho thấy các thí nghiệm trồng xen và che phủ đều cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn đối chứng
2.8 Điều kiện tự nhiên tỉnh Sơn La
Sơn La là một tỉnh miền núi cao thuộc phía Tây Bắc Việt Nam có tọa
độ địa lý 20039’ vĩ độ Bắc và 105011’÷ 103002’ kinh độ Đông, giáp các tỉnh
Trang 32Yên Bái, Lào Cai về phía Bắc, Phú Thọ, Hòa Bình về phía Đông, Lai Châu, Điện Biên về phía Tây, tỉnh Thanh Hóa về phía Nam, và có 250 km đường biên giới chung với nước CHDCND Lào Thị xã Sơn La cách thủ đô Hà Nội
300 km
Sơn La có diện tích tự nhiên là 14.055 km2, chiếm 4,27% tổng diện tích
cả nước và đứng thứ 5 về diện tích trong số 64 tỉnh, thành phố cả nước
Với vị trí địa lý như vậy, Sơn La có một vị trí quan trọng cả về kinh tế,
xã hội, an ninh và quốc phòng Cùng với Hòa Bình, Điện Biên và Lai Châu, Sơn La còn được coi là mái nhà xanh của đồng bằng Bắc Bộ
Về khí hậu: Khí hậu Sơn La đặc trưng cận ôn đới, chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa, mùa mưa bắt đầu từ khoảng cuối tháng 4 đến hết tháng 10 dương lịch, mùa khô bắt đầu từ cuối tháng 10 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,40
C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất
270 C, trung bình thấp nhất 160 C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1200 -
1600 mm Độ ẩm không khí trung bình là 81% Số ngày có gió tây khô nóng tăng lên: ở thị xã Sơn La là 4,3 ngày/năm và ở Yên Châu là 37,2 ngày/năm Tuy nhiên, cao nguyên Mộc Châu và Nà Sản lại có khí hậu mát mẻ trong lành, thuận lợi cho cả nông nghiệp và du lịch Nhìn chung, Sơn La là tỉnh khá khô hạn
Về thổ nhưỡng: Phấn lớn đất đai của tỉnh phát triển trên đá vôi, một số
ít phát triển trên đá sa thạch và phiến thạch Đặc điểm chung của thổ nhưỡng
đó là: Tầng đất khá dày, thấm nước tốt, tỉ lệ đạm và lân trong đất tương đối cao Các loại đất chính của Sơn La là: Đất đỏ vàng phát triển trên các loại đá
mẹ khác nhau, đất mùn phát triển ở các vùng núi phía Nam, Ngoài ra còn có đất phù sa ven sông Mã, sông Đà Nhìn chung đất Sơn La thuộc loại trung bình đến nặng, độ pH biến động: 5-6,5 Như vậy có thể thấy việc phát triển sản xuất ngô ở Sơn La là khá phù hợp [8]
Trang 333: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giống Ngô LVN145 (AG59), giống Lạc đỏ địa phương, giống Đậu tương Đ8
- Đây là những giống đang được trồng phổ biến tại địa phương
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Bản Piềng Sàng, xã Phiêng Luông, huyện Mộc Châu, Tỉnh Sơn La
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6/2012 đến tháng 10/2012
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và sâu bệnh hại của cây ngô trên các công thức
- Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển và năng suất của các cây trồng xen với ngô
- Ảnh hưởng của các biện pháp canh tác đến dinh dưỡng và mức độ xói mòn đất
- Hoạch toán hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nội dung công thức
Thí nghiệm được bố trí ở hai địa điểm trồng có độ dốc khác nhau: trên đất bằng và ở độ dốc 25o
Các công thức thí nghiệm gồm:
- Công thức 1: Ngô trồng thuần, không che phủ (đối chứng)
- Công thức 2: Ngô trồng thuần, che phủ
- Công thức 3: Trồng xen Lạc với Ngô, không che phủ
- Công thức 4: Trồng xen Lạc với Ngô, che phủ
- Công thức 5: Trồng xen Đậu Tương với Ngô, không che phủ
- Công thức 6: Trồng xen Đậu Tương với Ngô, che phủ
Trang 34Thí nghiệm thiết kế theo kiểu RCB với 6 công thức và 3 lần nhắc lại (mỗi công thức đƣợc coi nhƣ một biện pháp canh tác) Diện tích 1 ô thí nghiệm là 20 m2
(10 x 2 m), tổng diện tích khu thí nghiệm là 400 m2
3.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
3.3.2.1 Các chỉ tiêu về cây ngô (Theo QCVN 01-56 : 2011/BNNPTNT)
1 Quá trình sinh trưởng và phát triển
Trang 35+) Thời gian sinh trưởng được tính từ khi gieo đến khi thu hoạch (thu hoạch khi chân hạt có chấm đen hoặc 75 % số cây có lá bi khô)
+) Thời gian 1 giai đoạn sinh trưởng được tính từ khi 75% số cây của ô thí nghiệm kết thúc giai đoạn sinh trưởng trước đó cho đến khi 75% số cây của ô thí nghiệm chuyển sang giai đoạn sinh trưởng tiếp theo Theo dõi toàn
bộ số cây của ô thí nghiệm
* Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm/ tuần)
Cây theo dõi được xác định khi ngô có 5 – 6 lá thật Mỗi lần nhắc theo dõi 10 cây, lấy cố định 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô thí nghiệm
Phương pháp: Đo từ điểm sát mặt đất đến đốt phân nhánh cờ đầu tiên trên các cây theo dõi Mỗi lần nhắc theo dõi 10 cây, theo dõi cho đến khi cây ngừng sinh trưởng sinh dưỡng, 7 ngày theo dõi một lần
* Chỉ số diện tích lá
Tổng diện tích lá 1cây
LAI = - (m2lá/m2đất) Diện tích đất
Trong đó: Diện tích lá tính theo công thức:
S = Chiều dài x Chiều rộng x 0,72 (cm2
)
Hệ số 0,72 được tính sẵn cho cây họ hoà thảo
Phương pháp: Đo tổng diện tích lá của các cây được chọn vào thời điểm kết thúc 1 giai đoạn sinh trưởng (cây con, trỗ cờ, chín)
Trang 36* Độ che kín bắp của lá bi
Phương pháp: Theo dõi bắp của 10 cây ở 2 hàng giữa ô thí nghiệm (theo dõi trên 10 cây đo chiều cao) khi thu hoạch, quan sát và đánh giá theo thang điểm sau: 1- Rất kín: Lá bi kín đầu bắp và vượt khỏi bắp; 2- Kín: Lá bi bao kín đầu bắp; 3- Hơi hở: Lá bi bao không chặt đầu bắp; 3- Hở: Lá bi không che kín bắp để hở đầu bắp; 4- Rất hở: Bao bắp rất kém đầu bắp hở nhiều
* Trạng thái cây
Phương pháp: Quan sát đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, độ đồng đều về chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, kích thước bắp, sâu bệnh, chống đổ của 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô Cho điểm và đánh giá theo thang sau: 1- Tốt; 2- Khá; 3- Trung bình; 4- Kém; 5- Rất kém
2 Các yếu tố cấu thành năng suất
Trang 37Phương pháp: Đo ở giữa bắp của 30 cây mẫu Chỉ đo bắp thứ nhất của cây mẫu Đo phần giữa bắp
* Tỷ lệ khối lượng hạt/ khối lượng bắp (%)
Phương pháp: Cân khối lượng hạt khô của 30 cây theo dõi rồi tính theo công thức:
Khối lượng hạt khô
Tỷ lệ khối lượng hạt/ khối lượng bắp(%) = - x 100 Khối lượng bắp tươi
3 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính
* Sâu đục thân, đục bắp
Phương pháp theo dõi: Đánh giá toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa của ô trên 3 lần lặp lại, đánh giá cho điểm theo thang điểm sau: 1- < 5% số cây, bắp
bị sâu; 2- 5-<15% số cây, bắp bị sâu; 3- 15-<25% số cây, bắp bị sâu; 4-
25-<35% số cây, bắp bị sâu; 5- 35-<50% số cây, bắp bị sâu
* Rệp cờ: Đánh giá toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa của ô trên 3 lần lặp lại
và cho điểm theo thang: 1- Không có rệp; 2- Rất nhẹ: có từ một đến một quần
tụ rệp trên lá, cờ; 3- Nhẹ: xuất hiện một vài quần tụ rệp trên lá, cờ; 4- Trung bình: số lượng rệp lớn, không thể nhận ra các quần tụ rệp; 5- Nặng: số lượng rệp
Trang 38lớn, đông đặc, lá và cờ kín rệp
* Bệnh đốm lá lớn, bệnh đốm lá nhỏ, bệnh vàng lá, bệnh phấn đen
Phương pháp theo dõi: Tính tỷ lệ diện tích lá bị bệnh Đánh giá toàn bộ
số cây ở 2 hàng giữa của ô trên 3 lần lặp lại và cho điểm theo thang: 0- Không bị bệnh; 1- Rất nhẹ (1-10%); 2- Nhiễm nhẹ (11-25%); 3- Nhiễm vừa (26- 50%); 4- Nhiễm nặng (51-75%); 5- Nhiễm rất nặng >75%)
* Bệnh khô vằn
Phương pháp theo dõi:
Tỷ lệ cây bị bệnh (%) = (Số cây bị bệnh/tổng số cây điều tra) x 100 Đánh giá toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa của ô ở 3 lần lặp lại
* Bệnh thối bắp
Phương pháp theo dõi: Đánh giá toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa của ô ở 3 lần lặp lại và cho điểm theo thang sau: 1- không có bắp bị thối; 2 - Từ 10 - 20% số bắp bị thối; 3 - Từ 20 - 30% số bắp bị thối; 4 - Từ 30-40% số bắp bị thối; 5 - Lớn hơn 40% số bắp bị thối
3.3.3.4 Khả năng chống đổ
Phương pháp theo dõi: Theo dõi số cây bị đổ sau các đợt gió to và trước khi thu hoạch Quan sát và đánh giá toàn bộ cây ở 2 hàng giữa trên ô, đánh giá như sau:
* Đổ thân: Cây bị gãy ở đoạn thân phía dưới bắp sau các đợt gió to,
hạn, rét và cho điểm theo thang sau: 1- Tốt: <5 % cây gẫy; 2- Khá: 5-15% cây gẫy; 3- TB: 15-30% cây gẫy; 4- Kém: 30-50% cây gẫy; 5- Rất kém:
Tổng số cây theo dõi
5 Năng suất hạt và hiệu quả kinh tế của các công thức
* Năng suất lí thuyết (tấn/ha):
Trang 39(100 – A0)/(100 – 14): Hệ số quy đổi năng suất ở độ ẩm 14%
* Hiệu quả kinh tế (RAVC)
Phương pháp: Tính theo công thức: RAVC= GR - TVC
Trong đó: GR: Tổng thu = Năng suất thực thu x giá bán
TVC: Tổng chi phí = Công lao động + Vật tư + Giống
3.3.2.2.Phương pháp và các chỉ tiêu về xói mòn đất
* Các thiết bị cần dùng trong thí nghiệm gồm:
- Cọc sắt, thước nhôm, thước mét, sơn đánh dấu, búa gỗ
* Cách thiết kế trạm đo xói mòn:
Cọc sắt dài khoảng 60cm, sơn đỏ một đầu, cọc được đóng xuống đất tại các điểm cố định, chiều cao từ 8 – 12cm, ở 10cm là tốt nhất Trong một ô thí nghiệm thiết kế 1 trạm đo xói mòn (do diện tích ô nhỏ)
- Bước 1: Trên mặt ruộng tại nơi đặt trạm đo sói mòn, chọn 1 điểm bất
kỳ, đóng cọc sắt số 1, cao 10 cm làm cọc tiêu
- Bước 2: Từ điểm số 1, lấy thước xác định độ dốc, sử dụng thước xác định cân bằng
- Bước 3: Đóng cọc sắt làm mốc thứ 2, ở phía dưới cọc số 1, cách 70cm
- Bước 4: Xác định 2 điểm còn lại
Trang 40- Chú ý tạo hình chữ nhật cạnh 1,0m x 0,7m, các cọc đóng cao 10 cm ý
và cố định
Trạm đo xói mòn sau khi đã thiết kế xong
*Cách lấy số liệu:
- Đo các số liệu theo thứ tự từ 1 đến 4, bên trái trước và sau đó là bên phải
- Đặt thước đo vào các điểm xác định trên thước nhôm để đo
- Trong quá trình đo và sau đó không làm lún đất trong ô thí nghiệm, độ chính sác đến mm, sau khi hoàn tất thì phun sơn vào đầu cọc và đất cho dễ nhận ra khi đo tiếp theo
- Cắm cờ đánh dấu và chúng ta có trạm đo sói mòn
- Thu số liệu tại các trạm đo xói mòn 2 tuần/lần
- Lấy mẫu đất để phân tích: Lấy mẫu đất 2 lần trước khi trồng ngô và sau khi thu hoạch ở vị trí cạnh trạm xói mòn 10 – 15 cm, lấy ở độ sâu 10 cm, phân tích hàm lượng đạm tổng số, lân tổng số, kali tổng số
3.3.2.3 Các chỉ tiêu đối với cây trồng xen
* Cây đậu tương: (Theo QCVN 01-58 : 2011/BNNPTNT)
- Thời gian sinh trưởng:
Phương pháp: Tính từ khi gieo đến khi quả và hạt chín Thời gian này