BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG --- CHÂU TẤN NGHIỆP THỰC TRẠNG NHÂN LỰC VÀ HOẠT ĐỘNG KHÁM CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN VÀ KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN CỦA MỘT SỐ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-
CHÂU TẤN NGHIỆP
THỰC TRẠNG NHÂN LỰC VÀ HOẠT ĐỘNG
KHÁM CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN VÀ KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN CỦA MỘT SỐ BỆNH VIỆN HUYỆN THUỘC TỈNH KIÊN GIANG,
GIAI ĐOẠN 2016 – 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Hà Nội - 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-
CHÂU TẤN NGHIỆP
THỰC TRẠNG NHÂN LỰC VÀ HOẠT ĐỘNG
KHÁM CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN VÀ KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN CỦA MỘT SỐ BỆNH VIỆN HUYỆN THUỘC TỈNH KIÊN GIANG,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý Bệnh viện này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình và hỗ trợ tích cực của các thầy/cô, gia đình và bạn bè
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Thăng Long, phòng sau đại học và Quản lý khoa học Trường Đại học Thăng Long, đã tạo điều kiện
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Trương Việt Dũng và TS Vũ Ngọc Hà luôn động viên, tận tình hướng dẫn từng bước cụ thể và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, lãnh đạo các phòng/khoa của Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Kiên Giang; Trung tâm Y tế các huyện Giồng Riềng; An Biên và Kiên Lương của tỉnh Kiên Giang đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi
có thể hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này
Sau cùng tôi xin dành tình cảm, lòng biết ơn vô hạn gửi đến gia đình và những người bạn thân thiết, đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ và chia sẻ khó khăn trong thời gian tôi học tập để hoàn thành khóa học
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Châu Tấn Nghiệp
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Thăng Long;
- Bộ môn Quản lý Bệnh viện Trường Đại học Thăng Long;
- Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
Tôi tên là: Châu Tấn Nghiệp, học viên lớp Thạc sĩ Quản lý Bệnh viện Khóa 8.1 Trường Đại học Thăng Long, tôi xin cam đoan như sau:
1 Tôi xin cam đoan đề tài Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân
và thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Trương Việt Dũng và TS Vũ Ngọc Hà
2 Đề tài nghiên cứu này không trùng lập với bất kỳ nghiên cứu nào khác được công
bố tại Việt Nam
3 Tất cả số liệu trong luận văn này là trung thực, khách quan và đã được xác nhận
và chấp thuận của đơn vị nơi nghiên cứu
Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm./
Tác giả luận văn
Châu Tấn Nghiệp
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVĐK : Bệnh viện đa khoa
BVYDCT : Bệnh viện y dược cổ truyền
Trang 6MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về nguồn nhân lực 3
1.1.1 Khái niệm và vai trò 3
1.1.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần của hệ thống y tế 4
1.1.3 Tính đặc thù của nguồn nhân lực y tế 4
1.1.4 Quản lý nguồn nhân lực y tế 7
1.2 Tổng quan về y học cổ truyền 8
1.2.1 Khái niệm 8
1.2.2 Vai trò của Y học Cổ truyền trong hệ thống y tế 9
1.2.3 Sử dụng Y học Cổ truyền trong hệ thống y tế các nước 11
1.2.4 Tình hình phát triển của Y học Cổ truyền ở Việt Nam 12
1.3 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt nam 22
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới 22
1.3.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 22
1.4 Khái quát về địa điểm nghiên cứu tại tỉnh Kiên Giang 24
1.4.1 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 24
1.4.2 Thực trạng nhân lực y tế tại tỉnh Kiên Giang 26
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 27
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 29
2.2.2 Nguồn số liệu: 29
2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu 30
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 33
2.4.1 Công cụ thu thập số liệu 33
2.4.2 Quy trình thu thập số liệu 33
Trang 72.5 Xử lý và phân tích số liệu 33
2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số 33
2.7 Đạo đức nghiên cứu 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Thông tin chung về địa cư và dân số 34
3.2 Thực trạng nhân lực Y học cổ truyền của Bệnh viện Y dược cổ truyền tỉnh Kiên Giang và ba Trung tâm y tế huyện thuộc tỉnh Kiên Giang 35
3.2.1 Số lượng nhân lực Y học cổ truyền của Bệnh viện Y dược cổ truyền và ba Trung tâm y tế huyện 35
3.2.2 Cơ cấu nhân lực Y học cổ truyền của Bệnh viện Y dược cổ truyền và ba Trung tâm y tế huyện 37
3.2.3 Tình hình nhân lực lâm sàng Y học cổ truyền trong giai đoạn 2016 – 2020 40
3.2.4 Các chỉ số nguồn nhân lực Y học cổ truyền 40
3.3 Hoạt động khám chữa bệnh tại Bệnh viện Y dược cổ truyền tỉnh Kiên Giang và khoa Y học cổ truyền của ba Trung tâm y tế huyện thuộc tỉnh Kiên Giang 44
3.3.1 Khả năng đáp ứng và tình trạng hoạt động khám, chữa bệnh 44
Chương 4:BÀN LUẬN 51
4.1 Thông tin chung về địa cư và dân số của 4 địa bàn nghiên cứu 51
4.2 Thực trạng nhân lực y học cổ truyền của Bệnh viện Y Dược cổ truyền và 3 Khoa của 3 Trung tâm y tế huyện 51
4.2.1 Về số lượng nguồn nhân lực Y học cổ truyền 51
4.2.2 Về cơ cấu nguồn nhân lực Y học cổ truyền 52
4.2.3 Tình hình nhân lực Y học cổ truyền ở lâm sàng trong giai đoạn (2016 – 2020) 54 4.2.4 Các chỉ số nguồn nhân lực Y học cổ truyền 55
4.3 Thực trạng hoạt động khám chữa bệnh của Bệnh viện Y dược cổ truyền và 3 khoa YHCT của 3 Trung tâm y tế huyện 57
4.3.1 Khả năng đáp ứng và tình trạng hoạt động khám bệnh, chữa bệnh 57
4.3.2 Tình trạng sử dụng dịch vụ Y học cổ truyền 61
KẾT LUẬN 64
KHUYẾN NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ
1 DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng NVYHCT giai đoạn 2016 - 2020 35
Bảng 3 2 Nhân lực YHCT của BV YDCT Kiên Giang giai đoạn 2016 - 2020 37
Bảng 3.3 Nhân lực YHCT của TTYT huyện Giồng Riềng giai đoạn 2016 - 2020 38
Bảng 3.4 Nhân lực YHCT của TTYT huyện Kiên Lương giai đoạn 2016 - 2020 39
Bảng 3.5 Nhân lực YHCT của TTYT huyện An Biên giai đoạn 2016 - 2020 39
Bảng 3.6 Nhân lực lâm sàng ở BVYDCT Kiên Giang và các TTYT huyện 40
Bảng 3.7 Tỷ lệ nhân lực YHCT/giường bệnh và Điều dưỡng, Y sĩ/Bác sĩ 40
Bảng 3.8 Tỷ lệ Bác sĩ/giường bệnh và tỷ lệ Điều dưỡng và Y sĩ / giường bênh 41
Bảng 3.9 Số người bệnh nội trú và ngoại trú 42
Bảng 3.10 Trung bình số người bệnh nội trú/Bác sĩ 43
Bảng 3.11 Trung bình số người bệnh nội trú / Điều dưỡng và Y sĩ 43
Bảng 3.12 Trung bình lượt khám ngoại trú/bác sĩ 43
Bảng 3.13 Số giường bệnh 44
Bảng 3.14 Công suất sử dụng giường bệnh 44
Bảng 3.15 Tổng số ngày điều trị nội trú 45
Bảng 3.16 Số ngày điều trị trung bình 45
Bảng 3.17 Số kỹ thuật được thực hiện 46
Bảng 3.18 Các loại kỹ thuật được thực hiện theo các năm 47
Bảng 3.19 Các dạng thuốc được sử dụng trong điều trị nội trú 48
Bảng 3.20 Các dạng thuốc được sử dụng trong điều trị ngoại trú 49
2 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Diện tích của Tp Rạch Giá và các huyện 34
Biểu đồ 3.2 Dân số của Tp Rạch Giá và các huyện theo năm 34
Biểu đồ 3.3 Mật độ dân số của Tp Rạch Giá và các huyện theo năm 35
Biểu đồ 3 4 Tỷ lệ sử dụng các dạng thuốc điều trị người bệnh nội trú 48
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ các dạng thuốc sử dụng điều trị ngoại trú 49
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ kết quả điều trị 50
Trang 93 DANH MỤC BẢN ĐỒ
Bản đồ 3 1 Bản đồ vị trí Bệnh viện y dược cổ truyền Kiên Giang 27
Bản đồ 3 2 Bản đồ vị trí Trung tâm y tế huyện Giồng Riềng 28
Bản đồ 3 3 Bản đồ vị trí Trung tâm y tế huyện Kiên Lương 28
Bản đồ 3 4 Bản đồ vị trí Trung tâm y tế huyện An Biên 29
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có nền Y học cổ truyền lâu đời Trước khi nền Y học hiện đại (YHHĐ) thâm nhập vào Việt Nam, Y học cổ truyền (YHCT) là hệ thống y dược duy nhất, có vai trò và tiềm năng to lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân [2]
Con người là thành tố quan trọng của mọi tổ chức, cơ quan nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu đã đề ra Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản cho mọi thành tựu y tế [10]
Trung tâm Y tế (TTYT) huyện là một mắt xích trọng yếu trong mạng lưới khám chữa bệnh, là cấp trung chuyển giữa y tế tuyến Tỉnh với y tế cơ sở TTYT huyện chính là nơi đầu tiên tiếp nhận điều trị nội trú với các kỹ thuật cơ bản và các bệnh thông thường TTYT huyện là cơ sở khám chữa bệnh gần dân nhất, cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh cơ bản nhất, thuận tiện nhất Tuy nhiên trên thực tế tỷ lệ người dân đến khám chữa bệnh bằng YHCT tại TTYT huyện chưa cao trong khi đó tỷ lệ bệnh nhân phải chuyển tuyến trong quá trình điều trị nội trú tại bệnh viện tỉnh là khá cao Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này, trong đó có lý do về sự lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh của người dân,
có lý do về cơ sở hạ tầng, có lý do về trang thiết bị y tế, nguồn lực đầu tư cho các hoạt động khám chữa bệnh, có lý do về trình độ chuyên môn, khả năng xử trí của cán bộ Y tế trong chẩn đoán và điều trị
Hiện nay tổng số công chức, viên chức và người lao động thuộc ngành y tế tại Kiên Giang là gần 7.000 người, trong đó chuyên ngành YHCT gổm 01 Bệnh viện chuyên khoa hạng II tuyến tỉnh và 15 Khoa YHCT của các TTYT huyện, tổng số nhân lực 479 người (trong đó trình độ trên đại học 50 người, đại học 92 người, cao đẳng 11 người, trung cấp
307, nhân viên khác 19 người
Trong Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020 có mục tiêu đến năm 2020 tỷ lệ khám chữa bệnh bằng YHCT tại tuyến huyện đạt 30%
Câu hỏi đặt ra là: Nhân lực sẵn có tại Bệnh viện chuyên khoa YHCT và các khoa YHCT tại TTYT huyện để phục vụ cho mục tiêu trên hiện nay ra sao? Trình độ viên chức, người lao động có đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) bằng YHCT của người dân không Người dân có tin vào hoạt động YHCT của tỉnh Kiên Giang hay không
Trang 11hành nghiên cứu đề tài “Mô tả thực trạng nhân lực và hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện y dược cổ truyền và khoa y học cổ truyền của một số bệnh viện huyện thuộc tỉnh Kiên Giang, giai đoạn 2016 – 2020” với 2 mục tiêu:
Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng nhân lực Y học cổ truyền của Bệnh viện Y dược cổ
truyền tỉnh Kiên Giang và khoa Y học cổ truyền của một số bệnh viện huyện thuộc tỉnh Kiên Giang
Mục tiêu 2: Mô tả hoạt động khám chữa bệnh tại Bệnh viện Y dược cổ truyền
tỉnh Kiên Giang và khoa Y học cổ truyền của một số bệnh viện huyện thuộc tỉnh Kiên Giang
Trang 12Chương 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về nguồn nhân lực
1.1.1 Khái niệm và vai trò
Khái niệm
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực”
- Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức [4]
- Nguồn nhân lực: Bao gồm tất cả các cán bộ y tế (CBYT) làm việc tại TTYT huyện Theo quy chế của Bộ Y tế (BYT) hiện nay BVH cần 1,1 – 1,2 CBYT/1 giường bệnh [8] Cơ cấu CBYT của TTYT huyện phải hợp lý Tuy nhiên nhiều TTYT huyện ở nước ta hiện nay vẫn chưa đáp ứng được mức này, hơn nữa trình độ chủ yếu là trung học và sơ học (CBYT trung học chiếm 53,63% và sơ học chiếm 10,6% CBYT huyện),
tỷ lệ cán bộ đại học còn thấp 22,3%, đặc biệt trên đại học rất ít 0,2% [9]
- Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ” Theo đó, nhân lực
y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lang y ); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp)
Trang 13 Vai trò
Nguồn nhân lực y tế đóng vai trò trung tâm trong việc cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ và chất lượng chăm sóc Các chính sách của nhà nước trong lĩnh vực y tế có đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn hay không, việc thực hiện các chính sách ấy có hiệu quả hay không, có phát huy được tác dụng hay không… phụ thuộc vào năng lực, phẩm chất, đạo đức của nguồn nhân lực y tế [4], [11]
1.1.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần của hệ thống y tế
Theo WHO, hệ thống y tế có 6 thành phần cơ bản: Tài chính; Nhân lực; Thông tin; Sinh phẩm và công nghệ y tế; Cung ứng dịch vụ y tế và Quản lý điều hành [10]:
- Trong đó Nhân lực y tế được coi là một thành phần cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống
- Phát triển nguồn nhân lực không chỉ thông qua đào tạo, mà còn sử dụng, quản
lý một cách phù hợp để cung cấp hiệu quả các dịch vụ y tế đến người dân
- Cần có một mô hình tổ chức và chức năng của các thành phần của hệ thống cung ứng dịch vụ để biết được nhu cầu về quy mô và cơ cấu nhân lực y tế như thế nào, ngược lại, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế phụ thuộc mật thiết vào mô hình tổ chức và
cơ cấu nhân viên y tế (NLYT)
- Hệ thống thông tin y tế cũng phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, tin cậy cho việc lập kế hoạch và sử dụng nhân lực đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe (CSSK) của nhân dân, đồng thời giúp phát hiện những vấn đề của nguồn nhân lực như phân bổ không hợp lý, năng lực không phù hợp để đáp ứng yêu cầu CSSK từ phía người dân và cộng đồng, hoặc phát hiện và phân tích tần suất sai sót chuyên môn để khắc phục
- Cấp tài chính cho NLYT cũng phải đảm bảo cho công tác đào tạo mới và đào tạo liên tục CBYT, đủ để trả lương và chính sách khuyến khích ở mức đảm bảo được cuộc sống cho CBYT, tạo ra động lực khuyến khích CBYT làm việc có chất lượng và sẵn sàng làm việc ở các miền núi, vùng sâu, vùng xa, hoặc trong các môi trường, chuyên ngành độc hại, nguy hiểm
1.1.3 Tính đặc thù của nguồn nhân lực y tế
Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị đã nêu rõ: “ Nghề
y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt…”
Trang 14Để đổi mới quản lý nhà nước về nguồn nhân lực y tế (NLYT), cần có nhận thức đúng
về tính đặc thù của nguồn NLYT [2]
- Hoạt động của ngành y tế liên quan trực tiếp đến sức khỏe nhân dân, tính mạng người bệnh và đòi hỏi nhiều lao động: Nguồn nhân lực trong ngành y tế có vai trò quan trọng vì liên quan trực tiếp đến tính mạng người bệnh, sức khỏe của nhân dân, chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Việc cung ứng các dịch vụ y tế theo từng người bệnh về bản chất đòi hỏi sử dụng nhiều lao động Trong cung ứng mỗi dịch vụ y tế, ít nhất cần có sự tiếp xúc riêng trực tiếp giữa nhân viên y tế và người bệnh Trong những ca phức tạp có thể cần tới cả một kíp nhân viên y tế với các thành phần khác nhau dành riêng cho việc chăm sóc một người bệnh Thậm chí có những ca đơn giản nhưng vẫn cần hàng loạt các dịch vụ kỹ thuật, chuyên môn khác nhau phối hợp chăm sóc cho một người bệnh Vì vậy, bản chất của việc cung ứng dịch vụ y tế đòi hỏi một lực lượng nhân lực đủ lớn, và bất chấp nguồn chi trả, tỷ lệ tương đối lớn ngân sách CSSK cần được dành cho nhân lực y tế Việc đầu
tư cho nguồn NLYT có ý nghĩa về mặt kinh tế và xã hội, cũng như việc đầu tư vào lĩnh vực khác, khi đầu tư vào NLYT cần bảo đảm nguồn lực này được sử dụng hợp lý và tránh lãng phí Nhân lực trong ngành y tế thường phải làm việc với cường độ lớn (đôi khi liên tục 24/24 giờ, nhất là ở các bệnh viện quá tải), môi trường làm việc độc hại (dịch bệnh, truyền nhiễm, phóng xạ,…) Chính vì thế họ cần được đãi ngộ đặc biệt
- Giáo dục và đào tạo NLYT cần sự đầu tư lớn, sự phối hợp chặt chẽ và có kế hoạch: Vì quy mô NLYT rất lớn, khoản đầu tư vào các cơ sở đào tạo NLYT cũng phải rất lớn để duy trì quy mô và đáp ứng nhu cầu gia tăng theo dân số Thêm vào vấn đề quy
mô, đội ngũ nhân lực rất lớn, việc đào tạo CBYT, và đặc biệt là đội ngũ bác sỹ, cần một khoảng thời gian rất dài với sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ và rất tốn kém Ví như một Bác sỹ phải qua 6 năm đào tạo mới có được kiến thức cơ bản và phải mất vài năm dưới
sự kèm cặp của các bác sỹ kinh nghiệm khác trong các CSYT mới có đủ năng lực để hành nghề có hiệu quả Với một số chuyên ngành/chuyên khoa thì thời gian đào tạo và thực hành thậm chí còn lâu hơn Các cơ sở đào tạo và giáo viên cần tính đến không chỉ nhu cầu CSSK, phòng bệnh hiện nay, mà còn phải tính đến xu hướng nhu cầu trong tương lai Tuy nhiên, do sự tăng trưởng và già hóa dân số, sự biến đổi về kinh tế, xã hội,
sự xuất hiện của các bệnh mới và tái phát bệnh cũ, nên nhu cầu CSSK về mặt quy mô
Trang 15và cơ cấu đang thay đổi nhanh chóng Để đáp ứng với những thay đổi nhanh chóng và cung cấp dịch vụ y tế, trang thiết bị, thuốc và vật tư tiêu hao y tế phù hợp nhằm đáp ứng với nhu cầu CSSK hiện nay và trong tương lai, đòi hỏi sự hợp tác, phối hợp và xây dựng
kế hoạch lâu dài giữa hai ngành giáo dục và y tế Các phương pháp phòng và chữa bệnh cũng có tiến bộ nhanh chóng Sự phát triển không ngừng của công nghệ và kỹ thuật trong y tế đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải thường xuyên cập nhật chương trình giảng dạy
và những người hành nghề y phải liên tục nâng cao kiến thức và kỹ năng của mình trong suốt đời làm việc
- Lợi thế của thị trường có một phần không phù hợp với bản chất của lĩnh vực y tế: Những bất cập về thị trường ảnh hưởng tới NLYT gồm sự mất cân xứng trong kiến thức và thông tin giữa người cung ứng dịch vụ và người bệnh, tính cạnh tranh yếu giữa các cơ sở và người cung cấp dịch vụ y tế, và tính chất hàng hóa/phúc lợi công cộng của dịch vụ y tế Đối với nguồn NLYT, bất cập lớn nhất ảnh hưởng đến khả năng áp dụng quy luật thị trường trong cung cấp dịch vụ y tế liên quan đến sự chênh lệch về nhận thức tồn tại giữa nhân viên y tế và người bệnh Chênh lệch này tạo nên tình trạng lợi thế cho nhân viên y tế và được gọi là “thông tin không đối xứng”, theo đó người bệnh không biết người cung cấp dịch vụ y tế cho mình có đạt các tiêu chuẩn năng lực chuyên môn hay không Vấn đề này có thể được khắc phục một phần thông qua hệ thống cấp chứng chỉ hành nghề
- Rủi ro và sự không chắc chắn: Tình hình sức khỏe và các can thiệp y tế có thể xảy ra rủi ro và sự không chắc chắn Bệnh nhân không thể biết gặp ai khám để được chữa trị tốt nhất, hoặc không thể biết đâu là phương pháp chữa trị tốt nhất Những người khám bệnh cũng không thể chẩn đoán bệnh chính xác mọi lúc, hoặc biết chính xác mỗi
BN sẽ phản ứng như thế nào đối với phương pháp điều trị Mặc dù sự không chắc chắn
là không thể tránh được, các thầy thuốc hay lờ đi tầm quan trọng của nó Cách mà các thầy thuốc phản ứng lại với sự không chắc chắn trong chẩn đoán và điều trị, những chất vấn của người bệnh và thân nhân về cách hành nghề có thể tác động xấu tới quá trình ra quyết định phức tạp này, dẫn đến chỉ định quá nhiều dịch vụ chẩn đoán nhằm giảm đến mức tối thiểu mọi sự không chắc chắn Bản chất không chắc chắn nói trên đòi hỏi tăng các cơ hội chia sẻ kinh nghiệm lâm sàng, nhưng cũng đòi hỏi giám sát và điều tra khi
Trang 16nào có tai biến xảy ra nhằm rút kinh nghiệm và giúp cải tiến quá trình ra quyết định của các thầy thuốc đang đối mặt với nhiều sự không chắc chắn
- NLYT có đặc thù riêng về đạo đức nghề nghiệp: Ở Việt Nam, ngành y tế lúc nào cũng nhắc đến lời dạy của Bác Hồ “Lương y như từ mẫu” Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng phát biểu về đặc trưng của nghề y: “Ít có nghề nào mà xã hội đòi hỏi về phẩm chất và tài năng cao như đối với người làm công tác y tế Ðó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi hiểu biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, sự từng trải và kinh nghiệm, một nghề mà mọi công việc dù là nhỏ, đều có liên quan đến tính mạng con người và hạnh phúc gia đình… Nghề y là một nghề cao quý, được xã hội tôn trọng trước hết bởi vì có nhiệm vụ chữa bệnh cứu người, bảo vệ sự sống và nâng cao sức khỏe của nhân dân Đó là một nghề đòi hỏi phải có lòng nhân ái, dám chịu vất vả, hy sinh để cứu người, tôn trọng nhân phẩm
và quyền lợi BN, thực hiện các quy tắc ứng xử có trách nhiệm và không phân biệt đối xử Tuy nhiên, kỳ vọng rất cao của xã hội đối với người thầy thuốc cả về chất lượng
và đạo đức lại bị đe dọa bởi áp lực rất lớn từ bất cập của thị trường, các quy định và chế tài chưa đầy đủ để đảm bảo các chuẩn mực cao về y đức và chất lượng chăm sóc y tế tốt cho mọi người, không phụ thuộc vào khả năng chi trả
- Đặc điểm phức tạp của nguồn NLYT cần có sự can thiệp của Chính phủ Đặc thù của ngành y tế cần sử dụng nhiều lao động và nhu cầu đầu tư lớn cho nguồn NLYT, bao gồm các nhu cầu đầu tư liên tục để duy trì, nâng cao kiến thức và kỹ năng đáp ứng được nhu cầu CSSK ngày càng cao của nhân dân, đòi hỏi phải có sự quan tâm của Chính phủ trong việc lập kế hoạch và điều phối nguồn NLYT nhiều hơn là đối với nguồn nhân lực ở các ngành khác
1.1.4 Quản lý nguồn nhân lực y tế
Khái niệm quản lý nguồn nhân lực
Có nhiều cách hiểu về quản lý nhân lực (QLNL), theo WHO- Khu vực Tây Thái Bình Dương (WPRO) “QLNL là một quá trình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến nhân lực hoàn thành tốt công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối ưu về số lượng, cơ cấu và phân bổ nhân lực với chi phí hiệu quả nhất phù hợp với mức chi phí hợp lý [14]
Trang 17Quản lý nguồn nhân lực là quản lý con người ở một tổ chức, một công ty, một doanh nghiệp Điều này bao gồm tất cả các chính sách, các điều lệ, các tiêu chuẩn tuyển chọn, huấn luyện, đánh giá và trả công cho nhân viên, kể cả các quan tâm về công bằng, phúc lợi, sức khỏe và an toàn lao động [15]
Quản lý nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong các tổ chức tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản: sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực; đáp ứng nhu cầu này càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất và trung thành tận tâm với tổ chức [16]
Vai trò của quản lý nhân lực tại các cơ sở y tế
Trong hệ thống y tế, quản lý nhà nước (QLNL) là bất kỳ hoạt động nào, một hệ thống hoặc chính sách nào dẫn đến việc đào tạo (kỹ năng, kiến thức và thái độ); sử dụng cán bộ, bố trí và phân công nhiệm vụ có hiệu quả góp phần tăng cường sức khỏe cộng đồng
QLNL y tế là tìm được NVYT với những kỹ năng thích hợp cho những vị trí công tác phù hợp, nhằm sử dụng, thúc đẩy phát triển và duy trì một lực lượng lao động làm việc có hiệu suất cao trong tổ chức [17]
Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức, quyết định thành bại của tổ chức QLNL đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức và giúp
tổ các tổ chức tồn tại và phát triển Các cơ sở y tế, các nhà quản lý y tế nếu không chú ý đến quản lý và phát triển nhân lực đúng mức sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ của cơ
sở mình, vì thế nhiệm vụ QLNL cần được coi trọng [18]
1.2 Tổng quan về y học cổ truyền
1.2.1 Khái niệm
Y học cổ truyền có một lịch sử lâu dài Đó là tổng hợp các tri thức, kỹ năng và thực hành trên cơ sở những lý thuyết, đức tin và kinh nghiệm bản địa của những nền văn hóa khác nhau, có thể giải thích được hoặc không, được sử dụng để duy trì sức khỏe, cũng như trong dự phòng, chẩn đoán, cải thiện hoặc điều trị bệnh tật về thể chất và tinh thần [19]
Trang 181.2.2 Vai trò của Y học Cổ truyền trong hệ thống y tế
Trên khắp thế giới, YHCT là chỗ dựa chính hoặc như một thành phần bổ sung cho cung ứng chăm sóc sức khỏe Nghị quyết của Đại hội đồng Y tế Thế giới (WHO)
về Y học cổ truyền (WHA62.13), được thông qua năm 2009, yêu cầu Tổng giám đốc WHO phải cập nhật Chiến lược Y học cổ truyền, trên cơ sở tiến bộ của các quốc gia và những thách thức mới hiện nay trong lĩnh vực y học cổ truyền YHCT là một bộ phận quan trọng và thường chưa được đánh giá đúng mức trong dịch vụ y tế YHCT từ lâu đã được sử dụng để duy trì sức khỏe, dự phòng và điều trị bệnh, nhất là bệnh mạn tính [19]
Nói đến vấn đề phát triển YHCT, trước hết phải nói tới Trung Quốc, nơi phát triển bước đầu của YHCT nhân loại Với trên 3000 năm lịch sử, người Trung Quốc đã
để lại một kho tàng lớn về cơ sở lý luận cũng như các phương pháp điều trị sử dụng thuốc và không sử dụng thuốc theo YHCT cho nhân loại Không những thế, hiện nay Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện thành công những chiến lược phát triển, hiện đại hoá nền YHCT: xây dựng nhiều cơ sở nghiên cứu về YHCT nhằm bảo tồn và phát huy những kinh nghiệm người xưa để lại, vì thế chất lượng KCB bằng YHCT càng ngày càng được nâng cao Hiện nay, dịch vụ CSSK dựa trên cơ sở YHCT ở Trung Quốc đã đạt hơn 40%, cứ một hiệu thuốc tân dược có 1,1 hiệu thuốc YHCT [20, 21]
Bên cạnh đó, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng là hai quốc gia có nền YHCT phát triển, YHCT được ứng dụng rộng rãi và phát triển thành mạng lưới về các vùng địa phương, phục vụ hiệu quả cho việc KCB cho nhân dân Trong khu vực Đông Nam Á, các nước như Indonesia, Malaysia, Thái Lan,… cũng là các nước có truyền thống về YHCT Sau một thời gian lãng quên, vai trò của YHCT đang dần dần được khôi phục
và phát triển Mạng lưới sử dụng YHCT trong cộng đồng có vị trí quan trọng trong hệ thống Y tế quốc gia, tham gia CSSK nhân dân: cứ một hiệu thuốc tân dược có 0,6 hiệu thuốc YHCT (Nhật Bản) hoặc 0,7 (Hàn Quốc) [22]
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người ta ngày càng nhận ra vai trò quan trọng của việc sử dụng YHCT trong CSSK Nhiều nghiên cứu đã cho thấy hiệu quả thực sự của các phương pháp điều trị bằng YHCT Chính vì thế, nhiều quốc gia đã đặt ra vấn đề kết hợp YHCT và Y học hiện đại (YHHĐ) vào trong hệ thống CSSK nhân dân Không chỉ các nước Châu Á và các nước nghèo mà ngay cả những nước phát triển, YHCT cũng được sử dụng rộng rãi Theo thống kê của Tổ chức y tế Thế giới (WHO)
Trang 19cho thấy: 70% dân số Canada, 48% dân số Australia, 42% dân số Mỹ và 12 38% dân số Pháp sử dụng các phương pháp điều trị YHCT [20]
Và khi nói đến sự phát triển của YHCT phải nói đến sự tham gia tích cực của các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên
và Việt Nam trong việc kết hợp hai nền y học đó Cũng theo WHO, chi phí cho các biện pháp điều trị bằng YHCT ở các quốc gia rất khác nhau Ở các nước phát triển, chi phí điều trị bằng các phương pháp YHCT thường cao hơn so với phương pháp YHHĐ do
đó những người có thu nhập thấp ít có cơ hội tiếp cận với YHCT Ở Malaysia, theo một điều tra sơ bộ của WHO, chi phí dành cho thuốc YHCT là 500 triệu USD, trong khi chi phí cho thuốc y học hiện đại là 300 triệu USD, tại Canada là 2,4 triệu USD, tại Australia
là 80 triệu USD, tại Anh là 2,3 tỷ USD và chi phí đó tại Mỹ lên đến 2,7 tỷ USD trong một năm Nhưng ở các nước chậm phát triển, đặc biệt là các quốc gia thuộc Châu Phi với nguồn dược liệu sẵn có trong tự nhiên, việc sử dụng YHCT đã mang lại nhiều hiệu quả trong điều trị, tiện lợi và phù hợp với khả năng chi trả của người bệnh Tuy nhiên,
ở các nước nghèo, chi phí cho các chương trình, các chiến lược phát triển hệ thống YHCT còn thấp, do đó việc sử dụng an toàn các phương pháp điều trị YHCT, bảo tồn
và ứng dụng YHCT trong hệ thống CSSK cộng đồng còn hạn chế và chưa thực sự được
tổ chức thành mạng lưới rộng rãi [20, 22]
Trong nhiều năm nghiên cứu, WHO đã đưa ra khuyến cáo chung cho các nước trên thế giới về việc điều trị kết hợp YHCT và YHHĐ trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng với ba mục tiêu chung: Một là, kết hợp YHCT và YHHĐ để phát triển và hoàn thiện các chương trình, chính sách y tế quốc gia Hai là, đảm bảo sử dụng YHCT trong
đó có cả sử dụng thuốc YHCT an toàn, hiệu quả và phù hợp Ba là, tổ chức nghiên cứu, thu thập những kinh nghiệm, sử dụng các biện pháp điều trị bằng YHCT, duy trì và bảo tồn nền YHCT của các quốc gia Cải thiện các phương pháp điều trị bằng YHCT Việc thực hiện khuyến cáo của WHO được tiến hành đến đâu và hiệu quả thế nào phụ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia Tuy nhiên một yêu cầu luôn được đặt ra đối với các nước là phải có những chính sách tổ chức và quản lý phù hợp để thực hiện các mục tiêu
đó [20]
Trang 201.2.3 Sử dụng Y học Cổ truyền trong hệ thống y tế các nước
Các hình thức hoạt động của YHCT trên mỗi nước rất đa dạng và khác nhau Các phương pháp điều trị và chi phí giữa các nước có phần chênh lệch, tùy theo điều kiện kinh
tế và văn hóa xã hội ở mỗi quốc gia Ở các nước phát triển, chi phí điều trị bằng các phương pháp YHCT thường cao hơn so với YHHĐ, do những người có thu nhập thấp ở các nước này ít có cơ hội tiếp cận với YHCT Ở Malaysia theo một điều tra của WHO chi phí dành cho thuốc YHCT là 500 triệu USD, trong khi đó chi phí cho thuốc YHHĐ là 300 triệu USD, tại Canada là 2,4 triệu USD, tại Australia là 80 triệu USD, tại Anh là 2,3 tỷ USD, tại Mỹ là 2,7 tỷ USD trong một năm Nhưng ở các nước đang phát triển việc sử dụng YHCT được phổ cập nhiều hơn và tầng lớp thu nhập thấp ở các nước này được tiếp cận nhiều hơn với YHCT, tuy nhiên ở các nước nghèo chi phí cho các chương trình, các chiến lược phát triển hệ thống YHCT còn thấp, do đó việc sử dụng an toàn các phương pháp điều trị YHCT, bảo tồn và ứng dụng YHCT trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng còn hạn chế và chưa thực sự được tổ chức thành mạng lưới rộng rãi [23]
Trên thế giới, Trung Quốc là nơi sử dụng phương pháp chữa bệnh bằng YHCT chiếm tỷ lệ nhiều nhất Trung Quốc có một nền YHCT lâu đời, có một hệ thống lý luận riêng biệt Sự phát triển của YHCT tại Trung Quốc là một mô hình tiêu biểu, gây ảnh hưởng lớn đến nhiều quốc gia trên thế giới như: Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam… [24]
Từ năm 2000 đến nay, 80% các bệnh viện ở Trung Quốc sử dụng thuốc YHCT trong công tác khám và chữa bệnh [25] Hiện nay dịch vụ CSSK bằng YHCT ở Trung Quốc
đã đạt đến 40%, cứ mỗi hiệu thuốc tân dược thì có một hiệu thuốc YHCT [26, 27] Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện những chính sách, chiến lược phát triển song song YHHĐ
và YHCT, nhằm nâng cao và bảo tồn chất lượng khám chữa bệnh, đây cũng là một trong những yếu tố để thực hiện hiện đại hóa nền YHCT Các thầy thuốc YHHĐ được đào tạo thêm về YHCT, các thầy lang cổ truyền được đào tạo thêm về YHHĐ, họ được tham gia các chương trình Y tế của Nhà nước và được công nhận một cách chính thức [28] Năm 1995, Trung Quốc đã có 2.522 bệnh viện YHCT với 353.373 nhân viên y tế và 236.060 giường bệnh Tại những bệnh viện này, hàng năm điều trị 200 triệu bệnh nhân ngoại trú và 3 triệu bệnh nhân nội trú Đồng thời 95% các bệnh viện ở Trung Quốc có khoa YHCT [30] Hiện nay có nhiều Bệnh viện, viện trong các trường đại học lớn như các Bệnh viện: Đại học Đông y dược Thiên Tân, Đông Tây y, Đông y Bắc Kinh, Tây
Trang 21Phạm – Viện Khoa học Đông y Trung Quốc, Vọng Kinh – Viện Khoa học Đông y Trung Quốc, Đông y thành phố Thượng Hải, Đại học Đông y dược Thành Đô, đại học Đông y dược Thiên Tân, các viện Đông y tỉnh Chiết Giang, tỉnh Quảng Đông, tỉnh Cam Thúc…[31]
Theo thống kê của WHO hiện nay, tỷ lệ số người sử dụng YHCT trong CSSK và điều trị bệnh ngày càng tăng, không chỉ ở Trung Quốc, mà còn ở các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á, Châu Phi… Ở Trung Quốc, chi phí cho
sử dụng YHCT khoảng 10 tỷ USD, chiếm 40% tổng chi phí của ngành y tế; Nhật Bản khoảng 1,5 tỷ USD; Hàn Quốc khoảng trên 500 triệu USD Nhật Bản cũng được xem là một trong những nước sử dụng YHCT cao trên thế giới Thuốc cổ truyền Nhật Bản là
sự kết hợp giữa thuốc YHCT Trung Quốc và thuốc dân gian Nhật Bản gọi chung là Kampo Kampo khá an toàn và thích hợp với những người cao tuổi Có ít nhất 65% bác
sĩ ở Nhật Bản đã khẳng định rằng họ đã sử dụng phối hợp đồng thời thuốc YHCT và 7 thuốc YHHĐ [32, 33] Lý do giải thích là Kampoo không gây phản ứng , không gây tác dụng phụ, ngoài ra y học Kampoo còn đáp ứng các yếu tố tâm linh và tinh thần của người Nhật Một số bài thuốc Kampoo dự định áp dụng có bệnh nhân phải qua 2 giai đoạn: giai đoạn 1 tất cả bệnh nhân được cho sử dụng và những người có đáp ứng với thuốc được lựa chọn, giai đoạn 2 một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng chỉ bao gồm những người bệnh nhân có đáp ứng với thuốc được tiến hành trên và đánh giá tác dụng của thuốc Kampoo không nằm trong hệ thống nhà nước nhưng được khuyến khích phát triển và Nhật Bản là nước có tỷ lệ người dân sử dụng YHCT cao nhất thế giới [34]
1.2.4 Tình hình phát triển của Y học Cổ truyền ở Việt Nam
1.2.4.1 Tình hình Y học Cổ truyền ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia được đánh giá là có tiềm năng phát triển về YHCT Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, ông cha ta đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm về khám và chữa bệnh bằng YHCT Việt Nam có nhiều danh y không những nổi 14 tiếng trong nước mà còn được lưu danh trên thế giới như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông -
Lê Hữu Trác…
Trước khi nền YHHĐ thâm nhập vào Việt Nam, YHCT là hệ phương pháp khám chữa bệnh duy nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc khám chữa bệnh cho nhân dân
Trang 22Những kinh nghiệm về YHCT được lưu truyền trong dân gian hoặc được truyền từ thế
hệ này qua thế hệ khác trong các gia đình làm nghề thuốc
Sự phát triển của YHCT còn mang tính chất địa phương, cục bộ, chưa được tổ chức có hệ thống Vì vậy, việc sử dụng YHCT trong CSSK nhân dân còn nhiều hạn chế
về hiệu quả cũng như chất lượng KCB Khi nền YHHĐ thâm nhập vào Việt Nam, sự tiến bộ nhanh chóng và những thành tựu trong việc KCB bằng những phương pháp YHHĐ đã làm cho YHCT có lúc bị gạt ra khỏi vị trí trước đây
Trên thực tế và trong nhiều nghiên cứu đã chứng minh được giá trị của YHCT trong việc khám và chữa bệnh và trong toàn bộ hệ thống CSSK cộng đồng của quốc gia
Vì thế nhu cầu khám chữa bệnh bằng YHCT của người dân càng ngày càng cao hơn Trước tình hình đó, nền YHCT của Việt Nam đang đứng trước thách thức: nâng cao tổ chức và chất lượng dịch vụ KCB bằng YHCT Trong những năm của thập kỷ 70 và những năm đầu của thập kỷ 80, Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới khám, chữa bệnh bằng YHCT từ trung ương đến địa phương Tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều có bệnh viện YHCT; trên 90% các bệnh viện YHHĐ có khoa YHCT
Tuy nhiên vào những năm cuối của thập kỷ 80 và những năm đầu của thập kỷ 90, thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, do ảnh hưởng bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường
mà ngành y tế cũng như một số ngành khác chưa chuyển đổi kịp nên số trạm y tế xã, phường có hoạt động YHCT trong cả nước giảm mạnh, trung bình cả nước chỉ còn 12%
số trạm y tế xã, phường còn hoạt động khám, chữa bệnh bằng YHCT [35]; [36]; [37]
Đánh giá cao vai trò và tiềm năng của nền YHCT trong sự nghiệp chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe nhân dân, Đảng và Nhà nước đã cho thành lập Hội Đông y Việt Nam, Bệnh viện YHCT Trung Ương và Cục Quản lý Y, Dược Cổ Truyền - Bộ Y tế [28] nhằm mục đích đoàn kết giới Lương y, những người hành nghề đông y với 15 người hành nghề Tây
y thực hiện đường lối “Kế thừa, phát huy, phát triển YHCT, kết hợp với YHHĐ, xây dựng nền y học Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng” [35]
Thực hiện đường lối đó, trong hơn 20 năm, ngành y tế đã đạt được những thành tựu quan trọng như: đã đưa y dược học cổ truyền vào hệ thống tổ chức y tế từ Trung ương đến địa phương, đến tận tuyến y tế cơ sở; đã đào tạo được đội ngũ cán bộ bác sỹ YHCT có trình độ về cả YHHĐ; tổ chức thu thập, bảo tồn và kế thừa những kinh nghiệm KCB bằng YHCT trong dân gian Tuy số cơ sở YHCT còn ít trong khi nhu cầu và số
Trang 23lượng BN khám và điều trị ngày một tăng, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa Chất lượng chẩn đoán và điều trị bằng YHCT càng được nâng cao [38]; [39]
Tuy nhiên, việc kết hợp YHCT và YHHĐ còn gặp nhiều khó khăn như: quan điểm và nhận thức của CBYT nhất là một bộ phận cán bộ lãnh đạo, về vấn đề kết hợp hai nền y học còn chưa thống nhất; hệ thống tổ chức YHCT chưa phát triển đồng bộ; đội ngũ cán bộ Y, Bác sỹ chuyên khoa về YHCT còn ít, đặc biệt là ở các tỉnh nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; việc sử dụng Bác sỹ chuyên khoa còn chưa hợp lý, trình
độ chung của Bác sỹ chuyên khoa chưa cao; công tác nghiên cứu, ứng dụng YHCT và kết hợp YHCT - YHHĐ còn tiến hành chậm và chưa có hiệu quả; cơ sở vật chất, kinh phí và trang thiết bị kỹ thuật của các bệnh viện YHCT còn quá nghèo nàn dẫn tới chất lượng chẩn đoán và điều trị tại các cơ sở, bệnh viện YHCT chưa cao [40]
1.2.4.2 Chính sách và hệ thống Y học Cổ truyền
Các chính sách về phát triển YHCT Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng việc phát triển YHCT và chủ trương kế thừa, phát triển mạnh mẽ YHCT, kết hợp YHCT với YHHĐ trong đó những nội dung về công tác phát triển hệ thống CSSK cộng đồng là một trong những vấn đề luôn được quan tâm Chủ trương này đã được cụ thể hóa bằng các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định của Đảng, Chính phủ; Thông tư của BộY tế… qua từng thời kỳ để phù hợp với sự phát triển chung của xã hội, của ngành y tế nói chung và lĩnh vực YHCT nói riêng:
- Quyết định 222/2003/QĐ-TTg ngày 03/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chính sách quốc gia về Y dược học cổ truyền đến năm 2010 Ngày 4/7/2008, Ban
Bí thư trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 24-CT/TW về phát triển nền Đông y Việt nam và Hội đông y trong tình hình mới
- Ngày 30/11/2010 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số TTg về việc ban hành kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển Y, Dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu chính là: hiện đại hóa và phát triển mạnh
2166/QĐ-y, dược cổ truyền trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Củng cố và phát triển tổ chức, mạng lưới y, dược cổ truyền đồng thời một trong những nội dung
cụ thể được nêu trong quyết định 2166 đó là: Đến năm 2015, 100% tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và kiện toàn Bệnh viện Y Dược cổ truyền theo hướng
Trang 24bệnh viện đa khoa [41] Tăng cường năng lực khám bệnh, chữa bệnh về nhân lực, cơ
sở vật chất, trang thiết bị trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh YHCT
- Đến năm 2025: 95% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Bệnh viện
Đa khoa Y dược cổ truyền hoặc Bệnh viện Đa khoa Y Dược cổ truyền - Phục hồi chức năng tuyến tỉnh; 90% Bệnh viện Đa khoa, viện có giường bệnh, Bệnh viện chuyên khoa
có Khoa Y dược cổ truyền; 95% trạm y tế xã, phường, thị trấn và tương đương có triển khai hoạt động tư vấn sử dụng Y dược cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe hoặc tổ chức khám bệnh, chữa bệnh Y dược cổ truyền Đến năm 2030: 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có bệnh viện đa khoa Y dược cổ truyền hoặc Bệnh viện Đa khoa Y dược cổ truyền - Phục hồi chức năng tuyến tỉnh; 95% Bệnh viện Đa khoa, viện có giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa có Khoa Y dược cổ truyền; 100% trạm y tế xã, phường, thị trấn và tương đương có triển khai hoạt động tư vấn sử dụng Y dược cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe hoặc tổ chức khám bệnh, chữa bệnh Y dược cổ truyền Tăng tỉ lệ khám bệnh, chữa bệnh Y dược cổ truyền, kết hợp Y dược cổ truyền với Y dược hiện đại
ở tất cả các tuyến; đến năm 2025: tuyến trung ương đạt 15%; tuyến tỉnh đạt 20%; tuyến huyện đạt 25% và tuyến xã đạt 30%; đến năm 2030: tuyến trung ương đạt 20%; tuyến tỉnh đạt 25%; tuyến huyện đạt 30% và tuyến xã đạt 40% [42]
- Hệ thống các Bệnh viện YHCT: Hệ thống khám chữa bệnh bằng YHCT được chia thành 4 cấp độ chuyên môn từ thấp đến cao trong bậc thang điều trị, phân tuyến về chuyên môn kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe bằng YHCT của nhân dân
Hệ thống đó bao gồm: bệnh viện YHCT tuyến TW, bệnh viện YHCT tuyến tỉnh, khoa YHCT trong các 19 bệnh viện YHHĐ và tổ YHCT tại phòng khám đa khoa và trạm y
tế xã, phường, các phòng chẩn trị YHCT [43]
Trong hệ thống YHCT Việt Nam, Bệnh viện YHCT giữ vai trò quan trọng trong khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, kế thừa và bảo tồn YHCT, chỉ đạo tuyến, hợp tác quốc tế, Y học dựa trên bằng chứng, kết hợp YHCT và YHHĐ, kinh tế y tế Cả nước
ta đã có 63 viện, Bệnh viện YHCT, trong đó có hai bệnh viện đầu ngành (Bệnh viện YHCT Trung ương, Bệnh viện Châm cứu Trung ương), 2 bệnh viện ngành Quân đội, Công an và 53 bệnh viện YHCT tỉnh/thành phố Có 58 Bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố có khoa YHCT và trên 50% các bệnh viện đa khoa khu vực và các bệnh viện huyện thị có khoa hoặc bộ phận YHCT lồng ghép, tỷ lệ bệnh viện YHHĐ có khoa hoặc tổ
Trang 25YHCT từ năm 2003 đến năm 2010 tăng (từ 77,9% lên 89,5%) năm tăng cao nhất là 2009 (93,3%) Số có khoa YHCT tăng đáng kể (2003 là 26,3% đến năm 2010 là 42,3%) Trước năm 2003 các bệnh viện YHCT chỉ có quy mô trung bình từ 50-70 giường/ bệnh viện, đến năm 2010 trung bình 127 giường/bệnh viện [44]
Các hoạt động khám chữa bệnh bằng YHCT tại các TYT xã cũng ngày càng được quan tâm và phát triển Do vậy vấn đề đáp ứng cán bộ làm YHCT đủ năng lực, đủ kiến thức
và trình độ cho tất cả các tuyến y tế từ trung ương tới cơ sở trở nên cấp thiết
• Tại tuyến trung ương: Tuyến trung ương hiện nay có 3 đơn vị, bao gồm Học viện Y dược học cổ truyền (có Bệnh viện Tuệ Tĩnh thuộc Học viện) và 2 Bệnh viện YHCT TW, bệnh viện Châm cứu TW là những bệnh viện đầu ngành với chức năng nhiệm vụ chính: Kế thừa nghiên cứu ứng dụng những bài thuốc, những phương pháp chữa bệnh bằng YHCT; nghiên cứu, đánh giá các phương pháp chữa bệnh bằng YHCT, kết hợp YHCT với YHHĐ và triển khai các phương pháp này cho các cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT trong cả nước; Nghiên cứu, ứng dụng các phương pháp chữa bệnh 20 của các nước có nền YHCT phát triển ứng dụng vào Việt Nam; Nghiên cứu và xây dựng cho công tác hiện đại hóa YHCT, kết hợp YHCT và YHHĐ; tổ chức đào tạo và hợp tác quốc tế về YHCT; tổ chức chỉ đạo và chuyển giao các kỹ thuật về YHCT cho tuyến dưới Bệnh viện thực hành của Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam là cơ sở thực hành phục vụ cho công tác đào tạo cán bộ YHCT của Học viện với hàng ngàn sinh viên mỗi năm
• Tại tuyến tỉnh: Bệnh viện YDCT tuyến tỉnh là cơ sở điều trị cao nhất của chuyên ngành YHCT tại tỉnh, thực hiện hầu hết các kỹ thuật chuyên môn thuộc chuyên ngành, kết hợp YHCT với YHHĐ Ngoài chức năng khám và chữa bệnh YHCT các bệnh viện
đã thực hiện ứng dụng những phương pháp chữa bệnh có hiệu quả, nghiên cứu lâm sàng những bài thuốc kinh nghiệm của nhân dân; Duy trì, bảo tồn và phát triển các cây, con làm thuốc đặc biệt là những cây thuốc quý hiếm Tham gia giảng dạy cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp y, dược, và làm cơ sở thực hành cho các cơ sở đào tạo trên đại bàn tỉnh Tham gia chỉ đạo tuyến dưới, cũng như tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho nhân dân hiểu và sử dụng các phương pháp phòng và chữa bệnh bằng YHCT
Theo Thông tư số 37/2011/TT-BYT, ngày 26/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc “Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bệnh viện
Trang 26YHCT tuyến tỉnh” Bệnh viện YHCT tuyến tỉnh giữ vai trò đầu tàu về YHCT tại tỉnh Bên cạnh đó hệ thống các khoa YHCT trong các Bệnh viện Đa khoa cũng thực hiện chức năng khám, chữa bệnh bằng YHCT và kết hợp YHCT với YHHĐ
1.2.4.3 Thực trạng Y học cổ truyền Việt Nam
YHCT đóng vai trò quan trọng trong việc sự nghiệp CSSK nhân dân Những kinh nghiệm về YHCT được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Do đó, sự phát triển YHCT còn mang tính chất địa phương, cục bộ, chưa được phổ biến và ứng dụng rộng rãi có hệ thống Việt Nam là một trong những quốc gia được đánh giá cao có tiềm năng phát triển YHCT Những kinh nghiệm về YHCT được lưu truyền từ các thế hệ, do
đó việc sử dụng YHCT còn mang tính chất địa phương, cục bộ chưa được tổ chức có hệ thống [45], còn gặp nhiều khó khăn trong việc thống nhất kết hợp hai nền y học YHHĐ
và YHCT, YHCT chưa được phát triển đồng bộ, đội ngũ Bác sĩ chuyên khoa về YHCT còn thiếu Đồng thời, đội ngũ lương y hiểu biết về YHHĐ chưa cao Công tác nghiên cứu và ứng dụng YHCT chưa có hiệu quả cao, cơ sở vật chất và các thiết bị kĩ thuật còn nghèo nàn dẫn đến chất lượng chẩn đoán và điều trị tại cơ sở YHCT chưa cao [46, 47] Trước tình hình đó, nền YHCT của Việt Nam đang đứng trước thách thức: nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bằng YHCT Trong nhiều năm qua Ðảng và Nhà nước đã
có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị chỉ đạo ngành y tế phối hợp với các ngành, các tổ chức xã hội nghiên cứu kế thừa, bảo tồn và phát triển YDHCT, kết hợp YHCT với YHHÐ nhằm xây dựng nền Y dược học Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng Chủ tịch
Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại, Người vẫn quan tâm chỉ đạo việc "kết hợp thuốc đông y với tây y" Nhà nước đã cho thành lập Hội Ðông y, Viện Ðông y, Viện Châm cứu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị chỉ đạo cụ thể từng lĩnh vực từ thừa kế, nghiên cứu, phát triển dược liệu, đào tạo cán bộ YDHCT, khám chữa bệnh Hơn năm mươi năm qua, kiên trì thực hiện đường lối của Ðảng, ngành y tế
đã đạt được một số thành tựu quan trọng [48-52]:
- YDHCT có vị trí trong việc CSSK nhân dân; có hệ thống tổ chức từ trung ương đến các địa phương Cả nước có 5 Viện nghiên cứu; 63 Bệnh viện Y học cổ truyền, trong
đó có 58 bệnh viện YHCT tuyến tỉnh/56 tỉnh, thành phố; có khoa hoặc tổ YHCT ở 80% viện, bệnh viện YHHÐ cấp quận, huyện; 88,23% trạm y tế xã có hoạt động khám chữa bệnh bằng YHCT; có trên 10.000 cơ sở YDHCT tư nhân Tỷ lệ lượt khám chữa bệnh
Trang 27bằng y học cổ truyền trên tổng số lượt khám, chữa bệnh chung: tuyến tỉnh 8,86%, tuyến huyện 8,96%, tuyến xã 28,49%
- Mạng lưới quản lý nhà nước về y, dược cổ truyền được củng cố và hoàn thiện 49% Sở y tế có cán bộ chuyên trách về y, dược cổ truyền
- Tỷ lệ giường bệnh YHCT trên tổng số chung của các tuyến là 13,7% tăng qua các năm
- Ðã đào tạo được đội ngũ thầy thuốc YHCT và kết hợp YHCT với YHHÐ gồm
35 tiến sĩ; 100 thạc sĩ; 100 bác sĩ chuyên khoa cấp 2; 500 bác sĩ chuyên khoa cấp 1; 2.000 bác sĩ y học cổ truyền 5.000 cán bộ trung học YDHCT
- Tổ chức kế thừa được nhiều bài thuốc hay, cây thuốc quý của các lương y trên mọi miền đất nước Nhiều địa phương như Lạng Sơn, Thanh Hoá, Sóc Trăng, Thái Nguyên, đã sưu tầm và lưu lại hàng ngàn cây thuốc, bài thuốc kinh nghiệm của đồng bào các dân tộc ít người; tổ chức nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu kết hợp, từng bước phát huy được tiềm năng của YDHCT phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
- Dược liệu nói chung và thuốc YHCT nói riêng đã có trong danh mục thuốc thiết yếu Ðã điều tra khảo sát có 3.850 loài thực vật được sử dụng làm thuốc thuộc 309 họ, trong đó đại đa số là cây mọc tự nhiên Về động vật, có 406 loài thuộc 22 lớp, 6 ngành được sử dụng làm thuốc Về khoáng vật, thống kê được 70 loại khoáng vật có ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc Các cơ sở sản xuất thuốc YHCT ngày càng được nâng lên cả về chất lượng và số lượng Hiện nay, cả nước có trên 450 cơ sở, xí nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc YHCT (Nhà nước, dân lập, tư nhân, cổ phần) Bộ Y tế đã cấp số đăng ký cho trên 2.000 chế phẩm thuốc YHCT được sản xuất lưu hành trên thị trường Thuốc YHCT đã đa dạng về chủng loại với giá cả phù hợp đáp ứng nhu cầu phòng và chữa bệnh của nhân dân Thuốc YHCT Việt Nam đã được xuất khẩu sang nhiều nước như Cộng hoà Liên bang Nga, Cộng hoà Ucraina, Cu Ba, Lào, Thái Lan, Campuchia
- Tuy số cơ sở YHCT còn ít, nhưng số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị ngày một nhiều Hàng năm, có khoảng 30% số bệnh nhân trong cả nước được khám và điều trị bằng YHCT, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn YHCT đã góp phần thực hiện chính sách xã hội và công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân
Trang 28- Công tác xã hội hoá về YHCT cũng được đẩy mạnh Ngành y tế đã phối hợp với Hội Ðông y tổ chức tuyên truyền và vận động nhân dân trồng, sử dụng những cây thuốc sẵn có ở địa phương, những bài thuốc đơn giản để phòng và chữa một số bệnh thông thường, không những đã góp phần tích cực thực hiện chiến lược chăm sóc và bảo
vệ sức khoẻ nhân dân mà còn góp phần thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi trường
- Hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng, uy tín của các phương pháp chữa bệnh của YHCT Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Hiện tại, Việt Nam có quan hệ hợp tác về YDHCT với hơn 40 nước Nhìn lại chặng đường phát triển của nền Y dược Việt Nam nói chung và nền YDHCT nói riêng từ sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945, nhất là sau hơn mười lăm năm đổi mới, có thể khẳng định rằng sự nghiệp chăm sóc
và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân đã đạt được những thành tựu to lớn
1.2.4.4 Tổ chức mạng lưới khám chữa bệnh Y học cổ truyền
Mạng lưới YHCT công lập trực thuộc Sở Y tế
- 01 Bệnh viện Y dược cổ truyền tuyến tỉnh: Là Bệnh viện chuyên khoa YHCT hạng II, năm 2020 quy mô 373 giường Kế hoạch và 420 gường thực kê
- 15 khoa YHCT thuộc TTYT huyện, Thành phố: năm 2020 có tổng số 95 giường thực kê
- Tuyến Y tế Huyện:
+ Có 15/15 TTYT Huyện, Thành phố 100% TTYT Huyện, Thành phố đã triển khai công tác khám, chữa bệnh bằng phương pháp YHCT 15/15 TTYT có khoa YHCT (Thành phố Rạch Giá; Thành phố Phú Quốc; Kiên Hải; Hòn Đất; Kiên Lương; Giang Thành; Hà Tiên; Châu Thành; An Biên; An Minh; U Minh Thượng; Vĩnh Thuận; Tân Hiệp; Giồng Riềng và Gò Quao)
+ Về nhân lực: Năm 2020, tổng số cán bộ YHCT là 299 người chiếm 19 % trên tổng số nhân lực y tế của tỉnh
+ Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Trung tâm y tế huyện
* Cơ cấu tổ chức
Các phòng chức năng: phòng Tổ chức – Hành chính; phòng Kế hoạch – Nghiệp
vụ; phòng Tài chính – Kế toán; Phòng Điều dưỡng
Trang 29Các khoa chuyên môn: Khoa Kiểm soát bệnh tật và HIV/AIDS; Khoa Y tế công cộng và Dinh dưỡng; Khoa An toàn thực phẩm; Khoa Chăm sóc sức khoẻ sinh sản; Khoa Khám bệnh/Phòng khám đa khoa; Khoa Hồi sức cấp cứu; Khoa Nội tổng hợp; Khoa Ngoại tổng hợp; Khoa Nhi; Khoa Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng; Khoa Liên chuyên khoa (Răng Hàm mặt - Mắt - Tai Mũi Họng); Khoa Dược - Trang thiết bị
- Vật tư y tế; Khoa Truyền nhiễm; Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn; Khoa xét nghiệm và
Chẩn đoán hình ảnh
* Chức năng: Trung tâm Y tế huyện có chức năng cung cấp dịch vụ chuyên môn,
kỹ thuật về y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và các dịch vụ y
tế khác theo quy định của pháp luật
* Nhiệm vụ
Thực hiện đào tạo liên tục cho đội ngũ viên chức thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định; tập huấn, bồi dưỡng cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực phụ trách cho đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản và các đối tượng khác theo phân công, phân cấp của Sở Y tế; là cơ sở thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe và hướng dẫn thực hành để cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của
pháp luật
Thực hiện việc cung ứng, bảo quản, cấp phát, sử dụng và tiếp nhận thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, hóa chất, trang thiết bị phục vụ thực hiện các hoạt động phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm, HIV/AIDS, bệnh không lây nhiễm, bệnh chưa rõ nguyên nhân; tiêm chủng phòng bệnh; y tế trường học; phòng, chống các yếu tố nguy cơ tác động lên
sức khỏe, phát sinh, lây lan dịch, bệnh; quản lý và nâng cao sức khỏe cho người dân
Thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường đối với các cơ sở y tế; vệ sinh và sức khỏe lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp, tai nạn thương tích; vệ sinh trong hoạt động mai táng, hỏa táng; giám sát chất lượng nước dùng cho ăn uống, sinh hoạt và dinh
dưỡng cộng đồng
Thực hiện các hoạt động phòng chống ngộ độc thực phẩm trên địa bàn; tham gia thẩm định cơ sở đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn theo phân cấp; tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác phòng chống ngộ độc thực phẩm, phòng chống bệnh truyền qua thực phẩm; hướng dẫn, giám sát cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, ăn uống trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của
Trang 30pháp luật và thực hiện các nhiệm vụ khác về an toàn thực phẩm theo quy định của pháp
luật và theo phân công, phân cấp
Thực hiện sơ cứu, cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng theo quy định của cấp có thẩm quyền và giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cho các trường hợp bệnh nhân tự đến, bệnh nhân được chuyển tuyến, bệnh nhân do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên chuyển về để tiếp tục theo dõi điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng; thực hiện các kỹ thuật, thủ thuật, chuyển tuyến theo quy định của pháp luật; khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định; tham gia khám giám định y khoa,
khám giám định pháp y khi được trưng cầu
Thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản và cải thiện tình trạng dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em; phối hợp thực hiện công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình theo
quy định của pháp luật
Thực hiện các xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh phục vụ cho hoạt động chuyên môn, kỹ thuật theo chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm và nhu cầu của người dân; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm và an toàn
bức xạ theo quy định
Thực hiện tuyên truyền, cung cấp thông tin về chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về y tế; tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe về
y tế, chăm sóc sức khỏe trên địa bàn
Chỉ đạo tuyến, hướng dẫn về chuyên môn kỹ thuật đối với các phòng khám đa khoa khu vực, nhà hộ sinh, trạm y tế xã, phường, thị trấn, y tế thôn bản, cô đỡ thôn, bản
và các cơ sở y tế thuộc cơ quan, trường vụ cho hoạt động chuyên môn theo phân cấp
của Sở Y tế và quy định của pháp luật
Triển khai thực hiện các dự án, chương trình y tế ở địa phương theo phân công, phân cấp của Sở Y tế; tổ chức điều trị nghiện chất bằng thuốc thay thế theo quy định
của pháp luật; thực hiện kết hợp quân - dân y theo tình hình thực tế ở địa phương
Thực hiện ký hợp đồng với cơ quan bảo hiểm xã hội để tổ chức khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Trung tâm Y tế và các đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế theo quy
định của pháp luật
Nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ
thuật về lĩnh vực liên quan
Trang 31Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật Thực hiện quản
lý nhân lực, tài chính, tài sản theo phân cấp và theo quy định của pháp luật
Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Giám đốc Sở Y tế và Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp huyện giao
1.3 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt nam
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Willis – Shattuck và cộng sự (2008), tiến hành nghiên cứu 11 nước Châu Phi và
6 nước Châu Á trong đó có Việt Nam, cho thấy 7 nhóm yếu tố chính giúp tăng cường
và duy trì nguồn nhân lực y tế [53]
Một nghiên cứu tại 4 Quốc gia Ethiopia, Uganda, Tanzania và Kenya năm 2009 cho thấy 80% cán bộ quản lý thực hiện chính sách của quản lý nhân sự như tuyển dụng,
- Tổ chức y tế thế giới đưa ra tiêu chí cứ 25 CBYT/10.000 dân, dưới mức này sẽ không đảm bảo bao phủ 85% dịch vụ CSSK Do vậy toàn cầu thiếu 4 triệu bác sỹ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, 57 quốc gia thiếu 2,4 triệu bác sỹ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, trong đó
có 36/37 nước thuộc vùng dưới sa mạc Sahara - Châu Phi [56]
1.3.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng nhân lực YHCT ở Việt Nam
- Trịnh Yên Bình (2013) nghiên cứu: "Thực trạng nhân lực, đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp" Kết quả
Trang 32nghiên cứu phân bố cán bộ theo vùng địa lý chưa cân đối Hầu như ở các vùng không
có CBYT chuyên ngành YHCT có trình độ giáo sư/ phó giáo sư và tiến sĩ, chỉ có một phần rất nhỏ giáo sư/phó giáo sư và tiến sỹ tập trung ở vùng I (0,3%) CBYT có trình
độ đại học ở các vùng vẫn chiếm tỷ lệ lớn và tương đối đồng đều Tất cả các vùng đều
có tỷ lệ lớn CBYT có trình độ cao đẳng, trung cấp, cử nhân và trình độ khác ngoài 19 ngành Y tế Loại hình đào tạo CBYT ở các vùng địa lý là khác nhau nhưng phần lớn đuợc đào tạo theo hình thức tập trung Số lượng CBYT được đào tạo bổ sung kiến thức chiếm tỷ lệ thấp Phần lớn CBYT thường được 1 khóa đào tạo bổ sung kiến thức, có một lượng nhỏ CBYT được 2 khóa đào tạo bổ sung kiến thức Nhu cầu đào tạo bổ sung kiến thức là rất lớn Nội dung cần đào tạo liên tục cho bác sỹ chủ yếu là kiến thức về thuốc YHCT, nâng cao kỹ năng về điều trị bệnh và nâng cao kiến thức về chẩn đoán [57]
- Tôn Mạnh Cường (2013) nghiên cứu: "Thực trạng nguồn nhân lực và sử dụng thuốc y học cổ truyền tại tuyển xã phường thuộc tỉnh Vĩnh Phúc" Theo kết quả nghiên cứu này, có 95,7% số TYT có triển khai dịch vụ YHCT, tỷ lệ này cao hơn trung bình của cả nước theo thống kê 2009 (76,2%) Về nhân lực YHCT tại các TYT xã, phường phần lớn là Y sĩ, trong đó Y sĩ YHCT chiếm 38,6%, Y sĩ đa khoa định hướng YHCT có
tỷ lệ 43,7%, cán bộ không được đào tạo chuyên khoa YHCT phụ trách YHCT chiếm tỷ
lệ 4,3% [58]
- Đào Anh Hoàng (2014) nghiên cứu: "Thực trạng nguồn nhân lực và sử dụng thuốc y học cổ truyền tại huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa năm 2014" Kết quả tỷ lệ cán bộ có chuyên môn từ bác sỹ trở lên chỉ chiếm 23,6% Cán bộ có chuyên ngành YHCT tất cả đều làm ở trung tâm y tế và bệnh viện huyện Tất cả 3 xã nghiên cứu đều
có Bác sỹ Đa khoa và không có nhân lực YHCT [59]
- Phạm Thị Ngọc Linh (2014) nghiên cứu: "Đánh giá thực trạng sử dụng y học
cổ truyền tại thành phố Đà Nẵng năm 2014" Kết quả nghiên cứu tỷ lệ cán bộ YHCT chỉ chiếm 3,09% Số cán bộ y sĩ chiếm tỷ lệ cao 46,22% Tỷ lệ CBYT có trình độ đại học 21,69%, kĩ thuật viên 15,09%, BSCKI 10,37%, Thạc sĩ 2,83%, Tiến sĩ 1% và không có BSCKII [60]
- Bùi Phương Mai (2014) nghiên cứu: "Thực trạng nguồn nhân lực và tình hình
sử dụng YHCT tại huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An năm 2014" cho kết quả nguồn nhân lực về YHCT tại các trạm y tế còn thiếu rất nhiều về số lượng Số cán bộ có trình độ là
Trang 33bác sỹ là không có, có 9/14 tram y tế có cán bộ chuyên trách về YHCT, các cán bộ 20 chuyên trách về YHCT đều là y sỹ đa khoa và bác sỹ đa khoa có học định hướng hoặc mới được tập huấn một số lớp YHCT Có 5 trạm y tế không có cán bộ chuyên trách YHCT mà chỉ có cán bộ kiêm nhiệm [51]
- Phạm Thị Thanh Thủy (2014) nghiên cứu: "Thực trạng nguồn nhân lực và sử dụng thuốc Y học cổ truyền của các tuyến y tế cơ sở thuộc tỉnh Nam Định" cho kết quả:
Cơ cấu nhân lực YHCT tuyến y tế cơ sở công lập toàn tỉnh thấp với tỷ lệ 8,5% so với nhân lự y tế chung của toàn tỉnh, tuy nhiên cán bộ có trình độ y sĩ YHCT lại chiếm tỷ lệ cao, tập trung chủ yếu ở khu vực Bệnh viện huyện và Trạm y tế xã [62]
- Vũ Việt Phong (2012) nghiên cứu: "Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực Trạm
y tế xã và sử dụng YHCT của người dân tại 3 huyện – Hà Nội năm 2012" cho kết quả như sau: Cả 3 huyện đều không có Bác sĩ chuyên khoa YHCT, việc điều trị bằng YHCT chủ yếu dựa vào các y sĩ, nhưng các y sĩ cũng không hoàn toàn chuyên sâu về YHCT và đa
số kiêm nhiệm việc; 79,7% trạm y tế có bộ phận YHCT riêng [63]
1.4 Khái quát về địa điểm nghiên cứu tại tỉnh Kiên Giang
1.4.1 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu
Kiên Giang là một tỉnh ven biển thuộc thuộc vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long,
có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ hướng Đông Bắc xuống Tây Nam, chia thành 4 vùng địa hình: Vùng tứ giác Long Xuyên, vùng Tây Sông Hậu, vùng U Minh Thượng và vùng đảo và hải đảo Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 6.348,53 km², chiếm 1,91% tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam, với dân số là 1.923.067 người, chiếm 1,79% dân số Việt Nam Theo thống kê dân số toàn quốc, trên địa bàn tỉnh có 15 dân tộc sinh sống, nhiều nhất là người Kinh chiếm 85,5%; người Khmer chiếm khoảng 12,2%; người Hoa chiếm khoảng 2,2% Còn lại là một số dân tộc khác như : Chăm, Tày, Mường, Nùng… Những năm qua, kinh tế-xã hội của tỉnh Kiên Giang có sự chuyển biến mạnh
mẽ với tăng trưởng trung bình giai đoạn 2016 - 2020 đạt 6,19%; thu nhập trung bình đầu người 48,21 triệu đồng năm 2020 [1]
Rạch Giá:
Thành phố có 12 đơn vị hành chính cấp phường, xã trực thuộc gồm: 11 phường
và 01 xã: Diện tích tự nhiên 105,86 km2, dân số 228.416 người, mật độ dân số 2.157,61
Trang 34người/km2 Là đô thị Thành phố biển, bao gồm dịch vụ, thương mại và đánh bắt thủy hải sản
Cư dân Thành phố chủ yếu là người Kinh, Hoa và Khmer, ngoài ra còn có dân tộc khác
Mạng lưới y tế của Thành phố bao gồm: Trung tâm Y tế Thành phố có qui mô
110 giường và 12 trạm y tế phường, xã Ngoài ra còn có các bệnh viện đóng trên địa bàn Thành phố gồm: BVĐK tỉnh; Bệnh viện Sản – Nhi; Bệnh viện Lao và Bệnh phổi; Bệnh viện Tâm Tần; Bệnh viện Ung Bướu; Bệnh viện Y dược cổ truyền và Bệnh viện tư nhân Bình An
Huyện Giồng Riềng:
Huyện có 19 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc gồm: 01 thị trấn Giồng Riềng
và 18 xã: Diện tích tự nhiên 634,5 km2, dân số 225.369 người là huyện có dân số cao nhất, mật độ dân số 335,19 người/km2 Sản xuất chủ yếu là nông nghiệp
Cư dân huyện chủ yếu là người Kinh, Khmer chiếm 16.28%, ngoài ra còn có dân tộc khác
Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Giồng Riềng là một trong những địa phương sản xuất lúa nước lớn của tỉnh Kiên Giang Ngoài ra trồng hoa màu khác
Mạng lưới y tế của huyện bao gồm: Trung tâm Y tế huyện có qui mô 430 giường
và 19 trạm y tế xã, thị trấn Do có sự quan tâm đầu tư phát triển về y tế nên những năm gần đây đã thu hút được đa số người dân mắc bệnh phải điều trị chủ yếu tập trung đến Trung tâm Y tế huyện, vì vậy lượng bệnh nhân đến bệnh viện luôn tăng cao
Huyện An Biên:
Là cửa ngỏ vùng U Minh Thương của tỉnh Kiên Giang, cách Thành phố Rạch Giá
30 Km Diện tích tự nhiên 400,29 km2, dân số 147.297 người, mật độ dân số 221 người/km2 Là một trong những vùng sâu hạn chế về cơ sở hạ tầng, có tiềm năng phát triển kinh tế thủy hải sản, sản lượng trung bình 191.936 tấn/năm và cũng là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
Huyện An Biên được Nhà nước phong tặng Anh hùng Lực Lượng vũ trang
Địa giới hành chính bao gồm 01 thị trấn và 08 xã trực thuộc
Mạng lưới y tế gồm: Trung tâm Y tế huyện có qui mô 210 giường và 09 Trạm y
tế xã, thị trấn
Trang 35 Huyện Kiên Lương:
Nằm phía Tây Bắc tỉnh Kiên Giang, có bờ biển và biên giới với Campuchia Diện tích tự nhiên 47.285 km2, dân số 93.905 người, mật độ dân số 104 người/km2 Là vùng công nghiệp trọng điểm của tỉnh Kiên Giang nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung Huyện Kiên Lương với hạt nhân đô thị là thị trấn Kiên Lương hiện nay đang được xây dựng, nâng cấp, chỉnh trang với mục tiêu trở thành thị xã của tỉnh Kiên Giang
Địa giới hành chính bào gồm 01 thị trấn và 10 xã trực thuộc
Mạng lưới y tế gồm: Trung tâm Y tế huyện có qui mô 165 giường và 11 Trạm y
tế xã, thị trấn
1.4.2 Thực trạng nhân lực y tế tại tỉnh Kiên Giang
Lĩnh vực khám, chữa bệnh, tỉnh có 01 Bệnh viện đa khoa; 01 Bệnh viện Sản Nhi;
01 Bệnh viện Ung bướu; 01 Bệnh viện Lao và Bệnh phổi; 01 Bệnh viện Tâm thần; 01 Bệnh viện Y học cổ truyền và 01 Bệnh viện tư nhân Bình An
Lĩnh vực y tế dự phòng: Trung tâm kiểm soát bệnh tật tình, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh;
Lĩnh vực chuyên ngành: Trung tâm kiểm nghiệm Thuốc - Mỹ phẩm - Dược phẩm; Trung tâm Pháp Y và Trung tâm Giám định Y khoa
Và 15 trung tâm y tế huyện với 3.460 giường bệnh đạt tỷ lệ 20,29 giường bệnh/vạn dân Hiện nay, Kiên Giang có 6.241 cán bộ y tế, tỷ lệ là 36,6 cán bộ/vạn dân Bác sĩ 5,29/vạn dân; tỷ lệ dược sĩ 0,31/vạn dân; 100% xã có bác sĩ và cán bộ sản phụ khoa; 60% các thôn/ấp có tổ y tế [64]
Trang 36Chương 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Sử dụng dữ liệu lưu trữ có đầy đủ các thông tin phục vụ cho nghiên cứu từ tháng
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
2.1.2.1 Bệnh viện Y dược cổ truyền Kiên Giang
Bản đồ 3 1 Bản đồ vị trí Bệnh viện y dược cổ truyền Kiên Giang
Trang 372.1.2.2 Trung tâm y tế huyện Giồng Riềng:
Bản đồ 3 2 Bản đồ vị trí Trung tâm y tế huyện Giồng Riềng
2.1.2.3 Trung tâm y tế huyện Kiên Lương:
Bản đồ 3 3 Bản đồ vị trí Trung tâm y tế huyện Kiên Lương
Trang 382.1.2.4 Trung tâm y tế huyện An Biên:
Bản đồ 3 4 Bản đồ vị trí Trung tâm y tế huyện An Biên
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ 6/2020 đến tháng 05/2022
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu Nguồn thông tin là số liệu thứ cấp
2.2.2 Nguồn số liệu:
Nghiên cứu toàn bộ hồ sơ sổ sách, tài liệu báo cáo thống kê sẵn có của Bệnh viện
Y dược cổ truyền Kiên Giang, TTYT huyện Giồng Riềng, TTYT huyện Kiên Lương và TTYT huyện An Biên theo hướng dẫn của Bộ Y tế (Quyết định 2360/1997/QĐ-BYT) trong giai đoạn 5 năm (2016 - 2020)
Trang 392.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu
STT Mục tiêu
nghiên cứu
Chỉ số/
biến số nghiên cứu
Định nghĩa/ Cách tính
Phương pháp/ công cụ thu thập thông tin
Tổng dân số của địa phương tính theo các móc thời điểm nghiên cứu (2016, 2018, 2020)
BVYDCT và 3 TTYT huyện
Mật độ dân số huyện, thị
Số lượng dân/Km2 = Tổng dân số/
tổng diện tích của huyện, thị của các móc thời điểm nghiên cứu (2016, 2018, 2020)
BVYDCT và 3 TTYT huyện
Tổng số NLYT ở BV YDCT, 3 khoa YHCT cả các TTYT huyện của các móc thời điểm nghiên cứu (2016, 2018, 2020)
BVYDCT và 3 TTYT huyện
Cơ cấu NL YHCT ở BV YDCT, 3 TTYT huyện
Số cán bộ y tế (đại học, sau đại học, trung và sơ học) đang công tác tại
ở BV YDCT, 3 khoa YHCT cả các TTYT huyện của các móc thời điểm nghiên cứu (2016, 2018, 2020)
BVYDCT và 3 TTYT huyện
Tỷ lệ BYT/giường
Tổng CBYT /Giường KH trong năm của các móc thời điểm nghiên cứu (2016, 2018, 2020)
Thống kê báo cáo của BVYDCT và 3 TTYT huyện
Tỷ lệ Điều dưỡng và Y sĩ/Bác sĩ
Tỷ lệ Bác sĩ/giường bệnh
Là tổng số Bác sĩ/Giường bệnh trong năm của các móc thời điểm nghiên cứu (2016, 2018, 2020)
Báo cáo của BVYDCT và 3 TTYT huyện
Trang 40STT Mục tiêu
nghiên cứu
Chỉ số/
biến số nghiên cứu
Định nghĩa/ Cách tính
Phương pháp/ công cụ thu thập thông tin
Số người bệnh nội trú / bác sĩ
Tổng số Bác sĩ/Giường bệnh trong năm của các móc thời điểm nghiên cứu (2016, 2018, 2020)
Thống kê số liệu dựa trên báo cáo của BVYDCT và
3 TTYT huyện
Số người bệnh nội trú trung bình/bác sĩ/năm
Là tổng số người bệnh nội trú/tổng
số bác sĩ lâm sàng trong năm của các móc thời điểm nghiên cứu (2016, 2018, 2020)
Thống kê số liệu dựa trên báo cáo của BVYDCT và
3 TTYT huyện Trung bình bệnh
nội trú / Điều dưỡng và Y sĩ
Là tổng số người bệnh nội trú/số điều dưỡng và Y sĩ sàng trong năm của các móc thời điểm nghiên cứu (2016, 2018, 2020)
Thống kê số liệu dựa trên báo cáo của BVYDCT và
3 TTYT huyện
Số lượt người bệnh khám ngoại trú / bác sĩ
Là tổng số người bệnh ngoại trú/tổng số bác sĩ khám bệnh ngoại trú trong năm của các móc thời điểm nghiên cứu (2016, 2018, 2020)
Thống kê số liệu dựa trên báo cáo của BVYDCT và
Thống kê số liệu dựa trên báo cáo của BVYDCT và
3 TTYT huyện
Số bệnh nội trú
Tổng số bệnh nội trú trong năm của các móc thời điểm nghiên cứu (2016, 2018, 2020)
Thống kê số liệu dựa trên báo cáo của BVYDCT và
3 TTYT huyện Công suất sử
dụng giường bệnh
Là tỷ lệ phần trăm sử dụng giường bệnh thực kê so với kế hoạch được dao của bệnh viện trong một năm
Thống kê số liệu dựa trên báo cáo