Tính c ấ p thi ế t c ủa đề tài
Ngày nay, du lịch đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam Theo nghị quyết 08-NQ/TW ban hành ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị, ngành du lịch đã được định hướng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Các điểm đến du lịch và tài nguyên du lịch đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành.
Hưng Yên, đặc biệt là Phố Hiến, có tiềm năng phát triển du lịch nhờ nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng, lễ hội dân gian truyền thống, văn hóa ẩm thực phong phú và làng nghề đa dạng Cụm di tích Phố Hiến sở hữu hơn 128 di tích, trong đó có 17 di tích quốc gia và 6 di tích cấp tỉnh, tạo thành nguồn tài nguyên du lịch vô giá Tuy nhiên, việc khai thác những tiềm năng này vẫn còn hạn chế, chưa phát huy hết hiệu quả so với tiềm năng thực tế Đẩy mạnh hoạt động du lịch, khai thác các lợi thế sẵn có của Phố Hiến là yêu cầu cấp bách để bảo tồn giá trị di sản văn hóa đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương.
Vấn đề phát triển du lịch Phố Hiến trở nên quan trọng hơn nhờ vào dự án quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị đô thị cổ Phố Hiến Đề án này nhằm thúc đẩy phát triển du lịch bền vững gắn liền với việc khai thác các giá trị lịch sử và văn hóa đặc biệt của khu vực Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt dự án, mở đường cho quá trình thực hiện và đưa vào khai thác, góp phần nâng cao hình ảnh và sức hút của Phố Hiến đối với du khách trong và ngoài nước.
Hiện tại, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tại cụm di tích phố Hiến – Tp Hưng Yên, chỉ gồm một số công trình như Hội thảo Quốc tế về đô thị cổ Phố Hiến tổ chức vào tháng 12 năm 1992, cùng các sách như “170 năm ngày thành lập tỉnh Hưng Yên” và “Phố Hiến lịch sử và văn hóa” do Nguyễn Phúc Lai chủ biên Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung làm rõ lịch sử hình thành của phố Hiến, nhưng chưa đề cập đến tiềm năng phát triển du lịch hoặc phù hợp với thực trạng du lịch hiện nay, đồng thời thiếu các công trình mới cập nhật và giải quyết các vấn đề hiện tại của cụm di tích.
Cụm di tích phố Hiến, Tp Hưng Yên, được đánh giá cao về giá trị khoa học và thực tiễn, phản ánh rõ nét về lịch sử và văn hóa địa phương Những lý do này giúp khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị của khu di tích Với tình yêu quê hương sâu sắc và điều kiện khảo sát thực tiễn, chúng tôi nhận thấy rằng việc nghiên cứu và phát triển các hoạt động liên quan đến phố Hiến góp phần thúc đẩy du lịch và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của Hưng Yên Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị của cụm di tích này là mục tiêu cần thiết để phát triển bền vững địa phương trong tương lai.
2 đã chọn đề tài “ Phát triển du lịch văn hóa tại quần thể di tích Phố Hiến – Tp Hưng Yên”
M ục đích và mụ c tiêu nghiên c ứ u
Phát triển du lịch văn hóa tại quần thể di tích phố Hiến ,Tp Hưng Yên, Tỉnh Hưng Yên
2.2.1 : Hệ thống hóa về du lịch văn hóa.Khái niệm cơ sở lý luận về du lịch văn hóa:
2.2.2 Khái niệm đặc điểm du lịch văn hóa
2.2.3 : Thực trạng và giá trị du lịch văn hóa tại quần thể di tích phố Hiến
2.2.4 : Giải pháp nâng cao hiệu quả du lịch văn hóa tại quần thể di tích
Đối tượ ng nghiên c ứ u và ph ạ m vi nghiên c ứ u
Du lịch văn hóa tại quần thể di tích phố Hiến, Hưng Yên
Tập trung vào văn miếu Xích Đằng
Thời gian: Từ năm 2009 tới nay, mốc từ Thị xã Hưng Yên lên Tp Hưng Yên Không gian: Văn miếu Xích Đằng
Phương pháp nghiên cứ u
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Để có được thông tin chính xác và có căn cứ, phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu bao gồm việc sử dụng các nguồn chính như sách, báo và tài liệu thứ cấp như giáo trình Quá trình này giúp lọc ra các thông tin ngắn gọn, súc tích và truyền đạt hiệu quả nhất đến người nghe.
− Phương pháp quan sát, khảo sát: cần tìm hiểu mật độ du khách ghé thăm khu di tích văn hóa lịch sử Phố Hiến
Điều tra xã hội học, gồm phương pháp phỏng vấn người dân địa phương và khách tham quan tại khu di tích, giúp thu thập dữ liệu về nhận thức và trải nghiệm của các đối tượng này Việc phát bảng hỏi với hệ thống câu trả lời có sẵn giúp định tính và định lượng các đặc điểm của khu di tích, từ đó hỗ trợ đánh giá giá trị và tầm quan trọng của di tích trong cộng đồng Đây là bước quan trọng trong nghiên cứu nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện và chính xác về khu di tích.
− Thực nghiệm:Tự mình trải nghiệm tại điểm đến trong thời 8 tuần làm khóa luận.
Ý nghĩa của đề tài nghiên c ứ u
Trong bài viết này, chúng tôi tổng hợp và phân tích các tài liệu liên quan đến du lịch, du lịch văn hóa và quản trị lữ hành điểm đến nhằm hệ thống hóa các lý luận cơ bản về hoạt động phát triển điểm đến du lịch Các nghiên cứu này giúp làm rõ các yếu tố thúc đẩy và khó khăn trong việc xây dựng các điểm đến du lịch hấp dẫn và bền vững Việc phân tích tài liệu cũng cung cấp cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả và phát triển bền vững cho các điểm đến du lịch, góp phần thúc đẩy ngành du lịch ngày càng phát triển và phù hợp với xu hướng toàn cầu.
− Tìm hiểu hệ thống, các hình thức và các hoạt động của điểm đến để di tích Phố Hiến – Hưng Yên và Văn miếu Xích Đằng
− Đánh giá được những ưu điểm, hạn chế , thời cơ và thách thức của điểm đến
Các khuyến nghị nhằm thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa tại điểm đến Phố Hiến – Hưng Yên bao gồm việc đầu tư nâng cao giá trị lịch sử và văn hóa của khu di tích, xây dựng các hoạt động trải nghiệm hấp dẫn để thu hút du khách Đặc biệt, việc bảo tồn và tôn tạo Văn miếu Xích Đằng sẽ góp phần giữ gìn nét đẹp truyền thống và nâng cao giá trị văn hóa của điểm đến Phát triển hạ tầng du lịch phù hợp, quảng bá hình ảnh đặc trưng của khu di tích qua các hình thức truyền thông hiện đại là các biện pháp cần thiết để thúc đẩy du lịch văn hóa tại Phố Hiến – Hưng Yên.
B ố c ụ c c ủ a khóa lu ậ n
Khóa luận được chia làm 3 chương:
CƠ SỞ LÍ LU Ậ N V Ề DU L ỊCH VĂN HÓA VÀ HỆ TH Ố NG DI TÍCH VĂN HÓA
T ổ ng quan phát tri ể n du l ịch văn hóa
1.1.1 Khái ni ệ m du l ịch văn hóa
Hoạt động du lịch có lịch sử hình thành từ thời cổ đại đến phong kiến, cận đại và hiện đại, phản ánh quá trình phát triển của xã hội qua các thời kỳ Ngày nay, ngành du lịch đã trở thành hoạt động mang tính toàn cầu, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và đời sống xã hội của các quốc gia phát triển Kinh doanh du lịch ngày càng nâng cao về mặt cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện ăn ở, đi lại, vui chơi và giải trí, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành Du lịch không chỉ là nhu cầu thiết yếu của người dân mà còn trở thành tiêu chuẩn để đánh giá mức sống của cộng đồng, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về ý nghĩa và vai trò của hoạt động này.
Du lịch được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, trong đó, theo bài giảng môn “Nhập Môn Du lịch – Trường ĐH Thăng Long”, du lịch là việc thực hiện một chuyến đi của con người với mục đích riêng biệt đến nơi khác mà không nhằm mục đích định cư, và phải trở về sau chuyến đi Năm 1963, Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch tại Roma đã đưa ra một định nghĩa khác về du lịch, góp phần làm rõ vai trò và ý nghĩa của hoạt động này trong đời sống con người.
Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ và hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể ở nơi không phải là môi trường làm việc thường xuyên Các chuyến đi này thường nhằm mục đích nghỉ ngơi, thư giãn và thúc đẩy sự hiểu biết hòa bình giữa các nền văn hóa Theo Hội nghị quốc tế và thống kê du lịch tại Ottawa, Canada, tháng 6 năm
Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường sinh hoạt thường xuyên, với chuyến đi có thời gian ngắn hơn so với các chuyến du lịch đã được tổ chức trước đó Mục đích chính của chuyến đi không phải là để kiếm tiền hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh trong vùng đến thăm.
Du lịch được định nghĩa là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Khu du lịch là những điểm có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và hấp dẫn, có lợi thế từ các tài nguyên tự nhiên, được quy hoạch và đầu tư phát triển nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu của khách du lịch Việc phát triển khu du lịch không những mang lại lợi ích về mặt kinh tế-xã hội mà còn góp phần bảo vệ môi trường, thúc đẩy bền vững ngành du lịch Việt Nam.
Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, trong tác phẩm "Cơ sở văn hóa Việt Nam", ông định nghĩa: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội." Đây là mô tả rõ nét về bản chất của văn hóa Việt Nam, phản ánh quá trình hình thành và phát triển dựa trên hoạt động thực tiễn của con người trong môi trường tự nhiên và xã hội.
“Văn hoá” có nhiều nghĩa, nhưng đều quy về hai cách hiểu chính: nghĩa hẹp và nghĩa rộng Trong nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc chiều rộng, không gian hoặc thời gian, như các giá trị tinh hoa, các lĩnh vực cụ thể hoặc đặc trưng của từng vùng hoặc giai đoạn lịch sử Trong nghĩa rộng, văn hoá bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra, như Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh vào năm 1940, đó là tổng hợp các sáng tạo và phát minh về ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, nghệ thuật và các phương tiện sinh hoạt nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và sự sinh tồn của con người.
Văn hóa được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, bao gồm trình độ học thức (trình độ văn hóa), lối sống và nếp sống văn hóa (phong cách sống), cũng như phản ánh trình độ phát triển của từng giai đoạn.
Văn hóa được hiểu rộng hơn là tổng thể các phong tục, tín ngưỡng, hiện vật và lối sống ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của cộng đồng Những yếu tố này hình thành nên nét đặc trưng văn hóa của vùng miền, góp phần xây dựng bản sắc riêng của cư dân nơi đó Việc hiểu rõ các yếu tố văn hóa giúp chúng ta nhận diện và gìn giữ giá trị truyền thống, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Theo E.B Taylor, một nhà nhân loại phương Tây, "Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục, những khả năng và tập quán khác nhau mà con người có được với tư cách là thành viên của xã hội." Khái niệm này nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố tinh thần, tập quán và các giá trị xã hội trong việc hình thành bản sắc văn hóa của cộng đồng Văn hóa không chỉ là tập hợp các giá trị truyền thống mà còn phản ánh quá trình phát triển và đa dạng của các khả năng, tín ngưỡng, phong tục của con người trong đời sống hàng ngày Đây là khía cạnh cốt lõi giúp hiểu rõ về sự đa dạng và đặc trưng của các nền văn hóa khác nhau trên thế giới.
Theo sách “Du lịch văn hóa” trang 2-3, TS.Nguyễn Văn Bình.”Văn hóa là tổng thể ị ậ ất cũng như tinh thần do con ngườ ạ ị ử
Văn hóa mang tính khác biệt và tính đại diện, mỗi nền văn hóa tượng trưng cho một cộng đồng dân tộc trên thế giới Sự đa dạng của các dân tộc chính là nguồn gốc của sự phong phú về văn hóa toàn cầu Chính đặc điểm đa dạng và khác biệt này đã thúc đẩy ngành du lịch phát triển, làm nền tảng để khám phá và trải nghiệm các nét văn hóa độc đáo Trong lĩnh vực du lịch, văn hóa được hiểu theo hai khía cạnh: từ quan điểm của khách du lịch và từ góc nhìn của nhà cung ứng dịch vụ du lịch.
1.1.1.3 Khái niệm du lịch văn hóa
Hiện nay, du lịch đa dạng với các hình thức như du lịch sinh thái, du lịch bền vững, du lịch chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, và du lịch MICE ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong đó, du lịch văn hóa đang được chú trọng hơn tại các nước đang phát triển nhờ vào khả năng khai thác giá trị lịch sử, truyền thống và nét đẹp văn hóa đặc trưng của từng địa phương Vậy, du lịch văn hóa là gì?
Theo UNWTO, du lịch văn hóa là những chuyến đi có mục đích chính hoặc bao gồm việc tham quan các địa điểm, sự kiện có giá trị văn hóa và lịch sử, góp phần bảo tồn và quảng bá di sản văn hóa của cộng đồng Đây là hình thức du lịch giúp du khách khám phá những nét đẹp độc đáo của các di sản văn hóa, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch và nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa truyền thống.
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa trên bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp sự tham gia của cộng đồng địa phương nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Theo Luật Du lịch, loại hình du lịch này giúp bảo vệ di sản văn hóa, nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy phát triển bền vững du lịch dựa trên nét đặc trưng văn hóa riêng biệt của mỗi địa phương Chủ yếu, du lịch văn hóa hướng tới kết hợp trải nghiệm thực tế của khách du lịch với việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, góp phần làm phong phú thành tựu văn hóa của quốc gia.
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa vào các nguồn tài nguyên du lịch là các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa trên bản sắc văn hóa dân tộc, có sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống Các yếu tố thu hút khách du lịch bao gồm lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, tôn giáo và lối sống đặc trưng, tạo nên văn hóa độc đáo của địa phương Khách du lịch thường đến để khám phá, tìm hiểu và trải nghiệm những nền văn hóa khác nhau trên thế giới Do đó, du lịch văn hóa luôn gắn liền với các nét đặc trưng văn hóa của địa phương, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng.
T ổ ng quan v ề di tích văn hóa
1.2.1 Khái ni ệ m v ề di tích văn hóa
Di tích là các công trình, địa điểm hoặc dấu vết tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, liên quan mật thiết đến quá khứ và các sự kiện lịch sử trọng đại của thế hệ xa xưa Chúng phản ánh những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và khoa học của một dân tộc Bản thân di tích không chỉ mang lại giá trị vật chất mà còn chứa đựng những giá trị tinh thần quan trọng, góp phần giữ gìn bản sắc và phát huy truyền thống dân tộc.
Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong tự nhiên hoặc trên mặt đất, mang ý nghĩa về mặt văn hóa Các loại di tích được phân chia theo thứ tự về giá trị và tầm quan trọng gồm có di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt.
Dưới quy định của Điều 4 Luật di sản văn hoá và Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ Việt Nam, các cơ quan chức năng có trách nhiệm thực hiện các quy định chi tiết nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá Chính sách này hướng tới bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của các di tích, di sản quốc gia Việc tuân thủ các quy định này giúp nâng cao ý thức cộng đồng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị di sản, góp phần duy trì bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.
1.2.2 Di tích l ị ch s ử - văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa là các công trình xây dựng, địa điểm, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia có giá trị lịch sử, văn hóa đặc biệt quan trọng Để được công nhận, các di tích này cần đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí về giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật hoặc ý nghĩa văn hóa đặc trưng, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của quốc gia.
Công trình xây d?ng, ??a ?i?m g?n v?i s? ki?n l?ch s? tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như??n Hùng
12 t?c của đất nước Các Kim Liên, ??n Ki?p B?c, Qu?n th? di tích danh th?ng Yên T?, L Nhân kỳ th?ng ?i?n Biên Ph?, tuy?n Tam ?i?p,
Năm di tích này không những có giá trịl?ch s? diện kinh t?, nh?t là kinh t? du l?ch
1.2.2.1 Di tích kiến trúc nghệ thuật
Di tích kiến trúc nghệ thuật là các công trình kiến trúc có giá trị tiêu biểu trong quá trình phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc Những quần thể hoặc công trình đơn lẻ này thể hiện đặc sắc của kiến trúc và nghệ thuật qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Các ví dụ điển hình như chùa Keo thể hiện rõ nét giá trị văn hóa và nghệ thuật của từng thời kỳ lịch sử.
Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 44.2% tổng số di tích được xếp hạng
1.2.2.2 Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như , hang Con Moong, di ch? ?ông S?n, ??ng Ng??i X?a, S?n
Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng
Di tích th?ng c?nh (danh lam thắng cảnh) là các cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm nổi bật, kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp tự nhiên và các công trình kiến trúc có giá trị mỹ thuật, khoa học Những danh lam thắng cảnh này không chỉ thu hút du khách bởi vẻ đẹp độc đáo mà còn góp phần quảng bá văn hóa, du lịch Việt Nam Việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích th?ng c?nh đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững, thúc đẩy ngành du lịch và nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị di sản tự nhiên.
Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và công trình kiến trúc mang giá trị thẩm mỹ đặc trưng, tạo nên những di tích quốc gia tiêu biểu Trong đó, bốn danh lam thắng cảnh nổi bật là những điểm đến có ý nghĩa lịch sử, văn hóa và đẹp mắt, phản ánh rõ nét vẻ đẹp tự nhiên và kiến trúc đặc trưng của vùng đất.
Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, chứa đựng những dấu tích vật chất phản ánh các giai đoạn phát triển của Trái đất Các di tích tiêu biểu của loại này tập trung chủ yếu tại miền Nam, góp phần quan trọng trong nghiên cứu và bảo tồn các giá trị địa chất quý giá của khu vực.
1.2.2.4 Di tích lịch sử cách mạng
Di tích cách mạng - kháng chiến là một phần quan trọng của hệ thống di tích lịch sử - văn hoá, thể hiện những địa điểm, công trình gắn liền với các sự kiện, nhân vật lịch sử cụ thể như địa đạo, hầm bí mật, nhà ở hay đường phố Khác với các di tích tôn giáo như đình, đền, chùa, miếu, di tích cách mạng có đặc điểm là những công trình do con người tạo dựng phù hợp với mục đích sử dụng và có thể dễ bị lãng quên, biến dạng theo thời gian, thời tiết và mục đích sử dụng mới Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích này gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt để giữ gìn các giá trị lịch sử độc đáo của chúng.
Một số di tích lịch sử cách mạng như: Chi?n khu Tân Trào, C
Mỗi loại hình di tích mang giá trị riêng về văn hóa, góp phần làm phong phú kho tàng di sản của đất nước Các điểm tham quan giúp du khách trải nghiệm các giá trị văn hóa đặc sắc, tiêu biểu cho sức mạnh và tinh thần của con người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Đồng thời, việc khám phá các di tích còn đáp ứng nhu cầu về tâm linh, tín ngưỡng và cảm nhận sâu sắc chiều sâu văn hóa, lịch sử của dân tộc.
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh (gọi chung là di tích) được chia thành:
Di tích nằm trong danh mục kiểm kê di sản văn hóa
Di tích cấp tỉnh là những di tích có giá trị tiêu biểu nổi bật của địa phương, phản ánh nét đặc trưng văn hóa và lịch sử Việc xếp hạng di tích cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định dựa trên các tiêu chí đánh giá rõ ràng Đây là bước quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích truyền thống, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về di sản văn hóa địa phương.
Di tích qu?c gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc ?V?n hóa, Th?
Du l?ch (Vi?t Nam) quyết định xếp hạng di tích quốc gia
Di tích quốc gia đặc biệt là những di tích có giá trị lịch sử, văn hóa nổi bật, thể hiện nét đặc trưng của đất nước Việc xếp hạng di tích này do Thủ tướng Chính phủ quyết định dựa trên các tiêu chí về ý nghĩa và tầm quan trọng Quyết định đề nghị công nhận một di tích là di tích quốc gia đặc biệt nhằm bảo tồn và phát huy giá trị heritage quốc gia Các di tích quốc gia đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và thúc đẩy du lịch phát triển.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc đang xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới Các di tích quốc gia đặc biệt tại Việt Nam đã được xếp hạng qua các đợt đầu bao gồm: Ô Hoa Lư, Dinh Thăng Long, Khu cố cự Trung Ương Cục và các di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Tân Trào, Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể di tích Cổ.
?ô Hu?, Thành nhà H?,S?n Thng cnh Tràng An - Tam C?c -
Long, ?ô th? c? H?i An và ??n Hùng.
Mối quan hệ giữa hoạt động du lịch văn hóa và di tích văn hóa
1.3.1 Vai trò của du lịch văn hóa với di tích văn hóa
Thông qua hoạt động du lịch, du khách có cơ hội trực tiếp tiếp xúc và trải nghiệm các di tích văn hóa, lịch sử, giúp họ hiểu sâu hơn về giá trị văn hóa và di sản truyền thống Những trải nghiệm này góp phần nuôi dưỡng và phát triển các giá trị văn hóa, tâm linh và tín ngưỡng trong tâm thức của du khách Hoạt động du lịch không chỉ mang lại trải nghiệm thú vị mà còn là cầu nối giữ gìn và truyền bá các giá trị văn hóa đặc sắc của địa phương.
Hoạt động du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực, góp phần làm phong phú các hoạt động tại di tích Đồng thời, du lịch tạo cơ hội cho người dân địa phương tham gia vào các hình thức kinh doanh liên quan đến du lịch tại di tích, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy cộng đồng phát triển bền vững.
Bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa, tín ngưỡng của di tích
Du lịch văn hóa tâm linh đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hành vi hướng thiện, góp phần nâng cao tinh thần đoàn kết cộng đồng Việc tham gia các hoạt động tâm linh giúp khách du lịch kết nối với cội nguồn dân tộc, tăng cường ý thức về truyền thống và giá trị văn hóa Bên cạnh đó, du lịch tâm linh còn thúc đẩy xây dựng xã hội hài hòa, tốt đẹp thông qua việc truyền tải các giá trị đạo đức và nhân ái Nhờ đó, loại hình du lịch này góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về phát triển bền vững và tạo ra môi trường du lịch tích cực, phù hợp với xu hướng ngày càng chú trọng đến giá trị tâm linh và văn hóa Việt Nam.
Hoạt động du lịch giúp quảng bá hình ảnh của các di tích văn hóa một cách rộng rãi hơn, thu hút nhiều khách tham quan và nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa Nhờ đó, giá trị tâm linh của các điểm di tích ngày càng được khẳng định và tôn vinh, góp phần bảo tồn và phát triển nền văn hóa truyền thống Việc phát triển du lịch kết hợp với bảo tồn di tích không chỉ thúc đẩy kinh tế địa phương mà còn nâng cao ý thức cộng đồng về giữ gìn các giá trị văn hóa quý báu.
Việc phát triển nhiều ngành nghề, cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống quanh các điểm di tích đã giúp thu hút du khách hơn Các hoạt động này không chỉ làm tăng tính hấp dẫn của điểm di tích mà còn mở rộng cơ hội khai thác các khía cạnh đa dạng trong hoạt động du lịch Nhờ đó, ngành du lịch địa phương ngày càng phát triển bền vững và mang lại lợi ích kinh tế cao.
1.3.2 Vai trò c ủa di tích đố i v ớ i ho ạt độ ng du l ịch văn hóa
Là một tài nguyên du lịch để thu hút du khách
Văn hóa và các giá trị di sản văn hóa lịch sử, tín ngưỡng đã gắn bó và tồn tại song hành cùng dân tộc qua hàng nghìn năm Khi xã hội phát triển, nhu cầu tìm hiểu về giá trị văn hóa, lịch sử và xã hội ngày càng tăng Các di tích văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ những giá trị này, đồng thời trở thành yếu tố tài nguyên du lịch hấp dẫn, góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch bền vững.
Giá trị văn hóa truyền thống đóng vai trò là thế mạnh thúc đẩy sức hấp dẫn của du lịch Các di tích lịch sử nổi tiếng không chỉ góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho ngành du lịch mà còn là biểu tượng của nguồn cội, lịch sử dựng nước và giữ nước Hoạt động khám phá lịch sử, văn hóa và xã hội học tại các di tích giúp du khách hiểu rõ hơn về lối sống và tín ngưỡng của dân tộc, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Những di tích này thể hiện sự phát triển lâu dài của đất nước, trở thành yếu tố thu hút chính cho du khách yêu thích hoạt động tìm hiểu văn hóa, từ đó nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa lịch sử Việt Nam.
Các di tích lịch sử thường chứa đựng giá trị tâm linh về mong cầu may mắn, bình an, sức khỏe và tài lộc, thu hút đông đảo du khách tham quan Với sự gắn kết sâu sắc đến tín ngưỡng của người dân Châu Á, đặc biệt là đạo Phật, các di tích này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy du lịch, góp phần nâng cao lượng khách du lịch đến tham quan và tìm hiểu nét đẹp văn hóa tâm linh.
Di tích là những nơi lưu giữ dấu ấn xưa cũ, mang nét linh thiêng và gần gũi thông qua hình ảnh các vị thần, thánh thời xưa, cây đa, bến nước, sân đình đã trở thành những biểu tượng quen thuộc và trang nghiêm trong lòng du khách Những địa điểm này đóng vai trò quan trọng trong phát triển hoạt động du lịch văn hóa, góp phần tạo nên nhu cầu khám phá, tìm hiểu về lịch sử và truyền thống của cộng đồng Chính vì vậy, di tích chính là nền tảng để thúc đẩy ngành du lịch văn hóa phát triển bền vững.
Yêu c ầu để phát tri ể n du l ịch văn hóa tạ i di tích
Tính hấp dẫn đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tài nguyên du lịch và xây dựng hình ảnh điểm đến du lịch Đây là yếu tố then chốt giúp thu hút du khách và nâng cao giá trị của điểm đến trong mắt du khách quốc tế và trong nước Sự hấp dẫn của điểm đến không chỉ thúc đẩy lượng khách du lịch tăng lên mà còn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành du lịch địa phương.
Các nhà nghiên cứu đã xác định các yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sức hút của điểm đến du lịch, bao gồm sự hấp dẫn tự nhiên và văn hóa, tiện nghi hiện đại, cơ sở hạ tầng phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật chất lượng cao, dịch vụ vận chuyển tiện lợi và đa dạng, cùng với dịch vụ khách sạn chất lượng cao nhằm nâng cao trải nghiệm của du khách.
Di tích là sản phẩm của lao động con người trong quá khứ để lại, và được công nhận là di tích mà không bị giới hạn về thời gian Ví dụ, đình làng Mông Phụ Đường Lâm Sơn Tây được xây dựng từ năm 1533 dưới thời vua Mạc Đăng Doanh, trong khi các di tích chiến trường Điện Biên Phủ như đồi A1, C1, C2, D1, cứ điểm Hồng Cúm, Him Lam, đồi Độc Lập, cầu Mường Thanh và sân bay Mường Thanh đều hình thành trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, khoảng 50 năm trước.
Di tích là bằng chứng vật chất sinh động phản ánh trung thực quá trình hình thành và phát triển của sản phẩm trong lịch sử Chúng thể hiện rõ hoàn cảnh ra đời, mục đích sản xuất, phương pháp và người tạo ra sản phẩm đó Nghiên cứu các di tích giúp khám phá lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của thời kỳ sản phẩm được tạo ra.
Cố đô Hoa Lư, xây dựng cách đây hơn 1000 năm, từng là trung tâm quyền lực của triều đại nhà Đinh và Tiền, phản ánh quá trình phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam Quần thể Văn Miếu - Quốc Tử Giám thể hiện rõ nét trình độ khoa học, kỹ thuật, hội họa và điêu khắc của người Việt trong thời kỳ đó, góp phần khẳng định giá trị lịch sử và văn hóa của nền văn minh Việt Nam cổ đại.
Tử Giám được xây dựng lần đầu từ năm 1070, qua nhiều lần tu sửa, bổ sung các công trình phụ trợ vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử ban đầu, trở thành biểu tượng quan trọng của văn hóa Việt Nam.
Các điểm di tích thu hút du khách nhờ vào quy mô và kiến trúc độc đáo của chúng Nghiên cứu các di tích do các tộc người khác nhau sáng tạo trong quá khứ giúp phản ánh sự phát triển về lịch sử, văn hóa, và khoa học của từng dân tộc Các di tích như nhà sàn, nhà Rông, tượng nhà mồ và sử thi minh chứng cho sự đa dạng văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên Tháp Chàm thể hiện sự phát triển văn hóa của dân tộc Chăm, trong khi kiến trúc nhà sàn của người Thái, người Tày mang nét đặc trưng của văn hóa Tây Bắc, góp phần làm phong phú kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.
1.4.1.3 Giá trị nghệ thuật và tính nguyên bản
Các di tích đều bao gồm hai mặt giá trị tiêu biểu, giá trị văn hóa vật thể và giá trị văn hóa phi vật thể
Giá trị vật chất của di tích là những hiện vật vật thể mà chúng ta có thể nhìn thấy, tồn tại trong không gian vật chất cố định như chùa, đình, lăng tẩm, thành quách, tháp, tượng, cây cối và các công trình kiến trúc cổ.
Giá trị văn hóa tinh thần (phi vật thể) gắn liền với di tích là những yếu tố thể hiện qua các hoạt động tái hiện như lễ hội, ca múa, nhạc và các ghi chép về lịch sử của di tích đó Những hoạt động này giúp chúng ta nhận thức rõ hơn về ý nghĩa tinh thần và giá trị lịch sử của di tích trong đời sống cộng đồng Thông qua các hình thức truyền thống này, giá trị phi vật thể của di tích được duy trì và truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Di tích cố đô Huế nổi bật với giá trị vật chất thể hiện qua các công trình kiến trúc như lăng tẩm, cung đình, phản ánh phần “xương thịt” của di tích Bên cạnh đó, các điệu múa hát, nhã nhạc cung đình Huế góp phần thể hiện giá trị văn hóa phi vật thể, là “phần hồn” mang đậm tinh thần và nét đặc trưng của di tích lịch sử này Tổng thể, các giá trị vật chất và phi vật thể tạo nên giá trị toàn diện của di tích cố đô Huế, góp phần giữ gìn và phát huy nguồn di sản văn hóa quý báu của Việt Nam.
Giá trị vật chất của di tích phản ánh quá trình hao phí thời gian lao động xã hội cần thiết của con người trong quá khứ khi sáng tạo ra nó, đồng thời chứa đựng giá trị lao động xã hội trong việc sản xuất và kết hợp các vật liệu theo quy trình khoa học Tuy nhiên, không thể dùng thời gian hao phí lao động để đo lường toàn bộ giá trị của di tích, vì nó còn chứa đựng các giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và khoa học của xã hội Do đó, di tích không chỉ là tài sản vô giá của quốc gia mà còn là biểu tượng quan trọng của quá khứ lịch sử và giá trị văn hóa của dân tộc.
1.4.1.4 Sự kết hợp các yếu tố xung quanh
Các yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến du lịch bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, hạ tầng xã hội phát triển, kiến trúc độc đáo, phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và khí hậu dễ chịu Những yếu tố này góp phần thu hút du khách và nâng cao giá trị của điểm đến Việc kết hợp hài hòa giữa các yếu tố trên sẽ giúp thúc đẩy ngành du lịch phát triển bền vững và mang lại trải nghiệm tích cực cho du khách.
Điểm đến du lịch hấp dẫn phải có sự hiếu khách và tính thân thiện của cộng đồng dân cư địa phương, cùng với các hoạt động văn hóa, sự kiện đặc sắc và cuộc sống về đêm sôi động Khả năng tiếp cận dễ dàng, các món ăn đặc sản, môi trường yên tĩnh và chính trị ổn định góp phần nâng cao trải nghiệm của du khách Tính mới lạ và sự phong phú của các loại hình du lịch, từ di tích lịch sử, nghệ thuật đến các hoạt động vui chơi giải trí, tạo nên sức hút mạnh mẽ Yếu tố an toàn, tiện nghi, giá cả hợp lý và thuận tiện trong di chuyển giúp đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đáp ứng nguyên tắc “dễ dàng, thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và tiện nghi”.
Tính hấp dẫn du lịch là lực hút chính giữa điểm đến và khách du lịch tiềm năng, đóng vai trò quan trọng nhất trong thu hút khách Yếu tố này được hình thành bởi sự phù hợp của tài nguyên với các hoạt động du lịch, cơ sở hạ tầng và tiện ích kỹ thuật hỗ trợ du lịch, sức chứa của điểm đến, cũng như sự phát triển của các dịch vụ phục vụ khách Ngoài ra, tính đa dạng và độc đáo của tài nguyên du lịch cũng góp phần tạo nên sức hút riêng biệt cho từng điểm đến, từ đó thu hút khách du lịch và thúc đẩy hoạt động kinh doanh du lịch hiệu quả.
1.4.2.1 Tổ chức các hoạt động ở khu vực
Trong các hoạt động lễ hội, cần chú trọng tuyên truyền giá trị của di tích lịch sử và truyền thuyết lễ hội qua hệ thống loa đài, tạo không gian hợp lý để thuận tiện cho du khách tham quan theo quy định của Ban quản lý di tích Đảm bảo sắp xếp các quầy hàng hợp lý, quản lý chặt chẽ hòm công đức, hướng dẫn nhập lễ đúng quy định, thu gom tiền lẻ kịp thời và sử dụng tiền công đức minh bạch, đúng mục đích Không để linh vật ngoại lai, hiện vật không phù hợp vào các khu di tích, giữ gìn nguyên trạng theo Luật Di sản văn hóa và các hướng dẫn thi hành Tập trung công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động mê tín dị đoan, phát tán văn hóa phẩm độc hại, tổ chức cờ bạc trá hình và thương mại hóa hoạt động lễ hội để bảo vệ giá trị truyền thống và đảm bảo tính văn hóa của lễ hội.
THỰ C TR Ạ NG PHÁT TRI Ể N DU L ỊCH VĂN HÓA TẠ I QU Ầ N
T ổ ng quan đị a bàn nghiên c ứ u qu ầ n th ể di tích Ph ố Hi ế n – Hưng Yên
Hưng Yên nằm tại trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, với Phố Hiến xưa gần bờ tả ngạn sông Hồng, cách dòng sông khoảng 2 km Theo tuyến đường sông, Phố Hiến cách Hà Nội khoảng 55 km, và trước đây, việc di chuyển từ Long Xuân xuống Phố Hiến mất khoảng 2 ngày, trong khi việc ngược dòng lên kinh đô mất khoảng 3 ngày Hiện nay, du khách có thể đi bằng đường bộ qua quốc lộ 38A trong vòng hơn một giờ đồng hồ, giúp việc đi lại trở nên thuận tiện hơn nhiều.
Trước đây, Phố Hiến đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giao thông đường thủy của các trấn Sông Nam, Hải Dương, An Quảng Đây là trung tâm trung chuyển và cửa ngõ thương mại chủ chốt, nối các tuyến đường sông quan trọng từ vùng biển Bắc.
Sông Thái Bình, Thông Long Hàng cùng các tuyến giao thương đường sông và ven biển đã kết nối Phố Hiến với các thị trường xa hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thương mại khu vực Từ thời thương nhân Xích Đằng, nơi đây đã có những mối liên hệ chặt chẽ với các cảng Hội Triều, mở ra cơ hội giao thương sôi động và thúc đẩy sự phát triển của các trung tâm thương mại cổ xưa.
Trong thế kỷ 17-18, các quan hệ thương mại giữa Phố Hiến và vùng Sơn Nam với các phố cảng trong và ngoài nước ngày càng được tăng cường, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và giao thương sầm uất của khu vực Những bến đò như Phục Lễ, Phù Thạch, Thanh Lợi đóng vai trò quan trọng trong hoạt động vận chuyển hàng hóa và kết nối các thương nhân, góp phần nâng cao tầm vóc thương mại của Phố Hiến thời kỳ này.
Hà (Thu?n Hoá), , Phố Hiến còn bắt nhịp với các tuyến giao thương quốc tế ở bi?n ?ông, nh? nước ?ào Nha,
Cho đến nay, chưa có đủ căn cứ chính xác để xác định niên đại thành lập của Phố Hiến, tuy nhiên, dựa trên các tư liệu sử sách, bia ký, khảo cổ và khảo sát thực địa, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng vùng Đằng Châu, thuộc phường Lam Sơn ngày nay, đã là một lãnh thổ của sứ quân Phạm Bạch Hổ từ thế kỷ thứ 10 Đến thời Tiền Lê, khu vực này trở thành thực ấp của Lý Công Uẩn Vào thế kỷ 13, dưới thời nhà Trần, khi nhà Nguyên tiêu diệt nhà Tống, một số kiều dân Trung Quốc tị nạn đã đến định cư tại làng Hoa Dương, trong khi đó, người Việt từ nhiều địa phương cũng dần dần di cư tới sinh sống tại đây.
Phố Hiến được xem là trung tâm buôn bán phát triển từ cuối thế kỷ 15, trở thành trung tâm chính trị – kinh tế và giao thương quốc tế vào thế kỷ 17 Nơi đây có trụ sở trấn thủ, ty Hiến sát, các trạm kiểm soát thuyền bè trong và ngoài nước, cùng với các khu chợ đông đúc và các thợ thủ công, thương nhân đến từ Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và các nước phương Tây như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan Phố Hiến có kết cấu gồm bến cảng sông, khu chợ, phố phường và các thương điếm phương Tây, trong đó khu phố là nơi cư trú cố định của người Việt và người ngoại quốc như người Hoa, tham gia sản xuất và buôn bán Theo các văn bia của chùa Hiến và chùa Chuông, vào đầu thế kỷ 18, Phố Hiến có khoảng 20 phường, gồm hơn 13 phố và hơn 30 cửa hiệu buôn bán như Tân Thị, Tân Khai, Tiên Miếu, Hậu Trường. -Nâng tầm bài viết lịch sử Phố Hiến của bạn với Draft Alpha – tạo giọng điệu thương hiệu chuyên nghiệp dễ dàng [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha)
Phố Hiến đã trải qua nhiều biến cố lịch sử và sự thay đổi của tự nhiên nhưng vẫn còn lưu giữ hơn 100 di tích lịch sử – văn hóa có giá trị, trong đó nhiều di tích được xếp hạng quốc gia như đền Mây ở Xích Đằng thờ tướng quân Phạm Phòng Át, đền Trần thờ Trần Hưng Đạo, đền Ủng thờ Phạm Ngũ Lão, Văn Miếu Xích Đằng và Đông Đô Quảng Hội Các chùa lớn như chùa Chuông, chùa Hiến (Thiên Ứng tự), chùa Nễ Châu cùng nhiều đình, văn miếu cũng góp phần làm phong phú di sản văn hóa của vùng Người Hoa cư trú tại Phố Hiến đã để lại nhiều công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc như đền Mẫu thờ Dương Quý Phi, đền Thiên Hậu thờ Lâm Tức Mặc và Võ Miếu thờ ba anh em Lưu Bị, Quan Vân Trường, Trương Phi Nhiều lễ hội truyền thống gắn liền với các di tích này được duy trì hàng năm, tái hiện hình ảnh lịch sử hàng trăm năm trước của Phố Hiến và thu hút hàng vạn khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan, tìm hiểu và nghiên cứu.
T ổ ng Quan v ề đị a bàn nghiên c ứ u c ụ th ể Văn Miếu Xích Đằ ng
Văn miếu Xích Đằng, còn gọi là Văn miếu Hưng Yên, là một trong sáu văn miếu còn tồn tại của Việt Nam, được khởi dựng từ thế kỷ XVII cuối thời hậu Lê Nơi đây là di tích quan trọng trong quần thể di tích Phù Hiền, thờ Khổng Tử - người sáng lập đạo Nho, và Vạn thế sư biểu Chu Văn An - nhà sư phạm tài năng thời Trần Văn miếu từng là địa điểm tổ chức các kỳ thi Hương và sát hạch thí sinh, đồng thời còn tổ chức lễ tế trong dịp xuân thu nhị kỳ, với sự tham dự của quan đầu tỉnh, chức sắc và nho sinh Ngoài ra, nơi đây cũng thường xuyên diễn ra các cuộc thi bình văn, thơ của các nho sĩ yêu nước Văn miếu Xích Đằng gắn liền với tên gọi xuất phát từ việc xây dựng trên đất làng Xích Đằng, nguyên là văn miếu của trấn Sông Nam, dựa vào các hiện vật còn lại như khánh và chuông còn lưu giữ tại di tích.
Văn miếu Xích Đằng là một điểm đến nằm trong quần thể khu di tích Phố Hiến – Hưng Yên,hiện tại thuộc địa phận thônXích ??ng,
Yên, tỉnh Hưng Yên, nằm trên đường Nguyễn Trường Tộ, bên trong đê sông Hồng gần cầu Yên Lệnh, cách trung tâm thành phố Hưng Yên chỉ 3 km Vị trí này rất thuận tiện cho du khách di chuyển từ Hà Nội đến tham quan, khám phá vẻ đẹp của tỉnh Hưng Yên.
Đền được xây dựng từ cuối thời Lê vào khoảng năm 1701, nổi bật với kiến trúc cổ kính và ý nghĩa lịch sử sâu sắc Trong quá trình dài tồn tại, đền đã được trùng tu và tôn tạo lớn vào thời Đường, thể hiện giá trị văn hóa và tín ngưỡng của người dân địa phương Nằm tại xã Nhân Dục, huyện xưa nay là phường Lam Sơn, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, đền trở thành điểm đến thu hút du khách và các tín đồ thờ cúng Công trình mang đậm nét truyền thống, phản ánh lịch sử phát triển của khu vực qua từng thời kỳ.
Văn miếu hiện nay thờ Khổng Tử cùng các chư hiền của Nho gia, trong đó Khổng Tử được tôn vinh là bậc thầy vĩ đại Bên cạnh ông, còn có Chu Vân An, người thầy giáo và là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quốc Tử Giám, thể hiện tầm quan trọng của giáo dục và triết lý Nho giáo trong văn hóa Việt Nam.
Trước cách m?ng tháng Tám năm 1945, Văn miếu Xích Đằng là cơ sở hoạt động bí mật của Trung ương, xứ ủy B?c k?, tỉnh ủy Hưng Yên
Văn miếu Xích Đằng đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích lịch sử năm 1992
Mặt tiền Văn miếu quay hướng Nam, nghi môn được xây dựng đồ sộ, bề thế, mang dáng dấp cổng V?n mi?u Hà N?i
Khuôn viên Văn miếu rộng 6.000 m² gồm các công trình kiến trúc nổi bật như tam quan, lầu chuông, lầu khánh, hai dải vũ, khu chính và khu tháp thờ Tam quan Văn miếu được xây dựng theo kiến trúc "chồng diêm hai tầng tám mái", giữ nguyên vẻ đẹp truyền thống từ khi khởi công Công trình này là biểu tượng đặc trưng của tỉnh Hưng Yên, thể hiện nét đẹp văn hóa lịch sử của vùng đất.
Bên trong cổng là sân rộng trung tâm, có lối đi thập đạo ở giữa, tạo nên không gian trang nghiêm và cân đối Hai bên sân là lầu chuông và lầu khánh, cùng với hai dãy tả vu và hữu vu Hiện nay, các dãy này được sử dụng để trưng bày hình ảnh và hiện vật liên quan đến nền giáo dục của tỉnh Hưng Yên, góp phần giữ gìn và giới thiệu giá trị lịch sử và văn hóa địa phương.
Khu nội tự tại Văn miếu có kiến trúc kiểu chữ Tam (三), gồm tiền tế, trung từ và hậu cung, tất cả đều giống nhau và được xây dựng theo kiểu vì kèo trụ trốn độc đáo Toàn bộ phần kiến trúc của khu nội tự nổi bật với hệ thống đại tự, câu đối, cửa võng và hệ thống kèo cột đều được sơn thếp phủ hoàn kim, tạo nên vẻ đẹp trang nghiêm và lộng lẫy.
Hệ thống mái của các tòa được làm liên hoàn kiểu "Trùng thiềm điệp ốc"
Hiện vật còn lại của Văn miếu gồm có 9 tấm bia được dựng từ năm Khánh thứ 3 (1888) và một bia ghi danh các tiến sĩ đỗ đạt Bia ghi danh có khắc tên của 138 vị đỗ đại khoa từ thời Trần đến năm 1919, năm thi cuối cùng của khoa cử Nho học, trong đó có 21 vị nay thuộc địa phận tỉnh Thái Bình (phủ) Những hiện vật này giữ vai trò quan trọng trong việc lưu giữ lịch sử và giá trị văn hóa của Văn miếu qua các thời kỳ.
Các huyện như Văn Giang, Ân Thi, Yên Mỹ, Văn Lâm và Kim Động nổi bật với tỷ lệ đỗ đạt cao, thể hiện sự phát triển trong ngành học vấn và khoa bảng của địa phương Trong đó, một số dòng họ tiêu biểu như họ Dương ở Lạc Đạo, Văn Lâm có 9 vị đạt thành tích cao, họ Hoàng ở Thổ Hoàng, Ân Thi có 10 vị, và họ Lê ở Liêu Xá, Yên Mỹ với 6 vị đỗ đạt xuất sắc, góp phần nâng cao danh tiếng của cộng đồng địa phương.
Trong lịch sử triều Mạc, học vị cao nhất là Trạng nguyên đời Trần và được người xã Bình Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, nổi bật với danh hiệu Nguyên Kỳ Bên cạnh đó, chức vụ cao nhất thuộc về Quận công Lê Như H? của triều Mạc, thể hiện sức ảnh hưởng và uy quyền lớn trong bộ máy chính quyền thời kỳ này.
Văn miếu xưa kia tổ chức hai mùa lễ hội chính vào ngày 10/2 và 10/8 âm lịch hàng năm Vào các ngày trọng hội, các nho học và quan đầu tỉnh đến Văn miếu để tế lễ, thể hiện lòng thành kính với tiên hiền và tôn vinh đạo học Các hoạt động lễ hội nhằm giữ gìn nét nề nếp nho phong, thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo và làm gương cho con cháu trong việc học hành và sự nghiệp giáo dục Những ngày lễ này còn mong cầu sự tiến bộ và phát triển trong lĩnh vực giáo dục của địa phương.
Vào ngày đầu xuân, Văn miếu tổ chức các hoạt động văn hóa như tế lễ, dâng hương, triển lãm thư pháp và hát ca trù, nhằm từng bước khôi phục lễ hội truyền thống Đặc biệt, vào ngày mùng 4-5 Tết âm lịch, tại Văn miếu Xích Đằng diễn ra hội xin chữ, nơi các ông đồ viết chữ thư pháp truyền thống của Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội Các hoạt động này góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong dịp lễ hội đầu năm.
Giá tr ị c ủa Vă n mi ếu Xích Đằ ng v ớ i ho ạt độ ng du l ịch văn hóa
Để phát triển du lịch văn hóa tại di tích Văn Miếu Xích Đằng theo mục 1.4, cần đánh giá các giá trị văn hóa của địa danh này dựa trên các yếu tố quan trọng như giá trị lịch sử, kiến trúc, truyền thống và ý nghĩa văn hóa cộng đồng Việc này giúp xác định các điểm nổi bật và tiềm năng phát triển du lịch, đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong bối cảnh du lịch hiện đại Đánh giá đúng đắn các giá trị này đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng các hoạt động du lịch bền vững và hấp dẫn cho khách tham quan.
Tính hấp dẫn là yếu tố quan trọng nhất để đánh giá giá trị của tài nguyên du lịch và xây dựng hình ảnh điểm đến Các yếu tố tạo nên tính hấp dẫn của một điểm đến bao gồm sự hấp dẫn tự nhiên và nhân tạo, tiện nghi, cơ sở hạ tầng, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ khách sạn, cùng với giá trị lịch sử, quy mô kiến trúc, giá trị nghệ thuật, tính nguyên bản và sự hòa quyện với các yếu tố xung quanh Đối với Văn Miếu Xích Đằng, dựa trên các yếu tố này, điểm đến này có những điểm mạnh nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục để nâng cao sức hấp dẫn và giá trị du lịch.
Văn miếu Xích Đằng, với hơn 400 năm lịch sử hình thành từ thế kỷ 17 dưới thời Hậu Lê, là biểu tượng của tinh thần hiếu học và truyền thống giáo dục của địa phương Nơi đây từng ghi danh 161 vị đại khoa, thể hiện vai trò quan trọng trong sự phát triển văn hóa và giáo dục của khu vực "Nhất Kinh kỳ, Nhì Phố Hiến".
Thế kỷ 17 dưới thời vua Lê Thánh Tông nổi bật với chính sách thúc đẩy nền giáo dục Nho học, khi triều đình thành lập nhiều trường học ngoài Quốc Tử Giám tại các trấn Trong đó, trấn Sơn Nam (gồm Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và một phần đất của Hà Nội cũ) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống giáo dục Nho học thời kỳ này, góp phần thúc đẩy sự phát triển văn hóa và khoa cử của quốc gia.
Văn miếu Xích Đằng (hay còn gọi là Văn miếu Sơn Nam) nằm ở Nội và Hưng Yên, là công trình có ý nghĩa lịch sử quan trọng Nơi đây không chỉ là nơi thờ tự các bậc hiền nho, thể hiện lòng kính trọng đối với các nhà Nho xưa, mà còn là địa điểm tổ chức các kỳ thi của trấn, góp phần nâng cao giáo dục và đào tạo nhân tài cho vùng Văn miếu Xích Đằng là biểu tượng văn hóa đặc sắc, giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa và giáo dục của khu vực.
Văn miếu Xích Đằng là một trong sáu văn miếu còn tồn tại đến ngày nay của Việt Nam, phản ánh giá trị văn hóa lịch sử đáng tự hào của đất nước Ngoài ra, văn miếu Hưng Yên cũng là một trong hai văn miếu cổ nhất còn lại, sau Văn miếu Quốc Tử Giám, thể hiện truyền thống giáo dục và đền thờ học thức lâu đời của Việt Nam.
Phố Hiến đã trải qua nhiều biến cố lịch sử và sự thay đổi của tự nhiên, nhưng vẫn còn giữ gìn và bảo tồn hơn 100 di tích lịch sử – văn hóa có giá trị Trong đó, nhiều di tích được công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia, tiêu biểu nhất là “Văn Miếu Xích Đằng”.
Qua điều tra xã hội học và khảo sát tại khu di tích Văn Miếu Xích Đằng, tác giả đã thu thập số liệu để đánh giá giá trị lịch sử của di tích này Phỏng vấn trực tiếp một số du khách (Phụ Lục 1) cho thấy rằng giá trị lịch sử của Văn Miếu Xích Đằng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút khách du lịch Với giá trị lịch sử lâu đời, di tích này được xem là điểm đến hấp dẫn cho những du khách yêu thích hoạt động du lịch văn hóa và muốn khám phá nét đẹp truyền thống của vùng đất.
Văn miếu có diện tích rộng gần 6ha, nằm cạnh đầm Vạc và hồ Văn phía tây, tạo nên không gian hài hòa và thanh bình Toàn bộ các công trình trong khuôn viên được bố trí một cách đồng bộ, liền mạch, phản ánh sự truyền thống và trang nghiêm Mặt tiền của khu di tích hướng Nam, nổi bật với hai cây gạo cổ thụ hàng trăm năm tuổi, góp phần tôn thêm vẻ đẹp cổ kính và tự nhiên của khu vực.
Cổng Tam quan hay Nghi môn là công trình kiến trúc đồ sộ với kiểu dáng chồng diêm, gồm hai tầng tám mái và lầu gác Hai bên cổng có hai bục loa dùng để xướng danh sĩ tử và truyền đạt các quy định của các kỳ thi truyền thống Cổng Tam quan không chỉ là biểu tượng trang nghiêm mà còn giữ vai trò quan trọng trong các lễ thi cử xưa, phản ánh nét đặc trưng văn hóa đặc trưng của truyền thống giáo dục Việt Nam.
Bên trong là khoảng sân rộng trung tâm, nổi bật với con đường thập đạo chạy xuyên suốt Hai bên sân là lầu chuông và lầu khánh, cùng với hai dãy tả vu, hữu vu Hiện nay, các dãy nhà này được sử dụng để trưng bày hình ảnh, hiện vật liên quan đến giáo dục địa phương và các di tích lịch sử của tỉnh Hưng Yên.
Khu nội tự được thiết kế theo kiểu chữ Tam gồm tiền tế, trung từ và hậu cung, với kiến trúc đồng bộ theo kiểu vì kèo trụ trốn mang nét đẹp truyền thống Hệ thống mái nhà theo kiểu “trùng thiềm địa ốc” tạo nên vẻ trang nghiêm và uy nghi Nội thất bên trong rực rỡ với hệ thống các đại tự, câu đối, cửa võng và các cột kèo sơn son thếp vàng, thể hiện nét đẹp truyền thống và giá trị văn hóa của khu nội tự.
Theo khảo sát với 100 bảng hỏi (Phụ Lục 4), quy mô kiến trúc của Văn Miếu Xích Đằng được đánh giá là khá phù hợp để thu hút khách du lịch Tuy nhiên, so với Văn Miếu Quốc Tử Giám, đánh giá về quy mô kiến trúc của Văn Miếu Xích Đằng không thực sự nổi bật, với chỉ 55 trong tổng số 100 phiếu phản hồi thể hiện sự đánh giá này.
Văn Miếu Xích Đằng là địa điểm du lịch nổi bật và đẹp mắt tại Hưng Yên, thu hút nhiều du khách đến tham quan Theo ông Quách Văn Hiếu, phó phòng văn hóa của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hưng Yên, quy mô của Văn Miếu Xích Đằng hiện tại lớn nhất trong các văn miếu còn lại ở khu vực Đây là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa, lịch sử đặc sắc của địa phương, góp phần phát triển du lịch bền vững và quảng bá văn hóa Hưng Yên tới du khách trong và ngoài nước.
Việt Nam, 6 Ha so với 5,4 Ha của Văn Miếu Quốc Tử Giám, vềcơ bản kiến trúc của Văn
Văn miếu vẫn được giữ gần như nguyên bản, nổi bật với cổng tam quan xây dựng đồ sộ theo kiến trúc cổ phương Nam, thể hiện quan niệm “Nam nhân chính diện nhị trị” và hình ảnh trang nghiêm của trường thi thời phong kiến Bước qua hàng cây đại cổ kính, du khách sẽ đến khu vực các công trình nội thất được bố trí hài hòa, liền mạch, trong đó có những hàng đại cổ trăm năm tuổi tạo nên vẻ đẹp lịch sử đặc trưng Quy mô và kiến trúc của Văn Miếu Xích Đằng đứng vào hàng đầu trong các văn miếu của Việt Nam, sánh ngang với Văn Miếu Quốc Tử Giám – thể hiện tầm vóc và giá trị văn hóa vượt trội của khu di tích này.
Qua bảng hỏi ( phụ lục 2 ) và chia sẻ của chuyên gia tại Sở Văn Hóa, Thể Thao và
Th ự c tr ạ ng phát tri ể n du l ịch văn hóa tại Văn miếu Xích Đằ ng
2.4.1 Cơ cấ u và s ố lượ ng khách
Kể từ năm 2009, khi Thị xã Hưng Yên được công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh, ngành du lịch Hưng Yên bắt đầu ghi nhận sự tăng trưởng rõ rệt với lượng khách tham quan và tìm hiểu về địa phương tăng đáng kể Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du lịch đã ghi nhận các số liệu về cơ cấu khách du lịch qua từng năm tại di tích Văn Miếu Xích Đằng, phản ánh sự phát triển ngày càng nổi bật của ngành du lịch địa phương Điều này cho thấy Hưng Yên đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài tỉnh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế du lịch của thành phố ngày càng phát triển.
Bảng 2.4: Cơ Cấu Lượng Khách Du Lịch TừNăm 2009 Tơi Nay Của VMXĐ
STT Năm Lượng Khách Doanh Thu Số Ngày Lưu Trú
Văn Miếu Xích Đằng được coi là biểu tượng của tỉnh Hưng Yên và thu hút du khách trong các ngày lễ lớn của đất nước như Tết Nguyên Đán, ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc Khánh, ngày nhà giáo Việt Nam Đây là nơi tưởng nhớ lịch sử hào hùng của dân tộc và được xem là một trong những di tích văn hóa, lịch sử quan trọng nhất khu vực Phố Hiến Hưng Yên Du khách trong và ngoài tỉnh thường lui tới để tham quan, học tập và tìm hiểu về lịch sử, đặc biệt trong các dịp lễ lớn, lượng khách thường tăng đột biến do đây là một trong số ít Văn Miếu còn lại sau chiến tranh Các ngày lễ linh thiêng thu hút lượng lớn du khách, thể hiện giá trị văn hóa đặc biệt của Văn Miếu Xích Đằng trong lòng cộng đồng và du khách quốc tế.
Văn Miếu thu hút nhiều du khách đặc biệt trong các dịp lễ lớn của đất nước, khi các đoàn du lịch đến tham quan, vãn cảnh và tìm hiểu về văn hóa, lịch sử của địa danh này Hầu hết du khách đến Văn Miếu để khám phá giá trị văn hóa lâu đời, bên cạnh đó còn có những người chỉ đi dạo chơi hoặc để chụp hình, ghi lại những khoảnh khắc ý nghĩa.
Khách đến với Văn Miếu Xích Đằng phân bổ đều ra các tầng lớp và độ tuổi nhưng có thể được thể hiện cụ thể như bảng dưới đây:
Bảng 2.5: Cơ cấu lượng khách thăm quan và doanh thu từ khách du lịch tới thăm quan
Văn Miếu Xích Đằng năm 2018
Loại Khách % Tham Quan % Doanh Thu
Kinh Doanh Buôn Bán 3% 1% Đã Nghỉ Hưu 7% 3%
(Nguồn: Sở Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch Hưng Yên)
Bản phân bố đối tượng khách tham quan Văn Miếu Xích Đằng phản ánh thực trạng du lịch nơi đây có sự chênh lệch đáng kể Học sinh, sinh viên chiếm hơn 60% lượng khách đến thăm Văn Miếu, nhờ vào sự phối hợp giữa Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Hưng Yên cùng Sở Giáo Dục và Đào Tạo từ năm 2015, biến Văn Miếu Xích Đằng thành điểm đến ưu tiên cho các chuyến tham quan học tập của học sinh, sinh viên trong tỉnh Số khách còn lại chủ yếu là khách chính phủ đến thăm Hưng Yên, trong khi khách du lịch tự nhiên đến đây khá ít ỏi, phần lớn là những người đã nghỉ hưu tìm lại nét đẹp văn hóa và lịch sử truyền thống Doanh thu của Văn Miếu Xích Đằng chủ yếu đến từ khách tham quan là học sinh, sinh viên, nhờ vào chương trình hợp tác với Sở Giáo Dục, nhằm thúc đẩy hoạt động du lịch học tập và khám phá văn hóa.
Dục và Đào Tạo chủ yếu thu tiền qua hoạt động đoàn, từ việc bán hàng và xin chữ của học sinh, sinh viên Khách tham quan là công nhân viên chức cũng góp phần vào doanh thu của điểm đến, mặc dù mức đóng góp chủ yếu đến từ tiền công đức và hương khói tại địa điểm Trong khi đó, khách là doanh nhân, buôn bán hoặc người đã về hưu hầu như không mang lại doanh thu cho điểm đến.