1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiềm năng – Thực trạng và những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái.

61 595 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiềm năng – Thực trạng và Những Giải pháp Phát triển Du lịch Tỉnh Yên Bái
Tác giả Phạm Thị Phương
Người hướng dẫn Trần Thị Thanh Hà, TS. Đỗ Thúy Mùi
Trường học Trường Đại học Tây Bắc
Chuyên ngành Địa lý Kinh tế - Xã hội
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Sơn La
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1 2. Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn nghiên cứu .............................................................. 1 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................. 2 4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu ............................................................... 5 5. Những đóng góp của khóa luận ........................................................................... 7 6. Cấu trúc khóa luận.......................................................................................... 7 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .............................................. 7 1.1. Cơ sở lí luận ...................................................................................................... 8 1.1.1. Khái niệm về du lịch ....................................................................................... 8 1.1.2. Khái niệm về tài nguyên du lịch .................................................................... 10 1.1.3. Vai trò của du lịch ......................................................................................... 12 1.2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................ 15 1.2.1. Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam ....................................................... 15 1.2.2. Tình hình phát triển du lịch ở Yên Bái .......................................................... 17 CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH YÊN BÁI ....... 18 2.1. Vị trí địa lý ...................................................................................................... 18 2.2. Tài nguyên du lịch .......................................................................................... 18 2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên ........................................................................... 18 2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn ......................................................................... 25 2.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch .......................... 33 2.4. Đánh giá chung ............................................................................................... 35 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH YÊN BÁI ......................................................................................... 37 3.1. Thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh Yên Bái .......................................... 37 3.1.1. Khách du lịch ................................................................................................ 37 3.1.2. Doanh thu du lịch .......................................................................................... 38 3.1.3. Lao động trong ngành du lịch ....................................................................... 40 3.1.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật .................................................................................. 42 3.1.5. §¸nh gi¸ chung ............................................................................................. 43 3.2. Mục tiêu và các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái ......................... 44 3.2.1. Mục tiêu phát triển du lịch Yên Bái .............................................................. 44 3.2.2. Một số giải pháp để phát triển ngành du lịch tỉnh Yên Bái ........................... 44 KẾT LUẬN............................................................................................................ 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 50

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

PHẠM THỊ PHƯƠNG

TIỀM NĂNG - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH YÊN BÁI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

PHẠM THỊ PHƯƠNG

TIỀM NĂNG - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Địa lí Kinh tế - Xã hội

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: Trần Thị Thanh Hà

Sơn La, năm 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Sử - Địa Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn phòng thư viện trường Đại học Tây Bắc truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn Sở Văn Hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái, Cục Thống kê tỉnh Yên Bái đã giúp đỡ tận tình, và tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô

giáo hướng dẫn Trần Thị Thanh Hà người trực tiếp hướng dẫn em nghiên cứu

và hoàn thiện đề tài này Em cũng xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Đỗ Thúy

Mùi cũng đã chỉ bảo và định hướng giúp đỡ em trong khi nghiên cứu

Trong quá trình hoàn thành khóa luận này không thể tránh được những thiếu xót, kính mong thầy, cô và các bạn sinh viên góp ý để khóa luận hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, ngày tháng 05 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Phương

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VHTTDL : Văn hóa Thể thao Du lịch CSVCKT : Cơ sở vật chất kỹ thuật

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn nghiên cứu 1

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5

5 Những đóng góp của khóa luận 7

6 Cấu trúc khóa luận 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 8

1.1.1 Khái niệm về du lịch 8

1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch 10

1.1.3 Vai trò của du lịch 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam 15

1.2.2 Tình hình phát triển du lịch ở Yên Bái 17

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH YÊN BÁI 18

2.1 Vị trí địa lý 18

2.2 Tài nguyên du lịch 18

2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 18

2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 25

2.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 33

2.4 Đánh giá chung 35

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH YÊN BÁI 37

3.1 Thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh Yên Bái 37

3.1.1 Khách du lịch 37

3.1.2 Doanh thu du lịch 38

Trang 6

3.1.3 Lao động trong ngành du lịch 40

3.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật 42

3.1.5 §¸nh gi¸ chung 43

3.2 Mục tiêu và các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái 44

3.2.1 Mục tiêu phát triển du lịch Yên Bái 44

3.2.2 Một số giải pháp để phát triển ngành du lịch tỉnh Yên Bái 44

KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

2.1 Diện tích, dân số và các đơn vị hành chính tỉnh Yên Bái 21 2.2 Các điểm du lịch cấp quốc gia tỉnh Yên Bái 26 3.1 Hiện trạng khách du lịch Yên Bái giai đoạn 2006 – 2010 33 3.2 Doanh thu theo nguồn khách Yên Bái giai đoạn 2006 – 2010 35 3.3 Dự báo khách du lịch đến tỉnh Yên Bái giai đoạn 2020 - 2025 35 3.4 Thống kê lao động trong ngành du lịch năm 2010 37 3.5 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ du lịch 39

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch được đánh giá là ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới, chiếm giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế Nghị quyết

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cũng nêu: “Liên kết chặt chẽ các ngành liên

quan đến hoạt động du lịch để đầu tư phát triển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” Với tinh thần

đó nghành du lịch nước ta đang có bước phát triển đáng kể Nếu như năm 2007 khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam đạt 3,6 triệu lượt người thì đến năm

2011, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt 6 triệu lượt người Thu nhập từ du lịch đạt khoảng 3 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2000, thu hút 1,4 triệu lao động Với nguồn thu nhập gia tăng nhanh và có ý nghĩa quan trọng về mặt xã hội như vậy nên việc phát triển ngành du lịch đã và đang được nhiều quốc gia đẩy mạnh nhằm mục đích đem lại hiệu quả kinh tế cao

Yên Bái một trong những địa bàn sinh sống của người Việt cổ với trên 30 dân tộc anh em cùng chung sống, là nơi có nền văn minh sông Hồng, sông Chảy,

là trung điểm giao lưu giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc của Tổ quốc, có nhiều lợi thế về giao thông đường sắt, đường bộ và đường thuỷ Nơi đây có nhiều di tích lịch sử cách mạng, hệ thống các đình, đền, chùa gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Bên cạnh đó, Yên Bái còn là nơi có khí hậu mát

mẻ, cảnh quan thiên nhiên, với danh thắng cấp Quốc gia Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, hồ Thác Bà, khu du lịch Suối Giàng… Những tiềm năng vốn có trên

là điều kiện thuận lợi để tỉnh Yên Bái có thể khai thác, phát triển nhiều loại hình

du lịch hấp dẫn Tuy nhiên, du lịch Yên Bái trong thời gian qua mới đang ở những bước khởi đầu, đóng góp vào kinh tế - xã hội còn khiêm tốn, quy mô, hiệu quả chưa tương xứng với tiềm năng Số khách đến Yên Bái còn ít, chủ yếu

là khách nội địa, doanh thu từ du lịch trên địa bàn của tỉnh chưa cao, tồn tại những hạn chế nhất định trong đầu tư, xúc tiến quảng bá nên du lịch Yên Bái mới chỉ dừng lại ở việc khai thác thế mạnh tự nhiên, hiệu quả kinh tế chưa cao

Với mong muốn giúp cho Yên Bái xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế một cách bền vững, đẩy mạnh phát triển du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, khai thác tốt tiềm năng du lịch từ đó tạo thêm việc làm cho nhiều người lao động, tăng nguồn thu ngân sách, tạo đà phát triển kinh

tế của tỉnh Vì vậy, nghiên cứu đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Yên Bái để có những giải pháp phát triển đúng đắn là việc làm thiết

Trang 9

thực Xuất phát từ những lí do trên, em đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài: Tiềm

năng – Thực trạng và những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái

2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch tỉnh Yên Bái,

đề tài đề xuất các giải pháp để phát triển du lịch của tỉnh Yên Bái nhằm khai thác những thế mạnh sẵn có, mang lại hiệu quả kinh tế cao

2.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục tiêu đưa ra, đề tài có nhiệm vụ sau:

- Kiểm kê và bước đầu đánh giá được tiềm năng du lịch tỉnh Yên Bái

- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tỉnh Yên Bái

- Đề xuất giải pháp để phát triển du lịch tỉnh Yên Bái

2.3 Giới hạn nghiên cứu đề tài

Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận về du lịch, đánh giá các tiềm năng – thực trạng và những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái

Về phương diện lãnh thổ: đề tài nghiên cứu không gian là lãnh thổ tỉnh Yên Bái với diện tích tự nhiên là 6.899,49 km2

Về thời gian: đề tài nghiên cứu, đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển

du lịch tỉnh Yên Bái từ năm 2006 – 2011 và đề xuất những giải pháp phát triển

Khi các luồng du lịch thế giới tăng lên đã đặt ra nhiệm vụ lập kế hoạch và quản lí điều hành các hoạt động du lịch Một hướng nghiên cứu mới được đặt ra

đó là xác định các nguồn lực và mức độ chuyên môn hóa du lịch của các vùng khác nhau và tiến hành phân vùng du lịch, hay nói cách khác đó là tối ưu hóa cơ cấu lãnh thổ của ngành du lịch Điển hình cho hướng nghiên cứu này là các công

Trang 10

trình của các tác giả I.V Dorin 1969 M Bưchơvarốp 1970 M.X Mirônencô

1972 Sprincôva 1972 Đin p 1973…

Ở Liên Xô có nhiều công trình nghiên cứu như công trình của I.I Pirozhihic (1985) đã phân tích hệ thống lãnh thổ du lịch, các vùng du lịch như là đối tượng cho quy hoạch và quản lý V.X.Perobrazaxnki, I.U Vedennhim (1971) đưa ra khái niệm về hệ thống nghỉ ngơi theo lãnh thổ Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu về các thể tổng hợp tự nhiên phục vụ cho giải trí (Mukhina, 1973), nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các địa điểm du lịch (Kadaxkia, 1972), (Sepfer, 1973) Các nhà địa lí cảnh quan học của trường Đại học Tổng hợp Matxcova như E.D Ximirnova, V.B Nhefedova… Ở Ba Lan có Kostoroviski (1970), Vacdanxka (1973) đã tiến hành đánh giá và lập bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Ngoài ra còn có các nhà địa lí Canada như Vônfơ (1966) và Hennayơ (1972) cũng tiến hành việc đánh giá sử dụng tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích giải trí

Trong những năm gần đây, khi lợi ích của nghành kinh tế du lịch càng rõ rệt

và những tác động của ngành này đối với những vấn đề có tính toàn cầu thì việc nghiên cứu du lịch gắn với việc phát triển vùng lại càng cần thiết Ở Pháp, Jean Prerre Jean – Lozoto (1990) nghiên cứu các tụ điểm du lịch và dòng du lịch, sau đó phân tích các kiểu dạng không gian du lịch Các nhà địa lí Anh, Mỹ gắn công việc nghiên cứu lãnh thổ du lịch với những dự án du lịch trên một miền hay một vùng

cụ thể

3.2 Ở Việt Nam

Trên con đường đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đã và đang đem lại nhiều lợi ích cho đất nước Do vậy, việc nghiên cứu địa lí du lịch nói chung, tìm hiểu đánh giá tiềm năng, hoạch định chiến lược phát triển du lịch đã được các nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sản xuất phát triển đã làm cho đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, các nhu cầu về hưởng thụ văn hoá, thể thao, du lịch cũng như nhu cầu tiếp nhận và cung cấp thông tin ngày càng tăng Xu hướng phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới là yếu tố tích cực tác động đến sự phát triển văn hoá, thể thao và du lịch của mỗi quốc gia và từng địa phương

So với nhiều ngành kinh tế khác, du lịch Việt Nam là một ngành còn non trẻ, ra đời từ những năm 60 của thế kỉ XX, nhưng chỉ thực sự chuyển biến mạnh

mẽ và trở thành một ngành kinh tế từ đầu thập niên 90 cả thế kỉ XX cho đến nay

Trang 11

Vì thế, những công trình nghiên cứu về du lịch cũng chủ yếu từ những năm 90 trở lại đây Đi đầu là một số nhà địa lí chuyên nghiệp hàng đầu của đất nước đã

có công trình nghiên cứu rất có giá trị Các nhà địa lí Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương… với các công trình

nghiên cứu đáng chú ý như: Cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng hệ thống

du lịch biển Việt Nam (đề tài cấp nhà nước, chủ nhiệm Vũ Tuấn Cảnh, 1993 –

1995), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010, (chủ

nhiệm Vũ Tuấn Cảnh, 1995), Một số luận án tiến sĩ địa lí về đề tài du lịch đã

được thực hiện, kết quả nghiên cứu đã được công bố, góp phần giải quyết một số vấn đề lí luận và thực tiễn để phát triển du lịch Việt Nam Đó là Đặng Duy lợi,

(1992) với đề tài: “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và TNTN huyện

Ba vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch”… Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch

tỉnh Sơn La – TS Đỗ Thúy Mùi …

Từ những năm đầu thế kỉ XXI, các nhà địa lí du lịch Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu sâu về chiến lược phát triển du lịch đất nước Đó là Phạm

Trung Lương (1999) với Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, NXB Giáo

dục, Hà Nội; Tổ chức lãnh thổ du lịch (Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, 2000),

Phạm Trung Lương (Chủ biên) (2002) với Du lịch sinh thái, những vấn đề lí luận

và thực tiễn phát triển ở Việt Nam NXB Giáo dục, Hà Nội ; Du lịch bền vững của

Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu, 2001; Tuyến điểm du lịch Việt Nam (Bùi Thị Hải Yến, 2005)…

Nhìn một cách tổng quan, các công trình nghiên cứu về du lịch cũng như các hoạt động thực tiễn du lịch không chỉ có tầm quan trọng trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước, mà còn là nguồn lực quan trọng giúp cho khoa học địa lí gắn mình với thực tiễn cuộc sống, tạo cơ hội thuận lợi cho sự phát triển và đổi mới của ngành địa lí học

3.3 Ở Yên Bái

Ở Yên Bái có một số công trình nghiên cứu như: Văn hóa Thái với hoạt

động du lịch ở Mường Lò (Nghĩa Lộ), Yên Bái, (Nguyễn Kim Lê, 2012); Khai thác Ruộng bậc thang khu vực Mù Cang Chải và vùng phụ cận cho phát triển du lịch, (Hoàng Mạnh Thắng, 2011); “Các địa danh ở Mường Lò, tỉnh Yên Bái liên quan đến lịch sử văn hoá của người Thái Đen”, (Hoàng Thị Vân Mai, 2007); Sở

Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Yên Bái, “Đề án phát triển du lịch tỉnh Yên

Bái đến năm 2010 và định hướng 2015”; Quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp Văn hoá, Thể dục thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011 -

2020, tầm nhìn đến năm 2025

Trang 12

Các công trình này có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu đề tài: “Tiềm

năng – Thực trạng và những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái”, giúp

cho tác giả có cách nhìn sâu sắc và toàn diện hơn

Đề tài khóa luận đã tiếp cận được những vấn đề cơ sở lí luận và thực tiễn trên phạm vi và quy mô lãnh thổ nghiên cứu khác nhau của những công trình trên để áp dụng vào địa bàn cụ thể là tỉnh Yên Bái

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Các quan điểm chủ yếu

4.1.1 Quan điểm hệ thống

Đây là quan điểm được sử dụng rộng rãi trong du lịch, do tính chất tổng thể của đối tượng nghiên cứu đối với nghiên cứu là một hệ thống lãnh thổ Theo

B ctơlanphi: ‘ Hệ thống là tổng thể các thành phần n m trong sự tác động tương

hỗ Mọi hiện tượng và đối tượng địa lý đều có nhiều thành phần và có mối liên

hệ mật thiết với nhau, chúng có tác động qua lại, gọi là quan hệ biện chứng, tạo thành một chỉnh thể mỗi hệ thống đều có thể bị phân chia thành các cấp thấp hơn Một tổng thể gồm nhiều yếu tố, các yếu tố ấy có sự gắn bó và phụ thuộc chặt chẽ

giữa các yếu tố trong thành phần

Yên Bái có hệ thống lãnh thổ du lịch được tạo bởi nhiều yếu tố: tự nhiên, văn hóa, lịch sử… Các yếu tố tự nhiên Yên Bái khá đa dạng cả từ địa hình, khí hậu, cảnh quan…, các yếu tố văn hóa lịch sử rất độc đáo, mang đặc trưng riêng Tất cả những yếu tố đó luôn luôn được xem x t, đánh giá trong mối quan

hệ tổng thể

4.1.2 Quan điểm hệ thống cấu trúc

Du lịch Yên Bái được xem là bộ phận thuộc tiểu vùng du lịch miền núi Đông Bắc Vì vậy, giữa chúng có mối quan hệ gắn bó Trong khu vực Yên Bái được xem như là cầu nối giữa các tuyến du lịch như: Hà Nội – Lai Châu – Lào Cai – Sa Pa – Hà Khẩu (Trung Quốc) – Hà Giang – Tuyên Quang hay Yên Bái – Lào Cai – Lai Châu – Điện Biên – Sơn La Quan điểm hệ thống cấu trúc cho

ph p phân tích, tổng hợp và xác định mối quan hệ hữu cơ trong hoạt động sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế xã hội tỉnh Yên Bái

4.1.3 Quan điểm phát triển du lịch bền vững

Quan điểm này được xuyên suốt trong nội dung của khóa luận Giáo sư

Raoul Blanchard (Grenoble 1890) cho rằng: “Du lịch là một ngành kinh doanh,

kinh doanh các danh lam thắng cảnh của đất nước” Việc kinh doanh này đã

Trang 13

dẫn đến việc gia tăng các thiệt hại về môi trường như ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, tài nguyên du lịch có thể bị xâm phạm, do đó cần phải tính đến yếu tố phát triển bền vững khi sử dụng tài nguyên du lịch, có nghĩa là phải tính đến hậu quả lâu dài sẽ nảy sinh trong tương lai

Ngoài ba quan điểm cơ bản trên đây, trong quá trình nghiên cứu có thể vận dụng thêm một số quan điểm khác để đảm bảo tính khách quan như quan điểm lịch sử, quan điểm hệ thống, quan điểm sinh thái – kinh tế

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lí thông tin

Đây là phương pháp quan trọng và xuyên suốt trong quá trình thực hiện khóa luận Những thông tin, các nguồn tài liệu cho ph p chúng ta hiểu biết những thành tựu nghiên cứu về lĩnh vực này Việc phân tích, phân loại và tổng hợp các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu sẽ giúp ta dễ dàng phát hiện

ra những vấn đề trọng tâm cũng như những vấn đề còn đang bỏ ngỏ Trên cơ sở những tài liệu phong phú đó, việc tổng hợp sẽ giúp chúng ta có một tài liệu toàn diện, khái quát về vấn đề nghiên cứu Đặc biệt hiện nay, công nghệ thông tin phát triển mạnh, việc khai thác các nguồn tài liệu quan trọng qua mạng Internet

sẽ là nguồn tư liệu quý hỗ trợ cho việc tổng hợp các vấn đề nghiên cứu

4.2.2 Phương pháp bản đồ

Phương pháp này có mặt ngay khi địa lí du lịch ra đời với tư cách như một khoa học, là phương pháp đặc trưng của địa lí Sử dụng phương pháp này rất cần thiết giúp cho việc nắm được những thông tin quan trọng, cập nhật, đáp ứng cho việc đi lại, tham quan, giải trí, ăn ở Để xây dựng bản đồ đề tài có sử dụng bản đồ chức năng như bản đồ hành chính, bản đồ cụm, tuyến du lịch và các

số liệu nghiên cứu Phương pháp này được áp dụng với sự trợ giúp của hệ thống thông tin địa lí GIS

4.2.3 Phương pháp nghiên cứu thực địa

Địa lí nói chung và địa lí du lịch nói riêng luôn gắn bó mật thiết với tự

nhiên và xã hội Phương pháp nghiên cứu thực địa đã giúp chúng ta tiếp cận vấn

đề một cách nhanh chóng và chủ động Việc điều tra thực tiễn ở các điểm du lịch giúp chúng ta có những những nhận x t thực tế, xây dựng ngân hàng tư liệu cho quá trình đánh giá tiềm năng du lịch trên một lãnh thổ Tuy nhiên, do hạn chế về điều kiện đi lại và phương tiện nghiên cứu nên việc sử dụng phương pháp này gặp không ít những khó khăn

Trang 14

4.2.4 Phương pháp dự báo

Công tác dự báo dựa trên việc tính toán của tác giả trên những cơ sở thực tiễn và những tiềm năng của từng điểm, từng cụm du lịch, có tham khảo chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, phương hướng, nhiệm vụ phát triển ngành du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch tỉnh Yên Bái

5 Những đóng góp của khóa luận

Đề tài hoàn thành sẽ có một số đóng góp cơ bản sau đây:

- Tổng quan và chọn lọc những vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước về

du lịch và vận dụng chúng vào những hoàn cảnh cụ thể của Yên Bái

- Điều tra, khảo sát và bước đầu đánh giá tài nguyên du lịch của tỉnh Yên Bái

- Phân tích thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh, đặc biệt chú ý đến các tiêu chí đánh giá như số lượng khách, doanh thu, cơ sở lưu trú

- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển hơn nữa du lịch của tỉnh Yên Bái

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 Tiềm năng để phát triển du lịch tỉnh Yên Bái

Chương 3 Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Yên Bái và một số giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niệm về du lịch

Từ xa xưa, du lịch được xem như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Vì vậy, du lịch đã xuất hiện và trở thành hiện tượng khá quan trọng trong đời sống của con người Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia

Du lịch không còn là một hiện tượng riêng lẻ, đặc quyền của cá nhân hay một nhóm tổ chức nào đó mà du lịch trở thành một nhu cầu xã hội phổ biến đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của con người

Thuật ngữ du lịch ngày nay tuy được sử dụng phổ biến trên thế giới, nhưng lại có nhiều cách hiểu khác nhau

Năm 1811, ở nước Anh du lịch được hiểu là sự phối hợp nhịp nhàng giữa

lí thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí

Tháng 6/1991, tại Ottawa (Canada), Hội nghị quốc tế về Thống kê du lịch

đã chỉ rõ: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường

thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm”.[9]

Theo I.I Pirojnik (1985), “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư

trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi

cư trú thường xuyên nh m nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa [9]

Guer Freuler cho rằng: “Du lịch là một hiện tượng của thời đại chúng ta,

dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự đổi thay của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên” [11]

Azar quan niệm “Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời

từ vùng này sang vùng khác, từ một nước này sang nước khác nếu không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc” [11]

Tổ chức du lịch thế giới cũng định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả những

người du hành, tạm trú trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải

Trang 16

nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư” [2]

Pháp lệnh du lịch của Nhà nước ban hành ngày 20/2/1999 (nay là luật du

lịch) đã nêu: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường

xuyên của mình nh m thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.[4]

Hoạt động du lịch có tính phong phú và đa dạng về loại hình Phụ thuộc vào các nhân tố khác nhau, dựa vào đặc điểm, vị trí, phương tiện và mục đích Trên thế giới những năm gần đây, xuất hiện nhiều khái niệm về du lịch: du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa,

Về loại hình du lịch sinh thái, Hiệp hội du lịch sinh thái Anh – Lindberg,

K và D.E Hawkins, 1993 đưa ra định nghĩa: “Du lịch sinh thái là lữ hành có

trách nhiệm tới các khu thiên nhiên, bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” [3]

Hội thảo về phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam cũng có quan điểm

thống nhất: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và

văn hóa bản địa, có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

[7]

Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch của người dân địa phương, họ tham gia làm du lịch cùng với một tổ chức kinh tế nào đó (có thể cả với tổ chức nước ngoài) nhằm khai thác những lợi thế (cả tự nhiên và kinh tế xã hội) để tăng thu nhập, để giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện sống ở địa phương, bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên và giữ gìn được bản sắc văn hóa của địa phương

Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với

sự tham gia của cộng đồng phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Loại hình này liên qua chủ yếu đến tài nguyên du lịch nhân văn Mục đích của du lịch văn hóa là nâng cao hiểu biết cho các nhân, thỏa mãn nhu cầu được hiểu biết về văn hóa, lịch sử, kinh tế, chế độ xã hội, cuộc sống và phong tục tập quán của đất nước đến du lịch

Như vậy, du lịch là một hoạt động của con người liên quan tới việc di chuyển chỗ ở đến một nơi khác, trong một khoảng thời gian ngắn để nghỉ ngơi,

Trang 17

giải trí, tìm hiểu, khám phá… Hiện nay, trên thế giới có nhiều hình thức du lịch khác nhau Trong đó, hình thức du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng có ý nghĩa lớn đối với tỉnh Yên Bái Phát triển loại hình này vừa khai thác hiệu quả tài

nguyên du lịch vừa đảm bảo cho sự phát triển bền vững

1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp hay gián tiếp hoặc cho việc tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí lực cũng như khả năng lao động và sức khỏe của con người Theo Ngô Tất Hổ

(2000) cho rằng “Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách

du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế -

xã hội và môi trường đều có thể gọi là tài nguyên du lịch” [9]

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) quy định tại Điều 4, Chương I “Tài

nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác

có thể được sử dụng nh m đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [4]

Như vậy, cách tiếp cận đối với tài nguyên du lịch giữa các nhà nghiên cứu

có sự khác nhau, nhưng về cơ bản có điểm chung là đều đề cập đến các yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người tạo ra có sức hấp dẫn với du khách Tài nguyên du lịch được phân loại thành tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng, hiện tượng trong môi trường

tự nhiên bao quanh chúng ta bị lôi cuốn vào hoạt động du lịch Theo Luật Du

lịch Việt Nam (2005), tại Chương II, Điều 13: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm

các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan

tự nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [4]

Địa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài (nội lực, ngoại lực) Trong chừng mực nhất định, mọi hoạt động sống của con người trên một lãnh thổ đều có sự phụ thuộc vào địa hình Đối với hoạt động du lịch, quan trọng hơn cả là đặc điểm hình thái của địa hình, nghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn đối với du khách Các đơn vị hình thái chính của địa hình là đồi núi và đồng bằng Trong đó khí hậu và động thực vật tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có khả năng tổ chức các loại hình du lịch ngắn ngày cũng như dài ngày Ngoài các dạng địa hình chính với ý nghĩa phục vụ du lịch, còn cần chú ý đến các kiểu địa hình

Trang 18

như kiểu địa hình cácxtơ và kiểu địa hình ven bờ biển Một số đặc điểm của địa hình là yếu tố cần thiết để triển khai các loại hình du lịch đặc biệt Có những loại hình du lịch chỉ phát triển trong điều kiện địa hình đặc thù như du lịch nghỉ dưỡng núi cao, leo núi, khám phá, mạo hiểm, tàu lượn, du lịch biển, tham quan các dạng địa hình cácxtơ, Tính phù hợp của địa hình phải dựa trên cơ sở đáp ứng các đặc điểm hoạt động của các loại hình du lịch này

Khí hậu cũng được coi là một tài nguyên du lịch Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ du lịch Trong các chỉ tiêu khí hậu, đáng chú ý nhất là hai chỉ tiêu: nhiệt độ và độ

ẩm không khí Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như gió, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời và nhất là các hiện tượng thời tiết đặc biệt cũng thường xuyên tác động đến sức khỏe con người Nhìn chung, những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa thích Khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá ẩm, hoặc quá nóng, quá khô Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho sự phát triển du lịch Mối loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau Điều kiện thời tiết cũng có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến đi hoặc các hoạt động du lịch Du khách thường mong muốn những ngày nắng đẹp để đi lại, tham quan, mua sắm, quay phim, chụp ảnh kỷ niệm Ở mức độ nhất định, cần phải lưu ý tới những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở tới kế hoạch du lịch, ví dụ như những tai biến thiên nhiên (bão, gió mùa, gió bụi, lũ lụt,…) Tính mùa vụ của du lịch chịu tác động chủ yếu của nhân

tố khí hậu Tác động của khí hậu đối với việc triển khai các hoạt động du lịch diễn ra theo chiều hướng khác nhau ở những thời điểm khác nhau trong năm Điều đó gây nên sự khác biệt về hoạt động du lịch theo mùa, mà trước hết là về

số lượng khách, thời gian lưu trú, k o theo những thay đổi về công suất sử dụng giường, buồng, doanh thu và tạo ra mùa vụ trong năm của hoạt động du lịch

Tài nguyên nước bao gồm nước trên lục địa và nước biển, đại dương Nước trên lục địa có nước mặt (sông, hồ các loại) và nước dưới đất (nước ngầm) Có giá trị đối với du lịch là nước trên mặt (cơ sở hình thành các loại hình

du lịch sông nước, du lịch hồ) và vùng biển (tiền đề cho các loại hình du lịch biển),… Trong số các loại tài nguyên nước, cần phải nói đến nước khoáng Đây

là nguồn tài nguyên có giá trị du lịch an dưỡng và chữa bệnh Nước khoáng là nước thiên nhiên (chủ yếu là nước dưới đất) chứa một số thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hóa học, khí, các nguyên tố phóng xạ, ), hoặc một số tính chất vật lí (nhiệt độ cao, độ pH,…) có tác dụng sinh lí đối với con người Một trong những công dụng quan trọng nhất của nước khoáng là chữa bệnh Các nguồn nước khoáng là tiền đề không thể thiếu được đối với việc phát triển loại

Trang 19

hình du lịch chữa bệnh Tài nguyên nước không chỉ có tác dụng trực tiếp mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến du lịch thông qua tác động đến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt là khí hậu ở quanh các bồn chứa nước lớn,

Tài nguyên sinh vật, đặc biệt là sự độc đáo của các hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học có sức hấp dẫn du khách tìm hiểu tự nhiên, là điều kiện để phát triển du lịch sinh thái, du lịch tự nhiên

Khi mức sống của con người ngày càng nâng cao thì nhu cầu nghỉ ngơi tham quan du lịch và giải trí trở thành cấp thiết Thị yếu về du lịch cũng ngày càng đa dạng và phong phú Ngoài một số hình thức truyền thống như tham quan phong cảnh, các di tích văn hóa – lịch sử của loài người, đã xuất hiện một

số hình thức mới, sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch Đó là du lịch ở các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng tham gia là các loại động – thực vật Việc tham quan du lịch trong thế giới động – thực vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên làm cho con người tăng thêm lòng yêu cuộc sống Như vậy, tài nguyên động – thực vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngành du lịch Thảm thực vật gắn liền với môi trường sống tự nhiên của đại đa số động vật hoang dã Khi phân tích và đánh giá lớp phủ thực vật, phải xem x t cả thế giới động vật Đôi khi chính động vật hoang dã lại có ý nghĩa đặc biệt đối với du lịch nhận thức và nhất là du lịch săn bắn

Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch Các loại tài nguyên du lịch nhân văn đó là: các di tích lịch sử - văn hóa, các lễ hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học và các đối tượng văn hóa – thể thao

Di tích văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa do tập thể hoặc cá nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại Các di tích lịch sử văn hóa nói chung

có thể được phân chia thành: Di tích văn hóa khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hóa nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh… Ngoài ra còn có các lễ hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học…

1.1.3 Vai trò của du lịch

Du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

và môi trường

- Đối với kinh tế

Du lịch trong nước góp phần tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản xuất đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các CSVCKT,…), làm

Trang 20

tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội Góp phần tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập giữa các vùng Nói cách khác, du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối cơ cấu của thu nhập và chi tiêu của nhân dân theo các vùng (các vùng có tiềm năng du lịch thường là những vùng có trình độ sản xuất k m dẫn đến thu nhập của người dân là rất thấp) Du lịch nội địa phát triển góp phần đảm bảo sức khỏe cho nhân dân lao động và điều đó là cơ sở làm tăng năng suất lao động xã hội Ngoài ra, du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng CSVCKT phục vụ

du lịch được hợp lí hơn

Du lịch quốc tế góp phần làm tăng thu nhập quốc gia thông qua thu ngoại

tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Cùng với hàng không dân dụng, cung ứng tàu biển, bưu điện quốc tế và các dịch vụ thu ngoại tệ khác, du lich quốc tế hàng năm đem lại cho hàng loạt quốc gia nhiều ngoại tệ Ở các nước du lịch phát triển, thu nhập ngoại tệ từ du lịch chiếm

10 – 15 % hoặc hơn trong nguồn thu nhập ngoại tệ của đất nước

Du lịch là hoạt động “xuất khẩu” có hiệu quả cao Điều này trong kinh doanh du lịch được thể hiện trước hết ở chỗ, du lịch là một ngành “xuất khẩu tại chỗ” Xuất khẩu theo con đường du lịch có lợi hơn nhiều so với xuất khẩu ngoại thương Du lịch không chỉ là ngành “xuất khẩu tại chỗ”, mà còn là ngành “xuất khẩu vô hình” hàng hóa du lịch Đó là các cảnh quan thiên nhiên, khí hậu, ánh nắng mặt trời vùng nhiệt đới, các phong cảnh đẹp, những giá trị của những di tích lịch sử – văn hóa, tính độc đáo trong truyền thống, phong tục tập quán,… không bị mất đi qua mỗi lần bán, thậm chí giá trị và thương hiệu của nó còn được tăng lên qua mỗi lần đưa ra thị trường, nếu như có chất lượng tốt Sở dĩ có hiện tượng trên là do chúng ta bán cho khách không phải là bản thân tài nguyên

du lịch, mà chỉ là giá trị để thỏa mãn nhu cầu của du khách chứa đựng trong tài nguyên ấy

Với hai hình thức xuất khẩu trên cho thấy hàng hóa và dịch vụ được bán thông qua du lịch đem lại lợi nhuận cao hơn, do tiết kiệm được đáng kể các chi phí (đóng gói, bảo quản, vận chuyển, thuế xuất nhập khẩu) đồng thời lại thu hồi vốn nhanh

Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Cơ cấu nền kinh

tế thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng đang có sự chuyển dịch ngày càng trở nên hợp lí hơn Đó là sự tăng dần tỷ trọng ở khu vực dịch vụ trong cơ cấu nền kinh tế, trong đó có du lịch Có thể khẳng định rằng du lịch là một lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác Du lịch đem lại tỉ suất lợi nhuận cao, vì vốn đầu tư ít (so với ngành công nghiệp nặng, giao thông

Trang 21

vận tải, xây dựng, ), thời gian thu hồi vốn nhanh, kĩ thuật không phức tạp

- Đối với xã hội

Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Đây là ngành tạo ra rất nhiều việc làm Số lao động trong ngành du lịch và các lĩnh vực liên quan chiếm 10,7 % tổng số lao động toàn thế giới Cứ 2,5 giây du lịch tạo thêm một việc làm mới và hiện nay cứ 8 lao động thì có 1 người làm trong ngành du lịch

Du lịch góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế của các vùng có hoạt động

du lịch Thông thường, tài nguyên du lịch tự nhiên thường hay tập trung ở các vùng xa xôi, vùng ven biển,… Việc khai thác nguồn tài nguyên này đòi hỏi phải đầu tư về mọi mặt: giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hóa, xã hội,… Do vậy mà việc phát triển du lịch đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở những vùng đó, giảm thiểu sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng trong cả nước, đồng thời góp phần làm giảm sự tập trung dân cư quá mức ở những đô thị lớn

Du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo có hiệu quả cho nước đón khách mà không phải trả tiền Du khách được làm quen tại chỗ với những mặt hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,… Một số sản phẩm làm cho du khách hài lòng, từ đó sẽ tuyên truyền cho bạn bè, người thân,… Bên cạnh đó,

du lịch còn là phương tiện tuyên truyền quảng cáo hữu ích về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giới thiệu về con người, phong tục, tập quán của các quốc gia

Thông qua du lịch, con người được thay đổi môi trường sống, có ấn tượng và cảm xúc mới, thỏa mãn được trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết Điều đó góp phần hình thành nên những mơ ước đầy lãng mạn, nhân văn cho tương lai của khách du lịch

Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn nâng cao truyền thống của dân tộc Thông qua các chuyến đi tham quan, nghỉ mát,… khách du lịch có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân tộc, qua đó thêm yêu đất nước mình

Ngoài ra, sự phát triển du lịch còn góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc, thúc đẩy sự phát triển môi trường thiên nhiên, xã hội

- Đối với môi trường sinh, sinh thái

Du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ và khôi phục môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực

Trang 22

tiếp đến sức khỏe và các các hoạt động của con người Việc tắm mình trong thiên nhiên, được cảm nhận trực tiếp sự hùng vĩ, trong lành và nên thơ của các cảnh quan có ý nghĩa quan trọng đối với du khách Nó tạo cho họ có điều kiện hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, thấy được giá trị của tự nhiên đối với đời sống con người, là bằng chứng thực tiễn phong phú góp phần tích cực vào việc giáo dục môi trường

Nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch của đông đảo quần chúng đòi hỏi phải hình thành các kiểu cảnh quan được bảo vệ giống như các công viên quốc gia Từ

đó hàng loạt công viên thiên nhiên quốc gia (vườn quốc gia) đã được thành lập vừa để bảo vệ các cảnh quan thiên nhiên có giá trị, vừa tổ chức các hoạt động giải trí du lịch

Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ Một mặt, xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, những mặt khác phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động xâm hại của các dòng khách du lịch cũng như của việc xây dựng CSVCKT phục vụ du lịch Như vậy, giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối quan hệ qua lại với nhau

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam

Hiện nay, tình hình kinh tế - xã hội nước ta diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng và suy thoái Du lịch Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn: tình hình lạm phát trong nước còn cao, thời tiết diễn biến phức tạp, lũ lụt xảy ra liên tiếp tại miền Trung Những yếu tố bất lợi trên đã tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh du lịch của Việt Nam

Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Bộ Văn hóa Thể Thao

Du lịch (VHTTDL), Tổng cục du lịch đã tập trung thực hiện nghiêm túc và đồng

bộ các giải pháp, nỗ lực vượt qua khó khăn, huy động hiệu quả các nguồn lực để thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra Năm 2011, ngành du lịch

đã thu hút 6 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 30 triệu lượt khách nội địa, thu nhập từ du lịch đạt 130 ngàn tỉ đồng với tỉ lệ tăng trưởng tương ứng so với năm

2010 là 19%, 7,14% và 30% Hoạt động du lịch đã trở thành một trong những điểm sáng về kinh tế trong bối cảnh đất nước có nhiều khó khăn thách thức

Năm du lịch quốc gia 2011 tại các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ - Phú

Yên với chủ đề “Du lịch biển đảo” với sự liên kết 8 tỉnh duyên hải Nam Trung

Bộ đã tạo ra điểm nhấn trong hoạt động du lịch Phối hợp với các đơn vị của Bộ hoàn thành xuất sắc việc tuyên truyền, vận động bầu chọn Vịnh Hạ Long là kỳ

Trang 23

quan thiên nhiên mới của thế giới Việc vịnh Hạ Long là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới đã mang lại cơ hội to lớn để quảng bá cho ngành du lịch Việt Nam

Ngành du lịch tập trung nghiên cứu, xây dựng và trình các đề án lớn cho giai đoạn 2011 - 2020, đặc biệt đã hoàn thiện Chiến lược và Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 báo cáo Bộ trưởng trình Chính phủ phê duyệt Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật du lịch cũng như các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch khác (Nghị định 92, Thông tư về khu, điểm du lịch…) cũng đang được triển khai một cách tích cực

Các hoạt động quảng bá, xúc tiến trong nước và nước ngoài đã triển khai

đã mang lại hiệu quả tích cực: các sự kiện văn hóa và hội chợ du lịch quốc tế tại Đức, Nga, Ucraina, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á,… cùng với hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam trên một số kênh truyền hình, báo chí của nước ngoài đã góp phần đạt được tỉ lệ tăng trưởng khách du lịch quốc tế gần 20% trong năm 2011

Các địa phương trong cả nước, nhất là các tỉnh du lịch trọng điểm đã tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, tháo gỡ các cơ chế, chính sách để thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, phát triển sản phẩm du lịch mới, kiểm soát và nâng cao chất lượng dịch vụ, đầu tư đào tạo nguồn nhân lực

du lịch cũng như các hoạt động xúc tiến du lịch Nhiều khu du lịch, resort, khách sạn mới được khởi công hoặc hoàn thành đưa vào phục vụ du lịch đã góp phần đáng kể vào vào việc tăng cường năng lực, điều kiện cho ngành

Tổng cục du lịch tiếp tục duy trì triển khai các nhiệm vụ thường xuyên liên quan quản lý lữ hành, khách sạn Đến năm 2011, cả nước có 960 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, trong đó chỉ có 15 doanh nghiệp nhà nước, 323 công ty

cổ phần, 16 công ty liên doanh, 603 công ty trách nhiệm hữu hạn và 04 công ty

tư nhân Về công tác quản lý cơ sở lưu trú du lịch: Tính đến tháng 12/2011, cả nước có khoảng 12.000 cơ sở lưu trú du lịch với 265 000 buồng (trong đó 48 khách sạn 5 sao với 12.121 buồng 126 khách sạn 4 sao với 15.517 buồng 273 khách sạn 3 sao với 18.990 buồng) Đầu tư xây dựng các khách sạn, resort có quy mô lớn, chất lượng cao đã trở thành xu hướng chủ đạo trong thu hút đầu tư phát triển cơ sở dịch vụ của ngành du lịch Doanh thu du lịch tăng nhanh, năm

2000 đạt 17.000 tỷ, năm 2012 tổng doanh thu từ khách du lịch đạt 160 nghìn tỷ đồng Năm 2012 số khách quốc tế đến Việt Nam đạt hơn 6,8 triệu lượt vượt kế hoạch 0,3 triệu lượt và tăng gần 14% so với năm 2011

Trang 24

Hoạt động hợp tác quốc tế tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh cả song phương

và đa phương nhằm tranh thủ kinh nghiệm, hợp tác và hỗ trợ quốc tế cho du lịch Việt Nam Dự án du lịch với tài trợ của EU trị giá 11 triệu Euro chuẩn bị triển khai

sẽ góp phần tăng nguồn lực cho phát triển của du lịch Việt Nam

1.2.2 Tình hình phát triển du lịch ở Yên Bái

Trong sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam, Yên Bái có vị trí nhất định trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước Xác định rõ tầm quan trọng của công tác phát triển du lịch, Nghị quyết Đại hội tỉnh bộ Yên Bái lần thứ XVI đã

nêu “ ưu tiên và tạo điều kiện phát triển các sản phẩm du lịch hấp dẫn; hoàn

thành xây dựng cơ sở hạ tầng khu, điểm du lịch sinh thái, văn hóa lịch sử, đồng thời phối hợp với các tỉnh trong khu vực để đẩy mạnh hoạt động du lịch ”

Trong những năm gần đây, hoạt động du lịch được đẩy mạnh phát triển thể hiện qua việc tỉnh đã tổ chức tốt các sự kiện văn hóa, quảng bá và xúc tiến du lịch Hoạt động đầu tư xây dựng sản phẩm du lịch diễn ra mạnh mẽ, có tính khả thi cao: Quy hoạch đầu tư xây dựng hạ tầng các khu du lịch trọng điểm đầu tư xây dựng các khách sạn, tổ hợp thương mại có quy mô lớn Hiện nay, du lịch Yên Bái đang tiếp tục đầu tư hạ tầng để hình thành một số khu, tuyến, điểm du lịch sinh thái, văn hóa lễ hội, đồng thời khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển du lịch Các sản phẩm du lịch Yên Bái ngày càng được đa dạng hóa, nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng như du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng, du lịch thăm quan, nghiên cứu Bên cạnh

đó, công tác quảng bá, tuyên truyền, vận động các tầng lớp xã hội tham gia vào công tác xây dựng và khai thác phát triển du lịch đã đạt được kết quả đích thực góp phần nâng cao thu nhập của địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm và cải thiện cán cân thanh toán bằng cách tạo ra môi trường thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển, đưa du lịch trở thành một ngành quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, chiếm tỷ trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trang 25

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

TỈNH YÊN BÁI 2.1 Vị trí địa lý

Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa với tổng diện tích tự nhiên

là 6.899,49 km2 chiếm 21% diện tích cả nước (2009), là 1 trong 13 tỉnh vùng núi phía Bắc, nằm giữa 2 vùng Đông Bắc và Tây Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và phía Tây giáp tỉnh Sơn La Yên Bái có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thị (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) với tổng số 180 xã, phường, thị trấn, trong đó có

70 xã vùng cao và 70 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước

Với vị trí địa lí như vậy, Yên Bái có những thuận lợi để phát triển kinh tế -

xã hội Tuy nằm sâu trong nội địa nhưng Yên Bái lại là đầu mối và trung độ của một số tuyến đường giao thông quan trọng Đây là một trong những cửa ngõ đi vào Tây Bắc và nằm trên trục giao thông giữa Đông Bắc và Tây Bắc Yên Bái nằm ở khoảng giữa quốc lộ 2 nối Hà Nội và các tỉnh của đồng bằng sông Hồng với cửa khẩu Lào Cai và từ đây qua Hà Khẩu sang thành phố Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Về mặt kinh tế, Yên Bái nằm trên đường trục của hành lang Hà Nội – Lào Cai và có thể dễ dàng giao lưu với các tỉnh trong nước

và với Trung Quốc, Yên Bái ngày càng khẳng định vị trí trung tâm của mình trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc

và sông Chảy, phía Đông có dãy núi đá vôi nằm kẹp giữa sông Chảy và sông Lô Địa hình khá phức tạp nhưng có thể chia thành 2 vùng lớn: vùng cao và vùng thấp Vùng cao có độ cao trung bình 600 m trở lên, chiếm 67,56 % diện tích toàn tỉnh Vùng này dân cư thưa thớt, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản, có khả năng huy động vào phát triển kinh tế - xã hội Vùng thấp có độ cao dưới 600 m, chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, thung lũng bồn địa, chiếm 32,44 %

Trang 27

diện tích tự nhiên toàn tỉnh Là một phần tiếp giáp giữa vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc, đồng thời là vùng chuyển tiếp từ địa hình vùng trung du Phú Thọ lên vùng cao Lào Cai Bên cạnh đó, địa hình Yên Bái còn nằm trên hai vùng có lịch

sử phát triển địa chất khác biệt hình thành nên các dạng địa hình khác nhau Trên 70 % diện tích tự nhiên của Yên Bái là địa hình núi cao và cao nguyên nằm trong ba hệ thống:

Hệ thống núi Hoàng Liên Sơn bao chiếm toàn bộ diện tích phía hữu ngạn sông Hồng thuộc phức hệ Hoàng Liên Sơn chịu ảnh hưởng rất nhiều của các đợt vận động kiến tạo nên địa hình hệ thống núi này có độ cao lớn nhất nước ta và bị cắt xẻ khá mãnh liệt Trên địa phận Yên Bái, hệ thống núi này là các dải núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Đây là vùng đồi núi với nhiều phong cảnh đẹp và là nơi có thể tiến hành các hoạt động du lịch Các dãy núi cao, rừng già và đồi tháp tạo nên nhiều phong cảnh hùng vĩ, hữu tình, những hang động có

vẻ đẹp kỳ vĩ, huyền diệu như: Động Thủy Tiên, Động Hương Thảo… có sức lôi cuốn đặc biệt đối với du khách

Tả ngạn sông Hồng thuộc cấu trúc rìa phía Nam khối vòm sông Chảy (dãy núi Con Voi), hình thành giữa hai đứt gãy của sông Hồng và sông Chảy, phát triển trên một nền vật chất là nền đá cổ kết tinh diệp thạch s t, diệp thạch mica, gơnai Độ cao của dãy núi này từ 400 đến 1.400m

Phần phía Đông của tỉnh là khu vực không chịu ảnh hưởng của các hoạt động tân kiến tạo nên hình thành các dạng địa hình đồi bát úp đỉnh tròn, sườn thoải mái thấp dần theo hướng Đông Nam

Với dạng địa hình chủ yếu núi và cao nguyên cho ph p Yên Bái phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng, du lịch tham quan nghiên cứu…

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Yên Bái có nhiệt độ trung bình

là 22 - 230C lượng mưa trung bình 1.500 – 2.200 mm/năm độ ẩm trung bình 83 – 87% Điều kiện khí hậu trên tạo điều kiện cho thảm thực vật phát triển, đặc biệt là rừng, cây dược liệu và cây nông nghiệp Tuy nhiên, khí hậu Yên Bái hay

Trang 28

có các các hiện tượng thời tiết đặc biệt như: sương muối (xuất hiện chủ yếu ở độ

cao trên 600m, mưa đá (xuất hiện rải rác ở một số vùng, càng lên cao càng có nhiều mưa đá, thường xuất hiện vào cuối mùa xuân đầu mùa hạ và thường đi kèm với hiện tượng dông và gió xoáy cục bộ) Ngoài ra ở các vùng cao trên 1000m thỉnh thoảng còn có băng tuyết vào cuối tháng mùa đông

Với các n t đặc trưng có thể chia Yên Bái thành hai vùng khí hậu lớn, có ranh giới được xác định bởi đường phân thủy của dãy núi cao theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dọc theo hữu ngạn sông Hồng Trong hai vùng lớn lại có có sự phân hóa khác nhau

Vùng phía Tây

Phần lớn vùng này có độ cao trung bình trên 700m, địa hình chia cắt mạnh, mang tính chất khí hậu á nhiệt đới và ôn đới, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Có gió Tây Nam nóng, khô nên khí hậu vùng này có n t đặc trưng là nắng nhiều, ít mưa so với vùng phía Đông Xuất phát từ các yếu tố địa hình, khí hậu, đặc thù có thể chia vùng này thành 3 tiểu vùng sau:

Tiểu vùng Mù Cang Chải: Vùng này có độ cao trung bình từ 900m, có nhiều nắng nhất tỉnh và chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam Do độ cao địa hình lớn nên nhiệt độ thấp, nhiệt độ trung bình 18 - 200C, về mùa đông lạnh có khi xuống tới 00

C Tổng nhiệt độ năm 6.500 - 7.0000C, lượng mưa: 1.800 - 2.000 mm/năm, độ ẩm 80 %

Tiểu vùng Tây Nam Văn Chấn: Vùng này có độ cao trung bình 800m, phía Bắc nhiều mưa, phía Nam là vùng ít mưa nhất tỉnh Nhiệt độ trung bình là

18 - 200C, mùa đông nhiệt độ xuống tới 10C, lượng mưa 1.800mm/năm, độ ẩm 84%

Tiểu vùng Văn Chấn – Tú Lệ: độ cao trung bình vùng này 250 - 300m, có thung lũng Mường Lò với diện tích trên 2.200 ha, nhiệt độ trung bình 22 - 230

C, tổng nhiệt độ cả năm 8.0000

C

Vùng phía Đông

Khí hậu này chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùa Đông Bắc, mưa nhiều về

cả số ngày và lượng mưa Mưa phùn k o dài ở thành phố Yên Bái và huyện Trấn Yên Nhiệt độ trung bình 21 - 220C, lượng mưa bình quân 1.800 - 2000mm/năm, vùng phía Đông gồm hai tiểu vùng sau:

Tiểu vùng Nam Trấn Yên - Văn Yên - Thành phố Yên Bái - Ba Khe thuộc thung lũng sông Hồng, dưới chân hệ thống núi Hoàng Liên Sơn - Pú Luông, nhiệt

Trang 29

độ trung bình 23 - 240

C, tổng nhiệt độ 8.0000C, lượng mưa bình quân 1.800 - 2.200 mm/năm và vùng có mưa phùn k o dài trong thời kỳ đầu năm

Tiểu vùng Lục Yên - Yên Bình: Thuộc thung lũng sông Chảy - hồ Thác Bà,

là vùng có diện tích mặt nước nhiều nhất tỉnh (hồ Thác Bà diện tích 19.050 ha),

có khí hậu ôn hòa, có điều kiện thuận lợi phát triển nông - lâm nghiệp, thủy sản

Đánh giá một cách tổng quát thì khí hậu Yên Bái thích hợp với sức khỏe của con người và thuận lợi với hoạt động du lịch Tuy nhiên, cần lưu ý tới một số hiện tượng thời tiết thất thường như: sương muối, mưa đá, băng tuyết ở những vùng núi cao Nếu khai thác tốt những thuận lợi và hạn chế của khí hậu để phục vụ du lịch thì Yên Bái có thể khai thác hiệu quả hơn những tiềm năng về du lịch, biến ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh

2.2.1.3 Nguồn nước

Nước mặt: Yên Bái là tỉnh có lượng mưa lớn (trung bình khoảng 1.500 -

2.00mm/năm), kết hợp với sự chia cắt địa hình đã tạo cho Yên Bái một mạng lưới dòng chảy bề mặt khá dày Có nhiều phụ lưu quan trọng của các con sông lớn chảy trên địa bàn trong đó có 2 con sông lớn chảy qua Yên Bái đó là: Sông Hồng và Sông Chảy, sông Nậm Kim (một chi nhánh của con sông Đà) Hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Chảy, đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Ngoài hai con sông lớn là sông Hồng và sông Chảy còn khoảng 200 ngòi, suối lớn nhỏ cùng hệ thống hồ đầm

+ Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), chiều dài chảy qua tỉnh Yên Bái là 115 km Các phụ lưu của sông Hồng trên địa phận Yên Bái, có tới 50 ngòi, có tổng diện tích lưu vực là 2.700 km2 Lớn nhất là ngòi Thia, diện tích lưu vực 1.570 km2, sau đó là ngòi Hút (632 km2

), ngòi Lao (519 km2), Ngòi Lâu (250 km2) Những con ngòi này, cùng với phụ lưu khe suối là nguồn nước chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt cho nhân dân

Trang 30

+ Sông Chảy bắt nguồn từ vùng núi Tây Côn Lĩnh (Trung Quốc), với 32 phụ lưu, diện tích lưu vực 2.200 km2 với lượng nước đổ vào trung bình là 5,3 tỷ

m3 nước/năm, đoạn chảy qua địa phận Yên Bái có chiều dài 95 km, tại đây đã xây dựng hồ chứa nước Thác Bà, làm nguồn nước cho Nhà máy thuỷ điện Thác Bà Yên Bái Hồ Thác Bà là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam với diện tích 23.400 ha, bao gồm 19.050 ha diện tích mặt nước và 1.331 đồi đảo lớn nhỏ Hồ có sức chứa 2,9 tỷ m³ nước là điều kiện để phát triển nguồn thuỷ sinh vật

và là nguồn năng lượng phục vụ hoạt động của Nhà máy thuỷ điện Thác Bà - Công trình thuỷ điện đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam Các phụ lưu của sông Chảy trên đất Yên Bái có tới 23 ngòi và tổng diện tích phụ lưu 1.350 km2

+ Suối Nậm Kim có tổng diện tích lưu vực 600 km2

là chi nhánh hệ thống sông Đà, có độ dốc lớn nên có khả năng phát triển thuỷ điện

+ Hệ thống ao hồ với diện tích 20.913 ha, là tiềm năng để phát triển các ngành du lịch và thuỷ sản

- Sông, suối: Hệ thống suối nước khoáng nóng thiên nhiên (Văn Chấn), quần thể thác Lâm An (Văn Yên)

- Hồ: Tỉnh Yên Bái có hồ Thác Bà là một trong ba hồ nhân tạo lớn với 1.331 hòn đảo và nhiều hang đông đẹp và phong cảnh sơn thủy hữu tình Nằm trong địa phận hai huyện Yên Bình và Lục Yên tỉnh Yên Bái, Hồ Thác Bà được

ví như “Hạ Long trên núi” với những đảo xanh lớn nhỏ soi bóng dưới mặt nước cùng hệ thống hang động đẹp ẩn sâu trong lòng những dãy núi đá vôi Chính sự

kỳ bí ấy tạo cho Thác Bà một vẻ đẹp lung linh huyền hoặc nhưng lại rất thân thiện, hữu tình Trong hệ thống hang động trên hồ Thác Bà, phải kể đến động Thủy Tiên Nằm sâu trong lòng núi khoảng 100m, nơi đây lưu truyền sử sách về

Vũ Văn Mật - một vị đầu lĩnh thời Lê và trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Tỉnh ủy Yên Bái đã từng làm việc tại đây Động Thủy Tiên còn gắn với huyền thoại về chín nàng tiên xinh đẹp trốn Ngọc Hoàng xuống vui chơi ở nơi hồng trần Thăm động và thưởng ngoạn những kiệt tác của tự nhiên với hệ thống nhũ

đá đa màu sắc, với hệ thống hang động gắn với truyền thuyết ly kỳ, du khách có cảm giác đang lạc trong thế giới thần tiên như mơ, như thực để trút bỏ tất cả những mệt mỏi, ưu phiền của cuộc sống đời thường

Với đặc điểm là hồ nhân tạo, kết hợp sử dụng tự nhiên, Hồ Thác Bà là nơi mang trong mình sự kết tinh thành quả của bàn tay và khối óc con người trong quá trình cải biến giang sơn phục vụ cuộc sống con người, vừa mang trong mình những di tích, di chỉ lịch sử khảo cổ Đồng thời Hồ Thác Bà trở thành một danh

Ngày đăng: 09/06/2014, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lanquar,R (1993) Kinh tế du lịch, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Kinh tế du lịch
Nhà XB: NXB Thế giới
3. Đặng Duy Lợi (1992) Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và TNTN huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và TNTN huyện Ba Vì
4. Luật du lịch Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật du lịch Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
5. Đỗ Thúy Mùi (2010) Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Sơn La, Luận án Tiến sĩ Địa lí, trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Sơn La
6. Trần Đức Thanh (1988) Nhập môn khoa học du lịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
7. Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Xuân Cảnh, Phạm Xuân Hậu, Nguyễn Kim Hồng (1997) Địa lí du lịch, NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí du lịch
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
8. Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1995) Tài nguyên du lịch, Viện Đại học Mở, Hà Nội – Khoa Du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên du lịch
9. Lê Thông (chủ biên) (2005) Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Nguyễn Minh Tuệ (Chủ biên) (2011) Địa lí du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí du lịch Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Nguyễn Minh Tuệ - Lê Thông (2012) Địa lí dịch vụ, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí dịch vụ
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
16. WEBSITE: http://www.dulichvietnam.com.vn Link
1. Cục Thống kê tỉnh Yên Bái (2011). Niên giám thống kê năm 2010 tỉnh Yên Bái Khác
12. Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Yên Bái, Báo cáo đánh giá tình hình hoạt động du lịch tỉnh Yên Bái năm 2009 – Phương hướng nhiệm vụ năm 2010 Khác
13. Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Yên Bái, Báo cáo tổng kết công tác hoạt động du lịch năm 2011 – Phương hướng nhiệm vụ năm 2012 Khác
14. Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Yên Bái, Dự án điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Yên Bái, giai đoạn 2010 đến 2020, định hướng 2025 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên bảng  Trang - Tiềm năng – Thực trạng và những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái.
ng Tên bảng Trang (Trang 7)
Bảng 2.1 Diện tích, dân số và các đơn vị hành chính tỉnh Yên Bái - Tiềm năng – Thực trạng và những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái.
Bảng 2.1 Diện tích, dân số và các đơn vị hành chính tỉnh Yên Bái (Trang 34)
Bảng 2.2 Các điểm du lịch cấp quốc gia tỉnh Yên Bái  ST - Tiềm năng – Thực trạng và những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái.
Bảng 2.2 Các điểm du lịch cấp quốc gia tỉnh Yên Bái ST (Trang 42)
Bảng 3.1 Hiện trạng khách du lịch Yên Bái giai đoạn 2006 – 2010 - Tiềm năng – Thực trạng và những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái.
Bảng 3.1 Hiện trạng khách du lịch Yên Bái giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 46)
Bảng 3.3 Dự báo khách du lịch đến tỉnh Yên Bái giai đoạn 2020 - 2025 - Tiềm năng – Thực trạng và những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái.
Bảng 3.3 Dự báo khách du lịch đến tỉnh Yên Bái giai đoạn 2020 - 2025 (Trang 48)
Bảng 3.4 Thống kê lao động trong ngành du lịch năm 2010 - Tiềm năng – Thực trạng và những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái.
Bảng 3.4 Thống kê lao động trong ngành du lịch năm 2010 (Trang 50)
Bảng 3.5 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ du lịch - Tiềm năng – Thực trạng và những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Yên Bái.
Bảng 3.5 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ du lịch (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w