1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI QUA MÔN ĐỊA LÍ - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỊA LÝ

89 1,1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn kỹ năng sống cho học sinh lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai qua môn địa lý
Tác giả Nguyễn Văn Đại
Người hướng dẫn TS. Đỗ Thúy Mùi
Trường học Trường Đại Học Tây Bắc
Chuyên ngành Địa lý
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Sơn La
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 806,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Khóa luận này hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đỗ Thúy Mùi. Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến cô đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu trường Đại học Tây Bắc, Phòng Quản lí khoa học và Quan hệ quốc tế, các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khóa luận này. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh ở trường THPT số 1 Bảo Yên, THPT số 1 Bát Xát, THPT Dân tộc nội trú tỉnh Lào Cai đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm của khóa luận. Trong quá trình thực hiện khóa luận chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn. Xin chân

Trang 1

s

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN VĂN ĐẠI (1991)

RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI QUA MÔN ĐỊA LÍ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN VĂN ĐẠI (1991)

RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI QUA MÔN ĐỊA LÍ

CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TS Đỗ Thúy Mùi

SƠN LA, NĂM 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận này hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đỗ Thúy Mùi Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến cô đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu trường Đại học Tây Bắc, Phòng Quản lí khoa học và Quan hệ quốc tế, các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh ở trường THPT số 1 Bảo Yên, THPT số 1 Bát Xát, THPT Dân tộc nội trú tỉnh Lào Cai đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm của khóa luận

Trong quá trình thực hiện khóa luận chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo

và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, năm 2013

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Văn Đại (04/08/1991)

Trang 4

TNTN Tài nguyên thiên nhiên

UNESCO Tổ chức Giáo dục Khoa học và

Văn hóa của Liên Hợp Quốc UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc WHO Tổ chức Y tế thế giới

Trang 5

DANH MỤC B NG

Bảng 3.1 Kết quả điều tra sự cần thiết rèn KNS ở trường THPT

Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả điều tra ở 3 trường 38

Bảng 3.5 Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng

ghép KNS ở trường THPT số 1 Bảo Yên

40

Bảng 3.6 Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng

ghép KNS ở trường THPT số 1 Bát Xát

40

Bảng 3.7 Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng

ghép KNS ở trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh

41

Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả điều tra ở 3 trường 41

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ so sánh kết quả điều tra ở lớp thực nghiệm và

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn khóa luận 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của khóa luận 2

2.1 Mục tiêu 2

2.2 Nhiệm vụ 2

2.3 Giới hạn nghiên cứu 3

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3.1 Trên thế giới 3

3.2 Ở Việt Nam 4

4 Phương pháp nghiên cứu 6

4.1 Phương pháp phân tích xử lí số liệu thống kê 6

4.2 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu 6

4.3 Phương pháp thực nghiệm 7

4.4 Phương pháp phỏng vấn 7

4.5 Phương pháp biểu đồ 8

5 Đóng góp của khóa luận 8

5.1 Về lí luận 8

5.2 Về thực tiễn 8

6 Bố cục của khóa luận 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA KHÓA LUẬN 10

1.1 Cơ sở lí luận 10

1.1.1 Một số khái niệm về kỹ năng sống 10

1.1.2 Giáo dục kỹ năng sống 14

1.1.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT 14

1.1.3.1 Kỹ năng kiểm soát cảm xúc 15

1.1.3.2 Kỹ năng tự nhận thức 15

1.1.3.3 Kỹ năng tư duy sáng tạo 15

Trang 7

1.1.3.4 Kỹ năng giao tiếp 16

1.1.3.5 Kỹ năng bảo vệ thiên nhiên và môi trường, phòng tránh thiên tai 16

1.1.3.6 Kỹ năng giải quyết vấn đề 17

1.1.4 Phương thức và phương pháp tiếp cận trong giáo dục KNS cho HS trung học phổ thông 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 19

1.2.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 11 trong nhà trường THPT 19

1.2.2 Sự cần thiết phải rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai qua môn Địa lí 20

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CÓ THỂ LỒNG GHÉP KỸ NĂNG SỐNG TRONG MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 22

2.1 Các bài dạy và phương pháp lồng ghép kỹ năng sống 22

2.1.1 Các bài có liên quan đến điều kiện tự nhiên 22

2.1.2 Các bài liên quan đến kỹ năng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường 25 2.1.3 Các bài liên quan đến kỹ năng giải quyết vấn đề 28

2.2 Một số kỹ năng sống cơ bản được giáo dục trong các bài học 30

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 33

3.1 Mục đích thực nghiệm 33

3.2 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 33

3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 34

3.4 Tổ chức thực nghiệm 34

3.5 Nội dung thực nghiệm 35

3.6 Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm 43

3.7 Một số bài học rút ra từ thực tiễn 44

KẾT LUẬN 46 PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KH O

Trang 8

Hiện nay, trên thế giới nhiều quốc gia đang chú trọng tới việc rèn kỹ năng sống Đã có trên 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa kỹ năng sống vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở tiểu học

và trung học Nhiều nước đã lồng ghép nội dung rèn KNS vào các môn học, đặc biệt là các môn thuộc khoa học xã hội

Do nhu cầu đổi mới giáo dục để đáp ứng sự phát triển đất nước và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như đáp ứng nhu cầu của người học, Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông; đổi mới mục tiêu giáo dục từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho người học sang trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, kỹ năng kiểm soát cảm xúc tuy nhiên, nhận thức về KNS, cũng như việc thể chế hóa giáo dục KNS trong giáo dục phổ thông ở Việt Nam chưa thật cụ thể, đặc biệt về hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho học sinh (HS) ở các cấp, bậc học còn hạn chế [6]

Giáo dục KNS có vai trò quan trọng là những nhịp cầu giúp cho con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực lành mạnh Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn thử thách, biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực, phù hợp, họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống Ngược lại, nếu người thiếu KNS

dễ vấp ngã và thất bại trong cuộc sống

Trong thực tiễn hiện nay, có nhiều học sinh thiếu KNS, dễ mắc vào tệ nạn

xã hội, chỉ biết sống cho bản thân, không biết sống vì người khác, thiếu ý thức với cộng đồng Vì vậy, giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp cho các

em học sinh rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng vì Tổ quốc

Trang 9

Như vậy, giáo dục KNS đang là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Ở Lào Cai, việc giáo dục KNS có vai trò quan trọng

Có thể lồng ghép rất nhiều KNS trong các môn học trong đó có môn Địa lí Một trong những KNS có tính ứng dụng rất cao trên địa bàn tỉnh Lào Cai đó là: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng kiềm chế cảm xúc, kỹ năng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên Sở dĩ những kỹ năng này rất quan trọng đối với học sinh tỉnh Lào Cai vì Lào Cai là tỉnh miền núi, đại đa số học sinh là con em các dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức còn hạn chế Ngoài ra, đây còn là địa phương có tài nguyên thiên nhiên giàu có, nhưng các nguồn tài nguyên đó đang bị suy giảm nghiêm trọng Việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hợp lý vì thế có nhiều thiên tai bất thường như sạt lở đất đá, lũ ống, lũ quét…

Để giúp cho học sinh có KNS cần thiết, đặc biệt khi ra trường có thể vận

dụng trong cuộc sống, tôi đã lựa chọn nghiên cứu khóa luận: “Rèn kỹ năng

sống cho học sinh lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai qua môn Địa lí”

Khóa luận chỉ dừng lại nghiên cứu một số kỹ năng cần thiết có thể lồng ghép trong môn Địa lí lớp 11 Khóa luận như một nét chấm phá, gợi mở để những nhà giáo dục cùng chung tay đưa việc rèn luyện KNS vào chương trình trung học phổ thông

2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của khóa luận

2.1 Mục tiêu

Khóa luận hoàn thành với mục tiêu cơ bản là: Giúp cho học sinh lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai hiểu được kỹ năng sống, kỹ năng sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, kỹ năng chăm sóc bảo vệ môi trường, kỹ năng phòng tránh thiên tai và hành vi gây hại đến môi trường sống Trên cơ sở đó, giúp các em biết ứng dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất sau này để có thể sử dụng và khai thác một cách hợp lí các nguồn tài nguyên đảm bảo sự phát triển bền vững

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu trên khóa luận có nhiệm vụ cơ bản là:

- Tổng hợp những vấn đề lý luận có liên quan đến KNS, giáo dục KNS, nội dung giáo dục KNS

- Lựa chọn, phân tích những bài, nội dung có liên quan đến KNS trong chương trình Địa lí lớp 11 để đưa vào bài giảng các kỹ năng cho học sinh ở bậc học này

Trang 10

- Thiết kế một số giáo án và tiến hành thực nghiệm ở 3 trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai

2.3 Giới hạn nghiên cứu

- Khóa luận nghiên cứu dạy kỹ năng sống cho đối tượng là học sinh lớp 11

ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai Khóa luận được tiến hành thực nghiệm ở 3 trường THPT tiêu biểu là trường THPT số 1 Bảo Yên, trường THPT

số 1 Bát Xát, trường THPT Dân tộc nội trú (DTNT) tỉnh

- Kỹ năng sống gồm rất nhiều kỹ năng khác nhau như: Kỹ năng giao tiếp;

kỹ năng ứng xử; kỹ năng tìm kiếm, xử lý thông tin; kỹ năng giải quyết vấn đề… Khóa luận chỉ nghiên cứu để dạy một số kỹ năng cơ bản là kỹ năng ứng

xử với môi trường tự nhiên, kỹ năng sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên,

kỹ năng bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai và những hành vi gây hại đến môi trường sống

- Khóa luận chỉ nghiên cứu việc rèn KNS ở một số bài học Địa lí trong chương trình Địa lí lớp 11 ban cơ bản

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3.1 Trên thế giới

Thuật ngữ “Kỹ năng sống’’ đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX

trong một số chương trình giáo dục của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc

(UNICEF), trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá

trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bản danh mục các kỹ năng cơ bản mà thế hệ trẻ cần có Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với kỹ năng xã hội Dự án được Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) tiến hành tại một số nước trong đó có các quốc gia Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính

hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên [8]

Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội và xu thế hội nhập, phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực và kỹ năng cơ bản để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội Theo đó, vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm

Trang 11

Quan niệm, nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau Trong giáo dục không chính quy ở một

số nước, những kỹ năng cơ bản như: Nghe, nói, đọc,viết, được coi là những KNS cơ sở trong khi giáo dục chính quy, các KNS cơ bản lại được xác định phong phú theo các lĩnh vực quan hệ cá nhân

Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn diện, sâu sắc Cho đến nay, chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS

Nhìn chung, các nước trên thế giới đã nghiên cứu xác định chương trình và hình thức giáo dục KNS Các chương trình được thiết kế khá đa dạng cả về hình thức và nội dung Nhiều nước xây dựng chương trình theo cách lồng ghép kỹ năng sống vào chương trình dạy chữ (vào chương trình các môn học) ở mức độ khác nhau Các nội dung được lồng ghép như kỹ năng làm nông nghiệp, kỹ năng bảo vệ môi trường, kỹ năng chăm sóc sức khỏe, kỹ năng phòng chống HIV/AIDS Nhiều nước dạy chuyên đề cần thiết như kỹ năng tạo thu nhập, bảo

vệ môi trường, kỹ năng nghề, kỹ năng kinh doanh

Như vậy, có thể nói rằng việc rèn KNS cho học sinh các trường phổ thông không chỉ riêng quốc gia nào, mà đây là một vấn đề mang tính toàn cầu, đã được nhiều nước rất quan tâm nghiên cứu

3.2 Ở Việt Nam

Thuật ngữ kỹ năng sống bắt đầu được biết đến ở Việt Nam từ chương trình của UNICEF (1996) "Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường" Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng

Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng sống cốt lõi như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu Ở giai đoạn này, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khỏe của thanh thiếu niên Giai đoạn 2 của chương trình mang tên "giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống" Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm KNS đã được phát triển sâu sắc hơn

Trang 12

Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống

về kỹ năng sống và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình, tác giả có nhiều bài báo, đề tài khoa học cấp Bộ, giáo trình bàn về kỹ năng sống

Những công trình tiêu biểu của tác giả là “Giáo dục kỹ năng sống”, Chuyên đề cao học, ĐHSP Hà Nội “Giáo dục kỹ năng sống”, Giáo trình dành cho sinh viên Cao đẳng sư phạm, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội “Những nghiên cứu và

thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam”, Viện Chiến lược và

Chương trình giáo dục, Hà Nội Những công trình này đặt cơ sở và tạo ra những hướng nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam

Những nội dung chủ yếu mà tác giả Nguyễn Thanh Bình đã đề cập đến trong các nghiên cứu là xác định những vấn đề lý luận cốt lõi về kỹ năng sống

và giáo dục kỹ năng sống Tác giả đã trình bày được khái niệm về kỹ năng sống, các loại kỹ năng sống Điều đặc biệt là tác giả đã trình bày được các phương pháp, cách thức giáo dục KNS Những công trình này góp phần đáng kể, mở ra hướng nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam

Ngoài ra, có một số tác giả khác nghiên cứu về KNS cho tuổi vị thành niên

Tác giả Đào Thị Oanh có: “Một số cơ sở tâm lý học của việc giáo dục kỹ năng

sống cho học sinh” tác giả đã phân tích rõ những cơ sở tâm lý học để rèn KNS

Dựa vào những cơ sở tâm lý đó giáo viên có thể rèn luyện KNS cho học sinh đó

là các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng đương đầu với cảm xúc căng thẳng, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực

Tác giả Nguyễn Thị Oanh trong “Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên” lại

đề cập đến những khía cạnh khác Tác giả đã quan niệm rằng: “Kỹ năng sống với tư cách là đối tượng của giáo dục KNS là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng

và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”[13]

Gần đây tác giả Phan Thanh Vân đã nghiên cứu đề tài “Giáo dục kỹ năng

sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Tác

giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, biện pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Tác giả cũng đã khẳng định: Giáo dục kỹ năng sống là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của hệ thống giáo dục, là kết quả của giáo dục đồng thời là nhiệm vụ quan trọng của mọi hoạt động nhà trường

Gần với hướng nghiên cứu của khóa luận; các tác giả Lê minh Châu, Trần Thị Tố Oanh, Phạm Thị Thu Phương, Lưu Thu Thủy, Đào Vân Vi có nghiên

Trang 13

cứu “ Giáo dục kỹ năng sống trong môn địa lý ở trường trung học cơ sở” Tác

giả đề cập đến 2 phần Phần 1 tác giả đề cập đến 4 nội dung cơ bản là: Quan niệm về kỹ năng sống, phân loại kỹ năng sống, tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh, định hướng giáo dục KNS cho học sinh Các nội dung

mà nhóm tác giả đề cập đến nhằm giúp cho giáo viên nhận thức đầy đủ về bản chất, mục tiêu, nguyên tắc giáo dục KNS, nội dung của các KNS và việc lựa chọn các KNS cần giáo dục cho học sinh Phần 2 nhóm tác giả đề cập đến việc giáo dục KNS trong môn Địa lí ở trường trung học cơ sở (THCS) Trong phần

này, nhóm tác giả đề cập đến 3 nội dung cơ bản là: Thứ nhất, phân tích khả

năng, mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh trong môn Địa lí ở trường THCS Nội dung này giúp giáo viên có nhận thức về việc vận dụng kiến thức của môn

Địa lí vào giáo dục KNS cho học sinh THCS Thứ hai, giới thiệu một số nội

dung và địa chỉ các tiết học/ bài học tiêu biểu của môn Địa lí vào giáo dục KNS

cho học sinh ở từng lớp Thứ ba, tiến hành soạn một số bài tham khảo về giáo

dục KNS trong môn Địa lí ở trường THCS Cuốn sách này là nguồn tài liệu giúp cho các thầy cô có thể vận dụng để rèn KNS cho học sinh THCS

Như vậy, vấn đề giáo dục KNS trong nhà trường nói chung đã có nhiều tác giả đề cập đến Các công trình này là những cơ sở giúp cho tác giả kế thừa phát

huy để nghiên cứu khóa luận “Rèn kỹ năng sống cho học sinh lớp 11 trên địa

bàn tỉnh Lào Cai qua môn Địa lí”

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp phân tích xử lí số liệu thống kê

Khóa luận được thực nghiệm tại một số trường THPT, do đó kết quả thực nghiệm sẽ được thống kê, xử lí và tính toán Trên cơ sở những số liệu đã được

xử lí để rút ra một số kết luận cần thiết

Các giáo án thiết kế được thực nghiệm ở 3 trường Tác giả đã tiến hành điều tra ở lớp thực nghiệm với 316 em học sinh, lớp đối chứng 273 em học sinh, với những nội dung khác nhau Sau khi phát phiếu điều tra xin ý kiến, tác giả đã phân tích, xử lí số liệu thống kê Những số liệu được phân tích, tính toán một cách tỉ mỉ trong mối tương quan tổng thể, từ đó có những đánh giá và rút ra những kết luận cần thiết

4.2 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu

Đây là một phương pháp nghiên cứu rất quan trọng trong việc tiếp cận vấn đề Tài liệu thu thập được về mặt lí luận sẽ giúp chúng ta hiểu biết được các thành tựu trong quá khứ và những vấn đề cập nhật hiện tại

Trang 14

Sau khi phân tích và nhóm tài liệu, xử lý theo yêu cầu của khóa luận sẽ giúp chúng ta phát hiện những vấn đề trọng tâm cũng như những vấn đề đang bỏ ngỏ một tài liệu toàn diện và khái quát những vấn đề nghiên cứu

Các tài liệu mà tác giả thu thập được rất phong phú từ các sách báo, các đề tài nghiên cứu khoa học và các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, các tài liệu bàn

về KNS trên mạng internet… tất cả các tài liệu đó tác giả nghiên cứu, phân tích, đánh giá để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về vấn đề nghiên cứu

4.3 Phương pháp thực nghiệm

Khóa luận đã thiết kế được 5 giáo án liên quan đến giáo dục KNS qua một

số bài học Địa lí lớp 11 Tác giả đã vận dụng thử nghiệm trong các bài giảng để tăng khả năng ứng dụng của khóa luận Khóa luận được thực nghiệm ở các trường THPT số 1 Bảo Yên, THPT số 1 Bát Xát, THPT DTNT tỉnh

Khi tiến hành thực nghiệm ở các trường phổ thông có bài tác giả đã xin ý kiến của giáo viên đóng góp cho giáo án và trực tiếp giảng dạy, có bài tác giả nhờ giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy hộ Khi dạy xong các bài đó tác giả

đã phát phiếu xin ý kiến của học sinh Tại các trường đến thực nghiệm tác giả cũng xin ý kiến ở cả các lớp không lồng ghép kiến thức KNS Tuy nhiên, với thời gian nghiên cứu cũng như những điều kiện khác, tác giả chỉ tiến hành thực nghiệm được ở một số trường và một số bài cụ thể mà chưa tiến hành trên diện rộng Trong khi thực hiện khóa luận, tác giả vẫn tiếp tục thử nghiệm để sau này khi ra trường sẽ vận dụng tốt hơn kết quả nghiên cứu của khóa luận

4.4 Phương pháp phỏng vấn

Được thực hiện nhằm tìm hiểu các nguyên nhân về thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT và tìm hiểu quan điểm của các đối tượng được phỏng vấn về việc lồng ghép KNS trong môn Địa lí cho học sinh lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả đã gặp gỡ, trao đổi với nhiều giáo viên và các em học sinh ở các trường phổ thông đó Qua các cuộc tiếp xúc, nói chuyện tác giả đã nhận thấy rằng việc lồng ghép kiến thức KNS cho học sinh rất cần thiết, tác giả đã phỏng vấn thông qua phiếu điều tra tới 589 học sinh Trong quá trình phỏng vấn tác giả không chỉ phỏng vấn ở những lớp được lồng ghép kiến thức KNS mà còn phỏng vấn cả những lớp không dạy Trên cơ sở những ý kiến đó tác giả xác định sự cần thiết phải rèn KNS cho học sinh THPT Những thông tin mà tác giả thu được thông qua phiếu điều tra đó là cơ sở cần thiết để khẳng định được kết quả nghiên cứu của khóa luận

Trang 15

4.5 Phương pháp biểu đồ

Đây là một phương pháp phổ biến và thông dụng trong môn Địa lí Các biểu đồ đều mang một thông tin nhất định Vì vậy, trong khóa luận để thể hiện kết quả nghiên cứu tôi đã xây dựng biểu đồ cột Khóa luận đã xây dựng được 2 biểu đồ thể hiện kết quả nghiên cứu về sự cần thiết phải lồng ghép nội dung giáo dục KNS cho học sinh trung học phổ thông qua môn Địa lí

5 Đóng góp của khóa luận

5.1 Về lí luận

Khóa luận hoàn thành sẽ góp phần phát triển lí luận về giáo dục KNS cho học sinh THPT và bước đầu thiết lập cơ sở lí luận về giáo dục KNS trong môn Địa lí thông qua việc lồng ghép những nội dung cụ thể trong từng môn học Những vấn đề trên thể hiện qua một số quan điểm sau:

Giáo dục KNS nói chung và thông qua môn Địa lí lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêng nhằm giúp phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh để các

em rèn KNS, kỹ năng ứng xử với môi trường tự nhiên trong thời kì biến đổi khí hậu Trên cơ sở đó giúp các em biết ứng xử với cuộc sống, con người và vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất sau này để có thể sử dụng, khai thác hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên

Việc tích hợp và lồng ghép thông qua một số bài học cụ thể không chỉ đem lại sự sinh động, phong phú trong nội dung bài giảng mà còn góp phần hình thành những suy nghĩ, tư duy nhận thức mới cho học sinh lớp 11 ở tỉnh Lào Cai

5.2 Về thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của khóa luận khẳng định:

Học sinh lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai rất hạn chế về KNS Một trong những nguyên nhân của thực trạng này là do giáo dục THPT, đặc biệt là nội dung môn học chưa được quan tâm thỏa đáng đến vấn đề giáo dục KNS cho học sinh Chưa xác định phương pháp hiệu quả để lồng ghép các nội dung liên quan tới KNS vào từng môn học, trong đó có môn Địa lí

Tính tích hợp và lồng ghép nội dung, vấn đề cụ thể vào một số bài học trong môn Địa lí THPT là nội dung cần được triển khai nhằm cho học sinh lớp

11 ở tỉnh Lào Cai được trang bị những kỹ năng cơ bản và hiệu quả nhất, phù hợp với sự phát triển của nền giáo dục gắn với thực tiễn Khóa luận hoàn thành là nguồn tư liệu bổ ích giúp cho các sinh viên và giáo viên ở trường THPT tham khảo để có thể lồng ghép các KNS trong các bài học Địa lí ở trường phổ thông

Trang 16

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 3 chương:

Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn của khóa luận;

Chương 2: Một số nội dung có thể lồng ghép kỹ năng sống trong môn Địa

lí lớp 11 ở trường THPT;

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA KHÓA LUẬN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số khái niệm về kỹ năng sống

Khái niệm về kỹ năng sống được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội Ngay những năm đầu thập kỉ 90, các tổ chức Liên Hợp Quốc như: Tổ chức Y tế thế giới (WHO), UNESCO đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên Tuy nhiên, cho đến nay, KNS vẫn chưa có một định nghĩa nào rõ ràng và đầy đủ

Theo UNESCO: Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Đó là khả năng làm cho hành

vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lí có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày

Theo UNICEF: Kỹ năng sống là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống Các KNS nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng thành hành động thực tế làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng

WHO quan niệm: Kỹ năng sống là năng lực tâm lí xã hội, là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lí có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội KNS là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lí xã hội này Tại Việt Nam, hiện nay cũng có khá nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm KNS Trong bài viết “Khái niệm KNS nhìn từ góc độ tâm lí học”, PGS Nguyễn Quang Uẩn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã xem xét khái niệm KNS dưới góc độ tâm lí học, tác giả đã phân tích: Cuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống, với sự đan xen của dòng “hoạt động có đối tượng” và “mối quan hệ giao tiếp ứng xử” giữa con người với con người, đó là hai mặt có quan hệ tác động lẫn nhau, tạo nên cuộc sống đích thực của mỗi con

Trang 18

hoạt động sống của con người có các KNS Tác giả đã đưa ra khái niệm về kỹ năng sống như sau: “KNS là một tổng hợp phức tạp của một hệ thống các kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc

và tham gia vào cuộc sống hàng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống”

Theo tiến sĩ tâm lí Huỳnh Minh Sơn: “KNS là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lí, kỹ năng tâm lí - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống Những kỹ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển

Kỹ năng sống còn được xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lí

xã hội giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại…”

Ngoài ra, ThS Nguyễn Thị Oanh trình bày quan điểm KNS với tư cách là đối tượng của giáo dục KNS là năng lực tâm lí xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày [13]

Từ các quan niệm về kỹ năng sống nêu trên, có thể rút ra nhận xét:

- Có nhiều cách biểu đạt khái niệm KNS với quan niệm rộng hẹp khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề Khái niệm KNS hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những năng lực tâm lí xã hội Theo nghĩa rộng, KNS không chỉ bao gồm năng lực tâm lí xã hội mà bao gồm cả những kỹ năng vận động

- Mặc dù cách biểu đạt khái niệm KNS có khác nhau (việc xác định nội hàm của khái niệm rộng, sâu khác nhau dẫn đến phạm vi phản ánh của khái niệm rộng, hẹp khác nhau) nhưng điểm thống nhất trong các quan niệm về KNS là: Khẳng định KNS thuộc về phạm trù năng lực (hiểu kỹ năng theo nghĩa rộng) chứ không thuộc phạm trù kĩ thuật của hành động, hành vi (hiểu kỹ năng sống theo nghĩa hẹp)

- Do tính chất phức tạp của KNS nên trong thực tế, các tài liệu về KNS đề cập đến mọi lĩnh vực hoạt động từ học tập để chuẩn bị vào nghề, cách học ngoại ngữ, kỹ năng làm cha mẹ đến tổ chức trại hè Tuy nhiên, cần phân biệt giữa kỹ năng để sống còn như học chữ, học nghề, làm toán tới kỹ năng bơi lội…với khái niệm KNS đã được đề cập ở các định nghĩa nêu trên

Tóm lại, khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khu vực và từng quốc gia Ở một số nước, KNS được hướng vào giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh Một số nước khác, KNS lại hướng vào giáo dục hành vi và cách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay

Trang 19

giáo dục lòng yêu hòa bình Theo đó, vấn đề phát triển KNS cho thanh thiếu niên ở các nước cũng khác nhau Có nước chỉ hạn chế những KNS cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh tệ nạn xã hội, nghĩa là kỹ năng sống chỉ dành cho một số nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của xã hội, KNS không phải là cần cho mọi người Nhưng ở một số nước khác

sự nhận thức về KNS sâu sắc hơn, do đó KNS được phát triển cho mọi đối tượng để với những KNS đó con người có thể vận dụng vào giải quyết các vấn

đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huống khác nhau của từng loại đối tượng Tuy nhiên, xu hướng chung là sử dụng khái niệm KNS của UNESCO (sử dụng khái niệm KNS theo nghĩa rộng) để triển khai các hoạt động phát triển

kỹ năng sống cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên Điều

này được lí giải bởi hai lí do: Thứ nhất, nếu hiểu KNS theo nghĩa hẹp là đồng

nhất KNS với năng lực tâm lí xã hội do đó làm giảm đi phạm vi ảnh hưởng cũng như tác dụng của KNS Năng lực tâm lí xã hội đề cập tới khả năng của con người biểu hiện những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác trong các tình huống khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó Nhưng, điều cần lưu ý là con người không chỉ cần có năng lực thích ứng với những thách thức của cuộc sống mà con người còn cần và phải

biết thay đổi một cách phù hợp mang tính tích cực; Thứ hai, khái niệm KNS

theo nghĩa rộng bao hàm trong nó năng lực tâm lí xã hội với ý nghĩa là thành phần có vai trò chung cho việc hỗ trợ cho sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất, giúp cá nhân sống hạnh phúc với người khác trong xã hội Bên cạnh đó, theo nghĩa rộng, khái niệm KNS còn đề cập đến khả năng con người quản lí được các tình huống rủi ro, không chỉ đối với bản thân mà có thể gây ảnh hưởng đến mọi người trong việc chấp nhận các biện pháp ngăn ngừa rủi ro Đây chính

là khả năng con người quản lí một cách thích hợp bản thân, người khác và xã hội trong cuộc sống hàng ngày

Do tiếp cận kỹ năng sống tương đối đa dạng nên cũng có nhiều cách phân loại KNS Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình [3], tồn tại các cách phân loại kỹ năng như sau:

- Phân loại xuất phát từ lĩnh vực sức khỏe Theo cách phân loại này có 3

nhóm kỹ năng: Nhóm thứ nhất, là nhóm kỹ năng nhận thức bao gồm các kỹ năng

cụ thể: Kỹ năng giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, tư duy phân tích, khả năng

sáng tạo, tự nhận thức, đặt mục tiêu…; Nhóm thứ hai, là các kỹ năng đương đầu

với cảm xúc, gồm các kỹ năng cụ thể : Kiềm chế sự căng thẳng, kiềm chế được

cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và tự điều chỉnh; Nhóm cuối cùng, là nhóm kỹ

Trang 20

năng xã hội (hay kỹ năng tương tác) với các kỹ năng thành phần: Giao tiếp, quyết đoán, thương thuyết, từ chối, hợp tác, sự cảm thông chia sẻ, khả năng nhận thấy thiện cảm của người khác

- Với mục đích giúp người học ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF phân loại KNS theo các mối quan hệ của cá nhân với nhóm KNS:

+ Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kỹ năng:

Kỹ năng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, đương đầu với cảm xúc, đương đầu với căng thẳng

+ Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với người khác, với các kỹ năng thành phần: Kỹ năng quan hệ tương tác nhân cách, sự cảm thông, đứng vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác, thương lượng, giao tiếp có hiệu quả

+ Nhóm kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả, gồm các kỹ năng: Tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề

Những cách phân loại nêu trên đã đưa ra bảng danh mục các KNS có giá trị trong nghiên cứu phát triển lí luận về KNS và chỉ có tính chất tương đối Trên thực tế, các KNS có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham gia vào một tình huống cụ thể, con người cần phải sử dụng rất nhiều kỹ năng khác nhau Ví

dụ, khi cần quyết định một vấn đề nào đó, cá nhân phải sử dụng những kỹ năng như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư duy sáng tạo…

Kết quả nghiên cứu về KNS của nhiều tác giả [3,4] đã khẳng định: Dù phân loại theo hình thức nào thì một số kỹ năng vẫn được coi là kỹ năng cốt lõi như:

Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực; kỹ năng ra quyết định, kỹ năng đặt mục tiêu [3] Thống nhất với quan niệm này, khóa luận đã giới hạn các KNS được nghiên cứu để giáo dục cho học sinh lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai thông qua môn Địa lí gồm các kỹ năng: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử với môi trường thiên nhiên, kỹ năng bảo vệ môi trường, kỹ năng sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng tránh thiên tai và những hành vi gây hại đến môi trường sống Trên cơ sở đó giúp các em biết ứng dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất sau này để sử dụng và khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo sự phát triển biền vững

Khóa luận nghiên cứu các kỹ năng này nhằm giáo dục cho học sinh một số

kỹ năng cần thiết để giúp cho các em học sinh THPT có thể vận dụng vào thực tiễn ở địa phương, khai thác có hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên

Trang 21

1.1.2 Giáo dục kỹ năng sống

Khái niệm giáo dục cũng được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp

độ xã hội và cấp độ nhà trường [10] Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục chỉ quá trình giáo dục tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục là các hoạt động do các cơ sở giáo dục (trường học và các cơ sở khác) tổ chức thực hiện theo kế hoạch, chương trình giáo dục, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về chúng Trong các hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học là nền tảng và chủ đạo không chỉ trong các môn học, mà ở tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Nó là hoạt động giáo dục cơ bản nhất, có vị trí nền tảng và chức năng chủ đạo trong hệ thống các hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục được tổ chức có định hướng về mặt giá trị nhằm tạo ra những môi trường hoạt động và giao tiếp có định hướng của người học Khi tham gia các hoạt động giáo dục, người học tiến hành các hoạt động của mình theo những nguyên tắc chung, mục tiêu chung, những chuẩn mực giá trị chung và các biện pháp chung, nhờ vậy học sinh được giáo dục theo những tiêu chí chung

Kỹ năng sống được hình thành thông qua quá trình xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng thích hợp Do vậy, KNS phải được hình thành cho học sinh thông qua con đường đặc trưng - hoạt động giáo dục Theo UNICEF, giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái

độ, hành vi

Giáo dục KNS là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm

tổ chức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức (cái học sinh biết) và thái độ, giá trị (cái học sinh nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thành hành động thực tế (làm gì và làm cách nào) một cách thích hợp và mang tính chất xây dựng Giáo dục KNS cho học sinh là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng hoặc thay đổi ở các em một số hành vi theo hướng tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp học sinh có tri thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp

1.1.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT

Có rất nhiều những kiến thức liên quan đến kỹ năng sống Bởi thế khi giáo dục kỹ năng sống có nhiều nội dung khác nhau Một số nội dung cơ bản như: Kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng

Trang 22

sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, kỹ năng phòng tránh thiên tai, kỹ năng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường…

1.1.3.1 Kỹ năng kiểm soát cảm xúc

Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và người khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp Kỹ năng xử lí cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như:

Xử lí cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc

Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng, giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa

và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn

Kỹ năng xử lí cảm xúc cần sự kết hợp với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng ứng xử với người khác và kỹ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp phần củng cố các kỹ năng này

1.1.3.2 Kỹ năng tự nhận thức

Tự nhận thức là tự nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân

Kỹ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu, của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng

Tự nhận thức là một kỹ năng sống rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông được với người khác Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con người mới có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội Ngược lại, đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác

Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt

là qua giao tiếp với người khác

1.1.3.3 Kỹ năng tư duy sáng tạo

Tư duy là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với

ý tưởng mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ

Trang 23

Kỹ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi, có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn những người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua; tư duy minh mẫn và khác biệt

Tư duy sáng tạo là một KNS quan trọng bởi vì trong cuộc sống con người thường xuyên bị đặt vào trong những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra Khi gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo để

có một cách ứng phó linh hoạt và phù hợp

Khi một người biết kết hợp tốt giữa tư duy phê phán và tư duy sáng tạo thì năng lực tư duy của người ấy càng được tăng cường và giúp ích rất nhiều cho bản thân trong việc giải quyết vấn đề một cách thuận lợi và phù hợp nhất

1.1.3.4 Kỹ năng giao tiếp

Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ có thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm

Kỹ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại hay tổn thương cho người khác, kỹ năng này giúp chúng ta

có mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình, bạn bè

Kỹ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kỹ năng khác như bày tỏ sự cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn, kiểm soát cảm xúc Người có kỹ năng giao tiếp tốt biết dung hòa đối với mong đợi của những người khác; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng và ở cùng với người khác trong một môi trường tập thể quan tâm đến những điều người khác quan tâm và giúp

họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính xác

1.1.3.5 Kỹ năng bảo vệ thiên nhiên và môi trường, phòng tránh thiên tai

Hiện nay, tài nguyên thiên nhiên đang bị cạn kiệt, môi trường đang bị ô nhiễm Bởi thế việc rèn kỹ năng bảo vệ tài nguyên và môi trường có ý nghĩa quan trọng Rèn kỹ năng này là dạy cho học sinh hiểu về các loại tài nguyên thiên nhiên, sự suy giảm, xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên để học sinh có ý thức hơn trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Thông qua đó học sinh biết cách khai thác tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm, hợp lý, biết phòng tránh thiên tai, rủi ro do tai biến thiên nhiên Có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường Những hành động nhỏ của học sinh như không vứt rác bùa bãi, không phá hoại

Trang 24

tài sản công, biết giữ gìn bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đó là những mục tiêu mà trong các bài dạy Địa lí đang hướng tới

1.1.3.6 Kỹ năng giải quyết vấn đề

Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định, lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn

đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống

Để giải quyết vấn đề có hiệu quả, chúng ta cần:

- Xác định rõ vấn đề hoặc tình huống đang gặp phải, kể cả tìm kiếm thông tin cần thiết

- Liệt kê các cách giải quyết vấn đề, tình huống đã có

- Hình dung đầy đủ về kết quả xảy ra nếu ta lựa chọn phương án giải quyết nào đó

- Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu thực hiện phương án giải quyết đó

- So sánh các phương án để đưa ra quyết định cuối cùng

- Hành động theo quyết định đã lựa chọn

- Kiểm định lại kết quả để rút kinh nghiệm cho những lần ra quyết định và giải quyết vấn đề sau

Kỹ năng giải quyết vấn đề rất quan trọng, giúp con người có thể ứng phó tích cực và hiệu quả trước những vấn đề, tình huống của cuộc sống Trong học tập môn Địa lí, kỹ năng này trang bị cho học sinh tính kiên định trước mọi tình huống gặp phải trong cuộc sống, ứng phó linh hoạt, thích hợp và hiệu quả khi đứng trước một hiện tượng bất thường của tự nhiên

1.1.4 Phương thức và phương pháp tiếp cận trong giáo dục KNS cho HS trung học phổ thông

Trước yêu cầu cấp bách về việc đưa KNS vào chương trình giáo dục học đường, trong đó có giáo dục phổ thông nói chung, THPT nói riêng, thời gian qua

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học về việc xây dựng chương trình giáo dục KNS cho HS các cấp học Một trong những vấn đề được quan tâm ở các hội thảo này là phương thức thực hiện giáo dục KNS cho HS như thế nào cho hiệu quả

Tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm của một số nước cho thấy có 3 phương

án thực hiên giáo dục KNS cho học sinh là

Trang 25

- Xây dựng môn học về giáo dục KNS đưa vào chương trình học tập của học sinh

- Lồng ghép các nội dung giáo dục KNS vào các môn học có ưu thế và các hoạt động giáo dục khác

- Tích hợp giáo dục KNS vào các môn học (trong đó có môn Địa lí)

Theo quan điểm của tác giả do KNS được hình thành và phát triển thông qua trải nghiệm và gắn liền với hoạt động sống của HS nên việc giáo dục KNS cho học sinh hình thành một môn học riêng là ít khả thi, kém hiệu quả vì để xây dựng nên một môn học theo hướng trên sẽ tốn nhiều thời gian nghiên cứu và thực hiện, cũng như môn học đạo đức vậy HS có thể học thuộc lòng các khái niệm đạo đức nhưng chưa chắc học sinh có những hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức mà các em rất thuộc

Phương thức lồng ghép cũng được thực hiện với một số nội dung giáo dục cần cập nhật vào chương trình giáo dục phổ thông như giáo dục dân số, giáo dục môi trường …tuy nhiên giáo dục KNS, phương thức này cũng không nhiều hiệu quả Những khó khăn khi thực hiện theo phương thức này là:

- Khó khăn trong việc xác định các môn học để lồng ghép Những môn học này phải đảm bảo những yếu tố tương đồng với đặc trưng của giáo dục KNS (chú trọng thực hành và kinh nghiệm sống của HS; thiết lập hành vi cụ thể …)

- Khó khăn trong việc đảm bảo nội dung giáo dục KNS đã được lồng ghép Bởi vì do tính chất lồng ghép, nội dung giáo dục KNS có tính độc lập nhất định

so với nội dung của môn học được sử dụng để lồng ghép, việc khai thác nội dung giáo dục KNS đến đâu phụ thuộc vào từng giáo viên, thậm chí từng tiết học của môn học được lồng ghép

Với những phân tích trên, tác giả cho rằng, cần xác định giáo dục KNS là mục đích của giáo dục, theo đó, tất cả các môn học, các hoạt động giáo dục trong nhà trường phải hướng đến giáo dục KNS cho HS Có như vậy, giáo dục KNS cho HS mới được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục về cả thời gian và không gian nhờ đó mà các mục tiêu về giáo dục KNS cho HS mới đạt được ở mức độ cao Đây cũng là lí do, tác giả lựa chọn phương thức tích hợp là phương thức giáo dục KNS cho HS trong trường THPT

Như vây, theo phạm vi giới hạn của khóa luận, vấn đề giáo dục KNS cho

HS lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai qua môn Địa lí chính là việc thực hiện giáo dục KNS cho HS theo phương thức tích hợp

Trang 26

Các tiếp cận chính trong giáo dục KNS cho HS THPT đã được khái quát gồm:

- Phương pháp tiếp cận KNS cùng tham gia: Tạo sự tương tác giữa giáo viên với HS, HS với HS và tăng cường tham gia của HS trong học tập, thực hành kỹ năng

- Phương pháp tiếp cận hướng vào người học: Dựa vào kinh nghiệm sống

và đáp ứng nhu cầu của HS

- Phương pháp tiếp cận hoạt động: Tổ chức cho HS tham gia các hoạt động

để xây dựng hành vi

Với các phương pháp pháp tiếp cận trên, các phương pháp dạy học cụ thể được sử dụng trong giáo dục KNS cho HS THPT là: Phương pháp động não, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đàm thoại gợi mở…

Người không có kỹ năng ra quyết định sẽ dễ mắc sai lầm hoặc chậm trễ trong việc đưa ra quyết định và phải trả giá cho quyết định sai lầm của mình; người không có kỹ năng ứng phó với căng thẳng sẽ hay bị căng thẳng hơn những người khác và thường có cách ứng phó tiêu cực khi bị căng thẳng, làm ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, học tập, công việc… của bản thân Hoặc người không có kỹ năng giao tiếp sẽ khó khăn hơn trong việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh, sẽ khó khăn hơn trong hợp tác cùng làm việc, giải quyết những nhiệm vụ chung…

Không những thúc đẩy sự phát triển của cá nhân, KNS còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề về xã hội và bảo vệ quyền con người Việc thiếu KNS của cá nhân là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như: Nghiện rượu, nghiện ma túy, mại dâm, cờ bạc… Việc giáo dục KNS sẽ thúc đẩy các hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội và giảm các vấn đề tiêu cực Giáo dục KNS còn

Trang 27

giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong luật pháp Việt Nam và quốc tế

Rèn luyện KNS càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ hiện nay bởi vì: Các em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới Nếu không có KNS, các em sẽ không thực hiện tốt trách nhiệm của bản thân đối với gia đình, cộng đồng và đất nước

Học sinh lớp 11 là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về

xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động Nếu không được giáo dục KNS, nếu thiếu KNS các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách Một trong các nguyên nhân dẫn tới các hiện tượng tiêu cực của một bộ phận học sinh phổ thông trong thời gian qua như: Bạo lực học đường, nghiện hút, ăn chơi

sa đọa…chính là do các em thiếu những KNS cần thiết như: Kỹ năng từ chối, kỹ năng kiên định, kỹ năng giao tiếp…

Vì vậy, việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ hiện nay nói chung, cho học sinhlớp

11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêng là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi

có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước; giúp các em có bản năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan

hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa và lành mạnh Từ đó, qua quá trình được truyền thụ hệ thống các kỹ năng tự bảo vệ môi trường, những yếu tố tiêu cực tác động đến đời sống xã hội

1.2.2 Sự cần thiết phải rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai qua môn Địa lí

Địa lí là môn học cung cấp cho học sinh những hiểu biết về tự nhiên và xã hội Vì vậy việc giáo dục KNS trong môn Địa lí là hết sức cần thiết nhằm giúp học sinh có những kỹ năng hành động, ứng xử phù hợp với tự nhiên, xã hội; có khả năng ứng phó và giải quyết một số vấn đề thường gặp trong cuộc sống do điều kiện tự nhiên cũng như xã hội mang lại

Tỉnh Lào Cai có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Tuy nhiên, đã có nhiều loại tài nguyên đang bị suy giảm đặc biệt như tài nguyên khoáng sản, tài nguyên sinh vật Giáo dục kỹ năng sống để trang bị những kiến thức, kỹ năng thích hợp sẽ giúp các em có cách ứng phó thích hợp nhất để giảm thiểu nhất thiệt hại của thiên tai gây ra

Trang 28

Mục tiêu của bộ môn đã tạo cơ hội tốt cho việc giáo dục KNS như:

Mục tiêu về kỹ năng: “Hình thành ở học sinh kỹ năng thu nhập, xử lí và trình bày thông tin Địa lí; kỹ năng sử dụng tri thức để bước đầu tham gia giải quyết những vấn đề của cuộc sống phù hợp với khả năng của học sinh”

Mục tiêu về thái độ: “Góp phần bồi dưỡng cho học sinh có ý thức trách nhiệm và tích cực tham gia vào các hoạt động sử dụng hợp lí, bảo vệ, cải thiện môi trường sống, nâng cao chất lượng cuộc sống của gia đình và cộng đồng Nội dung môn Địa lí cung cấp cho học sinh một số vấn đề của thế giới đương đại, cả những mặt tích cực cũng như những mặt tiêu cực; một số vấn đề

về tự nhiên và xã hội Việt Nam, thông qua những nội dung này, có thể giáo dục cho các em một số kỹ năng như: Kỹ năng ứng phó và tự bảo vệ mình trước thiên tai, những hiểm họa trong xã hội có nguy cơ ảnh hưởng tới cuộc sống lành mạnh

và an toàn của các em; đồng thời hình thành cho các em kỹ năng cảm thông, chia sẻ với những con người sống ở mọi nơi trên đất nước ta nói riêng cũng như trên thế giới nói chung gặp những khó khăn, bất hạnh, rủi ro trong cuộc sống bởi những thảm họa thiên nhiên, những cuộc xung đột giữa các quốc gia; kỹ năng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường, phòng tránh thiên tai…

Trong thực tiễn qua quá trình tìm hiểu, tiếp xúc với giáo viên và học sinh thì

họ cho rằng rất cần thiết phải rèn luyện KNS cho học sinh ở trường THPT 100%

số giáo viên được hỏi ý kiến thông qua tiếp xúc đều trả lời rất cần thiết, trên 90%

số học sinh được học đều cho rằng cần thiết phải dạy KNS Điều đặc biệt là hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng đã đề cập rất nhiều đến việc dạy KNS ở nhiều lĩnh vực khác nhau Bởi thế, là những nhà giáo dục chúng ta không thể không chung tay để cùng giáo dục KNS cho học sinh ở trường THPT

Trang 29

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CÓ THỂ LỒNG GHÉP KỸ NĂNG

SỐNG TRONG MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11 Ở TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1 Các bài dạy và phương pháp lồng ghép kỹ năng sống

2.1.1 Các bài có liên quan đến điều kiện tự nhiên

Lớp 11

Tên

bài học Các KNS cơ bản được giáo dục

Hệ thống các phương pháp dạy học tích cực có thể sử dụng

- Tư duy: Nêu vấn đề; bình luận; tìm kiếm và xử

lí thông tin; phân tích một số vấn đề về dân số, môi trường Liệt kê một số vấn đề nhân loại đang gặp phải, đó là: Biến đổi khí hậu toàn cầu;

ô nhiễm nước ngọt, biển và đại dương; suy giảm

đa dạng sinh học…từ đó liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để tìm giải pháp khắc phục

- Giao tiếp: Trình bày suy nghĩ, ý tưởng, lắng nghe tích cực; giao tiếp ứng xử với người khác;

kỹ năng ứng phó với căng thẳng, áp lực để tìm

ra giải pháp giảm thiểu thiệt hại của biến đổi khí hậu toàn cầu và ở Việt Nam

Hỏi- đáp; đàm thoại gợi mở; chia sẻ ý tưởng, giải pháp, viết báo cáo ngắn

cầu hóa đối

- Tư duy: Phân tích đối chiếu về những tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa ở các nước đang phát triển Hệ quả của nó đối với từng khu vực, quốc gia về: Môi trường, khí hậu

- Giao tiếp: Phản hồi, lắng nghe tích cực; trình bày ý tưởng khi thảo luận những tác động tích cực và tiêu cực về toàn cầu hóa ở các nước đang phát triển

Động não; hỏi chuyên gia; làm việc nhóm nhỏ; hỏi - đáp; trao đổi; thuyết trình tích cực; trình bày 1 phút; viết báo cáo ngắn

Trang 30

với các

nước đang

phát triển

- Làm chủ bản thân: Kỹ năng quản lí thời gian

và đảm nhận trách nhiệm làm việc nhóm, kiềm chế cảm xúc khi tìm hiểu về các vấn đề nêu trên

Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

Tư duy: Giới thiệu vấn đề; suy nghĩ bình luận;

so sánh đối chiếu để nhận xét các vấn đề của Châu Phi do tác động của biến đổi khí hậu: Hiện tượng hoang mạc hóa, nắng nóng, hạn hán… tác động đến an ninh lương thực

- Giao tiếp: Trình bày suy nghĩ, chia sẻ, cảm thông với những khó khăn của người dân Châu Phi

Làm việc theo nhóm; trao đổi thảo luận, thuyết trình

- Tư duy: Phân tích tư liệu để tìm hiểu các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội của Liên bang Nga

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, trao đổi nhóm, thực hiện nhiệm vụ được phân công trong tìm hiểu các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội của Liên bang Nga

Động não; thuyết giảng tích cực; làm việc nhóm nhỏ; hỏi – đáp

- Tư duy: Phân tích các yếu tố từ sự biến đổi của khí hậu tác động đến mọi mặt nền kinh tế Nhật;

những yếu tố nào giúp quốc gia này đứng vững

Nêu vấn đề; đàm thoại gợi mở; sử dụng

đồ dùng trực quan; tranh ảnh bản đồ…

Trang 31

và phát triển Liên hệ với Việt Nam, cùng tìm giải pháp tối ưu nhất để tìm đối phó với biến đổi khí hậu đang là thách thức vô cùng lớn trong quá trình phát triển

- Tư duy: Tìm kiếm, xử lí thông tin, tư liệu để tìm hiểu các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội của Trung Quốc

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, trao đổi nhóm, thực hiện nhiệm vụ được phân công trong tìm hiểu các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội của Trung Quốc

Động não; hỏi – đáp; làm việc nhóm; hỏi chuyên gia

- Tư duy: Phân tích tư liệu để tìm hiểu các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội của khu vực Đông Nam Á

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, trao đổi nhóm, thực hiện nhiệm vụ được phân công trong tìm hiểu các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội của các nước trong khu vực Đông Nam Á

- Làm việc cá nhân; làm việc nhóm; lập sơ đồ; hỏi – đáp

Trang 32

2.1.2 Các bài liên quan đến kỹ năng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Tên bài học Các KNS cơ bản được giáo dục

Hệ thống các phương pháp dạy học tích cực

- Tư duy: Phân tích tư liệu để tìm hiểu các ngành kinh tế phát triển của Hoa Kì và nhận biết đặc điểm kinh tế Hoa Kì

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, trao đổi nhóm, thực hiện nhiệm vụ được phân công trong tìm hiểu những ngành kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế Hoa Kì

Làm việc nhóm; thuyết trình tích cực; hỏi – đáp; viết báo cáo ngắn

- Tư duy: Phân tích tư liệu để tìm hiểu sự hợp tác, liên kết để phát triển của các nước thành viên EU

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, trao đổi nhóm, thực hiện nhiệm vụ được phân công trong tìm hiểu những hình thức liên kết, hợp tác của các nước trong EU

Hỏi – đáp; thuyết trình tích cực; làm việc nhóm nhỏ, cặp đôi

- Tư duy: Phân tích tư liệu để tìm hiểu ý nghĩa của việc hình thành một EU thống

Làm việc nhóm; hỏi chuyên gia; thuyết trình tích cực

Trang 33

EU trong nền kinh tế thế giới

- Tư duy: Phân tích tư liệu để tìm hiểu sự thay đổi trong GDP, trong nông nghiệp và trong xuất – nhập khẩu của Trung Quốc

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, trao đổi nhóm, thực hiện nhiệm vụ được phân công trong tìm hiểu sự thay đổi trong GDP, trong nông nghiệp và trong xuất – nhập khẩu của Trung Quốc

Làm việc nhóm; hỏi chuyên gia; trình bày 1 phút

- Tư duy: Phân tích tư liệu để tìm hiểu cơ cấu kinh tế, một số ngành kinh tế nổi bật của khu vực Đông Nam Á

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, trao đổi nhóm, thực hiện nhiệm vụ được phân công trong tìm hiểu cơ cấu kinh tế, một số ngành kinh tế nổi bật của khu vực Đông Nam Á

Làm việc cá nhân; trình bày 1 phút; suy nghĩ – cặp đôi – chia sẻ

Trang 34

về ASEAN và tham gia hội thảo

- Giao tiếp: phản hồi, lắng nghe tích cực, trình bày suy nghĩ, ý tưởng trong trình baỳ suy nghĩ, ý tưởng trong chuẩn bị và trình bày báo cáo

- Tư duy: Giới thiệu vấn đề, suy nghĩ, bình luận, tìm kiếm, xử lí thông tin; so sánh, đối chiếu để hoàn thành báo cáo

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, đảm nhận trách nhiệm khi trình bày và tham gia trình bày báo cáo

Hỏi chuyên gia; làm việc nhóm; trao đổi, thảo luận; trình bày 1 phút; triển lãm phòng tranh; viết báo cáo ngắn

cư không đồng đều của Ô-xtrây-li-a

- Tư duy: Phân tích tư liệu về dân cư xtrây-li-a

Ô Giải quyết vấn đề: Lựa chọn phương án trình bày kết quả làm việc của cá nhân, nhóm theo phương pháp phòng tranh

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, trao đổi nhóm, thực hiện nhiệm vụ được phân công trong tìm hiểu một số đặc điểm dân

cư của Ô-xtrây-li-a

Làm việc cá nhân; làm việc nhóm; kĩ thuật phòng tranh; hỏi – đáp

Trang 35

2.1.3 Các bài liên quan đến kỹ năng giải quyết vấn đề

Tên bài học Các KNS cơ bản được giáo dục

Hệ thống các phương pháp dạy học tích cực có thể sử dụng

- Tư duy: Bình luận, tìm, phân tích số liệu, thông tin về trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau giữa các nhóm nước

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, nhận và hoàn thành trách nhiệm trong hoạt động nhóm khi phân tích tư liệu

về sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các nhóm nước

Làm việc cặp đôi, nhóm nhỏ; thuyết trình tích cực

- Tư duy: Thu thập, phân tích, số liệu, thông tin để tìm hiểu về toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế; so sánh, liên hệ thông tin để tìm hiểu thực tiễn

- Làm chủ bản thân: Kỹ năng quản lí thời gian, nhận và hoàn thành trách nhiệm trong hoạt động nhóm khi phân tích số liệu, thông tin về tác động của toàn cầu hóa, khu vực hóa

Động não, trình bày 1 phút; làm việc nhóm

Trang 36

ổn định gây khó khăn cho cuộc sống người dân ở khu vực này

- Tư duy: Phân tích tư liệu để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn về tự nhiên, dân cư, xã hội của các nước Tây Nam

Á, Trung Á đối với phát triển kinh tế

- Giải quyết vấn đề: Tìm hiểu, lựa chọn giải pháp góp phần giảm xung đột, khủng bố trong khu vực

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, trao đổi nhóm, thực hiện nhiệm vụ được phân công trong tìm hiểu những nguồn tài nguyên của vùng và những khó khăn

do sự mất ổn định của khu vực

Hỏi – đáp; làm việc nhóm; chia sẻ

sự thay đổi trong cán cân thương mại

Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại của Nhật Bản

- Tư duy: Phân tích tư liệu để tìm hiểu kinh tế đối ngoại qua hoạt đông xuất, nhập khẩu của Nhật Bản

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, trao đổi nhóm, thực hiện nhiệm vụ được phân công trong tìm hiểu kinh tế đối ngoại qua hoạt đông xuất, nhập khẩu của Nhật Bản

Làm việc nhóm; hỏi chuyên gia; trình bày 1 phút; thuyết trình tích cực

Trang 37

- Tư duy: Phân tích tư liệu về hoạt động du lịch, tình hình xuất, nhập khẩu

để tìm hiểu kinh tế đối ngoại của Đông Nam Á

- Giải quyết vấn đề: Tìm hiểu, lựa chọn giải pháp góp phần phát triển du lịch Việt Nam; lựa chon phương án trình bày kết quả làm việc cá nhân, nhóm theo phương pháp phòng tranh

- Làm chủ bản thân: Quản lí thời gian, trao đổi nhóm, thực hiện nhiệm vụ được phân công trong tìm hiểu hoạt động du lịch, tình hình xuất, nhập khẩu

để trình bày về kinh tế đối ngoại của Đông Nam Á

Làm việc cá nhân; làm việc nhóm; kĩ thuật phòng tranh; hỏi – đáp

2.2 Một số kỹ năng sống cơ bản được giáo dục trong các bài học

* Bài 2: Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế

- Các kỹ năng được lồng ghép trong bài này là: Kỹ năng biết bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, kỹ năng sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

- Thông qua các hoạt động học tập của học sinh còn rèn luyện được một

số kỹ năng như: Kỹ năng phản hồi, lắng nghe, trình bày suy nghĩ, hợp tác cùng với bạn bè Ngoài ra qua các hoạt động học tập của học sinh còn rèn được kỹ năng tìm và xử lý thông tin, kỹ năng ra quyết định

- Các phương pháp giảng dạy trong bài này chủ yếu là cặp đôi – chia nhóm nhỏ, vấn đáp, thuyết trình tích cực…(Giáo án cụ thể xem phần phụ lục 1)

* Bài 3: Một số vấn đề mang tính toàn cầu

Là bài giáo viên có thể lồng ghép được nhiều nội dung liên quan đến việc giáo dục KNS Thông qua bài học giúp cho học sinh hiểu được một số vấn đề mang tính toàn cầu như vấn đề dân số, vấn đề môi trường, ô nhiễm môi trường

Trang 38

và một số vấn đề khác như vấn đề chiến tranh và hòa bình, xung đột, khủng bố…Bởi thế với bài này giáo viên có thể lồng ghép được rất nhiều KNS Một số

kỹ năng có thể lồng ghép như:

- Kỹ năng biết phân tích, đánh giá về sự bùng nổ dân số thế giới (qua nội dung 1 trong giáo án phụ lục 2)

- Kỹ năng biết bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn nước, biết bảo

vệ TNTN, chống sự suy giảm đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên rừng (nội dung 2 trong giáo án phụ lục 2)

- Các kỹ năng ứng xử tránh sự xung đột, mâu thuẫn (phần 3 trong giáo án phụ lục 3)

Ngoài ra thông qua bài học này GV có thể lồng ghép cho HS một số kỹ năng như: Kỹ năng phản hồi, lắng nghe, trình bày suy nghĩ, kỹ năng tìm và xử lý thông tin, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng đảm bảo tránh nhiệm và kỹ năng kiểm soát cảm xúc

Các phương pháp giảng dạy trong bài này chủ yếu là hỏi – đáp; đàm thoại gợi mở; chia sẻ ý tưởng, giải pháp, viết báo cáo ngắn …(Giáo án cụ thể xem phần phụ lục 2)

* Bài 4: Thực hành: Tìm hiểu những cơ hội và thách thức của toàn cầu

hóa đối với các nước đang phát triển

Thông qua bài học này HS nắm được những cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển Qua đó giúp HS liên hệ được với thực

tế ở địa phương về tác động tích cực và hạn chế của toàn cầu hóa đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống Bởi thế, khi dạy bài này giáo viên cần lồng ghép dạy các KNS như: Kỹ năng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; kỹ năng bảo vệ môi trường, biết sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên đảm bảo sự phát triển bền vững

- Thông qua các hoạt động học tập của học sinh còn rèn luyện được một số

kỹ năng như: Kỹ năng phản hồi, lắng nghe, trình bày suy nghĩ, hợp tác cùng với bạn bè và kỹ năng làm chủ bản thân Ngoài ra qua các hoạt động học tập của học sinh còn rèn được kỹ năng tìm và xử lí thông tin, kỹ năng ra quyết định

- Các phương pháp giảng dạy trong bài này chủ yếu là đàm thoại gợi mở; thảo luận theo cặp – nhóm nhỏ…(Giáo án cụ thể xem phần phụ lục 3)

* Bài 5: Một số vấn đề của châu lục và khu vực

Tiết 1: Một số vấn đề của châu Phi

Trang 39

Thông qua bài học giúp cho học sinh hiểu được một số vấn đề của châu Phi như vấn đề dân số, vấn đề môi trường, ô nhiễm môi trường và một số vấn đề khác như vấn đề chiến tranh và hòa bình, xung đột, khủng bố…Bởi thế với bài này giáo viên có thể lồng ghép được rất nhiều KNS Một số kỹ năng có thể lồng ghép như: Kỹ năng phản hồi, lắng nghe, trình bày suy nghĩ, kỹ năng tìm và xử lý thông tin, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng đảm bảo tránh nhiệm và kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng biết bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn nước, biết bảo vệ TNTN, chống sự suy giảm đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên rừng ngoài ra, còn có một số kỹ năng khác như: Các kỹ năng ứng xử tránh sự xung đột, mâu thuẫn, kỹ năng giao tiếp

- Các phương pháp giảng dạy trong bài này chủ yếu là quan sát và xử lí thông tin qua phương tiện trực quan; động não; đàm thoại gợi mở; phát vấn; nhóm nhỏ… (Giáo án cụ thể xem phần phụ lục 4)

* Bài 10: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)

Tiết 1: Tự nhiên, dân cư và xã hội

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn và có nguồn tài nguyên rất phong phú, đa dạng, khi học bài này sẽ giúp các em hiểu được đặc điểm tự nhiên của Trung Quốc Mặc dù những đặc điểm tự nhiên ở quốc gia này khác xa với những đặc điểm của tỉnh Lào Cai nhưng ở Trung Quốc thiên nhiên, khí hậu khắc nghiệt, con người đã biết cải tạo tự nhiên, chinh phục thiên nhiên, ở Lào Cai cũng có thể cải tạo thiên nhiên phát huy những thế mạnh để khai thác hiệu quả tài nguyên Bởi thế các kỹ năng sống được lồng ghép trong bài này cụ thể là: Rèn được kỹ năng bảo vệ môi trường tự nhiên, cải tạo đất, chung sống với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt

Thông qua các hoạt động học tập học sinh còn rèn được một số kỹ năng như: Kỹ năng phản hồi, lắng nghe tích cực, kỹ năng trình bày suy nghĩ, kỹ năng tìm và xử lí thông tin, kỹ năng quản lý thời gian

- Các phương pháp giảng dạy trong bài này chủ yếu là: Động não; đàm thoại gợi mở; phát vấn; thảo luận nhóm nhỏ… (Giáo án cụ thể xem phần phụ lục 5)

Như vậy, trong rất nhiều bài học GV có thể lồng ghép để dạy KNS Tùy theo từng bài, từng nội dung để có thể lồng ghép các KNS khác nhau Tác giả cũng đã đề xuất được một số KNS có thể lồng ghép cho các bài Địa lí Các kỹ năng đó chủ yếu liên quan đến việc bảo vệ TNTN và môi trường Còn nhiều

kỹ năng khác có thể lồng ghép trong các bài học Địa lí Tuy nhiên, tác giả chỉ đề xuất một số kỹ năng trên và hy vọng các kỹ năng khác sẽ là hướng nghiên cứu mới của tác giả sau này

Trang 40

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1 Mục đích thực nghiệm

Tiến hành thực nghiệm ở nhà trường phổ thông nhằm làm sáng tỏ lý luận về việc rèn KNS cho học sinh ở trường THPT Kết quả thực nghiệm sẽ là cơ sở khoa học để nhận định sự đúng đắn của khóa luận

Thực nghiệm nhằm kiểm tra hiệu quả của quá trình rèn KNS trong môn Địa lí thông qua các tiết học được thiết kế theo hướng lồng ghép KNS cho học sinh

Qua kết quả thực nghiệm đánh giá được của khóa luận phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới khả năng nhận thức, học tập của học sinh qua quá trình rèn cho mình kỹ năng sống Việc dạy học theo phương pháp mới là sự lồng ghép KNS cơ bản được giáo dục dựa trên kiến thức trọng tâm trong một số bài học Địa lí so với cách dạy học truyền thống không dạy KNS Qua bài học mới giáo viên sẽ đánh giá được mức độ hiểu bài của học sinh và việc vận dụng KNS của các em trong thực tiễn cuộc sống

Mặt khác, thực nghiệm là cơ hội tốt giúp tôi cọ sát với việc dạy học ở trường phổ thông, được học hỏi kinh nghiệm của các thầy cô giáo, được tiếp xúc trực tiếp với các em học sinh qua đó có thể trao đổi để hoàn thiện hơn khóa luận

mà tôi đang thực hiện, đồng thời tích lũy thêm những kinh nghiệm để chuẩn bị cho công tác giảng dạy sau này

3.2 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm

Để đạt được mục đích thực nghiệm sư phạm, trong quá trình tiến hành thực nghiệm tôi đã thực hiện ở nhiều trường THPT khác nhau trên địa bàn tỉnh Lào Cai, cả trường ở thành phố và một số trường huyện

Kết quả thực nghiệm được đánh giá một cách khách quan, khoa học, có sự

so sánh giữa lớp thực nghiệm dạy học theo phương pháp lồng ghép nội dung giáo dục KNS với lớp đối chứng dạy học theo phương pháp truyền thống, không lồng ghép KNS

Sau khi tiến hành dạy học lồng ghép KNS tôi đã phát phiếu điều tra với nội dung câu hỏi khác nhau về sự cần thiết của việc rèn KNS, đánh giá việc lồng ghép KNS, hiệu quả của việc lồng ghép KNS Tôi cũng tiến hành phát phiếu điều tra để thăm dò lớp đối chứng không được dạy KNS với các thông tin có thích học lồng ghép KNS không, muốn lồng ghép KNS nào? Các thông tin thu được đều được phân tích, so sánh để rút ra kết luận cho khóa luận

Ngày đăng: 09/06/2014, 16:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình phát - RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI QUA MÔN ĐỊA LÍ - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỊA LÝ
Hình ph át (Trang 30)
Bảng 3.2: Kết qủa điều tra sự cần thiết rèn KNS ở trường THPT số 1 Bát Xát - RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI QUA MÔN ĐỊA LÍ - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỊA LÝ
Bảng 3.2 Kết qủa điều tra sự cần thiết rèn KNS ở trường THPT số 1 Bát Xát (Trang 44)
Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả điều tra ở 3 trường - RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI QUA MÔN ĐỊA LÍ - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỊA LÝ
Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả điều tra ở 3 trường (Trang 45)
Bảng 3.5: Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng ghép - RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI QUA MÔN ĐỊA LÍ - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỊA LÝ
Bảng 3.5 Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng ghép (Trang 47)
Bảng 3.6: Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng ghép KNS ở - RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI QUA MÔN ĐỊA LÍ - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỊA LÝ
Bảng 3.6 Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng ghép KNS ở (Trang 47)
Hình 3.2: Biểu đồ so sánh kết quả điều tra ở lớp thực nghiệm - RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI QUA MÔN ĐỊA LÍ - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỊA LÝ
Hình 3.2 Biểu đồ so sánh kết quả điều tra ở lớp thực nghiệm (Trang 49)
Bảng  5.2.  Tốc  độ  tăng  trưởng  GDP - RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 11 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI QUA MÔN ĐỊA LÍ - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỊA LÝ
ng 5.2. Tốc độ tăng trưởng GDP (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w