SGK Tiếng Việt lớp 2 giúp HS hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe – nói – đọc – viết), kĩ năng thực hành giao tiếp cụ thể. Trong đó, Tập đọc là nội dung giữ vị trí hết sức quan trọng trong quá trình học tập của HS. Trước hết, Tập đọc giúp HS trau đồi kiến thức Tiếng Việt, kiến thức đời sống, gia đình, con người, giáo dục tư tưởng đạo đức, tình cảm thẩm mĩ. Nó là chìa khóa, là phương tiện để giúp HS Tiểu học tiếp xúc với kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại. Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. HS nào cũng là một cá nhân hoàn toàn khác biệt. Nhà trường cần trang bị cho HS nền học vấn phổ thông, đồng thời có nhiệm vụ giúp mỗi HS phát triển tối đa tiềm năng cá nhân của mình. Dạy học phân hóa tốt sẽ đáp ứng và phát huy được nguyện vọng, sở trường và phù hợp với tình cảm, động lực, điều kiện, hoàn cảnh học tập của các cá nhân khác nhau. Đổi mới phương pháp dạy học là một việc làm cần thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Như chúng ta đã biết, vấn đề sử dụng phiếu bài tập theo hướng phân hóa đưa vào giảng dạy tuy không mới nhưng vẫn chưa được phổ biến một cách rộng rãi. Vì vậy, việc thiết kế và sử dụng phiếu bài tập theo hướng phân hóa nhằm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt, cụ thể là dạng bài Đọc hiểu ở Tiểu học là việc làm vô cùng cần thiết đối với mỗi GV đứng lớp.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
*******
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: THIẾT KẾ PHIẾU BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÂN HÓA HỖ TRỢ DẠY ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 2, BỘ
SÁCH TIẾNG VIỆT CHÂN TRỜI SÁNG TẠO
HỌC PHẦN: DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC THEO HƯỚNG
PHÂN HÓA
Giảng viên hướng dẫn : Cô Lê Thị Hiền
Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Thanh Tâm
Mã sinh viên : 220000245
Hà Nội, 03/2023
Trang 22
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Sư phạm nói riêng và các thầy cô của trường Đại học Thủ đô Hà Nội nói chung đã tạo điều kiện thuận lợi, trang bị những kiến thức quý báu và tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Đặc biệt em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Hiền, cô đã luôn quan tâm, tận tình hướng dẫn em trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình đã làm chỗ dựa tinh thần vững chắc luôn khích lệ, động viên và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài này
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành đề tài trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm chân thành của tất
Trang 33
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ 7
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH 8
MỞ ĐẦU 10
1 Lí do chọn đề tài 10
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 13
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Cấu trúc của đề tài 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 15
1.1.1 Khái quát về dạy học phân hóa 15
1.1.2 Phiếu bài tập trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 22
1.1.3 Dạy đọc hiểu ở học sinh tiểu học 24
1.1.4 Đặc điểm tâm lí của HS lớp 2 28
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 30
1.2.1 Khảo sát bài tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, bộ sách Chân trời sáng tạo 30
1.2.2 Khảo sát các bài đọc hiểu trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, bộ sách Chân trời sáng tạo 36
Trang 44
1.2.3 Khảo sát thực trạng dạy học dạng Đọc hiểu ở lớp 2 theo hướng phân
hóa đối tượng HS 41
1.2.4 Khảo sát thực trạng sử dụng phiếu bài tập trong các giờ dạy Đọc ở lớp 2 hiện nay 46
Tiểu kết chương 1 48
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ PHIẾU BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÂN HÓA HỖ TRỢ DẠY ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH BỘ SÁCH TIẾNG VIỆT 2 CHÂN TRỜI SÁNG TẠO 50
2.1 Nguyên tắc đề xuất thiết kế các phiếu bài tập theo hướng phân hóa hỗ trợ dạy đọc hiểu cho học sinh theo hướng phân hóa 50
2.1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục 50
2.1.2 Nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn 51
2.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính vừa sức 52
2.1.4 Nguyên tắc mềm dẻo, linh hoạt 54
2.2 Quy trình thiết kế và sử dụng phiếu bài tập theo hướng phân hóa hỗ trợ dạy đọc hiểu cho học sinh theo hướng phân hóa 54
2.2.1 Ma trận thiết kế phiếu bài tập theo hướng phân hóa 54
2.2.2 Các bước thiết kế phiếu bài tập 55
2.2.3 Một số lưu ý khi thiết kế phiếu bài tập 56
2.3 Các dạng bài tập theo hướng phân hóa hỗ trợ dạy đọc hiểu cho học sinh lớp 2, bộ sách Chân trời sáng tạo 57
2.3.1 Bài tập nhận diện, tái hiện 57
2.3.2 Bài tập làm rõ nghĩa 60
2.3.3 Bài tập hồi đáp 61
Trang 55
2.4 Thiết kế một số phiếu bài tập theo hướng phân hóa hỗ trợ dạy đọc hiểu
cho học sinh lớp 2, bộ sách Chân trời sáng tạo 63
2.4.1 Phiếu bài tập số 1 63
2.4.2 Phiếu bài tập số 2 68
2.4.3 Phiếu bài tập số 3 72
Tiểu kết chương 2 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Khuyến nghị 80
PHỤ LỤC 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 77
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Quan niệm của GV về dạy học phân hóa………42
Bảng 1.2 Mức độ dạy học phân hóa của GV…… ………43
Bảng 1.3 Mục đích của dạy học phân hóa……… ………43
Bảng 1.4 Mức độ cần thiết của dạy học phân hóa………43
Biểu đồ 1.1 Mức độ hứng thú của HS với bài tập đọc hiểu trong SGK 44
Bảng 1.5 Mức độ hoàn thành bài tập đọc hiểu bài “Vè chim”………44
Bảng 1.6 Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc sử dụng phiếu bài tập trong giờ dạy Đọc ở lớp 2……….45
Bảng 1.7 Mức độ sử dụng phiếu bài tập trong giờ dạy Đọc cho HS lớp 2…….46
Bảng 1.8 Mục đích của việc sử dụng phiếu bài tập ………46
Bảng 2.1 Ma trận thiết kế phiếu bài tập theo hướng phân hóa……… 55
Trang 88
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH Hình 1.1 Mục lục SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời sáng tạo………32 Hình 1.2 Mục lục SGK Tiếng Việt 2 tập 2, bộ sách Chân trời sáng tạo……….34 Hình 1.3 Bài 4 – Chủ điểm “Em đã lớn hơn” (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách
Chân trời sáng tạo)……… 34
Hình 1.4 Bài 2 – Chủ điểm “Bố mẹ yêu thương” (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ
sách Chân trời sáng tạo)……… ……35
Hình 1.5 Bài 2 – Chủ điểm “Sắc màu quê hương” (SGK Tiếng Việt 2 tập 2, bộ
sách Chân trời sáng tạo)……… 35
Hình 1.6 Bài 3 – Chủ điểm “Bài ca Trái Đất” (SGK Tiếng Việt 2 tập 2, bộ sách
Chân trời sáng tạo)……… 36
Hình 1.7 Bài 1 – Bé Mai đã lớn (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời sáng
tạo)……… 37
Hình 1.8 Bài 3 – Bà nội và bà ngoại (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời
sáng tạo)……… 37
Hình 1.9 Bài 1 – Cô chủ không biết quý tình bạn (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ
sách Chân trời sáng tạo)……… 38
Hình 1.10 Bài 2 – Ong xây tổ (SGK Tiếng Việt 2 tập 2, bộ sách Chân trời sáng
tạo)……… 38
Hình 1.11 Bài 1 – Ai ngoan sẽ được thưởng (SGK Tiếng Việt 2 tập 2, bộ sách
Chân trời sáng tạo)……… 38
Hình 1.12 Bài 3 – Khi trang sách mở ra… (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách
Chân trời sáng tạo)……… 39
Hình 1.13 Bài 2 – Thời gian biểu (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời
sáng tạo)……… 40
Hình 1.14 Bài 2 – Cánh đồng của bố (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời
sáng tạo)……… 40
Trang 9Hình 1.17 Bài 2 – Rừng ngập mặn Cà Mau (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách
Chân trời sáng tạo)……… 41
Hình 2.1 Quy trình thiết kế và sử dụng phiếu bài tập……….56
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ dạng bài tập đọc hiểu theo tính độc lập cho HS lớp 2……… 57
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ các dạng bài tập nhận diện, tái hiện cho HS lớp 2………… 58
Sơ đồ 2.3 Sơ đồ các dạng bài tập làm rõ nghĩa cho HS lớp 2……… … 60
Sơ đồ 2.4 Sơ đồ các dạng bài tập hồi đáp cho HS lớp 2……… 61
Trang 10sử dụng từ - câu một cách chính xác trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
Ngoài ra, tầm quan trọng của Tiếng Việt ở bậc tiểu học còn hướng đến việc hình thành các kĩ năng mềm, kĩ năng sống cần thiết cho HS Nội dung kĩ năng sống được thể hiện ở tất cả các nội dung của môn học Những kĩ năng đó chủ yếu là: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng suy nghĩ sáng tạo, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng làm chủ bản thân,… Thông qua các kĩ năng này sẽ giúp HS nhận biết được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, biết tự nhìn nhận đánh giá đúng về bản thân để tự tin, tự trọng và không ngừng vươn lên trong học tập cũng như cuộc sống Tiếng Việt sẽ dạy HS biết cách giao tiếp, ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với người thân, với cộng đồng và với môi trường tự nhiên, biết sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh
Giáo dục Tiểu học là nền tảng cơ bản trong hệ thống giáo dục quốc dân nên giáo dục Tiểu học cũng cần chuẩn bị cho HS những năng lực cần thiết và phù hợp với tâm sinh lí của các em Một trong những năng lực quan trọng là năng lực đọc hiểu Năng lực đọc hiểu là sự hiểu biết, phản hồi lại trước một bài đọc, bài viết nhằm đạt được mục đích, phát hiện tri thức cũng như việc tham gia vào các hoạt động xã hội của cá nhân Đọc hiểu có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội Đọc hiểu là hoạt động tiếp nhận văn học và rèn kĩ năng vận dụng ngôn ngữ cho
HS Ngoài ra, đọc hiểu còn là công cụ để HS học các môn học khác Trong đó kĩ
Trang 1111
năng đọc hiểu xác định những cái đích mà việc đọc của HS cần hướng tới, đồng thời cũng là phương tiện để đạt được sự thông hiểu văn bản của HS Để tiếp thu những thành tựu văn hóa khoa học của nhân loại, để hưởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho các em
SGK Tiếng Việt lớp 2 giúp HS hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe – nói – đọc – viết), kĩ năng thực hành giao tiếp cụ thể Trong đó, Tập đọc là nội dung giữ vị trí hết sức quan trọng trong quá trình học tập của HS Trước hết, Tập đọc giúp HS trau đồi kiến thức Tiếng Việt, kiến thức đời sống, gia đình, con người, giáo dục tư tưởng đạo đức, tình cảm thẩm mĩ Nó là chìa khóa, là phương tiện để giúp HS Tiểu học tiếp xúc với kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết
HS nào cũng là một cá nhân hoàn toàn khác biệt Nhà trường cần trang bị cho HS nền học vấn phổ thông, đồng thời có nhiệm vụ giúp mỗi HS phát triển tối
đa tiềm năng cá nhân của mình Dạy học phân hóa tốt sẽ đáp ứng và phát huy được nguyện vọng, sở trường và phù hợp với tình cảm, động lực, điều kiện, hoàn cảnh học tập của các cá nhân khác nhau Đổi mới phương pháp dạy học là một việc làm cần thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường Như chúng
ta đã biết, vấn đề sử dụng phiếu bài tập theo hướng phân hóa đưa vào giảng dạy tuy không mới nhưng vẫn chưa được phổ biến một cách rộng rãi Vì vậy, việc thiết kế và sử dụng phiếu bài tập theo hướng phân hóa nhằm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt, cụ thể là dạng bài Đọc hiểu ở Tiểu học là việc làm vô cùng cần thiết đối với mỗi GV đứng lớp
Xuất phát từ vai trò và vị trí của dạng bài này, xuất phát từ đòi hỏi của thực
tế dạy học, tôi lựa chọn đề tài “Thiết kế phiếu bài tập theo hướng phân hóa hỗ trợ
Trang 1212
dạy Đọc hiểu cho học sinh lớp 2, bộ sách Tiếng Việt Chân trời sáng tạo” làm đề
tài nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhận thấy tầm quan trọng của kiến thức Tiếng Việt trong nhà trường đặc biệt là ở Tiểu học, nhiều tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạy học Tiếng Việt trong đó có các bài Đọc hiểu và vận dụng nó vào các bài học cụ thể
Đã có nhiều công trình đề cập đến những vấn đề chung về lí luận và phương pháp dạy học Tiếng Việt Trước hết đó là các Giáo trình đào tạo GV các cấp phổ
thông Các giáo trình đều có tên “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” nhưng khác
nhau là dành cho nhiều đối tượng GV khác nhau từ Tiểu học, THCS đến THPT
Dành cho GV Tiểu học có các giáo trình như “Phương pháp dạy học Tiếng Việt
ở tiểu học 1” [5],“Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” [6],“Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” [1],… Trong các công trình trên, đều có phần
hướng dẫn GV dạy học dạng bài Đọc hiểu cho HS
Trong “Thực trạng việc thiết kế bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa
ở các trường tiểu học thành phố Hà Nội” [16], tác giả rút ra một số kết luận về
thực trạng của việc thiết kế bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa ở Tiểu học
và đưa ra một số kinh nghiệm của quốc tế như những gợi mở nhằm tăng cường hiệu quả của quy trình thiết kế dạng bài tập này trong thời gian tới
Ngoài ra có rất nhiều công trình nghiên cứu về dạy học phân hóa và thiết
kế phiếu bài tập theo hướng phân hóa như Sáng kiến kinh nghiệm “Dạy học phân hóa trong môn Tiếng Việt lớp 3” [2], Sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tập đọc lớp 2 theo hướng phát triển năng lực học sinh”
[8],…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã xây dựng được hệ thống tri thức cơ bản về lí luận và phương pháp dạy học Tiếng Việt, về quy trình hệ thống một bài Đọc hiểu, về những vấn đề chung về dạy học phân hóa và thiết kế phiếu bài tập theo hướng phân hóa Tuy nhiên chưa có công trình nào bàn riêng
Trang 13sẽ góp phần hình thành cho HS năng lực sử dụng Tiếng Việt một cách thuần thục,
tư duy một cách hệ thống theo hướng phát triển năng lực của mỗi HS đem đến hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho các em
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của thiết kế phiếu bài tập theo hướng phân hóa hỗ trợ dạy đọc hiểu cho HS bộ sách Tiếng Việt 2 Chân trời sáng tạo
- Nghiên cứu các nguyên tắc và quy trình thiết kế phiếu bài tập theo hướng phân hóa hỗ trợ dạy đọc hiểu cho HS
- Thiết kế một số phiếu bài tập theo hướng phân hóa hỗ trợ dạy đọc hiểu cho HS lớp 2, bộ sách Chân trời sáng tạo
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phiếu bài tập theo hướng phân hóa hỗ trợ dạy đọc hiểu cho HS bộ sách Tiếng Việt 2 Chân trời sáng tạo
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 1414
- GV dạy lớp 2 tại các trường: Trường Tiểu học Nguyễn Du, trường Tiểu học Trung Yên, trường Tiểu học Trung Tự, trường Tiểu học Yên Hòa, trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám (thành phố Hà Nội)
- HS lớp 2 tại trường Tiểu học Nguyễn Du (quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội)
- SGK Tiếng Việt 2 bộ sách Chân trời sáng tạo
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp phân tích – tổng hợp: phương pháp này cần tìm tòi, nghiên cứu các văn bản, tài liệu, sách báo có liên quan đến đề tài để tổng hợp và rút ra những kiến thức cần thiết cho đề tài sau khi đã nghiên cứu kĩ tài liệu
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục: phương pháp này cần nghiên cứu các kinh nghiệm đã có trước đó và tổng hợp lại thành lí thuyết cần thiết cho đề tài
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thiết kế phiếu bài tập theo hướng phân hóa hỗ trợ dạy Đọc hiểu cho học sinh bộ sách Tiếng Việt 2 Chân trời sáng tạo
Trang 1515
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Khái quát về dạy học phân hóa
1.1.1.1 Khái niệm dạy học phân hóa
Thuật ngữ “Dạy học phân hóa” do Louis Legrand - một nhà giáo dục người Pháp - đã đưa ra vào đầu những năm 70 của thế kỉ XX, trước khi ông bắt đầu thực hiện các nghiên cứu đổi mới các trường trung học Dựa trên những khía cạnh quan tâm nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra nhiều quan niệm về dạy học phân hóa Dạy học phân hóa là cách tiếp cận dạy và học đáp ứng những đối tượng HS khác nhau trong cùng một lớp nhằm mục đích “tối đa hóa” năng lực của mỗi cá nhân bằng cách tạo ra cho người học quá trình dạy học phù hợp nhất với họ (Bravmann, 2004) Nói chung, dạy học phân hóa được xem như
là một cách tiếp cận, nguyên tắc hay là một phương pháp dạy học mà ở đó, quá trình điều chỉnh nội dung dạy học, kế hoạch dạy học và môi trường học nhằm đáp ứng được nhu cầu học tập đa dạng của tất cả HS (Đặng Thành Hưng, 2005; Lê Thị Thu Hương, 2012); và để dạy học phân hóa, GV chia HS thành các nhóm đối tượng khác nhau theo trình độ học vấn, năng lực nhận thức, ngôn ngữ, khả năng
tư duy, sở thích, nhu cầu…
Dạy học phân hóa không phải chỉ đơn thuần là phân loại người học theo năng lực nhận thức mà ở đây là phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng người học, tức là trên cơ sở am hiểu từng cá thể, GV tiếp cận người học ở tâm lí, năng khiếu, nguyện vọng, mong muốn trong cuộc sống,… Có thể nói trong phương pháp dạy học phân hóa, GV phải “tìm để giảng dạy và hiểu để giáo dục”
Dạy học phân hóa là phương pháp dạy học có tính đến sự khác biệt của người học (cá nhân) hoặc nhóm người học Ở Tiểu học, dạy học phân hóa thường được thể hiện ở việc lấy chuẩn kiến thức, kĩ năng làm nền cơ bản, ngoài kế hoạch dạy học thông thường, phân hóa để có những kế hoạch dạy học phù hợp nhằm đưa HS yếu kém đạt chuẩn và giúp các đối tượng đã đạt chuẩn hoặc khá, giỏi phát
Trang 1616
triển ở mức cao hơn Ngoài ra, ở một số nơi, dạy học phân hóa còn thể hiện ở việc
tổ chức cho HS học theo chương trình tự chọn môn học
Theo tác giả Nguyễn Bá Kim, dạy học phân hóa có thể được thực hiện theo hai hướng: “dạy học phân hóa trong” và “dạy học phân hóa ngoài” Dạy học phân hóa trong (hay còn gọi là phân hóa nội tại) là sử dụng những biện pháp phân hóa thích hợp với các đối tượng khác nhau trong cùng một lớp học, trong cùng khoảng thời gian, đảm bảo thống nhất một chương trình và kế hoạch dạy học Nhìn bề ngoài, dạy học phân hóa trong không có gì khác biệt so với các lớp học thông thường Còn dạy học phân hóa ngoài là sử dụng những biện pháp phân hóa thích hợp để phân hóa rõ rệt về nội dung và cả hình thức tổ chức dạy học, tức là hình thành những nhóm ngoại khóa, lớp chọn, trường chuyên, sử dụng chương trình chuyên biệt, nội dung và kế hoạch dạy học không lệ thuộc chặt chẽ vào SGK
Trong thực tiễn dạy học hiện nay, thường có hai hình thức dạy học phân hóa như sau: Thứ nhất, dạy học phân hóa dựa trên sự thống nhất của mục tiêu dạy học cho tất cả các đối tượng HS, sau đó mỗi HS có thể chọn một môn học hay một số môn học mà mình ưa thích hoặc có sở trường để học chuyên sâu theo chương trình và tài liệu riêng Hình thức này ở Tiểu học được gọi là dạy học theo chương trình tự chọn Thứ hai, dạy học phân hóa diễn ra ở cấp độ tổ chức hoạt động dạy học Trong cùng một nội dung học tập, GV vận dụng các phương pháp
và kĩ thuật dạy học tích cực để tạo cơ hội cho HS được học tập phù hợp với nhịp
độ phát triển của cá nhân, nhằm đạt hiệu quả học tập cao nhất ở mỗi HS
1.1.1.2 Mục tiêu, ý nghĩa của dạy học phân hóa
Xu hướng dạy học hiện nay là lấy HS làm trung tâm do đó người GV phải làm thế nào để phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình dạy học, phải coi trọng và đề cao vai trò chủ thể của HS trong quá trình nhận thức, giúp
HS có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển Chính
vì thế dạy học phân hóa sẽ giúp cho GV thực hiện được những yêu cầu đó vì dạy học phân hóa hướng đến những mục tiêu quan trọng trong quá trình dạy học
Trang 1717
Thứ nhất, dạy học phân hóa nhằm phát hiện và bù đắp lỗ hổng kiến thức cho HS Từ việc GV phát hiện được những “lỗ hổng” đó thì GV sẽ có những biện pháp để giúp HS bù đắp lại những kiến thức còn thiếu sót Chính vì vậy, HS có thể tự tin hơn trong quá trình học tập Điều này đồng nghĩa với việc GV đã tạo được động lực thúc đẩy học tập cho HS
Thứ hai, dạy học phân hóa khơi gợi và phát triển được tiềm năng trong mỗi
HS Mỗi HS là một cá thể riêng biệt và ở mỗi HS đều có những tiềm năng cần được phát triển Trong dạy học phân hóa, người GV có nhiệm vụ tìm ra những ưu điểm của HS để từ đó khơi gợi và làm cho những ưu điểm được phát triển một cách tốt nhất và trở thành nét riêng biệt ở mỗi HS
Thứ ba, dạy học phân hóa biến niềm đam mê trong cuộc sống của HS thành động lực trong học tập Dạy học phân hóa nhằm huy động mọi năng lực, sở trường, hứng thú,… của từng HS để tự HS có thể tìm tòi, khám ra những nội dung mới của bài học
Thứ tư, dạy học phân hóa tăng cường sự tương tác giữa GV và HS, tăng khả năng nhận thức của HS GV giao nhiệm vụ phù hợp với từng nhóm HS tạo điều kiện để HS tự phát hiện ra các tình huống có vấn đề; tự mình hoặc cùng các bạn trong nhóm lập kế hoạch để giải quyết hay tiếp nhận vấn đề một cách thuận lợi nhất Từ đó, HS có thể hiểu được các vấn đề và nhiệm vụ học tập Điều này giúp cho HS tự tin trao đổi, tương tác với GV và các bạn trong lớp
Thứ năm, dạy học phân hóa là con đường hữu hiệu nhất để đi tới mục tiêu chung mà mọi HS cần đạt được Dạy học phân hóa còn nhằm khuyến khích GV chủ động và sáng tạo trong nghề nghiệp đồng thời yêu cầu GV phải trân trọng mọi
cố gắng dù còn nhỏ bé của từng HS
1.1.1.3 Đặc trưng của dạy học phân hóa
* Dạy học phân hóa thực hiện nhiều mục tiêu, nhiệm vụ dạy học khác nhau trong một bài dạy
Trang 1818
Trong lớp học phân hóa, GV phải xây dựng nhiều giáo án khác nhau Trước hết là sự đa dạng về mục tiêu, nhiệm vụ dạy học riêng biệt được đề ra cho mỗi nhóm đối tượng là khác nhau Ví dụ: nhóm HS có năng lực học tập yếu, kém, mục tiêu dạy học đặt ra phải thấp hơn để từng bước hướng các em đến mục tiêu, yêu cầu cơ bản của chương trình ở mức độ trung bình; nhóm HS năng lực học tập trung bình, mục tiêu, nhiệm vụ dạy học đặt ra từ mức trung bình để dần phát triển lên khá; với nhóm HS khá, giỏi, mục tiêu để xác định sẽ cao hơn chuẩn mục tiêu chung, GV cần đưa ra các yêu cầu nâng cao, các bài tập nâng cao để phát triển đam mê, tìm tòi, khám phá về môn học cho các em
* Dạy học phân hóa thực hiện nhiều nội dung trong cùng một lúc cho các nhóm
HS khác nhau
Xuất phát từ tính chất đa dạng về mục tiêu, nhiệm vụ trong lớp học phân hóa, GV sẽ thiết kế các nội dung giảng dạy khác biệt cho từng nhóm HS Đối với lớp dạy học đồng loạt, tất cả HS đều thực hiện một nội dung trong cùng một lúc Điều này không phù hợp cho nhiều đối tượng trong lớp học, những HS tiếp thu hoặc giải quyết nội dung một cách nhanh chóng luôn phải chờ đợi những HS trung bình, yếu kém nên nhiều khi gây ra sự nhàm chán đối với những HS khá giỏi và
sự quá sức với HS yếu kém Trong dạy học phân hóa, do hướng đến từng nhóm đối tượng rõ rệt, tùy theo mục tiêu GV đề ra các nội dung tương ứng để vừa sức với HS, việc xây dựng nội dung có thể dựa vào nhóm năng lực học tập của HS, cũng có thể được xây dựng trên cơ sở hứng thú, sở trường, phong cách học tập, nhịp độ học tập của từng nhóm để HS chiếm lĩnh
* Trong dạy học phân hóa, GV phải sử dụng nhiều kĩ thuật, phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học
Trong dạy học phân hóa, năng lực quản lí nhóm HS của GV có vai trò đặc biệt quan trọng vì HS thực hiện nhiệm vụ theo nhóm với những kĩ thuật, phương pháp và hình thức dạy học theo từng đặc điểm riêng của HS; trong cùng một thời gian, HS ở các nhóm khác nhau phải thực hiện các công việc khác nhau
Trang 1919
Về phương pháp, GV phải linh hoạt sử dụng nhiều phương pháp dạy học trong cùng một lúc, đặc biệt là những phương pháp dạy học tích cực, dựa vào hứng thú của HS và hướng đến huy động năng lực tiềm tàng của họ Những phương pháp được sử dụng một cách hiệu quả cho dạy học phân hóa là hệ thống phương pháp trong đó chú trọng kĩ năng làm việc nhóm như: dạy học theo dự án, dạy học theo góc, dạy học theo trạm, dạy học theo hợp đồng Việc tiếp cận quan điểm dạy học trên mang tính định hướng và đòi hỏi GV phải có năng lực dạy học toàn diện mới tổ chức được dạy học phân hóa, vì cùng một lúc, trong lớp học ở vị trí này, GV sử dụng phương pháp làm việc với tư liệu nhưng ở góc khác lại sử dụng phương pháp thực hành, góc kế bên lại là phương pháp quan sát trực quan (xem video ) Khi sử dụng các phương pháp dạy học phân hóa, đòi hỏi GV phải vững vàng về các thao tác, kĩ thuật dạy học, đặc biệt là những kĩ thuật dạy học theo nhóm
Về hình thức, dạy học phân hóa cũng uyển chuyển và linh hoạt với trọng tâm là hướng đến phát huy năng lực, sở thích, hứng thú và nét riêng khác của HS Cũng như phương pháp, hình thức dạy học phân hóa cũng đa dạng và huy động toàn bộ các hình thức dạy học nói chung Dạy học phân hóa được thực hiện qua các hình thức như: dạy học trực tiếp trên lớp học, dạy học tại thực địa, qua hoạt động ngoại khóa môn học, qua giúp đỡ riêng hoặc dạy học qua seminar Dù thực hiện hình thức dạy học nào cũng cần đảm bảo nguyên tắc “sát đối tượng"
Như vậy, việc thiết kế mục tiêu, nội dung, lựa chọn kĩ thuật, phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phân hóa luôn linh động và mềm dẻo trong cùng thời điểm trên lớp học hoặc ngoài lớp học Ngoài ra, để đảm bảo công bằng cho
HS, tôi cho rằng dựa vào lí thuyết “đa trí tuệ”, GV có thể thiết kế chương trình dạy theo cách “phân khúc” mỗi bài tương ứng với một kiểu trí tuệ, nghĩa là mỗi
HS đều có những buổi bài tiết học được phát huy trí tuệ, ưu điểm, năng lực nổi trội của mình
Trang 20có cơ hội thể hiện hết khả năng, hứng thú riêng của mình Tình trạng đánh giá kết quả dạy học theo lối dạy đồng loạt hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa công bằng cho người học, chưa đánh giá chính xác được năng lực toàn diện của HS
* Dạy học phân hóa được phát huy sở trường, hứng thú, năng lực của HS
Trong mỗi lớp học, sự phân hóa các “đối tượng” HS là rất đa dạng và phong phú Có những thời điểm hoạt động học tập của họ được thực hiện một cách độc lập với những yêu cầu riêng biệt từ GV, có lúc được thực hiện trong mối tương tác với GV hay HS, nhóm HS khác HS trong lớp học phân hóa luôn dịch chuyển khỏi vị trí chỗ ngồi, luôn được ưu tiên lựa chọn các nhiệm vụ và hình thức giải quyết vấn đề, luôn được tôn trọng, bình đẳng, công bằng, dân chủ trong thực hiện nhiệm vụ học tập, không hoàn toàn bị “đóng khuôn”, “áp đặt” như dạy học đồng loạt Trong dạy học phân hóa, GV thiết kế kế hoạch dạy học đa dạng hướng vào từng HS và từng nhóm đối tượng HS để đáp ứng nhu cầu “vừa sức” cũng như hứng thú, sở trường, phong cách học tập của HS Vì vậy, HS có cơ hội phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của bản thân Để đáp ứng được cách
tổ chức trong lớp học phân hóa, đòi hỏi HS phải thuần thục các kĩ năng như: làm việc nhóm, làm việc độc lập, giải quyết vấn đề, lắng nghe và phản hồi thông tin,
Trang 21Quá trình dạy học phân hóa yêu cầu GV phải hội tụ nhiều năng lực, trong
đó thể hiện rõ ở từng nhóm năng lực như: tìm hiểu, phân loại HS, thiết kế kế hoạch dạy học, tổ chức hoạt động dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả, điều chỉnh và hoàn thiện quá trình dạy học phân hóa Điểm khác biệt của GV trong lớp học phân hóa khác với lớp học đồng loạt là họ phải sử dụng thuần thục được nhiều kĩ thuật, phương pháp, hình thức dạy học hướng vào từng nhóm đối tượng theo các tiêu chí khác nhau GV trong lớp học phân hóa phải chấp nhận và thích ứng với sự thay đổi vị trí nhóm, hiểu tường tận từng HS và quản lí chặt chẽ mọi hoạt động của thành viên trong các nhóm Như vậy, GV trong lớp học phân hóa phải hoạt động nhiều hơn, đặc biệt phát huy vai trò định hướng, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển, điều chỉnh, giám sát, đánh giá hoạt động học tập Họ không còn là người truyền đạt một chiều, áp đặt cứng nhắc những gì mình biết cho HS mà trở thành người tổ chức để HS tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo trong lựa chọn nhiệm vụ
và cách giải quyết nhiệm vụ
* Môi trường của lớp học phân hóa
Môi trường dạy học ở lớp học đồng loạt thông thường cố định về không gian, thời gian và hạn hẹp về nguồn học liệu Trong khi đó, không gian trong lớp học phân hóa luôn thay đổi so với lớp học truyền thống Có lúc lớp học được tập trung cùng nhau để giải quyết một nhiệm vụ chung, nhưng phần lớn là thực hiện theo những nhóm riêng, thậm chí từng cá nhân để giải quyết nhiệm vụ độc lập
HS có thể học tập trong khuôn khổ lớp học nhưng cũng có thể học ngoài không gian trường lớp Dù ở đâu, vấn đề vẫn là giải quyết xong yêu cầu của GV để ra cho mình Thời gian học tập cho một lượng nội dung đối với từng HS, nhóm HS cũng khác nhau Dạy học phân hóa đòi hỏi có sự đa dạng về nguồn học liệu như:
Trang 2222
sách, báo, tranh ảnh, video, dụng cụ thí nghiệm, thực hành,… trong cùng một lớp học để giải quyết bài học theo cách của cá nhân HS
1.1.2 Phiếu bài tập trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.2.1 Khái niệm phiếu bài tập
Theo tác giả Đặng Thành Hưng thì “Phiếu bài tập là một trong những phương tiện dạy học cụ thể, đơn giản và có khả năng tương thích rất cao với tuyệt đại đa số người học thuộc mọi lứa tuổi và trong lĩnh vực học tập Đó là văn bản bằng giấy hoặc dạng giấy do GV tự làm, gồm một hoặc một số tờ, có vai trò học liệu để bổ sung cho sách và tài liệu giáo khoa quy định, có chức năng hỗ trợ học tập và giảng dạy vừa như công cụ hoạt động, vừa như điều kiện hoạt động của người học và người dạy, mà trước hết như một nguồn thông tin học tập”
Còn tác giả Nguyễn Đức Vũ đã định nghĩa phiếu bài tập là “tờ giấy rời, trên
đó ghi các câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập,… kèm theo gợi ý, hướng dẫn, dựa vào đó HS thực hiện hoặc ghi các thông tin cần thiết để giúp mở rộng, bổ sung kiến thức bài học.”
Như vậy, có thể định nghĩa phiếu bài tập là tờ giấy phát cho HS, trên đó ghi các câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập, kèm theo các gợi ý, hướng dẫn của GV, dựa vào nhiệm vụ đó HS thực hiện hoặc ghi các thông tin cần thiết để mở rộng kiến thức, bổ sung kiến thức, tìm hiểu nội dung hoặc củng cố bài học
1.1.2.2 Phân loại phiếu bài tập
* Phân loại theo mục tiêu dạy học
Đối với sự phân loại theo mục tiêu dạy học, phiếu bài tập bao gồm phiếu bài tập hình thành kiến thức mới và phiếu bài tập để ôn tập, củng cố kiến thức Phiếu bài tập hình thành kiến thức mới giúp HS phát triển kĩ năng quan sát (HS quan sát tranh, sơ đồ, mẫu vật, thí nghiệm hay đoạn phim để tự rút ra kiến thức mới) và kĩ năng thu thập thông tin từ kênh chữ (HS hoàn thành phiếu học tập và rút ra kiến thức cần học) Ngoài ra, loại phiếu này còn giúp HS phát triển kĩ năng
tư duy và kĩ năng giải quyết vấn đề Bên cạnh phiếu bài tập hình thành kiến thức
Trang 2323
mới thì phiếu bài tập để ôn tập, củng cố kiến thức giúp HS phát triển khả năng suy luận, hệ thống hóa kiến thức và áp dụng được các kiến thức đã học để giải quyết các bài tập
* Phân loại theo hình thức thể hiện trong phiếu bài tập
Ngoài phân loại theo mục tiêu dạy học thì phiếu bài tập còn được phân loại theo hình thức thể hiện trong phiếu Các dạng phiếu bài tập này bao gồm: Phiếu bài tập chứa câu hỏi, bài tập; phiếu bài tập chứa các bài tập tình huống; phiếu bài tập chứa các bài tập dạng bảng biểu; phiếu bài tập chứa các bài tập dạng sơ đồ/ bản đồ Ở mỗi dạng phiếu bài tập thì đều có những dạng bài tập riêng và áp dụng
ở từng môn học cụ thể
1.1.2.3 Vai trò của phiếu bài tập
Phiếu bài tập là một phần quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy học, đặc biệt là trong dạy học phân hóa Bởi phiếu bài tập giúp người học hoạt động độc lập hoặc hoạt động theo nhóm trong quá trình nhận thức Thông qua phiếu bài tập, HS có thể tự khám phá tri thức mới cũng như củng cố kiến thức đã học Các nội dung trong phiếu bài tập cung cấp thông tin cho HS một cách trực tiếp, là cơ sở cho hoạt động nhận thức của các em Bên cạnh đó, phiếu bài tập còn
là công cụ giao tiếp giữa GV và HS thông qua các câu hỏi, bài tập, yêu cầu cần thực hiện và gợi ý cách làm Hơn thế nữa phiếu bài tập giúp HS chủ động trong các hoạt động tìm tòi, khám phá tri thức, qua đó rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo Với lượng kiến thức rất lớn của mỗi bài học, mỗi chương, việc sử dụng phiếu bài tập giúp HS có thể đạt được các mục tiêu dạy học Thông qua các phiếu bài tập, có thể chuyển hoạt động của GV từ trình bày, giảng giải, thuyết trình sang hoạt động hướng dẫn, HS được tham gia các hoạt động tích cực, không còn hiện tượng thụ động nghe giảng Đặc biệt, thông qua phiếu bài tập GV có thể kiểm soát, đánh giá được khả năng nhận thức cũng như thái độ của HS trong học tập,
từ đó sẽ có biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
1.1.2.4 Cấu trúc của phiếu bài tập
Trang 2424
- Phần chung: Tên trường, lớp, tên HS (hoặc nhóm HS), đề bài, số thứ tự của phiếu
- Phần cụ thể: Thành phần cấu tạo của phiếu bài tập:
+ Phần dẫn hay là dẫn dắt: vừa là điều kiện cho, vừa chỉ dẫn nguồn thông tin cần
sử dụng
+ Phần hoạt động hay là các công việc thực hiện
+ Thời gian hoàn thành
+ Đáp án (sẽ có ở phần riêng)
1.1.3 Dạy đọc hiểu ở học sinh tiểu học
1.1.3.1 Vị trí của dạy đọc hiểu ở Tiểu học
Tác giả Nguyễn Thanh Hùng - người nghiên cứu nhiều về đọc hiểu, khi bàn
về những khái niệm then chốt về đọc hiểu, cho rằng “… đọc - hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong quá trình dạy học văn”; “Đọc - hiểu là một khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc - hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực văn của người đọc” “Đọc hiểu là phạm trù khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học Bản thân nó là khái niệm có quan hệ với năng lực đọc, hoạt động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệ thuật ngôn từ Đọc chính xác thì hiểu đúng Đọc kĩ, đọc phân tích thì hiểu sâu Đọc trải nghiệm thẩm mĩ thì hiểu được vẻ đẹp nhân tình Đọc sâu, đọc sáng tạo thì hiểu được cái mới”
Trong Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học của tác giả Nguyễn Thị Hạnh đã khẳng định đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình (người đọc).“Đọc hiểu làm mục tiêu rất được coi trọng trong chương trình 2018”
Trong dạy học nội dung Tập đọc ở Tiểu học, việc rèn đọc hiểu chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Việc đọc hiểu được sử dụng để tìm hiểu nội dung bài mới
Trang 2525
Rèn đọc hiểu giúp nâng cao năng lực tư duy của HS, từ đó các em tự chiếm lĩnh kiến thức mới và vận dụng kiến thức đó theo năng lực bản thân
1.1.3.2 Nhiệm vụ của dạy học đọc hiểu ở Tiểu học
* Về mục tiêu của việc dạy học đọc hiểu
Theo tác giả Nguyễn Thị Hạnh thì trong chương trình “Môn văn học và Tiếng Việt cấp I trường phổ thông cơ sở” có nói đến công việc chính trong giờ tập đọc là hướng dẫn HS đọc, giúp các em đọc đúng, đọc rõ ràng và cảm thụ tốt bài văn Còn ở phần mục tiêu bài học các tác giả biên soạn chương trình GDPT
đã nêu rõ việc dạy tập đọc ở cấp I là nhằm mục đích thông qua các bài văn chọn lọc, giúp HS cảm nhận cái hay, cái đẹp của văn chương và dần dần có một số kiến thức về văn học như: thể loại, nhân vật, bố cục
Dạy tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực chính là quá trình dạy học hướng tới hình thành và phát triển các năng lực sử dụng tiếng Việt cho người học trong môi trường học tập và đời sống theo lứa tuổi “Lời nói” trong ngôn ngữ bao gồm 2 dạng thức cơ bản: lời nói trực tiếp (nghe người khác nói trực tiếp) và lời nói gián tiếp (lời nói thông qua văn bản viết) Ngoài ra, còn có các yếu tố bổ sung như ngôn ngữ cơ thể, phục trang, hóa trang, tranh minh họa,… cũng có thể ảnh hưởng tới chất lượng thông tin của lời nói Từ nhận thức trên, chúng ta cần có định hướng về tổ chức dạy học các phân môn Tiếng Việt sao cho môn học này hướng tới phát triển tốt nhất các năng lực sử dụng tiếng Việt đối với HS tiểu học
Trước hết, dạy HS phát triển năng lực tiếp nhận lời nói, bao gồm năng lực nghe - hiểu và năng lực đọc - hiểu Dạy HS nghe - hiểu thông qua quá trình dạy học: nghe - nhắc lại lời giảng của GV hoặc nghe - nhắc lại hoặc nhận xét về lời nói của bạn hoặc nghe người khác kể một câu chuyện rồi kể lại hoặc giới thiệu cho người khác,… Dạy kĩ năng nghe hiểu được thực hiện thông qua các phân môn đặc trưng như Kể chuyện và có thể thực hiện qua tất cả các hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác Các yêu cầu cơ bản về kĩ năng nghe hiểu bao gồm từ rèn luyện HS thói quen tập trung lắng nghe khi người khác nói
Trang 2626
và có phản hồi chính xác Tập cho HS có thói quen tập trung nghe, lĩnh hội thông tin từ lời nói của người khác và có phản hồi tích cực là yêu cầu quan trọng trong dạy kĩ năng nghe ở trường tiểu học Điều này giúp cho HS có thói quen lĩnh hội tích cực từ lời nói để bồi đắp thêm kiến thức cho bản thân mình
Dạy đọc - hiểu trong môn Tiếng Việt là dạy kĩ năng tiếp nhận văn bản, một trong những kĩ năng cơ bản và quan trọng bậc nhất trong dạy học Tiếng Việt Vì
nó ảnh hưởng tới chất lượng học tập môn Tiếng Việt và các môn học khác; ảnh hưởng tích cực tới cuộc sống sau này trong một xã hội mà việc “học suốt đời” được xem là cứu cánh cho sự thành công của mỗi con người
Cùng với đó, gắn với việc đổi mới giáo dục, phát triển năng lực, lấy người học làm trung tâm, thì mục tiêu dạy học đọc hiểu không còn là mục tiêu đơn thuần chỉ là kiến thức, mà cần bao hàm sự phát triển về kĩ năng, năng lực và phẩm chất người học Việc dạy đọc hiểu ở Tiểu học phải giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức cội nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện, có cảm xúc lành mạnh;
có hứng thú học tập, lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có
ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh Đồng thời, giúp HS phát triển năng lực ngôn ngữ trong quá trình đọc hiểu
Trong dạy học phát triển năng lực, GV coi trọng quá trình học sinh học như thế nào hơn là kết quả đạt được và cũng trong quá trình dạy đọc hiểu, GV cần
“nghiệm thu” và “điều hướng” đi đúng nội dung cần khai thác, tiến tới việc hiểu nội dung, thông hiểu ý nghĩa, thông điệp văn bản Từ đó, các em áp dụng các kĩ năng, năng lực cũng như phẩm chất từ văn bản để vào thực tiễn, để học đi đôi với hành, không chỉ là lí thuyết, sách vở
* Ngữ liệu dùng để dạy đọc hiểu
Theo tác giả Lê Phương Nga “ngữ liệu là một bộ phận cấu thành của nội dung giáo dục, góp phần quan trọng trong việc hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm chất và năng lực được nêu ở chương trình” Thống kê ngữ liệu dạy
Trang 2727
đọc hiểu trên các sách Tiếng Việt 2 các bài tập đọc là các đoạn trích hoặc tác phẩm văn học trọn vẹn thuộc các thể loại thơ trữ tình, thơ tự sự, truyện ngắn, truyện danh nhân, … Từ thực tế trên cho thấy: hệ thống văn bản để dạy đọc hiểu ở hầu hết các lớp bậc Tiểu học là văn bản văn học, văn bản thông tin Đây là loại văn bản có lợi thế về đọc hiểu Hầu hết các văn bản dạy học đều gồm các sự việc, các hành động tích cực nhằm cung cấp bài học tích cực cho người đọc, hướng người đọc đến cái hay cái tốt, bồi dưỡng nhân phẩm, phẩm chất cho các em Các văn bản mở ra một thế giới nhiều màu sắc với cách tiếp cận từ các khía cạnh khác nhau, nhưng đều hướng tới xây dựng cho các em một thế giới quan tươi đẹp, nhiều điều tốt
Các em được tiếp cận với văn bản dưới nhiều hình thức khác nhau như văn xuôi, thơ (thơ tự do, thơ, lục bát, thơ 4 chữ,…) Các văn bản lựa chọn luôn mang tính đặc trưng, được sắp xếp theo từng chủ đề gắn với thời gian học thực tế, đảm bảo tính đời sống, gần gũi Các tác giả cũng rất chú trọng đến đặc điểm lứa tuổi
Ở hầu hết các bài tập đọc, luôn kèm theo các tranh minh họa, giúp các em có cái nhìn trực quan, ban đầu về nội dung cần đọc hiểu Đồng thời, hình ảnh xuất hiện trong các văn bản còn minh họa cho nội dung, thông điệp văn bản muốn gửi gắm
* Yêu cầu rèn luyện kĩ năng đọc hiểu
Tác giả Phạm Thị Thu Hương chỉ ra những yêu cầu cần đạt để rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản bao gồm 10 yêu cầu: 1 Huy động tích cực những tri thức, trải nghiệm đọc hiểu; 2 Xác định mục tiêu đọc; 3 Giải mã văn bản; 4 Tạo kết nối trong và sau quá trình đọc văn bản; 5 Dự đoán; 6 Hình dung, tưởng tượng; 7 Suy luận, cắt nghĩa; 8 Đặt câu hỏi; 9 Tổng hợp, đánh giá và vận dụng; 10 Giám sát việc hiểu của bản thân Các yêu cầu được tác giả đưa ra rất chi tiết, theo trình
tự của quá trình đọc hiểu từ bắt đầu cho đến kết thúc
Ở một nghiên cứu khác, về rèn kĩ năng đọc hiểu ở Tiểu học, tác giả Lê Phương Nga cho rằng rèn đọc hiểu bao gồm các kĩ năng: tìm hiểu đề tài của văn
Trang 28lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
* Nhận thức lí tính
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lí luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn
sơ đẳng ở phần đông HS tiểu học
Tưởng tượng của HS tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi
Hầu hết HS Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc,
tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lí tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác,
tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua
Trang 2929
ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta
có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ở đầu tuổi Tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có
cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ở giai đoạn lớp 2, trẻ ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm
ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều HS chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có
ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Ở đầu tuổi Tiểu học, hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn
1.1.4.2 Đặc điểm nhân cách
Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, “tính cách học đường” mới dần ổn định và bền vững ở trẻ
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của HS lớp 2 mang những đặc điểm
cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các
em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển;
và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành
Trang 3030
nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với HS lớp 2 còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Khảo sát bài tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, bộ sách Chân trời sáng tạo
Nội dung các bài tập đọc trong SGK Tiếng Việt 2 bộ sách Chân trời sáng tạo được thiết kế thành các chủ điểm với 5 nội dung lớn theo mạch nhìn từ bản thân HS mở rộng ra thế giới xung quanh Cụ thể như sau: Bản thân, Gia đình, Nhà trường, Quê hương đất nước, Thiên nhiên
HS được học 2 bài Tập đọc trong 1 tuần và tổng 32 bài Tập đọc trong học
kì 1 Các bài Tập đọc được thiết kế theo 8 chủ điểm Cụ thể như sau:
Em đã lớn hơn
1 Bài 1: Bé Mai đã lớn
Bài 2: Thời gian biểu
2 Bài 3: Ngày hôm qua đâu rồi?
Bài 4: Út Tin
Mỗi người một vẻ
3 Bài 1: Tóc xoăn và tóc thẳng
Bài 2: Làm việc thật là vui
4 Bài 3: Những cái tên
Bài 4: Cô gió
Bài 2: Bưu thiếp
Trang 3113 Bài 3: Yêu lắm trường ơi!
Bài 4: Góc nhỏ yêu thương
Bạn thân ở trường
14 Bài 1: Chuyện của thước kẻ
Bài 2: Thời khóa biểu
15 Bài 3: Khi trang sách mở ra…
Trang 3232
Hình 1.1 Mục lục SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời sáng tạo
Cũng giống như học kì 1, HS được học 2 bài Tập đọc trong 1 tuần và tổng
30 bài Tập đọc trong học kì 2 Các bài Tập đọc được thiết kế theo 7 chủ điểm Cụ thể như sau:
Nơi chốn thân quen
19 Bài 1: Khu vườn tuổi thơ
Bài 2: Con suối bản tôi
20 Bài 3: Con đường làng
Bài 4: Bên cửa sổ
Trang 3333
24 Bài 3: Trái chín
Bài 4: Hoa mai vàng
Sắc màu quê hương
25 Bài 1: Quê mình đẹp nhất
Bài 2: Rừng ngập mặn Cà Mau
26 Bài 3: Mùa lúa chín
Bài 4: Sông Hương
Bác Hồ kính yêu
28 Bài 1: Ai ngoan sẽ được thưởng
Bài 2: Thư Trung thu
29 Bài 3: Cháu thăm nhà Bác
Bài 4: Cây và hoa bên lăng Bác
Việt Nam mến yêu
30 Bài 1: Chuyện quả bầu
Bài 2: Sóng và cát ở Trường Sa
31 Bài 3: Cây dừa
Bài 4: Tôi yêu Sài Gòn
Bài ca Trái Đất
32 Bài 1: Cây nhút nhát
Bài 2: Bạn có biết?
33 Bài 3: Trái Đất xanh của em
Bài 4: Hừng đông mặt biển
34 Bài 5: Bạn biết phân loại rác không?
Bài 6: Cuộc giải cứu bên bờ biển
Trang 3434
Hình 1.2 Mục lục SGK Tiếng Việt 2 tập 2, bộ sách Chân trời sáng tạo
Trong từng ngữ liệu của bài đọc đều hướng tới mục đích giáo dục, chứa đựng triết lí giáo dục:
- Giáo dục HS biết tôn trọng sự khác biệt, phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm hạn chế của bản thân, biết yêu quý, tôn trọng mọi người, mọi vật xung quanh,
trong đó có nội dung giáo dục về quyền con người và bình đẳng giới (Em đã lớn hơn, Mỗi người một vẻ)
Hình 1.3 Bài 4 – Chủ điểm “Em đã lớn hơn”
(SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời sáng tạo)
Trang 3535
- Giáo dục HS “kết nối yêu thương” từ những điều bình thường giản dị, bằng
những việc làm phù hợp lứa tuổi, (Bố mẹ yêu thương, Ông bà yêu quý)
Hình 1.4 Bài 2 – Chủ điểm “Bố mẹ yêu thương”
(SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời sáng tạo)
- Giáo dục ý thức về văn hoá truyền thống, ý thức về quê hương đất nước (Nơi chốn thân quen, Sắc màu quê hương, Việt Nam mến yêu)
Hình 1.5 Bài 2 – Chủ điểm “Sắc màu quê hương”
(SGK Tiếng Việt 2 tập 2, bộ sách Chân trời sáng tạo)
Trang 3636
- Giáo dục ý thức về cuộc sống hiện đại, về môi trường (Bốn mùa tươi đẹp, Thiên nhiên muôn màu, Bài ca Trái Đất)
Hình 1.6 Bài 3 – Chủ điểm “Bài ca Trái Đất”
(SGK Tiếng Việt 2 tập 2, bộ sách Chân trời sáng tạo)
Nhận thấy, nội dung các bài tập đọc trong SGK Tiếng Việt 2 bộ sách Chân trời sáng tạo đều là những chủ đề gần gũi, thân thuộc với các em HS Trong từng ngữ liệu của bài đọc đều hướng tới mục đích giáo dục, chứa đựng triết lí giáo dục góp phần giáo dục và hình thành nhân cách cho HS Nội dung các bài tập đọc đều hướng đến phát triển cho HS các năng lực chung và năng lực đặc thù của môn Tiếng Việt theo chương trình GDPT tổng thể 2018
1.2.2 Khảo sát các bài đọc hiểu trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, bộ sách Chân trời sáng tạo
Các dạng câu hỏi đọc hiểu được sử dụng trong hoạt động này bao gồm: câu hỏi tìm chi tiết trong bài, câu hỏi tìm hiểu về hình thức/ thể loại, câu hỏi về nội dung của bài đọc và câu hỏi liên hệ, so sánh, kết nối Các câu hỏi được thiết kế theo 3 mức độ với các dạng: câu hỏi gợi mở, câu lệnh, câu hỏi trắc nghiệm (nhiều lựa chọn, ghép nối, đúng sai,…) và câu hỏi kết hợp với tranh ảnh minh họa (câu hỏi kết nối ngôn ngữ hình ảnh)
Trang 3737
1.2.2.1 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học
* Nhóm bài tập đọc hiểu nội dung
- Loại BT nhận diện các chi tiết được thể hiện tường minh trong văn bản, trả lời cho các câu hỏi ai, cái gì, ở đâu, khi nào, làm gì, như thế nào, vì sao,…
+ Ví dụ câu hỏi ở trang 11, SGK Tiếng Việt 2 tập 1:
Hình 1.7 Bài 1 – Bé Mai đã lớn (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời sáng tạo)
+ Đối với dạng BT này, GV cần giúp HS “khoanh vùng” phạm vi trong bài đọc chứa các thông tin liên quan đến yêu cầu câu hỏi Sau đó hướng dẫn các em xem xét, xác định chi tiết/ sự kiện liên quan trực tiếp đến câu hỏi để lựa chọn và sắp xếp ngôn ngữ để trả lời GV chú ý không cho HS rơi vào tình trạng trả lời câu hỏi bằng cách “đọc nguyên văn” cả đoạn hoặc một phần của bài đọc có chứa chi tiết trong câu hỏi Nếu HS đọc nguyên văn, GV cần hướng dẫn để HS lựa chọn đúng phần thông tin có liên quan và sắp xếp các từ ngữ thành câu trả lời
- Loại BT xác định ý khái quát của văn bản dựa vào gợi ý
+ Ví dụ trang 67 và trang 83, SGK Tiếng Việt 2 tập 1:
Hình 1.8 Bài 3 – Bà nội và bà ngoại (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời sáng tạo)
Trang 38* Nhóm bài tập đọc hiểu hình thức
- Loại BT xác định từ ngữ chỉ màu sắc, hình dáng, âm thanh, đặc điểm, hành động,… của đối tượng miêu tả trong bài đọc
Ví dụ câu hỏi ở trang 46, SGK Tiếng Việt 2 tập 2:
Hình 1.10 Bài 2 – Ong xây tổ (SGK Tiếng Việt 2 tập 2, bộ sách Chân trời sáng tạo)
- Loại BT nhận diện các đặc điểm của thể loại văn bản như nhân vật, lời nhân vật,
Ví dụ câu hỏi ở trang 83, SGK Tiếng Việt 2 tập 2:
Hình 1.11 Bài 1 – Ai ngoan sẽ được thưởng (SGK Tiếng Việt 2 tập 2, bộ sách Chân trời sáng tạo)
Trang 3939
* Nhóm bài tập đọc hiểu liên hệ, so sánh, kết nối
- Loại BT kết nối đọc hiểu chi tiết trong văn bản với đọc ngôn ngữ hình ảnh + Ví dụ câu hỏi ở trang 123, SGK Tiếng Việt 2 tập 1:
Hình 1.12 Bài 3 – Khi trang sách mở ra…
(SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời sáng tạo)
+ GV có thể sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở, giúp HS quan sát tranh và nhận ra bức tranh đang vẽ về điều gì/ cảnh gì Từ đó hướng dẫn HS quay trở lại bài đọc và xác định vị trí câu thơ tương ứng với nội dung tranh GV cũng có thể
sử dụng hình thức thi đua ghép tranh giữa các nhóm/ tổ để gia tăng hứng thú tìm hiểu bài
- Loại BT liên hệ bản thân, đánh giá nhân vật/ chi tiết trong bài đọc, kết nối kinh nghiệm ngôn ngữ và xã hội của HS
+ Ví dụ “Em thích nhân vật nào nhất? Vì sao?”,…
+ Đối với dạng BT này, GV cần tạo điều kiện để mọi HS đều tham gia trả lời bằng cách linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học theo cặp/ nhóm nhỏ, khuyến khích
và tạo cơ hội cho HS yếu, trung bình được tham gia trả lời GV cũng cần chú ý việc đánh giá theo hướng tôn trọng ý kiến của HS
1.2.2.2 Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin
Tùy thuộc vào các đặc điểm về nội dung và hình thức của văn bản đọc mà
GV tổ chức thực hiện việc đọc hiểu tương ứng
* Nhóm bài tập đọc hiểu nội dung
Trang 4040
- Loại BT nhận diện các thông tin nổi bật được thể hiện tường minh trong văn bản, thường được thiết kế dưới dạng câu hỏi tái hiện
Ví dụ câu hỏi ở trang 14, SGK Tiếng Việt 2 tập 1:
Hình 1.13 Bài 2 – Thời gian biểu (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời sáng tạo)
- Loại BT xác định ý khái quát (đại ý) của văn bản (văn bản này viết về điều gì)
có thể có gợi ý, hỗ trợ hoặc không
Ví dụ câu hỏi ở trang 46, SGK Tiếng Việt 2 tập 1:
Hình 1.14 Bài 2 – Cánh đồng của bố (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời sáng tạo)
* Nhóm bài tập đọc hiểu hình thức
- Loại BT nhận biết trình tự của các chi tiết, sự việc trong văn bản
+ Ví dụ câu hỏi ở trang 62, SGK Tiếng Việt 2 tập 1:
Hình 1.15 Bài 2 – Bưu thiếp (SGK Tiếng Việt 2 tập 1, bộ sách Chân trời sáng tạo)
+ Với dạng BT này, GV cần giúp HS đọc lại bài đọc, xác định vị trí các sự việc được nhắc đến trong câu hỏi, đánh số các sự việc theo trật tự xuất hiện trong bài đọc để trả lời câu hỏi