Bộ Khoa học và công nghệ Bộ NN và PT nông thôn Trường đại học thủy lợi ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC NGHIấN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐIỀU HÀNH CẤP NƯỚC MÙA CẠN CHO ĐỒNG BẰNG SễNG
Trang 1Bộ Khoa học và công nghệ Bộ NN và PT nông thôn
Trường đại học thủy lợi
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC
NGHIấN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC
VÀ THỰC TIỄN ĐIỀU HÀNH CẤP NƯỚC MÙA CẠN CHO ĐỒNG BẰNG SễNG HỒNG
Báo cáo đề tài nhánh
Phân tích ảnh hưởng của hồ chứa hòa bình và thác
bà đến chế độ dòng chảy vùng hạ lưu sông hồng
Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Lê Kim Truyền
Chủ nhiệm chuyên đề: PGS.TS Vũ Minh Cát
6757-3
12/3/2008
Hà Nội, tháng 12 năm 2007
Trang 2Danh sách những người tham gia thực hiện chính đề tài nhánh
đề tài nhỏnh
Trang 3Lời nói đầu
Đề tài nhánh “Phân tích và xử lý số liệu thủy văn” là đề tài số 1 trong tổng số 11 đề tài nhánh của đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp nhà nước
“Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn điều hành cấp nước cho mùa cạn
đồng bằng sông Hồng” Đề tài nhánh thực hiện các nội dung chính sau:
- Thu thập, phân tích, xử lý các số liệu khí tượng thủy văn
- Các tài liệu về quy hoạch và dân sinh, kinh tế
- Các tài liệu địa hình
Các nội dung trên được phân tích, trình bày cụ thể trong nội dung của bốn chuyên đề thành phần thể hiện trong báo cáo này
Đề mục nghiên cứu không thể triển khai thành công và đạt được kết quả nếu thiếu sự động viên và chỉ đạo của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Thủy lợi, Ban chủ nhiệm đề tài, Phòng Quản lý khoa học, khoa Thủy văn – Tài nguyên nước Thay mặt cho nhóm nghiên cứu, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Nhóm thực hiện chuyên đề xin bày tỏ lòng biết ơn đến Trung tâm tư liệu, Cục mạng lưới, Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia, Đài Khí tượng thủy văn Đông Bắc và rất nhiều cơ quan liên quan đã giúp chúng tôi thực hiện tốt việc thu thập, phân tích và xử lý số liệu
Do thời gian và trình độ có hạn, những kết quả nghiên cứu đạt được chắc còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tế Tập thể tác giả mong tìm được sự cảm thông và nhất là sự góp ý cho những công tác nghiên cứu tiếp của đông đảo các chuyên gia trong và ngoài ngành, các bạn
đồng nghiệp cùng các độc giả đọc báo cáo này
Xin chân thành cám ơn
Hà nội ngày 30 tháng 10 năm 2007
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG HỒNG 3
PHẦN II: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MIKE11 NGHIÊN CỨU,
TÍNH TOÁN HIỆN TRẠNG DÒNG CHẢY MÙA CẠN VÀ
DIỄN BIẾN XÂM NHẬP MẶN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
- THÁI BÌNH CÓ XÉT TỚI ẢNH HƯỞNG CỦA HỒ HÒA
BÌNH, HỒ THÁC BÀ
26
II
Ứng dụng mô hình MIKE 11 đánh giá hiện trạng dòng chảy
mùa cạn và diễn biến xâm nhập mặn đồng bằng sông Hồng –
sông Thái Bình do ảnh hưởng điều tiết của hồ chứa Hoà Bình,
Thác Bà và thủy triều biển
32
Các tài liệu cơ bản phục vụ tính toán 35
Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình 54
Trang 5có tới 49% diện tích lưu vực thuộc lãnh thổ Trung Quốc mà chúng ta không có hoặc rất ít thông tin về tài nguyên nước, các hoạt động kinh tế xã hội khác v.v gây không ít khó khăn việc nghiên cứu
Tài nguyên nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình đang được khai thác, phát triển phục vụ các hoạt động kinh tế xã hội như sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, phát điện, sản xuất công nghiệp và sinh hoạt, dịch vụ v.v Trong những năm tới, các hoạt động kinh tế xã hội trên lưu vực sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa, điều đó đồng nghĩa với nhu cầu sử dụng nước tiếp tục gia tăng và nếu việc sử dụng và quản lý nguồn nước kể cả lượng và chất thiếu hợp lý thì lưu vực sông Hồng sẽ phải đương đầu với tình trạng thiếu nước
và ô nhiễm do nguồn thải từ các hoạt động kinh tế và nhiễm mặn từ biển
Hiện nay, vùng đồng bằng sông Hồng nằm trong khu vực trọng điểm phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh phía Bắc Nông nghiệp vùng ĐBSH
có đóng góp trong phát triển kinh tế của vùng, đặc biệt là việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho thủ đô Hà Nội, các thành phố, khu công nghiệp và xuất khẩu Tuy nhiên, xét về khía cạnh tài nguyên thì sản xuất nông nghiệp cần tới trên 80% tổng lượng nước nước cần, trong khi do phân phối không đều của dòng chảy trong năm và các biến động bất thường của thời tiết, lượng mưa mùa kiệt
có xu thế giảm thấp, lượng nước bổ xung từ các hồ chứa thượng nguồn chưa bù đắp sự thiếu hụt do nhu cầu sử dụng nước ngày càng cao cả về chất lượng và số
Trang 6lượng, thì vấn đề cạn kiệt và nhiễm mặn trong mùa khô đang đe dọa lớn tới sản xuất nông nghiệp cũng như các nhu cầu sử dụng nước khác ở vùng hạ lưu sông, đặc biệt là nhu cầu nước đồng thời trong thời kỳ tưới ải vụ đông xuân của các tỉnh đồng bằng sông Hồng - Thái Bình
Từ năm 2003 trở lại đây, mực nước sông Hồng trong tháng I và tháng II, đoạn hạ lưu xuống rất thấp Năm 2003 là 2,34m; năm 2004 là 1,86m; năm 2005
là 1,58m và 7giờ sáng 4/2/2006 tại Hà Nội chỉ còn 1,46 m; tại Phả Lại là 0,31 m Đây là những con số thấp kỷ lục trong 100 năm qua gây khó khăn không nhỏ cho việc lấy nước tưới cũng như các hoạt động kinh tế xã hội và môi trường vùng hạ lưu hệ thống sông
Nước đến từ thượng nguồn thấp, nhu cầu nước ở vùng đồng bằng cao, tổ hợp với thủy triều có độ lớn tới 4 m là ngyên nhân của hiện tượng mặn lấn sâu vào vùng cửa sông ven biển
Nước thấp khiến cho việc lấy nước vào các hệ thống công trình thủy lợi rất khó khăn Nhiều trạm bơm giỏ bị treo hoặc không đủ cột nước để bơm như trạm bơm Phù Sa, Văn Giang, Văn Lâm, La Khê , lưu lượng nước lấy qua các cống bị giảm một nửa so với thiết kế Các cống láy nước không đủ đầu nước chênh lệch cho tự chảy…
Theo báo cáo của Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và PTNT thì độ mặn 1‰ lên đến cống Rộc trên sông Ninh Cơ cách cửa biển 40 km trong đợt triều từ 11-19/1/2006 Trong 2 vụ đông xuân 2003-2004 và 2004-2005, độ mặn 1‰ cũng lên tới cống Múc 1/cống Múc 2 cách cửa biển khoảng 38 km
Nguồn nước bị nhiễm mặn tác động xấu đến các hoạt động kinh tế xã hội của tỉnh đồng bằng ven biển Mặn làm giảm năng suất cây trồng, ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt làm nảy sinh những vấn đề về y tế, xã hội…và những hiểm họa về môi trường Nước bị mặn cũng gây không ít khó khăn cho các ngành công nghiệp và dịch vụ
Trang 7Hơn nữa, theo dự báo của các nhà chuyên môn thì trong 100 năm tới, mực nước biển sẽ dâng cao thêm khoảng 60 - 70 cm nữa Khi đó mặn sẽ lấn vào đất liền sâu hơn và vấn đề sẽ càng trở lên nghiêm trọng
Trước tình hình đó, mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng diễn biến mực nước và tình hình xâm nhập mặn trong các tháng mùa kiệt với các tổ hợp lưu lượng đến thượng lưu, tình hình lấy nước đoạn hạ lưu và dao động thủy triều biển làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phục vụ phát triển bền vững cho vùng đồng bằng sông Hồng - Thái Bình
Nội dung nghiên cứu gồm các phần như sau:
1 Tổng quan về lưu vực sông Hồng - Thái Bình
2 Ứng dụng mô hình mike11 nghiên cứu, tính toán dòng chảy mùa cạn và diễn biến xâm nhập mặn đồng bằng sông hồng-thái bình có xét tới ảnh hưởng của hồ hòa bình, hồ thác bà
3 Các phương án tính toán
4 Phần kết luận và kiến nghị
Trang 8PHẦN I TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG HỒNG – SÔNG THÁI BÌNH
I Đặc điểm địa lý tự nhiên
I.1 Vị trí địa lý
Hệ thống sông Hồng - Thái Bình là hệ thống sông lớn nhất miền Bắc nước ta, so với cả nước, chỉ đứng sau sông Mê Công Đây là một trong số ít hệ thống sông quốc tế của nước ta Sông Hồng phần ngoài nước có 5 phụ lưu lớn đều bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, gồm các sông: Lý Tiên, Đăng Điều, Nguyên, Bàn Long và sông Phổ Mai Năm nhánh sông này sau khi chảy vào nước ta hợp thành 3 nhánh sông lớn là: sông Đà, sông Lô và sông Thao Ba nhánh sông này lại gặp nhau tại Việt Trì và được gọi là sông Hồng Sông Hồng, khi chảy vào vùng đồng bằng châu thổ, ngoài dòng chính lại tiếp tục phân thành nhiều nhánh sông ở cả hai bên bờ sông
Hiện nay, bên bờ tả còn ba nhánh sông gồm: sông Đuống, sông Luộc và sông Trà Lý; bên bờ hữu còn hai nhánh sông là sông Đào Nam Định và sông Ninh Cơ Sông Đáy, trước đây là phân lưu của sông Hồng ở bên bờ hữu nhưng hiện nay chỉ liên hệ với sông Hồng trong trường hợp phân lũ ở cửa Đáy Ở bên
bờ tả, trước đây còn có các sông khác như: sông Phan, Cà Lồ, Thiếp, Đình Đào
và Cửu An Tuy nhiên, do các tác động của con người, các sông này không còn liên hệ trực tiếp với sông Hồng nữa Cũng tương tự như vậy, bên bờ hữu còn có các sông Nhuệ, Đáy, Tô Lịch, Lấp, Châu Giang và sông Sò không còn liên hệ trực tiếp với sông Hông nữa
Lưu vực sông Hồng nằm ở phía Bắc nước ta được giới hạn từ 200 đến
25030’ vĩ độ Bắc, từ 1000 đến 107010’ kinh Đông Phía Bắc giáp lưu vực sông Trường Giang và lưu vực sông Châu Giang (Trung Quốc), phía nam giáp lưu vực sông Mã, phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây giáp lưu vực sông Mêkông
Toàn bộ diện tích lưu vực khoảng169.000 km2 trong đó diện tích thuộc Trung Quốc là 81.240 km2, diện tích thuộc Lào là 1.100 km2, diện tích thuộc Việt Nam là 86.660 km2 Dòng chính sông Hồng có chiều dài là 1.140 km, trong
đó có 640 km chảy trên đất Trung Quốc, 500 km chảy trên địa phận Việt Nam
Trang 9Lưu vực sông Hồng-Thái Bình liên quan tới 26 tỉnh, thành phố, có tổng diện tích tự nhiên khoảng 115750 km2
Vùng đồng bằng sông Hồng được giới hạn từ 200 đến 21030’ vĩ độ Bắc,
từ 105030’ đến 107030’ kinh Đông, gồm trọn vẹn lãnh thổ của 11 tỉnh và một phần lãnh thổ của các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh
Hình 1: Vị trí địa lý lưu vực sông Hồng lãnh thổ Việt Nam
I.2 Đặc điểm địa hình
Lưu vực sông Hồng có hướng dốc nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Địa hình phần lớn là đồi núi, chiếm khoảng 70% trong đó diện tích có độ cao bình quân trên +1000 m chiếm khoảng 47% Có thể chia lưu vực sông Hồng thành ba miền địa hình như sau:
I.2.1- Miền Đông Bắc: là miền đồi núi thấp, phần lớn độ cao trung bình 600 –
700 m Đỉnh Tây Côn Lĩnh 2418 m, là đỉnh cao nhất trong miền Các dãy núi là phần tiếp tục của dãy Hoa Nam, núi cao thường tập trung ở biên giới Việt Trung
và thấp dần ra biển theo hướng Đông Nam Theo mặt cắt địa hình, từ khối núi vòm sông Chảy tới Vịnh Hạ Long độ cao giảm đi rõ rệt Đặc điểm của cấu trúc
Trang 10Sơn văn là sự sắp xếp các khối núi theo dạng cánh cung bao lấy vòm đá kết tinh sông Chảy, quay lưng về phía Đông, được quy tụ ở núi Tam Đảo và mở rộng dang tỏa ra trên lãnh thổ Hoa Nam Trong vùng có các cánh cung sông Gâm, Ngân Sơn, Đông Triều Giữa các dãy núi là những thung lũng theo dọc các con sông cùng hướng ( sông Lô, sông Chảy, sông Gâm) và nhiều nơi là những cánh đồng bắng phẳng như Bắc Quang, Ỷ La Nhìn chung địa hình vùng Đông Bắc
là nơi dễ bố trí sản xuất, nhờ một vùng trung du trải rộng với các sườn núi ít dốc
I.2.2- Miền Tây Bắc: So với miền Đông Bắc địa hình Tây Bắc có những nét
khác biệt hơn, do hoạt động tân kiến tạo làm cho địa hình nâng cao và bị chia cắt mạnh mẽ Từ Đông sang Tây trước hết gặp dãy Hoàng Liên Sơn dài 180 km, được mệnh danh là mái nhà của Việt Nam với đỉnh Fanxipan cao 3143 m, Tà Phình cao 3096 m, Pu Luông cao 2985 m, Sà Phình cao 2878 m Giữa các dãy núi có bồn địa nổi tiếng như Than Uyên, Nghĩa Lộ, Quang Huy Tốc độ nâng lên khá mạnh, cộng với quá trình xâm thực bào mòn các đá cứng (mắcma, biến chất) đã tạo cho địa hình những nét độc đáo Đường phân thủy có dạng răng cưa, nhọn, độ dốc đạt tới 450 Vì vậy rất khó đi lại và đặc biệt ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy Cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ tới Nho Quan rồi kéo dài
ra sát biển tới 400 km rộng 25 km, bao gồm những bề mặt khá bằng phẳng cao trên 1000 m (cao nguyên Sơn La và Mộc Châu) đã góp phần tạo cho địa hình Tây Bắc thêm phức tạp và đa dạng
I.2.3- Đồng bằng Bắc Bộ: Là vùng tam giác châu thổ rộng lớn với diện tích
khoảng 21000 km2 (nằm kẹp giữa hai miền núi Tây Bắc và Đông Bắc) Đồng bằng Bắc Bộ có địa hình khá bằng phẳng, độ dốc nhỏ nhưng không đều, được bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động kiến tạo với quá trình biển lùi, để lại đồng bằng phì nhiêu với các thành tạo phù sa Địa hình nghiêng về biển theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Mạng lưới sông ở đồng bằng bao gồm các chi lưu, phân lưu của sông Hồng và sông Thái Bình đã phân chia đồng bằng thành những ô trũng và sau khi có đê bao bọc thì hầu như các ô này không được bồi đắp để san bằng sự chênh lệch về độ cao giữa các nơi nữa Phù sa được tải ra biển và bồi đắp bờ biển tạo điều kiện cho đồng bằng lấn ra vịnh Bắc Bộ Đồng bằng lấn ra đến đâu thì công việc quai đê lấn biển, mở rộng đất canh tác được xúc tiến và bên cạnh các ô thiên nhiên tạo hình thành các ô nhân tạo
Trang 11I.3 Đặc điểm địa chất, đất đai thổ nhưỡng và thảm phủ
I.3.1- Đặc điểm địa chất
Có thể chia địa chất lưu vực sông Hồng thành ba miền như sau:
Về phía Tây sông Thao, các dãy núi cao có hướng Tây Bắc - Đông Nam
mà độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, sườn rất dốc, nhiều khe rất sâu được cấu tạo bởi đá kết tinh cổ gơnai, hoa cương, riôlit, pocfirit xen kẽ có những bề mặt bằng phẳng, các bồn địa Than Uyên, Nghĩa Lộ, Quang Huy, các cao nguyên đá vôi, nối tiếp nhau như Xa Phìn, Xin Chải, Sơn La, Mộc Châu Nham thạch ở đây đã bị phong hóa, bóc mòn dữ dội, hiện tượng đất lở, đá trượt xảy ra rất mạnh
Phía Đông sông Thao là khối vòm sông Chảy, các cánh cung, nhiều nơi là những vùng đá vôi dốc đứng Có thể nói phần phía đông của lưu vực này phổ biến là đá vôi, nhiều hang động, sông suối ngầm, có những khối núi sót riêng biệt Khối núi vòm thượng nguồn sông Chảy có đỉnh Tây Côn Lĩnh với độ cao
2419 m, là một khối granit lớn và cổ nhất nước ta, nhiều nơi có sườn rất dốc
Vùng đồi ở hạ du các thung lũng sông, có những cánh đồng ruộng, có chỗ
là thung lũng xâm thực bồi tụ Tiếp giáp với đồng bằng tam giác châu là địa hình thấp thoải, các bán bình nguyên cổ bằng phẳng, các thềm sông và bãi bồi
I.3.2- Thổ nhưỡng
Các loại đất chính của đồng bằng sông Hồng bao gồm [1]:
1 Đất cát, diện tích 16276 ha, chiếm 1,1% diện tích tự nhiên, đất nghèo dinh dưỡng, chủ yếu trồng màu
2 Đất mặn, diện tích 96608 ha, chiếm 6,5%, hiện trồng một vụ lúa, nếu
có thủy lợi hoặc cải tạo có thể trồng hai vụ lúa hay nuôi trồng thủy sản
3 Đất phèn, diện tích 90105 ha, chiếm 6,1%, hiện trồng lúa nhưng năng xuất thấp, đang dần dần được cải tạo bằng các biện pháp thủy lợi và nông nghiệp
4 Đất phù sa được bồi, diện tích 78737 ha, chiếm 5,3%, hầu hết là đất bãi ven sông, trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày, hàng năm bị ngập, đặc biệt vùng bãi thấp có thể bị ngập 125 – 160 ngày
5 Đất phù sa không được bồi hàng năm, diện tích 979196 ha, chiếm
Trang 1266,2%, đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất đồng bằng sông Hồng Ở tất cảc các tỉnh trong vùng, nhóm đất này đều có tỷ trọng lớn nhất về khả năng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa
6 Đất bạc màu và đất đỏ vàng, có diện tích 81469 ha, chiếm 5,5%, thuộc loại đất nghèo dinh dưỡng, chua
7 Đất đỏ vàng, diện tích 125904 ha, chiếm 8,5%, chur yếu trồng rừng hay đang còn là đất trống đồi trọc, có thể cải tạo để trồng cây ăn quả hoặc cây lâu năm
Ngoài ra, còn một số loại đất khác chiếm tỷ trọng thấp như đất mùn vàng
đỏ trên núi, đất xói mòn trơ sỏi đá
I.3.3- Thảm phủ
Rừng trên lưu vực sông Hồng biến đổi theo độ cao, điều kiện thổ nhưỡng, điều kiện khí hậu và thuỷ văn Do đó rừng phân bố theo độ cao và được chia ra 2 loại chính, từ 700m trở lên và dưới 700m Từ 700m trở lên, rừng chủ yếu là rừng kín hỗn hợp lá cây rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới và rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới Ở độ cao dưới 700m, rừng chủ yếu là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới Ngoài ra, còn có các loại rừng trồng, các loại cây bụi trên các đồi trọc
Do khai thác, đốt phá rừng bừa bãi nên tỷ lệ rừng che phủ trong lưu vực còn tương đối thấp Theo số liệu điều tra lâm nghiệp cho thấy rừng trên lưu vực sông Hồng bị tàn phá nặng nề, trước đây từ những năm đầu của thế kỷ lưu vực sông Hồng có khoảng gần 60% diện tích rừng, gồm các loại cây đa dạng phong phú của các kiểu rừng mưa nhiệt đới, rừng á nhiệt đới, rừng thường xanh lá rộng Nhưng cho đến nay lưu vực chỉ còn xấp xỉ 20%, nhiều vùng có vị trí phòng hộ đầu nguồn như Đông Bắc, Tây Bắc rừng chẳng còn bao nhiêu, thậm chí, có nơi như Tây Bắc tỷ lệ rừng chỉ còn xấp xỉ 9% Như vậy, độ che phủ rừng trên lưu vực chưa đạt mức độ che phủ tương đối ổn định cho môi trường sinh thái (20%-25%)
Trong những năm gần đây, nhờ có phong trào trồng và bảo vệ rừng nên tỷ
lệ rừng che phủ ở các tỉnh trong lưu vực sông Hồng-Thái Bình đã tăng lên đáng
kể Tính đến năm 1999, tỷ lệ rừng che phủ ở vùng trung du và miền núi đã tăng lên 35%
Trang 13I.4 Mạng lưới sông ngòi
Sông Hồng bắt nguồn từ hồ Đại Lý ở độ cao gần 2000 m trên đỉnh Ngụy Sơn (Vân Nam – Trung Quốc) chảy theo hướng tây bắc – đông nam vào địa phận Việt Nam tại vùng biên giới gần thị xã Lào Cai Phần thượng nguồn sông
có tên là sông Nguyên, phần trung du là sông Thao, phần đồng bằng là sông Hồng Đến Việt Trì hai nhánh lớn sông Đà và sông Lô gia nhập, và từ đây, sông Hồng đi vào tam giác châu rồi ra biển Sau khi chảy qua Sơn Tây sông Hồng lần lượt có 6 phân lưu: Sông Đáy, sông Đuống, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Đào
và sông Ninh Cơ Sông Đuống và sông Luộc nối liền sông Thái Bình với sông Hồng
Là sản phẩm chịu sự tương tác của điều kiện tự nhiên, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng và mặt đệm mà mạng lưới sông ngòi phát triển không đồng đều giữa các vùng Mật độ sông ngòi trên lưu vực thay đổi trong phạm vi từ 0,4 km/km2đến 2 km/km2 Sự phân bố mật độ sông ngòi khá phức tạp nhưng nhìn chung ở vùng núi cao và trung bình, mưa nhiều như ở Hoàng Liên Sơn – Tây Côn Lĩnh, mật độ rất dày từ 1,5 đến 2 km/km2 Ở vùng núi thấp và núi trung bình, mưa nhiều như vùng Ngân Sơn, sông Gâm, Chàm Chu, dãy con voi mật độ đạt 1 đến 1,5 km/km2 Ở vùng thung lũng hoặc cao nguyên, mưa tương đối ít hoặc trung bình thì mật độ đạt từ 0,5 đến 1 km/km2 Thượng lưu các sông thường rất dốc,
độ dốc lòng sông thường lớn hơn 0,2%, xuống trung lưu vẫn còn nhiều thác ghềnh, xen kẽ giữa những đoạn lòng sông mở rộng nước chảy chậm là những đoạn thu hẹp, nước chảy nhanh Về hạ du, các sông nhánh nhập vào sông chính, lòng sông mở rộng, độ dốc nhỏ, hai bên bờ sông có đê khống chế, tốc độ dòng nước giảm, lòng sông uốn khúc quanh co và thay đổi phức tạp, bên lở bên bồi hoặc giữa dòng có những bãi cát nổi
Dòng chính sông Hồng, suốt chiều dài từ nguồn đến cửa sông luôn luôn giữ hướng tây bắc – đông nam Lưu vực phát triển không cân xứng, phần lưu vực phía thượng lưu thuộc địa phận Trung Quốc phát triển lệch về bên trái và phần lưu vực trung lưu lại phát triển lệch về bên phía phải
Sông Thao (dòng chính của sông Hồng) bắt nguồn từ dãy núi Ngụy Sơn cao trên 2000 m thuộc tỉnh Vân Nam – Trung Quốc (thuộc địa phận Trung Quốc, sông Thao có tên gọi là Nguyên Giang), có diện tích lưu vực 51.800km2với tổng chiều dài 843km Phần thuộc lãnh thổ Việt Nam có diện tích
Trang 1412.000km2, chiều dài tới Việt Trì là 332km Lưu vực sông Thao nằm kẹp giữa hai dãy núi cao là Hoàng Liên Sơn bên hữu ngạn và Con voi bên tả ngạn, có hình lông chim dài và hẹp, trong đó phần Việt Nam lưu vực có dạng lệch hẳn về hữu ngạn và rất hẹp bên tả ngạn
Những nhánh sông lớn ở phần thượng lưu có sông Mã Thất, sông Duyên Trấp, sông Để và sông Nam Khê Ở phần trung lưu có sông ngòi Bo (587 km2), Ngòi Nhù (1580 km2), Ngòi Hút (632 km2), Ngòi Thia (1570 km2), sông Bứa (1370 km2), Ngòi Phát (512 km2) và Ngòi Lao (680 km2)
Nhánh sông lớn nhất của sông Hồng là sông Đà, chi lưu bên phải cũng bắt nguồn từ dãy núi Ngụy Sơn (phần thượng nguồn bên Trung Quốc có tên gọi là sông Ba Tiên rồi đổi thành sông Lý Tiên), chảy vào Việt Nam theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và song song với sông Thao, địa hình lưu vực có nhiều núi và cao nguyên với độ cao lớn và bị chia cắt mạnh theo chiều thẳng đứng Sông Đà
có diện tích lưu vực là 52.900km2 với chiều dài sông 1010km Phần trên lãnh thổ Việt Nam có diện tích 26.800km2 và chiều dài 570km Vào địa phận Việt Nam sông Đà có những nhánh lớn gia nhập là Nậm Pô (2280 km2), Nậm Na (6860 km2), Nậm Mức (2930 km2), Nậm Mu (3400 km2), Nậm Sập (1110 km2), Nậm Bú (1410 km2) Sông suối trong lưu vực sông Đà thuộc loại sông trẻ, thung lũng sông hẹp, lòng sông đang bị đào mạnh, nhiều thác ghềnh Độ cao trung bình lưu vực là 1130 m, riêng phần ở lãnh thổ Việt Nam có độ cao trung bình lưu vực là 965 m
Nhánh lớn thứ hai của sông Hồng là sông Lô, sông Lô bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam (Trung Quốc) và chảy vào địa phận nước ta tại Thanh Thủy Đến Hà Giang sông Miện gia nhập ở bờ trái, đến Vĩnh Tuy nhánh sông Con gia nhập ở bờ phải và đến Hàm Yên sông Gâm gia nhập ở bờ trái Tại Đoan Hùng, sông Lô lại có thêm một nhánh lớn gia nhập là sông Chảy Trước khi gia nhập vào sông Hồng tại Việt Trì, sông Lô còn nhận một nhánh lớn nữa là sông Phó Đáy Thượng nguồn sông Lô cũng chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, tới thị xã Hà Giang thì chuyển hướng Bắc Nam và nhập vào sông Hồng đoạn gần Việt Trì Diện tích lưu vực là 39.000km2, chiều dài 470km, phần diện tích thuộc lãnh thổ Việt Nam là 26.000km2 với chiều dài 275km
Sông Đáy, trước kia là phân lưu chính của sông Hồng có thể phân khoảng 20% lượng lũ sông Hồng, nhưng cửa sông Đáy dần dần được bồi cao và từ năm
Trang 151937 người Pháp đã xây dựng một đập ngăn hoàn toàn sông Đáy với sông Hồng, biến Sông Đáy thành một sông tiêu nước nội địa và chỉ phân lũ sông Hồng vào sông Đáy khi lũ sông Hồng quá cao, với lưu lượng tháo thiết kế 5000 m3/s Các sông nhánh lớn của sông Đáy là : Sông Tích (1331 km2), sông Bôi (1549 km2), sông Nhuệ
Sông Đuống (dài 64 km), sông Luộc (dài 72 km) là các sông chuyển nước
từ sông Hồng sang sông Thái Bình; sông Trà Lý (dài 64 km), phân lưu tả ngạn sông Hồng đổ ra biển, sông Đào Nam Định (dài 31,5 km) đưa nước sông Hồng sang sông Đáy, sông Ninh Cơ (dài 51,8 km) chảy ra biển
Một số đặc trưng hình thái lưu vực sông của các nhánh sông trên 1000
km2 trên lưu vực sông Hồng được trình bày trong bảng 1 – 2: [2]
trên lưu vực sông Hồng
Sông Chiều dài
(km)
Diện tích (km2)
Độ cao bình
Độ dốc bình
Độ rộng bình
Mật độ lưới
II Đặc điểm khí hậu
Khí hậu trong hệ thống sông Hồng-Thái Bình ở phần lãnh thổ Việt Nam
là khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh, khô, ít mưa và mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, chịu tác động của cơ chế gió mùa đông nam Á với hai mùa gió: gió mùa mùa Đông và gió mùa mùa Hạ, nhưng do chịu tác động của địa hình nên các yếu tố khí hậu biến đổi mạnh mẽ theo không gian và thời gian.Trong phần này, chỉ nêu một số đặc trưng cơ bản của khí hậu trên toàn lưu vực:
Trang 161- Nắng
Số giờ nắng trung bình hàng năm biến đổi trong phạm vi từ dưới 1600 giờ
ở vùng núi cao lên đến 2000 giờ ở các thung lũng trong lưu vực sông Đà Số giờ nắng thường cao vào các tháng mùa hè (từ tháng V đến tháng X), trên dưới 200 giờ mỗi tháng, các tháng mùa đông số giờ nắng ít hơn, nhất là các tháng I, II, III
Bảng 1-4: Số gờ nắng trung bình tháng tại một số trạm trên lưu vực sông Hồng
Lạng Sơn 77,2 62,2 67,1 98,5 176,2 160 183,1 173,5 178,2 158,4 139,5 121,4 1595Lai Châu 131,6 143,6 184 198,2 184,3 119,4 123,4 150,6 164,8 152,1 136,3 131,5 1820Sơn La 143,7 140,2 172,8 191,7 201,9 147,6 148,9 160,9 178,7 182,2 159,6 168,8 1997
Hà nội 73,7 47,3 47,2 90,3 183,1 171,7 194,6 174,2 175,6 162,5 136,8 123,8 1581
2- Nhiệt độ
Chế độ nhiệt của khu vực phù hợp với nền nhiệt độ của khu vực nhiệt đới,
có nhiệt độ trung bình cao, nhiệt độ trung bình năm trên lưu vực dao động từ 15
- 250C
Nhiệt độ không khí trung bình năm có xu thế giảm dần theo sự tăng của
độ cao địa hình: dưới 150C ở vùng núi cao, 20 -24 0C ở vùng trung du và đồng bằng
Nhiệt độ không khí trung bình năm cũng biến đổi theo mùa Trong thời kỳ mùa hạ, nhiệt độ không khí trung bình tháng khoảng 15 -20 0C ở vùng núi, 20 –
300C ở các vùng trung du và đồng bằng Thời kỳ mùa đông, nhiệt độ không khí trung bình tháng khoảng 10 – 150C ở vùng núi, ở vùng trung du và đồng bằng là
Hà nội 16,4 17,2 20 23,9 27,4 28,9 29,2 28,6 27,5 24,9 21,5 18,2 23,6
Trang 17
4- Chế độ gió
Hướng gió thịnh hành trong mùa hè là gió nam và đông nam Mùa đông thường có gió bắc và đông bắc Tốc độ gió trung bình là 2 – 3 m/s Bảng 1-7 là tốc độ gió trung bình nhiều năm tại một số trạm trên lưu vực sông Hồng
Bảng 1-7: Tốc độ gió trung bình nhiều năm tại một số trạm
Trạm Lai Châu Sơn La Hòa Bình Sa Pa Yên Bái Bắc Quang Hải Dương Hà Nội Thái BìnhTốc độ
5- Bốc hơi
Lượng bốc hơi đo bằng ống Piche: Bốc hơi trung bình năm dao động từ
900 – 1000 mm ở vùng Tây Bắc (Lai Châu 933,4mm), 500 - 900 mm ở vùng Việt Bắc (Sa Pa 723,9mm; Hà Giang 831mm), 560 - 1050 mm ở vùng Đông Bắc (925,7mm) và 900 - 1000 mm ở vùng đồng bằng (Hà Nội 975,1mm)
Bảng 1-8: Bốc hơi trung bình tháng tại một số trạm trên lưu vực sông Hồng
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Lai Châu 65,1 72,8 89,9 93,0 93,0 75,0 77,5 83,7 81,0 74,4 66,0 62,0 933,4 Lạng Sơn 62,0 58,8 65,1 72,0 93,0 87,0 93,0 89,9 81,0 80,6 72,0 71,3 925,7
Sa Pa 55,8 56,0 74,4 75,0 68,2 60,0 65,1 62,0 54,0 52,7 48,0 52,7 723,9
Hà Giang 49,6 50,4 62,0 72,0 86,8 78,0 83,7 86,8 81,0 68,2 60,0 52,7 831,2
Hà Nội 62,0 53,2 58,9 69,0 102,3 99,0 105,4 96,1 93,0 89,9 75,0 71,3 975,1
Trang 186- Mưa
Lượng mưa trên lưu vực sông Hồng khá phong phú, bình quân nhiều năm trên toàn lưu vực khoảng 1500 mm/năm Chính lượng mưa đã hình thành tài nguyên nước phong phú của lưu vực Theo không gian, các trung tâm mưa lớn bao gồm: khu vực Bắc Quang thuộc sườn núi Tây Côn Lĩnh với Xo lớn nhất đạt tới gần 5.000 mm; dãy núi Hoàng Liên Sơn có lượng X0 khoảng trên 3.000 mm/năm; các khu vực Tam Đảo và Ba Vì đạt 2.400 mm/năm Vùng ít mưa 1.200 - 1.500 mm (Bảo Lạc, Mộc Châu, Sơn La, Bắc Giang), vùng mưa trung bình (1.700 - 2.000 mm) là vùng đồng bằng, trung du, bắc bộ
Theo thời gian, mưa cũng biến đổi theo mùa giống như các yếu tố khí tượng khác Chế độ mưa hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ gió mùa và phân theo mùa khá rõ rệt Mùa mưa gần như trùng với gió mùa Tây Nam, chuyển hướng Đông Nam và thường kéo dài từ tháng V-X (khoảng 6 tháng), những năm đặc biệt là những năm mưa đến sớm hoặc kết thúc muộn Lượng mưa trong mùa mưa chiếm khoảng 75-85% lượng mưa năm Còn lại là mưa trong mùa khô Mùa đông thường có mưa phùn và ẩm ướt, mùa hè thường có mưa rào, mưa dông Cụ thể về đặc điểm mưa trên lưu vực được trình bày trong chương II
Bảng 1-9: Lượng mưa tháng trung bình nhiều năm tại một số trạm (mm)
Tên trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
III Hiện trạng và kế hoạch phát triển KTXH
III.1- Hiện trạng dân sinh kinh tế xã hội
III.1.1- Dân số
Phân bố dân cư trên lưu vực không đều, có sự khác biệt rất lớn giữa thượng và hạ lưu lưu vực, trong khi khu vực miền núi và trung du lưu vực sông Hồng dân cư tương đối thưa thớt thì khu vực đồng bằng sông Hồng lại có mật
độ dân số trung bình cao nhất cả nước Tính đến năm 2004, dân số vùng đồng bằng sông Hồng – sông Thái Bình là 17,8 triệu người, với mật độ 1204
Trang 19người/km2 trong đó thành thị chiếm khoảng 24%, vùng nông thôn chiếm khoảng 76%
Bảng 1-11: Dân số trung bình vùng đồng bằng sông Hồng năm 2004
Với 11 tỉnh, thành phố và một phần lãnh thổ của các tỉnh Phú Thọ, Thái
Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh Đặc biệt có thủ đô Hà Nội và một số thành phố lớn khác Tính đến năm 2003, tổng diện tích tự nhiên là 14812 km2, trong
đó diện tích đất nông nghiệp là 8507 km2 chiếm 57%, diện tích đất lâm nghiệp
có rừng là 1221 km2 chiếm 8,2%, diện tích đất chuyên dùng là 2451 km2, đất ở
là 93 km2, còn lại là các loại đất khác Hiện trạng sử dụng đất đồng bằng và trung du Bắc Bộ như sau:
Trang 20Bảng 1-12: Hiện trạng sử dụng đất vùng ĐBSH (năm 2003)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trong đó STT
Tổng diện tích (nghìn ha)
Đất nông nghiệp (nghìn ha)
Đất lâm nghiệp có rừng (nghìn ha)
Đất chuyên dùng (nghìn ha)
Đất ở (nghìn ha)
Lịch thời vụ canh tác ở vùng đồng bằng sông Hồng ở các tỉnh không hoàn toàn giống nhau Nhưng nhìn chung thời gian của vụ chiêm kéo dài từ đầu tháng
2 đến đầu tháng 6; vụ mùa từ đầu tháng 7 đến trung tuần tháng 10 Như vậy vụ chiêm trùng với thời kỳ mùa cạn, khi lượng dòng chảy trong sông nhỏ thì nhu cầu sử dụng nước tưới cho sản xuất nông nghiệp lại nhiều lên và đồng loạt lấy
Trang 21nước tại các vị trí dọc sông Điều trái ngược này đôi khi đã gây không ít khó khăn trong việc điều hoà phân phân phối sử dụng nước giữa các vùng và giữa các ngành trong thời kỳ mùa cạn, đặc biệt là đối với những năm cạn kiệt
Sản lượng lương thực cũng ngày càng tăng và càng có hướng phát triển Sản lượng cây có hạt năm 1995 là 5339,8 nghìn tấn, đến năm 2004 đạt khoảng 7052,3 nghìn tấn, trong đó sản lượng lúa năm 1995 là 5090,4 nghìn tấn ,tới gần 6708,8 nghìn tấn năm 2004
Bảng 1-13: Diện tích và sản lượng lương thực có hạt vùng ĐBSH
Nguồn: Tổng cục TK
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 Diện tích cây
lương thực có hạt
(nghìn ha) 1288,4 1284,1 1311,1 1308,0 1305,8 1306,1 1270,9 1266,6 1264,1 1245,3 Sản lượng lương
(nghìn tấn) 5090,4 5325,3 5638,1 5979,4 6383,4 6586,6 6419,4 6752,2 6487,3 6708,8 Diện tích lúa đông
xuân (nghìn ha) 588,3 585,1 593,3 593,2 591,4 599,7 599,1 594,3 589,7 578,2 Sản lượng lúa đông
xuân (nghìn tấn) 2646,7 3170,0 3220,6 3149,1 3250,9 3511,7 3469,1 3559,6 3617,7 3634,6
Hiện nay ngành chăn nuôi ở trong lưu vực chủ yếu vẫn là hộ chăn nuôi cá thể hoặc qui mô nhỏ Tính đến năm 2004 số lượng trâu, bò, lợn như sau: trâu
154600 con, bò 604400 con, lợn 6898400 con, gia cầm 59084000 con
Bảng 1-14: Số lượng trâu, bò, lợn và gia cầm trong vùng (nghìn con)
Trang 22diện tích này lên tới 84,4 nghìn ha Sản lượng thủy sản năm 1995 là 110345 tấn,
đến năm 2004 sản lượng này tăng gấp 2,5 lần (290059 tấn) [nguồn TCTK]:
Bảng 1-15: Hiện trạng nuôi trồng thủy sản vùng ĐBSH
Lâm nghiệp: Tính đến năm 2004, diện tích rừng hiện có trên ĐBSH là
114300 ha, trong đó 47700 ha là rừng tự nhiên, còn lại là rừng trồng.Tỉnh Vĩnh
Phúc là tỉnh có tổng diện tích rừng lớn nhất vùng (30900 ha)
Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá so sánh năm 1994 trên vùng có xu
hướng giảm qua các năm, năm 1995 là 301,6 tỷ đồng, đến năm 2004 là 207 tỷ
đồng Sản lượng gỗ khai thác cũng có xu hướng giảm, năm 1995 là 255800 m3,
Trang 23Bảng 1-17: Giá trị sản xuất lâm nghiệp và sản lượng gỗ vùng ĐBSH
Nguồn: Tổng cục Thống kê
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 Giá trị sản xuất
1945 đã có các trung tâm công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, sau
1954 có thêm các trung tâm công nghiệp như Hải Dương, Phủ Lý, Ninh Bình, những năm gần đây hàng loạt khu công nghiệp tập trung đã được xây dựng ở các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh (Hạ Long, Móng Cái) tạo thành khu kinh tế lớn Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng - Quảng Ninh
Trên phạm vi lưu vực hiện có gần 270261 cơ sở sản xuất công nghiệp Trong đó, có 270039 cơ sở vốn đầu tư trong nước và 222 cơ sở vốn đầu tư nước ngoài Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2003 đạt gần 86527 tỷ đồng, tương đương với khoảng 5,583 tỷ USD Tuy nhiên , sự đầu tư cho các cơ sở công nghiệp không đồng đều
Các ngành và sản phẩm chủ yếu đang phát triển trên vùng là: sản xuất điện, sản xuất xi măng, sản xuất thép, công nghiệp cơ khí, công nghiệp điện tử
và sản xuất đồ điện dân dụng, công nghiệp lắp ráp ô tô và xe máy, công nghiệp sản xuất bia, nước giải khát, công nghiệp may mặc, dệt, giày da công nghiệp khai khoáng và công nghiệp giấy
Trang 24Bảng 1-12: Tình hình sản xuất công nghiệp trên vùng ĐB sông Hồng - sông Thái Bình
Nguồn: Tổng cục thống kê
TT Tổng hợp chung
Tổng số cơ
sở công nghiệp
Số cơ sở trong nước
Số cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài
Giá trị sản xuất công nghiệp năm
2003 ( tỷ đồng)
Tương đương với triệu USD
3 Dịch vụ, cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, văn hóa xã hội & các lĩnh vực khác
Ngoài sự phát triển của ngành nông, công nghiệp nói trên Vùng ĐBSH còn có lợi thế to lớn trong việc phát triển du lịch và dịch vụ Là nơi tập trung nhiều thành phố và thị xã nhất gồm: Thủ đô Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng, thành phố dệt Nam Định và các thành phố cấp III là: Việt Trì, Thái Nguyên, Hải Dương, Thái Bình, 12 thị xã và gần 100 thị trấn Từ lâu Hà Nội đã trở thành trung tâm chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật, kinh tế, ngoại giao của cả nước Hải Phòng là thành phố cảng, có sân bay và có những điểm du lịch nổi tiếng như
Đồ Sơn, Cát Bà, Núi Voi Quảng Ninh, ngoài tầm cỡ là trung tâm công nghiệp than của cả nước, còn có Vịnh Hạ Long được UNESCO xếp vào danh sách di
Trang 25sản thiên nhiên thế giới Quảng Ninh còn có biên giới với Trung Quốc khoảng
170 km, trong đó có cửa khẩu Móng Cái thông thương với khu Khai Phát của Trung Quốc Một khi cảng nước sâu Cái Lân xây dựng xong thì Quảng Ninh sẽ trở thành đầu mối quan trọng mở cửa ra biển không chỉ của vùng Đông Bắc Việt Nam mà còn có thể giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu quá cảnh của các tỉnh phía Tây Nam Trung Quốc và phía Bắc Lào
Sau nhiều năm đầu tư xây dựng, đến nay ĐBSH đã có hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh, với đầy đủ các loại hình vận tải Đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt và đường hàng không Đường bộ có các tuyến quan trọng như quốc lộ 1, quốc lộ 5, quốc lộ 10, 18, 183, Láng Hoà Lạc Đường sắt có tuyến Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng, Vận tải biển có cảng Hải Phòng công suất 7 triệu tấn/năm và cảng Cái Lân đang xây dựng với công suất thiết kế 15-20 tấn/năm Vận tải hàng không có sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay Cát Bi (Hải Phòng) Hệ thống giao thông này cho phép phát triển giao thông giao lưu kinh tế giữa các địa phương trong vùng cũng như giữa vùng kinh tế trọng điểm thuộc ĐBSH với các vùng khác trong nước và với nước ngoài
Cơ sở hạ tầng thủy lợi trên đồng bằng sông Hồng cũng được tập trung nâng cấp và phát triển khá tốt với 10.800 km kênh tưới, 9.300 km kênh tiêu, 3.828 cống tưới, 4.300 cống tiêu, 3.212 máy bơm tưới và 3.220 máy bơm tiêu, 4.500 km đê sông và đê biển cùng 2.266 cống dưới đê Các công trình hạ tầng
cơ sở khác cũng khá tập trung như 13.200 km đường dây tải điện, 2.895 máy biến thế,
Ngoài ra vùng ĐBSH còn có lực lượng đông đảo các cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ quản lý kinh tế, đặc biệt là ở Hà Nội Trên địa bàn Hà Nội có 49 trường đại học và cao đẳng, 25 trường trung học chuyên nghiệp và 20 trường đào tạo nghề Hà Nội hiện chiếm trên 18% số cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học và chiếm 35% số cán bộ có trình độ trên đại học của cả nước
Là vùng có mặt bằng văn hoá cao nhất nước nên đồng bằng và trung du sông Hồng - Thái Bình có hệ thống trường lớp khá đầy đủ, với 25.118 lớp mẫu giáo, 62.634 lớp phổ thông Cơ sở, 6.608 lớp phổ thông Trung học, 3.253 lớp Cao đẳng và Đại học, có 173 bệnh viện, 16 viện điều dưỡng và 2.500 trạm y tế
Trang 26III.2- Kế hoạch phát triển kinh tế đến năm 2010
III.2.1- Mục tiêu chung
Vùng đồng bằng sông Hồng - sông Thái Bình có lợi thế hơn các vùng khác về môi trường tự nhiên cũng như môi trường kinh tế, môi trường văn hoá
xã hội phong phú và có tiềm năng phát triển cao Để phát huy những thế mạnh của đồng bằng sông Hồng - Thái Bình cần đầu tư vào khoa học công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, nước và khoáng sản, tài nguyên sinh học, môi trường tự nhiên cũng như môi trường văn hoá xã hội Tăng hệ số công nghiệp lên hơn nữa trong mỗi giá trị sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là các sản phẩm nông nghiệp cần được nâng cấp để đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Âu, Mỹ Về công nghiệp cần đầu tư vào khâu sản xuất các sản phẩm công nghệ cao thay thế hàng nước ngoài và hướng tới xuất khẩu Đồng bằng sông Hồng - Thái Bình trong mấy năm vừa qua có kim ngạch xuất khẩu cao hơn nhập khẩu, song hàng xuất chủ yếu là nguyên liệu thô, sản phẩm sơ chế, hàm lượng công nghệ trong đơn vị sản phẩm còn thấp như lạc, đậu tương, gạo, ngô, đay, vải sợi, hải sản đông lạnh, gỗ, cà phê nhân chế, rau quả, quần áo may sẵn, hàng thủ công mỹ nghệ, hầu như chưa có sản phẩm công nghệ cao
Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội đến năm 2010 như sau:
- Tốc độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân cả nước là (1,3 - 1,5) lần
- GDP bình quân đầu người là 910 USD, trong đó Hà Nội 4.000 USD, Hải Phòng 2.400 USD
- Mức tăng trưởng 1995 - 2000 10% - GDP = 6.440 triệu USD
2000 - 2005 12% - GDP = 11.349 triệu USD
2005 - 2010 13% - GDP = 20.909 triệu USD
- Cơ cấu kinh tế Công nghiệp: 33% tổng GDP trong vùng
Nông nghiệp: 10% tổng GDP trong vùng
Dịch vụ 50% tổng GDP trong vùng Xây dựng 7% tổng GDP trong vùng
- Dân số đến năm 2010 khoảng 21,6 triệu người
Trang 27III.2.2- Phát triển nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
1- Phương hướng và mục tiêu đến năm 2010
Phát triển sản xuất nông nghiệp trên cơ sở chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng giá trị, hiệu quả, sản xuất hàng hóa bền vững Từng bước giảm dần sự chênh lệch giữa các vùng, cải thiện đời sống của dân cư trong vùng trên cả ba mặt : ăn, ở, các nhu cầu về văn hóa , xã hội Nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, đồng thời phát triển ngành nghề để thu hút lao động, chuyển một số lượng lao động nông nghiệp sang công nghiệp và các ngành sản xuất phi nông nghiệp khác Mục tiêu cụ thể cho từng lĩnh vực như sau:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2001- 2010 đạt bình quân 5 - 6%/năm, trong đó, trồng trọt đạt 2 – 3%/năm, chăn nuôi đạt 7 – 10%/năm, thủy sản đạt 12 – 17%/năm
- Tỷ trọng GDP nông nghiệp trong GDP chung của vùng chiếm từ 15 – 17% năm 2010
- Cơ cấu GDP giữa ngành trồng trọt và chăn nuôi đạt tương ứng là 60 và 40% năm 2010
- Giá trị GDP nông nghiệp (theo giá so sánh năm 2000) đạt khoảng 35 ngàn
tỷ đồng năm 2010
- Giá trị sản xuất/ha đất canh tác đạt 45 – 50 triệu đồng năm 2010
2- Chuyển đổi cơ cấu nông lâm thủy sản
Cơ cấu kinh tế giữa các ngành nông lâm thủy sản chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của các ngành lâm nghiệp, thủy sản trong cơ cấu GDP chung của ngành Cụ thể: Cơ cấu ngành nông nghiệp từ 93,53% năm 2000 giảm xuống 81% năm 2010, lâm nghiệp tăng từ 1,01% năm 2000 lên 4% năm 2010 và tỷ trọng ngành thủy sản tăng từ 5,46% năm 2000 lên 15% năm 2010 Trong ngành nông nghiệp giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng dần tỷ trọng chăn nuôi Trồng trọt giảm từ 70,91% năm 2000 xuống còn 48,6% năm 2010, chăn nuôi tăng từ 22,62% năm 2000 lên 32,4% năm 2010
Trong ngành trồng trọt: Giảm tỷ trọng cây hàng năm thông qua việc giảm
tỷ trọng nhóm cây lương thực và cây công nghiệp hàng năm, tăng dần tỷ trọng
Trang 28cây lâu năm (tập trung vào cây ăn quả và các cây khác (tập trung vào hoa) Cụ thể: Cây hàng năm giảm từ 63,21% năm 2000 xuống còn 34,6% năm 2010 Cây lâu năm sẽ tăng từ 7,05% năm 2000 lên 12% năm 2010 Cây khác sẽ tăng từ 0,66% năm 2000 lên 2% năm 2010 [1]
Trong ngành chăn nuôi: Chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của nhóm gia súc và gia cầm, giảm tỷ trọng của các sản phẩm không qua giết mổ, sản phẩm phụ chăn nuôi Riêng đối với nhóm gia cầm, chuyển dịch theo hướng tăng
tỷ trọng của đàn gà, giảm tỷ trọng của nhóm gia cầm khác Cụ thể, tăng tỷ trọng chăn nuôi gia súc từ 22,62% năm 2000 lên 32,4% năm 2010 và tăn tỷ trọng chăn nuôi gia cầm từ 5,37% năm 2000 lên 9% năm 2010
Đối với ngành lâm nghiệp, chuyển dịch theo hướng tỷ trọng của sản phẩm trồng rừng, nuôi rừng và đối với ngành thủy sản chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của nuôi trồng thủy sản
Tóm lại: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong thời gian tới của vùng đồng bằng sông Hồng chủ yếu theo hướng tăng các loại cây trồng vật nuôi
có giá trị kinh tế cao, sản phẩm hàng hóa và khai thác tốt các lợi thế của vùng như rau, hoa quả, lúa gọa chất lượng cao, gia cầm
III.2.3- Phát triển công nghiệp
Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân 16,5%/năm suốt thời kỳ đến năm 2010 ( kế hoạch 5 năm 2006 – 2010) và GDP ngành công nghiệp phải chiếm ít nhất là 32% GDP tổng Trong GDP công nghiệp thì cơ cấu ngành như sau:
- Nguyên liệu và năng lượng chiếm 21%
- Cơ khí, kỹ thuật điện, điện tử 21%
- Sản xuất vật liệu xây dựng 21%
- Công nghiệp thực phẩm 14%
- Công nghiệp nhẹ (dệt, da, may) 19%
Công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng - sông Thái Bình được phân bố trên địa bàn vùng tạo thành hệ thống bao gồm:
+ Các cụm công nghiệp, khu công nghiệp như khu công nghệ cao, khu công nghiệp điện tử, khu chế xuất
Trang 29+ Các hành lang công nghiệp: dọc quốc lộ 5, 18 và 10 + Các Xí nghiệp nằm trong đô thị, thị trấn, thị tứ, bố trí đều trên toàn vùng
III.2.4- Phát triển thương mại, dịch vụ
- Chuyển dịch cơ cấu các ngành thương mại, dịch vụ theo hướng ưu tiên phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ cảng, tài chính, ngân hàng, chuyển giao công nghệ Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng hàng năm các ngành dịch vụ đạt 13%/năm trong suốt thời kỳ đến năm 2010
- Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng, hiệu quả các loại hình du lịch; hình thành các tuyến du lịch hợp lý để thu hút khách, mở thêm các tuyến du lịch quốc tế nối Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long với các nước trên thế giới và trong khu vực Xây dựng đồng bộ cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng, gắn khai thác với tôn tạo, duy trì, bảo dưỡng, phát triển tài nguyên du lịch, truyền thống văn hoá dân tộc
III.2.5- Phát triển kết cấu hạ tầng
- Kết hợp cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống cảng biển, sân bay, đường sắt, đường bộ, đường thuỷ theo quy hoạch cùng với hệ thống cầu có ý nghĩa quyết định với việc giao lưu hàng hoá, phát triển kinh tế của vùng Hoàn chỉnh hệ thống giao thông công cộng ở các thành phố lớn
- Nâng cấp, xây dựng mới mạng lưới điện tương ứng với nguồn điện, đáp ứng yêu cầu của sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân
- Hiện đại hoá mạng lưới thông tin liên lạc Mở rộng thông tin di động, mạng truyền số liệu, bưu chính, thông tin duyên hải, phủ sóng phát thanh, truyền hình
- Cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống cấp nước ở các đô thị lớn, các khu công nghiệp tập trung, đảm bảo nhu cầu về nước sạch cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của nhân, cải thiện điều kiện sinh hoạt và vệ sinh môi trường
đô thị và nông thôn
Trang 30III.2.6- Phát triển giáo dục, y tế, văn hoá và các lĩnh vực xã hội khác
- Phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả của hệ thống giáo dục và đào tạo để nâng cao dân trí, đáp ứng nguồn nhân lực cho nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá của vùng và cả nước
- Phát triển mạng lưới chăm sóc sức khoả ban đầu, khám chữa bệnh cho nhân dân, đầu tư nâng cấp các bệnh viện hiện có và nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân
- Nghiên cứu và triền khai áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại làm nền tảng và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của vùng
-Phát triển văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, phát thanh, truyền hình đạt trình độ cao và hiện đại ngang tầm với các nước trong khi vực và xứng đáng với vai trò là nguồn động lực phát triển
Trang 31PHẦN II ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MIKE11 NGHIÊN CỨU, TÍNH TOÁN HIỆN TRẠNG DÒNG CHẢY MÙA CẠN VÀ DIỄN BIẾN XÂM NHẬP MẶN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG-THÁI BÌNH CÓ XÉT TỚI ẢNH
HƯỞNG CỦA HỒ HÒA BÌNH, HỒ THÁC BÀ
I- Mô hình MIKE 11 và khả năng ứng dụng
I.1- Tổng quan về mô hình MIKE 11
1.Tổng quan
MIKE 11 do DHI Water & Environment phát triển, là một gói phần mềm dùng để mô phỏng dòng chảy/ lưu lượng, chất lượng nước và vận chuyển bùn cát ở các cửa sông, sông, kênh tưới và các vật thể nước khác
MIKE 11 là mô hình động lực một chiều và thân thiện với người sử dụng nhằm phân tích chi tiết, thiết kế, quản lý, vận hành cho sông cũng như hệ thống kênh dẫn đơn giản và phức tạp Với môi trường đặc biệt thân thiện với người sử dụng, linh hoạt và tốc độ, MIKE 11 cung cấp một môi trường thiết kế hữu hiệu
về kỹ thuật công trình, tài nguyên nước, quản lý chất lượng nước và các ứng dụng quy hoạch
Mô-đun thủy động lực (HD) là một phần trọng tâm của mô hình MIKE 11
và hình thành cơ sở cho hầu hết các mô-đun bao gồm Dự báo lũ, Tải khuyếch tán, Chất lượng nước và các mô-đun vận chuyển bùn cát không, có cố kết
Các công trình được mô phỏng trong MIKE 11 bao gồm:
Trang 32Hệ phương trình sử dụng trong mô hình là hệ phương trình Saint Venant, viết dưới dạng thực hành cho bài toán không gian một chiều, tức quy luật biến đổi của độ cao mặt nước và lưu lượng dòng chảy dọc theo chiều dài dòng sông/kênh và theo thời gian
Hệ phương trình Saint Venant gồm hai phương trình: phương trình liên tục và phương trình động lượng:
Phương trình liên tục:
q t
A x
∂
∂ +
∂
∂+
∂
∂
R C
V V x
V V g t
V g x
Trong đó:
B: Chiều rộng mặt nước ở thời đoạn tính toán (m)
h: Cao trình mực nước ở thời đoạn tính toán (m)
t: Thời gian tính toán (giây)
Q: Lưu lượng dòng chảy qua mặt cắt (m3/s)
V: Tốc độ nước chảy qua mặt cắt ngang sông
X: Không gian (dọc theo dòng chảy) (m)
β: Hệ số phân bố lưu tốc không đều trên mặt cắt
A: Diện tích mặt cắt ướt (m2)
q: Lưu lượng ra nhập dọc theo đơn vị chiều dài (m2/s)
C: Hệ số Chezy, được tính theo công thức: Ry
Trang 33R: Bán kính thuỷ lực (m)
y: Hệ số, theo Maning y=1/6
g: Gia tốc trọng trường = 9,81 m/s2
α: Hệ số động năng
b Thuật toán trong mô hình MIKE11
Hệ phương trình vi phân (1) và (2) là hệ phương trình vi phân phi tuyến,
có hệ số biến đổi Các nghiệm cần tìm là Q và Z là hàm số của các biến độc lập
x, t Nhưng các hàm A và v lại là hàm phức tạp của Q và Z nên không giải được bằng phương pháp giải tích, mà giải gần đúng theo phương pháp sai phân
Từ hệ phương trình Saint Venant, ta có hai phương trình viết theo Q và h :
q t
h b x
Q
∂
∂ +
∂
∂
0 )
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
RA C
Q Q g x
h gA h
Q x B t
Giải hệ phương trình vi phân trên theo phương pháp sai phân hữu hạn 6 điểm ẩn (Abbott-Ionescu 6-point) sẽ xác định được giá trị lưu lượng, mực nước tại mọi đoạn sông, mọi mặt cắt ngang trong mạng sông và mọi thời điểm trong khoảng thời gian nghiên cứu
Xét một đoạn sông dài 2∆x trong thời gian ∆t:
Hình 2-1: Sơ đồ sai phân ẩn 6 điểm trung tâm
Trang 34
x
Q Q Q
Q x Q
n j
n j
n j
n j
+ +
* 2
2 2
)
1 1
1 1
t
h h t
n j
Trong đó : Chỉ số bên dưới trong phương trình biểu thị vị trí dọc theo nhánh, và chỉ số bên trên chỉ khoảng thời gian
Ao,j : diện tích khống chế bởi hai điểm lưới j-1 và j
2∆x : Khoảng cách giữa hai điểm j-1 và j+1
Thế vào phương trình (3) ta được phương trình
x
Q Q
Q
j
n j
n j
+ +
* 2
2 2
)
1 1
1 1
∆
−
+1
= qj Hay
j
n j j
n j j
n j
jQ β h γ Q δ
+ +
+
1 1
Trong đó : α,β,γ = f (bs,δ) = f ( Qn, hn, Qn+1/2)
Trang 35Q Q t
n j
h x h
n j
n j
n j
n j
+ +
* 2
2 2
)
1 1
1 1
x A
Q A
Q A
Q x
n j
n j j
n j
jh β Q γ h δ
+ +
+
1 1
n j
n j
n j
Trang 363 Phương trình tải khuếch tán
Phương trình tải khuếch tán: hay còn gọi là phương trình bảo toàn khối
lượng chất hoà tan một chiều có dạng như sau:
x
C AD x x
QC t
A: Diện tích mặt cắt ngang sông
K : Hệ số phân huỷ tuyến tính
C2 : Nồng độ chất hoà tan tại nguồn
I.2- Các ứng dụng của mô hình MIKE 11
Các ứng dụng liên quan đến mô-đun MIKE 11 HD bao gồm:
- Dự báo lũ và vận hành hồ chứa
- Mô phỏng dòng chảy trong hệ thống sông, kênh
- Vận hành hệ thống tưới và tiêu thoát nước
- Thiết kế các hệ thống kênh dẫn
- Nghiên cứu sóng triều và dâng nước do mưa ở sông và cửa sông
MIKE11 là chương trình tính thuỷ lực có thể áp dụng với chế động sóng động lực hoàn toàn ở cấp độ cao.Trong chế độ này MIKE 11 có khả năng tính toán với :
- Dòng chảy biến đổi nhanh
- Lưu lượng thuỷ triều
- Sóng lũ
Trang 37Các ứng dụng liên quan đến mô-đun MIKE 11 AD bao gồm:
Nghiên cứu truyền tải vật chất một chiều như quá trình xâm nhập mặn, chất lượng nước, hiện tượng phì dưỡng trong sông
I.3- Mô tả cấu trúc và các module của mô hình MIKE 11
Đặc trưng cơ bản của mô hình MIKE 11 là cấu trúc mô-đun tổng hợp với nhiều loại mô-đun được thêm vào mỗi mô phỏng các hiện tượng liên quan đến
hệ thống sông Các module trong bộ MIKE 11 bao gồm:
Module HD – Thủy động lực học là phần cốt lõi của MIKE 11 với tính năng:
- Giải bài toán thủy động lực học St Venant cho kênh hở
- Giải bài toán sóng khuyếch tán, sóng động học cho một số nhánh định trước
- Giải bài toán Muskingum cho một số nhánh định trước
- Tự động hiệu chỉnh cho điều kiện dòng chảy êm, dòng chảy xiết
- Mô phỏng hầu hết các loại công trình trên sông như cầu, cống, trạm bơm, đập
Ngoài mô-đun HD và AD đã mô tả ở trên, MIKE bao gồm các mô-đun bổ sung về các vấn đề:
- Thủy văn (Mike-NAM)
- Chất lượng nước (Mike – WQ)
- Vận chuyển bùn cát có cố kết (có tính dính) (Mike -ST)
- Vận chuyển bùn cát không có cố kết (không có tính dính) (Mike -ST)
II- Ứng dụng mô hình MIKE 11 đánh giá hiện trạng dòng chảy mùa cạn
và diễn biến xâm nhập mặn đồng bằng sông Hồng – sông Thái Bình do ảnh hưởng điều tiết của hồ chứa Hoà Bình – Thác Bà và thủy triều biển II.1- Sơ đồ hóa mạng lưới sông và các biên tính toán
II.1.1- Sơ đồ tính toán
Căn cứ vào nhiệm vụ tính toán, mạng sông trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài, các tài liệu cơ bản hiện có, chế độ thủy trên mạng sông, sơ đồ thủy lực tính toán dòng chảy khu vực nghiên cứu được chọn như hình 3-1
Trang 38II.1.2- Biên tính toán
Về biên của bài toán, căn cứ vào sơ đồ tính toán, tình hình tài liệu thu thập được, các biên được sử dụng tính trong mô hình bao gồm:
9 Biên trên: Là quá trình lưu lượng ngày thực đo tại các trạm thuỷ văn không chế bao gồm Hoà Bình (sông Đà), Yên Bái (sông Thao), Thác Bà (Sông Chảy), Hàm Yên (sông Lô), Chiêm Hoá (sông Gâm), Phú Cường (Cà Lồ), Thác Huống (sông Cầu), Cầu Sơn (sông Thương), Chũ (sông Lục Nam) và trạm Độ mặn tại các biên trên là bằng 0
9 Biên dưới: là quá trình mực nước giờ tại các cửa sông trên hệ thống bao gồm Cửa Đáy, Cửa Ninh Cơ; cửa Ba Lạt, cửa Trà Lý, cửa Thái Bình, cửa Văn Úc, cửa Lạch Tray, cửa Cấm, cửa Đá Bạch Do thực tế hiện nay không có tài liệu mực nước thực đo ngay tại cửa sông vì các trạm đo mực nước đều cách cửa sông 6-10 km Mặt khác theo kết quả phân tích tương quan mực nước triều tại Hòn Dáu với mực nước các trạm cửa sông, thấy các hệ số tương quan rất cao (γ = 0.96 - 0.99), nên trong mô hình đã nội suy mực nước giữa các trạm cửa sông với mực nước triều tại Hòn Dáu cho tất cả các biên mực nước Tương tự biên mặn tại cửa sông cũng được nội suy từ độ mặn tại các trạm cửa sông với độ mặn tại Hòn Dáu Nói chung độ mặn tại cửa sông ít thay đổi,
có thể coi là hằng số
9 Biên nhập lưu tại các sông nhánh trên hệ thống được lấy từ dòng chảy cơ bản
9 Biên lấy nước bao gồm trạm bơm (phần thượng lưu), cống dọc sông và được
mô phỏng thực về vị trí, lưu lượng lấy theo thời gian phục vụ cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt, dịch vụ Các vị trí lấy nước nhỏ lẻ gần nhau được nhóm lại thành từng cụm với lưu lượng bằng tổng các lưu lượng thành phần Các số liệu này lấy từ báo cáo ”Điều tra tài nguyên nước, tình hình khai thác và xả thải nguồn nước ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” của cục Thủy lợi và các dự án do Viện Qui hoạch thủy lợi thực hiện
II.1.3- Trạm kiểm tra
Hệ thống trạm kiểm tra để kiểm tra độ xác thực của mô hình bao gồm số liệu thực đo tại các trạm Phú Thọ, Việt Trì, Sơn Tây, Trung Hà, Tuyên Quang,
Vụ Quang, Thượng Cát, Hà Nội, Hưng Yên, Bến Hồ, Phả Lại, Nam Định, Cát Khê, Cao Kênh, Triều Dương, Quyết Chiến, Trực Phương, Gián Khẩu, Phủ Lý, Trung Trang (hình 3-2) Các trạm kiểm tra độ mặn được thống kê trong bảng 5
Trang 39Hình 2-2: Sơ đồ mạng thủy lực sông Hồng – Sông Thái Bình và hệ thống biên trên- dưới mô phỏng trên mô hình Mike11 theo hệ tọa độ VN2000
Hình 2-3: Hệ thống các trạm kiểm tra mô phỏng trên mô hình phục vụ xác định
«ng §
¸y
S«n µ
T h−în g C¸ t BÕn Hå
Tr iÒu D −¬ng Cha nh C hö
Cöa L¹ch
Cöa
M¹ng s«ng thùc tÕ
M¹ng s«ng m« pháng trªn Mike 11
Chiêm hóa Hàm Yên
Hàm Yên
Yên Bái
Chũ Cầu Sơn Thác Huống
Trang 40II.2- Các tài liệu cơ bản phục vụ cho tính toán
II.2.1 Tài liệu địa hình
Tài liệu địa hình được sử dụng trong tính toán là tài liệu thực đo trong các năm từ 1998 – 2000 do Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi và Đoàn Khảo sát Sông Hồng đo đạc Bộ tài liệu bao gồm 653 mặt cắt đã được nhiều cơ quan khoa học
sử dụng như bộ tài liệu chuẩn cho mô phỏng thủy động lực
II.2.2 Tài liệu thủy văn
1 Điều kiện biên
Như đã trình bày ở trên, số liệu biên dùng trong tính toán gồm số liệu biên trên (Q), biên dưới (H), và biên dùng nước (Q)
• Biên trên là số liệu quá trình dòng chảy thực đo tại các trạm khống chế phía thượng lưu như đã nêu ở trên, với thời đoạn t = 1 ngày
• Biên dưới là quá trình mực nước thực đo tại các trạm khống chế phía hạ lưu như đã nêu ở trên với bước thời gian 1 giờ
Điều kiện ban đầu trên mô hình được mô phỏng tại tất cả các nút bao gồm mực nước và độ mặn tại thời điểm bắt đầu tính toán Các dữ liệu ban đầu được tính toán từ số liệu đo đạc thủy văn và độ mặn tại các trạm thủy văn và trạm đo mặn trên toàn lưu vực
• Biên dùng nước: căn cứ vào hệ thống công trình lấy nước phục vụ các hoạt động kinh tế xã hội điều tra từ các tỉnh trong khu vực tính toán Bảng thống kê các công trình lấy nước trong phụ lục 3.1 Vị trí các công trình lấy nước dọc theo hệ thống sông được mô phỏng trên mô hình như hình 3-3