TỔNG QUAN
Các khái niệm
Bệnh Parkinson (PD) là một rối loạn hệ thống vận động gây ra các chuyển động không kiểm soát hoặc ngoài ý muốn của cơ thể Nguyên nhân chính xác của PD vẫn chưa rõ, nhưng có thể do yếu tố di truyền hoặc sự kết hợp giữa di truyền và tác động của môi trường Trong bệnh Parkinson, các tế bào não sản xuất dopamine bị tổn thương hoặc chết, gây ảnh hưởng đến khả năng điều khiển các chuyển động trơn tru và mục đích.
Bốn triệu chứng chính của PD là:
+ Run: run có chuyển động nhịp nhàng qua lại
+ Độ cứng: độ cứng cơ hoặc khả năng chống chuyển động, trong đó cơ bắp liên tục căng thẳng và co lại
Chậm động là tình trạng làm chậm chuyển động tự phát và tự động, gây khó khăn trong việc thực hiện các nhiệm vụ hàng ngày hoặc thực hiện các chuyển động nhanh chóng Hiện tượng này ảnh hưởng tới khả năng vận động tự nhiên của người bệnh, khiến cuộc sống hàng ngày trở nên khó khăn hơn Việc chẩn đoán và điều trị chính xác chậm động rất cần thiết để cải thiện chất lượng cuộc sống cho người mắc phải.
+ Mất ổn định tư thế: mất thăng bằng và thay đổi tư thế có thể làm tăng nguy cơ té ngã
Các triệu chứng phổ biến bao gồm khó nuốt, khó nhai hoặc gặp khó khăn khi nói, cùng với các thay đổi cảm xúc như lo lắng hoặc trầm cảm Ngoài ra, người bệnh có thể gặp vấn đề về tiết niệu, táo bón, mất trí nhớ hoặc các vấn đề nhận thức khác Triệu chứng mệt mỏi kéo dài và rối loạn giấc ngủ cũng là những dấu hiệu cần chú ý để phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe.
Parkinson thường ảnh hưởng đến những người khoảng 70 tuổi, nhưng cũng có thể xuất hiện sớm hơn ở những người trẻ tuổi Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh Parkinson cao hơn so với nam giới Hiện tại, chưa có xét nghiệm chẩn đoán riêng biệt và chính xác để xác định bệnh Parkinson một cách rõ ràng.
The most widely accepted clinical standard for diagnosing Parkinson's disease is the criteria established by the United Kingdom Parkinson’s Disease Society Brain Bank This benchmark is internationally recognized and extensively used by healthcare professionals to ensure accurate diagnosis Following these guidelines helps improve diagnostic consistency and facilitates research efforts in Parkinson’s disease management.
Tiêu chuẩn của Ngân hàng não bệnh Parkinson Anh Quốc (UKPDSBB) [18]: Bước 1 Chẩn đoán hội chứng Parkinson: Chậm vận động kèm ít nhất 1 trong các triệu chứng sau:
- Mất ổn định tư thế không liên quan rối loạn chức năng thị giác, tiểu não, tiền đình hay cảm giác sâu
Bước 2 Các tiêu chuẩn loại trừ bệnh Parkinson: Tiền sử đã mắc:
- Đột quỵ tái diễn với diễn tiến kiểu bậc thang
- Chấn thương đầu tái diễn
- Dùng thuốc làm giảm dopamine hay thuốc chống loạn thần
- Viêm não và/hay các cơn oculogyric mà không do dùng thuốc
- Có hơn 1 người thân trong gia đình mắc bệnh tương tự
- Không đáp ứng với liều cao levodopa (đã loại trừ do kém hấp thu)
- Triệu chứng chỉ ở 1 bên sau khởi phát bệnh 3 năm
Các triệu chứng thần kinh điển hình bao gồm liệt vận nhãn trên nhân, dấu hiệu tiểu não, rối loạn thần kinh tự trị nặng sớm, dấu Babinski, cùng với các biểu hiện của sa sút trí tuệ sớm kèm rối loạn ngôn ngữ, trí nhớ hoặc hành động.
- Tiếp xúc chất gây độc thần kinh
Hiện diện u não hay não úng thủy thông thường trên khảo sát hình ảnh thần kinh
Bước 3 Các tiêu chuẩn hỗ trợ bệnh Parkinson: Có ít nhất 3 trong các đặc điểm sau để chẩn đoán xác định bệnh Parkinson:
- Triệu chứng bất đối xứng kéo dài với bên khởi phát triệu chứng bị nặng hơn
- Đáp ứng tốt với levodopa
- Múa giật nặng do levodopa
- Đáp ứng với levodopa trong hơn 5 năm
- Diễn tiến lâm sàng trên 10 năm
Một số bệnh lý có thể biểu hiện bằng hội chứng Parkinson và việc chẩn đoán chính xác thường dựa trên việc hỏi bệnh sử chi tiết, thăm khám thần kinh, cùng các xét nghiệm cần thiết Các bệnh lý này cần được phân biệt rõ ràng với bệnh Parkinson để đảm bảo chẩn đoán chính xác và hướng điều trị phù hợp Dưới đây là danh sách các bệnh lý có thể gây ra hội chứng Parkinson, giúp bác sĩ phân biệt chính xác với bệnh Parkinson.
Các nguyên nhân của hội chứng Parkinson
- Hội chứng Parkinson nguyên phát
- Hội chứng Parkinson thứ phát
- Nhiễm trùng: nhiễm trùng, vi rút chậm
- Thuốc: thuốc hướng thần kinh, reserpine, tetrabenazine, alpha-methyldopa, lithium, flunarizine
- Độc tố: MPTP, CO, Hg, cyanide, ethanol mạch máu: nhồi máu não nhiều ổ
- Chấn thương: võ sĩ quyền anh
- Nguyên nhân khác: suy giáp, u não, não úng thuỷ áp lực bình thường
- Liệt trên nhân tiến triển
- Thoái hoá nhiều hệ thống
- Thoái hoá vỏ não-hạch nền
- Hội chứng Parkinson do bệnh thoái hoá di truyền Bệnh Huntington, Bệnh Wilson
- Chỉ định cận lâm sàng trong bệnh Parkinson là chẩn đoán hình ảnh: MRI sọ não để phân biệt bệnh Parkinson hay hội chứng Parkinson
Hình ảnh học trong MRI bệnh Parkinson hoàn toàn bình thường, còn trong hội chứng Parkinson thì tùy bệnh mà có bất thường trên chẩn đoán hình ảnh
Thang điểm đánh giá độ nặng bệnh Parkinson theo Hoehn và Yahr [18], [36]
Giai đoạn 0: Không có triệu chứng
Giai đoạn 1: Biểu hiện tổn thương một bên
Giai đoạn 1.5: Biểu hiện tổn thương một bên, kèm lệch trục
Giai đoạn 2: Thương tổn cả hai bên, nhưng chưa có rối loạn thăng bằng
Giai đoạn 2.5: Thương tổn hai bên, mức độ nhẹ, vẫn có thể tự lấy lại thăng bằng trong nghiệm pháp đẩy
Giai đoạn 3: Tổn thương hai bên, từ nhẹ đến vừa, có một vài rối loạn về tư thế dáng bộ, sinh hoạt vẫn bình thường
Giai đoạn 4: Bị tàn phế nặng, tuy nhiên vẫn có thể đi lại được hay đứng dậy không cần sự giúp đỡ
Giai đoạn 5: Phải sử dụng xe lăn hoặc nằm liệt giường nếu không có người giúp đỡ
1.1.3 Phương pháp điều trị Parkinson
Liệu pháp dùng thuốc bảo vệ thần kinh:
- Selegiline: nghiên cứu DATATOP không cho thấy hiệu quả bảo vệ thần kinh rõ dù có một ít tác dụng trong hai năm đầu
- Thuốc chống oxy hóa: không có lợi ích nào được thiết lập Nghiên cứu DATATOP cho thấy vitamin E cũng giống như giả dược
Thuốc đồng vận Dopamin có khả năng bảo vệ thần kinh, dựa trên các dữ liệu cho thấy tác dụng tích cực trên mô nuôi cấy, các mô hình động vật, cũng như trên người qua nghiên cứu F-DOPA PET.
Liệu pháp dùng thuốc điều trị triệu chứng:
Liệu pháp điều trị bệnh Parkinson có hiệu quả nhất là levodopa kết hợp với chất ức chế decarboxylase ngoại biên (Sinemet, Madopar, Atamet)
Các loại thuốc tác động tại synapse dopaminergic, đặc biệt khi phối hợp với levodopa, có hiệu quả trong điều trị nhưng đi kèm với các tác dụng phụ như ảo giác, loạn động, buồn nôn, tụt huyết áp tư thế, gây an thần và mất ngủ Do đó, trong quá trình điều trị cần được theo dõi chặt chẽ để phòng tránh các ảnh hưởng tiêu cực.
Là thuốc có hiệu quả nhất làm giảm các triệu chứng Parkinson (đôi khi không giảm được run)
Cần dùng kèm carbidopa hoặc benserazide để ức chế men decarboxylase ngoại biên, nhằm giảm tác dụng phụ và tăng lượng thuốc vào não
Vào não theo cơ chế cạnh tranh với các amino acid trung tính
Có hai dạng thuốc điều trị Parkinson gồm phóng thích tức thì (IR) và phóng thích có kiểm soát (CR) Dạng CR có thời gian bán hủy dài hơn, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm số lần sử dụng thuốc so với dạng IR trong giai đoạn sớm của bệnh Parkinson, mặc dù chi phí cao hơn.
CR riêng lẻ có thể khó điều chỉnh được khi có dao động đáp ứng vận động
Nói chung, với bệnh Parkinson mới khởi phát ở người trên 65 tuổi, có thể khởi đầu với Madopar 250mg 1/4 viên 3 lần mỗi ngày tăng liền theo đáp ứng, hoặc Sinemet
CR 50/200 là viên nang mỗi sáng và điều chỉnh đến 1 viên hai lần mỗi ngày để phù hợp với nhu cầu điều trị Trong trường hợp bệnh Parkinson tiến triển, việc kết hợp thuốc dạng viên nang phổi (CR) với dạng viên nén nhanh (IR) giúp cải thiện phản ứng nhanh, đồng thời kéo dài thời gian tác dụng của thuốc, nâng cao hiệu quả điều trị.
Đứng hàng thứ hai sau levodopa về hiệu quả kiểm soát tất cả các triệu chứng chính của bệnh Parkinson
Kích thích trực tiếp thụ thể dopamin nhưng hiệu quả giảm triệu chứng không bằng levodopa
Không cạnh tranh với amino acid để đi vào não và có thời gian bán huỷ dài hơn
Các thuốc hiện có là: Bromocriptine (Parlodel®) liều điều trị 7.5-40 mg/ngày, Pergolide (Permax®) 0.75-4 mg/ngày, Pramipexole (Sifrol®) 1.5-4.5 mg/ngày, Ropinirole (Requip®) 4-24 mg/ngày
Entacarpone (Comptan®) là chất ức chế men COMT ngoại biên, giúp tăng cường hiệu quả của điều trị Parkinson Hiện nay, tại Việt Nam, Entacarpone được sử dụng dưới dạng viên kết hợp trong thuốc STALEVO® (Levodopa, Entacapone, Carbidopa), mang lại sự tiện lợi và hiệu quả tối ưu cho bệnh nhân Người dùng nên sử dụng thuốc nguyên viên nén, tránh bẻ nhỏ để đảm bảo hoạt chất được hấp thu đầy đủ và duy trì hiệu quả điều trị.
Chất ức chế men Catechol O-methyl transferase (COMT) tăng cường khả năng hấp thu sinh học của L-dopa và kéo dài thời gian bán hủy của thuốc Do đó, tác dụng của thuốc này phụ thuộc vào sự có mặt của L-dopa để đạt hiệu quả mong muốn.
Tác dụng phụ tương tự L-dopa nhưng làm tăng xuất độ tiêu chảy khi sử dụng
Liều 100mg-600mg/ngày, phải giảm bớt liều levodopa
Hiện nay chưa có tại Việt Nam
Triệu chứng run có khuynh hướng đáp ứng tốt nhất
Trihexyphenidyl có thể gây tác dụng phụ phổ biến, như an thần, lú lẫn, giảm trí nhớ, ảo giác, khô miệng, mờ mắt, táo bón, nôn mửa, bí tiểu và làm nặng hơn bệnh glaucoma góc đóng Do nguy cơ tác dụng phụ cao, đặc biệt ở người cao tuổi, khuyến cáo không sử dụng thuốc này cho người trên 70 tuổi để đảm bảo an toàn và tránh các biến chứng không mong muốn.
Nếu dùng nên bắt đầu trihexyphenidyl với liều thấp tăng dần cho đến liều trung bình 0,5-2,0 mg 3 lần mỗi ngày
Hiệu quả chống parkinson ít, khuynh hướng giảm cứng cơ và bất động hơn là run Cơ chế hoạt động không rõ
Gần đây mới được phát hiện khả năng chống loạn động rõ ở các người bệnh đã tiến triển nặng
Khởi đầu dùng liều 100 mg buổi sáng và tăng dần đến 100 mg 3 lần mỗi ngày nếu cần
Tác dụng phụ bao gồm: phù cổ chân, lú lẫn, ảo giác, mất ngủ, và các tác dụng phụ kháng cholinergic nhẹ
Thuốc ức chế beta tác dụng trung ương được xem là hiệu quả hơn các thuốc chống cholinergic trong điều trị run Khi sử dụng, cần lưu ý đến huyết áp và xem xét các chống chỉ định của thuốc để đảm bảo an toàn Đồng thời, nên bắt đầu với liều nhỏ và tăng dần để giảm thiểu tác dụng phụ và đạt hiệu quả điều trị tối ưu.
Đánh giá tác dụng trên lâm sàng, liều tối đa có thể 120-160mg/24 giờ
1.1.3.2 Điều trị theo từng giai đoạn
Cách quản lý người bệnh Parkinson
Trước khi bắt đầu bất kỳ phương pháp điều trị nào cho bệnh Parkinson, các chuyên gia phải thảo luận chi tiết với người bệnh về tình trạng lâm sàng và các triệu chứng đi kèm, đồng thời xem xét sở thích lối sống của họ Các yếu tố như việc làm toàn thời gian có thể ảnh hưởng đến lựa chọn phương pháp điều trị, ví dụ như người bệnh muốn dùng thuốc hàng ngày để phù hợp với lịch trình cá nhân Vì tất cả các loại thuốc điều trị Parkinson đều có tác dụng phụ và hiện chưa có thuốc bảo vệ thần kinh, việc bắt đầu điều trị chỉ thực hiện khi chất lượng cuộc sống của người bệnh bị ảnh hưởng nghiêm trọng, và cần trước đó thảo luận rõ về lợi ích cũng như rủi ro của các nhóm thuốc để đảm bảo sự phù hợp và an toàn trong quá trình điều trị.
Hướng dẫn cập nhật của Viện Y tế và Chất lượng Điều trị Quốc gia (NICE) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp nhiều lĩnh vực trong quản lý bệnh Parkinson, đặc biệt là sự tham gia của các chuyên viên trị liệu được đào tạo chuyên sâu Các chuyên gia trị liệu như vật lý trị liệu, liệu pháp nghề nghiệp, trị liệu ngôn ngữ và trị liệu dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chất lượng cuộc sống của người bệnh Parkinson Việc kết hợp đa ngành này giúp đảm bảo quản lý toàn diện, hiệu quả và phù hợp với từng giai đoạn của bệnh.
Người bệnh thường mắc các bệnh đi kèm như tiểu đường, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, hen suyễn hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Do đó, các dược sĩ cần luôn chuẩn bị sẵn sàng để quản lý toàn diện tình trạng sức khỏe của người bệnh Việc tư vấn về khả năng tương tác thuốc là rất quan trọng nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.
Các bệnh nhân Parkinson được sắp xếp hợp lý để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc sử dụng thuốc đúng giờ, qua chiến dịch “Dùng thuốc đúng giờ” tại Vương quốc Anh, giúp họ duy trì điều trị hiệu quả và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Tuân thủ điều trị cần đảm bảo tuân thủ thuốc, chế độ luyện tập, chế độ dinh dưỡng và định kỳ khám lại
Quy trình quản lý và điều trị người bệnh Parkinson tại chuyên khoa Thần kinh tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Bạch Mai như sau:
Sơ đồ 1: Quy trình quản lý và điều trị người bệnh Parkinson tại chuyên khoa Thần Kinh – Khoa Khám Bệnh – Bệnh viện Bạch Mai
Kể từ ngày 01/01/2015, theo Luật Bảo hiểm Y tế (BHYT) sửa đổi, bệnh Parkinson nằm trong nhóm 47 bệnh được hưởng chính sách chuyển đổi giấy chuyển BHYT duy nhất một lần trong năm Người bệnh có thể tái khám hàng tháng theo lịch hẹn của bác sĩ và được BHYT chi trả toàn bộ hoặc một phần chi phí điều trị Quy định này giúp người bệnh Parkinson dễ dàng tiếp cận các dịch vụ y tế cần thiết mà không gặp trở ngại về thủ tục giấy tờ mỗi lần tái khám.
Chuyên khoa Thần kinh tại Bệnh viện Bạch Mai chịu trách nhiệm khám, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh nhân Parkinson, thực hiện chuyển tuyến BHYT đúng tuyến từ tuyến tỉnh kể từ năm 2015 Người bệnh chuyển BHYT hàng năm theo lịch hẹn khám định kỳ (thường là mỗi tháng) và được bảo hiểm y tế chi trả phần lớn chi phí, người bệnh phần còn lại tự chi trả Ngoài những bệnh nhân theo chương trình, còn có các người bệnh điều trị ngoại trú tự nguyện tại phòng khám thần kinh, tự chi trả toàn bộ chi phí và mua thuốc điều trị.
Có BHYT đúng tuyến Không có BHYT
B2: BS thăm khám, chẩn đoán, điều trị
Giai đoạn tiến triển (5-8 năm)
Sau mỗi lần khám bệnh, người bệnh tự chăm sóc và theo dõi tình trạng sức khỏe tại nhà cùng sự hỗ trợ của gia đình Bác sĩ sẽ theo dõi tiến triển của bệnh qua các lần khám lại để điều chỉnh phương pháp điều trị phù hợp, giúp bệnh nhân phục hồi nhanh chóng và duy trì sức khỏe tốt nhất.
Thực trạng về bệnh Parkinson
Tỷ lệ mắc Parkinson's Disease (PD) ở nam giới cao hơn đáng kể so với nữ giới trong hầu hết các quần thể nghiên cứu Một nghiên cứu lớn ở miền Bắc California cho thấy, tỷ lệ mắc PD ở nam giới cao hơn 91% so với nữ giới, với tỷ lệ là 19 trên 100.000 ở nam và 9,9 trên 100.000 ở nữ, đã được điều chỉnh theo độ tuổi [7], [23].
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc Parkinson khác nhau theo chủng tộc và dân tộc Ở phía Bắc California, tỷ lệ mắc PD đã được ước tính là cao nhất ở dân số nói tiếng Tây Ban Nha với 16,6 trên 100.000 người đã chỉnh sửa theo độ tuổi và giới tính Tiếp theo là người da trắng không phải gốc Tây Ban Nha với tỷ lệ 13,2 trên 100.000, sau đó là người châu Á với 11,3 trên 100.000, và thấp nhất là người da đen với 10,2 trên 100.000 Các số liệu này phản ánh mức độ khác biệt về tỷ lệ mắc Parkinson giữa các nhóm dân tộc tại khu vực California.
Trong cùng một quần thể so sánh, tỷ lệ mắc bệnh Parkinson (PD) ở phía Bắc Manhattan cao hơn so với người da đen (18/100.000), trong khi tỷ lệ này ở người da trắng là 12,9/100.000, và ở các nhóm khác là 11,8/100.000 Ngoài ra, tỷ lệ mắc PD tại nam giới Nhật Bản và người Okinawa gốc sinh sống ở Honolulu là 13,1/100.000 (Mayeux et al., 1995; Morens et al., 1996a) Các biến thể này trong các quần thể có thể phản ánh những khác biệt thực tế hoặc chỉ do độ chính xác kém hoặc kết quả từ mẫu nhỏ. -Nắm bắt sự khác biệt trong tỷ lệ mắc PD giữa các nhóm dân cư với nghiên cứu chuẩn SEO chuyên sâu [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha)
Tỷ lệ mắc Parkinson (PD) tại Bắc Mỹ và châu Âu ước tính là 100-200 trên 100.000 người, phản ánh tỷ lệ cao hơn đáng kể so với các nước đang phát triển, nơi tỷ lệ này chỉ bằng khoảng 10% so với các quốc gia phát triển.
Bệnh Parkinson (PD) là một bệnh thoái hóa thần kinh tiến triển mãn tính với tỷ lệ mắc khoảng 1% ở người trên 65 tuổi và tăng lên gần 5% ở người trên 85 tuổi [45] Độ tuổi trung bình chẩn đoán bệnh là từ 60-70 tuổi, nhưng do triệu chứng phát triển chậm và dễ che khuất, PD có thể bắt đầu nhiều năm trước khi được phát hiện chính thức [26] Bệnh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, với ước tính 5-10% trường hợp được xác định trước 50 tuổi [40] Ngoài tuổi tác, giới tính cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh, khi nam giới mắc cao hơn gấp 3 lần nữ giới, có thể do ảnh hưởng của estrogen đối với tế bào thần kinh và các đường tín hiệu trong não [26] Tại Việt Nam, mặc dù số bệnh nhân Parkinson ngày càng tăng, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các khía cạnh lâm sàng như tiền sử gia đình, đánh giá trí nhớ, chức năng trí tuệ, kiểm tra tâm thần, chụp sọ, khám thần kinh để đánh giá vận động cùng phản ứng với L-DOPA Triệu chứng của bệnh Parkinson trong nước thường được chia thành nhóm triệu chứng cơ bản (run, tăng trương lực, giảm động) và các triệu chứng khác như rối loạn cảm giác (đau loạn cảm, đứng ngồi không yên, nóng bức), rối loạn phản xạ (tăng phản xạ gân xương, phản xạ mũi mi, không có phản xạ bệnh lý bó tháp), rối loạn thần kinh thực vật (tăng tiết, phù, tím tái chân tay, hạ huyết áp tư thế), cùng các rối loạn tâm thần như suy giảm trí tuệ còn tốt, có thể có trầm cảm [4].
Nghiên cứu của Nguyễn Du và Lê Quang Cường cho thấy, khoảng 59,22% bệnh nhân mắc rối loạn thần kinh thực vật, trong đó có 8,74% bị hạ huyết áp tư thế Ngoài ra, có đến 31,07% biểu hiện các triệu chứng về vận mạch như đỏ da, bong vảy, da bóng, hồi hộp Đồng thời, 40,78% bệnh nhân gặp rối loạn bài tiết, chủ yếu là chứng táo bón, và các trường hợp nặng còn có tình trạng tăng tiết đờm rãi.
Trong một nghiên cứu của Nhữ Đình Sơn, trên 87 bệnh nhân Parkinson trung bình 58,63 tuổi, có tới 72,41% bệnh nhân biểu hiện các triệu chứng rối loạn tâm thần Các triệu chứng thường gặp bao gồm suy giảm nhận thức (48,28%), trầm cảm (34,48%) và lo âu (16,09%) Các triệu chứng rối loạn tâm thần này có mối liên quan chặt chẽ với giai đoạn bệnh, mức độ nặng và thời gian mắc bệnh của bệnh nhân Parkinson.
Nghiên cứu của Nguyễn Bá Nam (2016) trên 40 bệnh nhân mắc Parkinson với tuổi trung bình 62,6 cho thấy tỷ lệ trầm cảm là 60%, suy giảm nhận thức 35%, rối loạn trí nhớ 72,5%, và hoang tưởng, ảo giác 22,5% Các triệu chứng rối loạn tâm thần ngày càng tăng theo thời gian mắc bệnh và giai đoạn bệnh; đặc biệt, sau hơn 5 năm mắc bệnh và ở giai đoạn IV, 100% bệnh nhân đều xuất hiện ít nhất một triệu chứng rối loạn tâm thần.
Nguyễn Văn Quảng (2013) nghiên cứu 60 bệnh nhân Parkinson, với tuổi trung bình là 71,77 ± 7,57, và phát hiện các triệu chứng rối loạn tâm thần như trầm cảm (43,33%), hoang tưởng (6,67%), suy giảm nhận thức (53,33%), giảm trí nhớ (40,00%), ảo giác (6,67%) và lo âu (13,33%) Trầm cảm chủ yếu ở mức độ nhẹ đến trung bình, trong khi rối loạn thần kinh thực vật gặp ở 76,67% bệnh nhân, gồm các triệu chứng như táo bón (46,67%), hạ huyết áp tư thế (16,67%), tăng tiết mồ hôi (63,33%) và rối loạn chức năng bàng quang (30%) Các triệu chứng ngoài rối loạn vận động xuất hiện ở mọi giai đoạn mắc bệnh, tuy nhiên, bệnh nặng và kéo dài thường đi kèm với tỷ lệ triệu chứng cao hơn.
Thực trạng nghiên cứu về tuân thủ thuốc của người bệnh Parkinson
Hiện nay, nghiên cứu trong nước về quản lý và tuân thủ điều trị bệnh Parkinson còn rất hạn chế, gây khó khăn trong việc nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân Người bệnh mắc bệnh mạn tính không chỉ đối mặt với một bệnh duy nhất mà còn có thể mắc nhiều bệnh khác, đồng thời phải uống nhiều loại thuốc và nhiều lần trong ngày, dẫn đến nguy cơ quên uống thuốc, bỏ liều hoặc sợ tác dụng phụ Điều này làm giảm hiệu quả điều trị, khiến bệnh trở nặng hoặc biến chứng nguy hiểm Ngoài ra, việc hướng dẫn tập thể dục cho người bệnh thường không rõ ràng và khó thực hiện, trong khi chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong giảm tiến triển bệnh và phòng ngừa biến chứng Vì vậy, cần thực hiện các nghiên cứu toàn diện về quản lý bệnh Parkinson để hiểu rõ hơn nhu cầu hỗ trợ của người bệnh, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và tuổi thọ cho họ.
Nhiều nghiên cứu quốc tế đã tập trung vào quản lý bệnh Parkinson, đặc biệt là về việc tuân thủ điều trị [31], [39] Những phát hiện này cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao ý thức và hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình điều trị để cải thiện kết quả sức khỏe.
Năm 2018, Igor Straka, MD và cộng sự đã công bố các khía cạnh lâm sàng của tuân thủ thuốc, cho thấy rằng tuân thủ liên quan đến tình trạng bệnh và các yếu tố xã hội học như đối tác hỗ trợ, nền tảng gia đình tốt và tuổi tác, trong khi chủng tộc và giới tính không đóng vai trò quan trọng Một nghiên cứu lớn đa trung tâm tại châu Âu sử dụng hệ thống theo dõi điện tử MEMS cho thấy tỷ lệ tuân thủ tổng thể đạt 97,7%, tuân thủ hàng ngày là 86,2%, tuy nhiên thời gian tuân thủ trung bình chỉ là 24,4%, với hơn 12% bệnh nhân dùng dưới 80% liều quy định Tuân thủ theo ngày giờ thường thấp hơn so với tuân thủ toàn bộ, và các nghiên cứu về bệnh mãn tính cho thấy tổng thời gian tuân thủ trung bình là 71% ± 17%, thời gian tuân thủ là 59% ± 24% Các phát hiện này đã giúp đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ thuốc.
Các nghiên cứu về tuân thủ thuốc của người bệnh Parkinson tại Việt Nam còn hạn chế, tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ thuốc của bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính như tăng huyết áp và đái tháo đường cũng thấp Nghiên cứu của tác giả Phùng Văn Ngọc trên 202 bệnh nhân tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ tuân thủ thuốc điều trị tăng huyết áp ở mức kém, trung bình và cao lần lượt là 59,9%, 31,7% và 8,4% Các yếu tố như giới tính, tuổi, tham gia bảo hiểm y tế, hút thuốc lá thường xuyên, thời gian bị tăng huyết áp và mức độ hiểu biết về bệnh có mối liên hệ độc lập với việc tuân thủ thuốc điều trị tăng huyết áp [13].
Nghiên cứu của tác giả Trần Đức Sỹ (2021) trên 387 bệnh nhân khám ngoại trú tại Khoa tim mạch - Phòng khám đa khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn cho thấy điểm trung bình mức độ tuân thủ điều trị là 5,77/10, trong đó nguyên nhân chính khiến bệnh nhân không dùng thuốc đúng chỉ định là quên liều hàng ngày (39,28%) Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thuốc bao gồm tuổi của bệnh nhân, nhóm bệnh nhân đạt mục tiêu huyết áp có tỷ lệ tuân thủ cao hơn nhóm chưa đạt, và thời gian chẩn đoán tăng huyết áp kéo dài cũng giúp nâng cao điểm tuân thủ Bên cạnh đó, mức độ tuân thủ còn liên quan đến tổng lượng thuốc bệnh nhân sử dụng và các yếu tố dịch tễ khác, cho thấy tầm quan trọng của việc theo dõi và quản lý điều trị tăng huyết áp để nâng cao hiệu quả bệnh lý.
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thùy Nhi (2021) trên 396 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân là 66,28 năm (± 14,08), trong đó tỷ lệ nữ chiếm 68,7% Ban đầu, tỷ lệ không tuân thủ điều trị là 36,6%, nhưng sau 3 tháng giảm còn 26,3% Các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến mức độ tuân thủ của bệnh nhân bao gồm việc tập thể dục thường xuyên (p=0,009), chế độ ăn hợp lý (p=0,039), sự nhắc nhở từ cán bộ y tế về tuân thủ điều trị (p=0,042), và sự hài lòng với dịch vụ y tế (p=0,022), cho thấy vai trò quan trọng của các yếu tố hành vi và dịch vụ y tế trong kiểm soát bệnh đái tháo đường típ 2.
Một số vấn đề tuân thủ thuốc của người bệnh Parkinson điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai
Tại Bệnh viện Bạch Mai, phòng khám chuyên khoa Thần Kinh của Khoa Khám Bệnh cung cấp dịch vụ khám và điều trị các bệnh về thần kinh một cách chuyên nghiệp và toàn diện Phòng khám theo yêu cầu của Khoa Khám Bệnh giúp đáp ứng nhanh chóng nhu cầu khám bệnh của bệnh nhân, đảm bảo chất lượng dịch vụ cao Ngoài ra, phòng tái khám chuyên khoa Thần Kinh của Khoa Thần Kinh hỗ trợ theo dõi, điều chỉnh phương pháp điều trị để đạt hiệu quả tối ưu cho người bệnh.
Trong quá trình theo dõi và đánh giá điều trị, chúng tôi nhận thấy tuân thủ thuốc của người bệnh là vấn đề nổi cộm, khi nhiều người thường xuyên sử dụng thêm các loại thuốc bổ được quảng cáo qua truyền hình, mạng internet hoặc giới thiệu từ người thân, thậm chí kết hợp thêm thuốc đông y Người bệnh thường bỏ bớt thuốc do lo sợ tác dụng phụ, độc hại hoặc để phòng tránh thiếu thuốc khi không thể nhận thuốc BHYT, khiến quá trình điều trị bị gián đoạn Ngoài ra, người bệnh chủ động uống thuốc không đúng thời điểm do thiếu hiểu biết về thời gian bán thải của thuốc, dẫn đến không đạt được hiệu quả điều trị mong muốn, thậm chí tình trạng bệnh nặng hơn và cần nhập viện.
Chúng tôi bắt nguồn từ thực tiễn để khảo sát nguyên nhân khiến người bệnh không tuân thủ thuốc, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng quy trình khám chữa bệnh Việc hiểu rõ các yếu tố gây ra tình trạng này giúp chúng tôi cung cấp sự hỗ trợ phù hợp, tối ưu hóa quá trình điều trị và nâng cao trải nghiệm của bệnh nhân Đồng thời, nghiên cứu này góp phần hoàn thiện các quy trình y tế, đảm bảo tuân thủ thuốc đúng liệu trình để nâng cao kết quả điều trị.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Trong năm 2021, người bệnh đến khám ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai, được các bác sĩ chuyên khoa Thần kinh tiến hành thăm khám và chẩn đoán mắc bệnh Parkinson tại phòng khám chuyên khoa Thần Kinh của bệnh viện.
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ chọn các bệnh nhân được chẩn đoán là bệnh Parkinson và không bao gồm hội chứng Parkinson
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Parkinson: theo Ngân hàng não bệnh Parkinson
Người bệnh đến khám có chậm vận động và kèm ít nhất 1 trong các triệu chứng sau được lựa chọn đưa vào nghiên cứu:
- Mất ổn định tư thế không liên quan rối loạn chức năng thị giác, tiểu não, tiền đình hay cảm giác sâu
Người bệnh có ít nhất 3 trong các đặc điểm sau để chẩn đoán xác định bệnh Parkinson:
- Triệu chứng bất đối xứng kéo dài với bên khởi phát triệu chứng bị nặng hơn
- Đáp ứng tốt với levodopa
- Múa giật nặng do levodopa
- Đáp ứng với levodopa trong hơn 5 năm
- Diễn tiến lâm sàng trên 10 năm
Song song với quá trình trên, người bệnh được hỏi bệnh, thăm khám về bệnh và tiền sử bệnh đã mắc để loại trừ hội chứng Parkinson khác như:
- Đột quỵ tái diễn với diễn tiến kiểu bậc thang
- Chấn thương đầu tái diễn
- Dùng thuốc làm giảm dopamine hay thuốc chống loạn thần
- Viêm não và/hay các cơn gây vận động nhãn cầu mà không do dùng thuốc…
Tất cả người bệnh đều đã được chụp MRI não - mạch não: không có tổn thương não, mạch não
- Người bệnh /người nhà tự nguyện tham gia nghiên cứu có sổ khám bệnh đầy đủ thông tin
- Người bệnh/người nhà không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc đồng ý tham gia nghiên cứu nhưng có sổ khám bệnh thiếu thông tin
- Địa điểm nghiên cứu: Chuyên khoa Thần kinh - Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Bạch Mai
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2021 - tháng 12/2021.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
Cỡ mẫu: Chọn mẫu xác suất xác định một tỷ lệ n =(𝑧 (1− ∝
Trong đó, n cỡ mẫu tối thiểu với độ tin cậy 95% thì α = 0,05, hệ số z = (1-
∝/2)=1,96, sai số ước lượng chọn d=0,1;
Tỷ lệ người bệnh PD tuân thủ thuốc cao theo nghiên cứu trước của Nguyễn Thị Ngọc Quý là 0,471 [18]
Thay vào công thức trên: n = (1,962 0,471.0,529
0,1 2 ) = 95,71= 96 Như vậy cỡ mẫu tối thiểu là 96 người bệnh
Lấy toàn bộ người bệnh khám năm 2021 được 160 người bệnh
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn toàn bộ người bệnh được chẩn đoán bệnh Parkinson từ tháng 1/2021 đến tháng 10/2021 có đầy đủ thông tin trong sổ khám bệnh
2.2.3 Các biến số nghiên cứu
Nội dung Biến số Phân loại Phương pháp thu thập
Bảng câu hỏi và bệnh án
Năm mắc bệnh Biến định lượng
Trình độ học vấn Biến thứ hạng
Nghề nghiệp Biến thứ hạng
Giai đoạn bệnh Biến định lượng
Người chăm sóc Biến nhị phân
Ai chăm sóc Biến thứ hạng
Thời gian đi khám bênh Biến định lượng
Chi phí đi khám bệnh Định lượng
NVYT hỏi về tiền sử bệnh Có - không
Các thuốc đang sử dụng Biến định lượng
Cách giải thích của NVYT Biến định danh
Cách hiểu của người bệnh Biến định danh
Hiểu về tiên lượng bệnh Biến nhị phân
Kiến thức tuân thủ thuốc Biến định danh
Biết về lợi ích tuân thủ thuốc Biến nhị phân
Số lượng thuốc uống thêm Định lượng
Loại thuốc uống thêm Biến định danh
BN bỏ bớt thuốc Biến nhị phân
Lý do bỏ bớt thuốc Bính định danh
Mức độ quên thuốc Biến định danh
Lý do quên thuốc Biến định danh
Số loại thuốc uống trong ngày Biến định lượng
Nội dung Biến số Phân loại Phương pháp thu thập
Số lần uống thuốc trong ngày Biến định danh Đường dùng thuốc Biến định danh
Uống bù thuốc Biến định danh
Lý do bỏ điều trị Biến định danh
Mong muốn được giúp đỡ của người bệnh
2 Điểm vận động của người bệnh Biến định lượng Bệnh án
Đánh giá biến số về Quản lý người bệnh Parkinson
- Nhân viên y tế khai thác thông tin về bệnh sử trước đây của người bệnh: gồm
- Nhân viên y tế khai thác thông tin về thuốc đang dùng của người bệnh: gồm 2 giá trị:
- Nhân viên y tế giải thích về tác dụng của từng loại thuốc cho người bệnh: gồm
- Mức độ giải thích của nhân viên y tế: gồm 3 giá trị
Trả lời đáp án Đầy đủ: 1 điểm
Trả lời đáp án rất ít, chưa đầy đủ: 0 điểm
- Đánh giá của người bệnh khi được giải thích: gồm 3 giá trị
Dễ hiểu và có thể làm được
Hiểu nhưng khó làm theo
Chọn đáp án dễ hiểu và có thể làm được: 1 điểm
Chọn đáp án khó hiểu hoặc hiểu nhưng khó làm theo: 0 điểm
Tổng điểm thu được của phần này tối đa là 5 điểm, tối thiểu là 0 điểm
Quản lý người bệnh được xem là tốt khi đạt điểm từ 4 đến 5, trong khi không tốt khi điểm dưới 4 Điểm cắt (cut-off) là 4 điểm vì dựa trên tiêu chuẩn lấy 80% số câu trả lời đúng, thể hiện khả năng quản lý người bệnh ở mức phù hợp và đảm bảo chất lượng chăm sóc.
Đánh giá biến số về Tuân thủ thuốc của người bệnh Parkinson
Thực phẩm chức năng được xác định theo Viện Quốc tế Khoa học và Đời sống (ILSI) là loại thực phẩm mang lại lợi ích cho sức khỏe bằng cách cải thiện các hoạt động của cơ thể và giảm nguy cơ mắc bệnh, vượt xa giá trị dinh dưỡng thông thường Theo đó, thực phẩm chức năng có bốn giá trị chính: hỗ trợ nâng cao hệ miễn dịch, giúp duy trì cân bằng dinh dưỡng, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh và thúc đẩy quá trình phục hồi sức khỏe nhanh chóng Việc bổ sung thêm thực phẩm chức năng đúng cách có thể góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ sức khỏe toàn diện.
Người bệnh chọn đáp án Không uống: 1 điểm
Người bệnh chọn đáp án uống 1 loại, uống 2 loại, đáp án khác (nhiều hơn 2 loại: 0 điểm
- Mục đích uống thực phẩm chức năng: gồm 2 giá trị
Người bệnh chọn đáp án bồi bổ sức khỏe: 1 điểm
Người bệnh chọn đáp án khác: 0 điểm
- Bớt thuốc được cấp/phát: gồm 2 giá trị
Người bệnh chọn đáp án không: 1 điểm
Người bệnh chọn đáp án có: 0 điểm
- Tình trạng quên thuốc: gồm 2 giá trị
Người bệnh chọn đáp án không: 1 điểm
Người bệnh chọn đáp án có: 0 điểm
- Tần suất quên thuốc: gồm 3 giá trị
Người bệnh chọn đáp án đôi khi: 1 điểm
Người bệnh chọn đáp án còn lại: 0 điểm
- Số lần quên thuốc trong 1 tháng điều trị: gồm 4 giá trị
Người bệnh chọn đáp án 1 lần hoặc 2 lần: 1 điểm
Người bệnh chọn đáp án khác: 0 điểm
- Biện pháp xử lý khi quên thuốc: gồm 4 giá trị
Xin lời khuyên của BS
Người bệnh chọn đáp án xin lời khuyên của BS: 1 điểm
Người bệnh chọn các đáp án còn lại: 0 điểm
- Tình trạng bỏ điều trị: gồm 2 giá trị
Người bệnh chọn đáp án không: 1 điểm
Người bệnh chọn đáp án có: 0 điểm
Điểm đánh giá tuân thủ thuốc dao động từ 0 đến 5 điểm, phản ánh mức độ tuân thủ của bệnh nhân trong việc dùng thuốc Tuân thủ thuốc đúng là khi đạt 5 điểm, thể hiện sự tuân thủ hoàn toàn theo hướng dẫn của bác sĩ Ngược lại, nếu điểm đạt từ 4 điểm trở xuống, chứng tỏ việc tuân thủ chưa đúng hoặc còn thiếu sót trong quá trình sử dụng thuốc Việc đánh giá này giúp đảm bảo hiệu quả điều trị và nâng cao sức khỏe của người bệnh.
- Lý do bỏ điều trị: gồm 5 giá trị
Uống kéo dài độc hại
Không thanh toán được chi phí
Covid - giãn cách xã hội
Người bệnh chọn đáp án không thanh toán được chi phí hoặc Covid-giãn cách xã hội: 1 điểm
Người bệnh chọn đáp án khác hai đáp án trên: 0 điểm
Tổng điểm của phần này là 9 điểm
Nếu người bệnh trả lời được từ 7-9 điểm: tuân thủ thuốc tốt
Nếu người bệnh trả lời dưới 7 điểm: tuân thủ thuốc không tốt Điểm cut-off 7 điểm dựa trên 80 % câu trả lời đúng là tuân thủ thuốc tốt
Đánh giá kiến thức về tuân thủ thuốc của người bệnh
Tuân thủ thuốc điều trị đúng cách là việc người bệnh sử dụng thuốc đều đặn hàng ngày, đúng theo chỉ định của bác sĩ về loại thuốc, liều lượng và thời gian dùng Việc này đảm bảo hiệu quả điều trị tối ưu, giúp người bệnh nhanh chóng phục hồi và tránh các biến chứng không mong muốn Tuân thủ đúng thuốc không những nâng cao kết quả điều trị mà còn giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc, bảo vệ sức khỏe lâu dài của người bệnh.
- Kiến thức sai về tuân thủ thuốc điều trị nếu người bệnh trả lời một trong các đáp án sau: + Tự mua lại đơn cũ là được
+ Mua thuốc của bệnh nhân Parkinson khác
+ Dùng khi bệnh tiến triển nặng thêm
Thang điểm vận động UPDRS được sử dụng để đánh giá mức độ vận động của bệnh nhân Parkinson bằng cách tính điểm cho từng mục khám vận động Thang điểm này gồm 14 mục để đánh giá các yếu tố vận động khác nhau (xem chi tiết trong phụ lục), giúp ghi nhận tổng số điểm vận động của từng bệnh nhân một cách chính xác.
Người bệnh được ghi nhận về số điểm vận động của thang điểm từ 0 đến 4 điểm: Mỗi một phần khám này được tính điểm từ 0 đến 4 điểm theo UDPRS:
2 điểm: triệu chứng nhẹ đến trung bình (trên mức 1 điểm nhưng chưa đạt mức triệu chứng trung bình)
3 điểm: triệu chứng trung bình
Bệnh Parkinson thường biểu hiện qua bốn triệu chứng phổ biến nhất, giúp nhận diện chính xác bệnh gồm run khi nghỉ, cứng cơ, chậm động và mất ổn định tư thế Mỗi triệu chứng này đều có đặc điểm riêng biệt và được trình bày chi tiết theo từng điểm nhằm nâng cao hiểu biết về bệnh Việc nhận biết sớm các triệu chứng này có vai trò quan trọng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh Parkinson hiệu quả hơn.
2.2.4 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu
2.2.4.1 Kỹ thuật thu thập số liệu
Nhóm điều tra gồm 4 người, trong đó có tác giả, làm việc tại Bệnh viện Bạch Mai, là các bác sĩ chuyên khoa điều trị bệnh Parkinson Các thành viên có kỹ năng giao tiếp tốt với người bệnh Parkinson, giúp thu thập số liệu định lượng chính xác Tuy nhiên, những bác sĩ này không phải là đối tượng nghiên cứu mà đóng vai trò hỗ trợ trong việc thu thập dữ liệu cho nghiên cứu.
- Đào tạo nhóm để thống nhất nội dung bộ câu hỏi, kỹ thuật và cách thức tiến hành thu thập số liệu
Trong quá trình khám bệnh, dữ liệu về thông tin chung và tình trạng bệnh của người bệnh được thu thập để đánh giá chính xác quá trình điều trị Sau một tháng điều trị, các số liệu liên quan đến việc tuân thủ thuốc chữa bệnh của người bệnh được ghi nhận, giúp theo dõi hiệu quả điều trị Khách hàng đến khám định kỳ hàng tháng để kiểm tra tiến triển của bệnh, và trong năm 2021, các lý do bỏ điều trị của bệnh nhân nếu có cũng được ghi nhận nhằm đảm bảo thống kê đầy đủ và chính xác.
2.2.4.2 Bộ công cụ thu thập số liệu
Bộ công cụ nghiên cứu là phiếu phỏng vấn định lượng bao gồm 32 câu hỏi và 1 câu đánh giá điểm vận động của người bệnh được chia làm 4 phần
- Phần 1: Thông tin chung về người bệnh gồm 17 câu hỏi
- Phần 2: Vấn đề quản lý người bệnh Parkinson ngoại trú gồm 05 câu hỏi
- Phần 3: Sự tuân thủ thuốc điều trị của người bệnh gồm 11 câu hỏi
- Phần 4: Đánh giá vận động của người bệnh dựa trên thang điểm thống nhất đánh giá bệnh Parkinson (Unified Parkinson’s disease rating scale)
Sơ đồ 2: Sơ đồ quy trình lựa chọn đối tượng nghiên cứu
Người bệnh đến khám tại khoa Thần kinh - Bệnh viện Bạch Mai
Người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh Parkinson
Không đủ tiêu chuẩn Đủ tiêu chuẩn
Không đồng ý tham gia Đồng ý tham gia
2.2.6 Phân tích và xử lý số liệu
- Số liệu định lượng được nhập liệu bằng phần mềm quản lý số liệu thống kê Epidata 3.1
- Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0
Phép thống kê mô tả là công cụ hữu ích để phân tích dữ liệu, trong đó cho phép mô tả các tần số và tỷ lệ của các biến định tính, giúp hiểu rõ phân phối và mức độ phổ biến của các giá trị trong tập dữ liệu Đồng thời, thống kê mô tả còn sử dụng trung bình và độ lệch chuẩn để mô tả các biến định lượng, cung cấp thông tin về giá trị trung tâm và mức độ dao động của dữ liệu, từ đó hỗ trợ đưa ra các kết luận chính xác và rõ ràng trong quá trình phân tích dữ liệu.
Quản lý người bệnh Parkinson được đánh giá bao gồm các yếu tố tốt và chưa tốt, đặc biệt về mức độ tuân thủ thuốc của người bệnh Việc tuân thủ thuốc đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả điều trị, phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý người bệnh và sự tuân thủ thuốc Ngoài ra, các yếu tố như đặc điểm chung của bệnh nhân, triệu chứng vận động của bệnh Parkinson, cùng với các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý và sự tuân thủ của người bệnh Hiểu rõ mối liên hệ này giúp cải thiện chất lượng chăm sóc và kết quả điều trị cho bệnh nhân Parkinson.
Người bệnh được chia thành hai nhóm dựa trên mức độ các triệu chứng và mức độ tuân thủ thuốc Nhóm thứ nhất gồm những bệnh nhân có tất cả các triệu chứng dưới mức trung bình (tối đa 32 điểm), trong khi nhóm còn lại bao gồm những người có bất kỳ điểm vận động nào theo thang UDPRS mức trung bình hoặc nặng Sự phân loại này giúp nâng cao hiệu quả quản lý và điều trị Parkinson, đồng thời nhấn mạnh mối liên hệ giữa mức độ triệu chứng và mức độ tuân thủ thuốc trong quá trình chăm sóc bệnh nhân.
So sánh mức độ triệu chứng dưới trung bình (từ mức bình thường, rất nhẹ đến dưới trung bình), trung bình đến nặng với mức độ tuân thủ thuốc
Trong phân tích dữ liệu, kiểm định khi bình phương (Chi-square test) được sử dụng để xác định sự khác biệt giữa các tỷ lệ của các nhóm khác nhau, giúp đánh giá tính độc lập hoặc sự liên quan giữa các biến categorical Đối với so sánh giữa các giá trị trung bình của các nhóm, T-test là phương pháp thích hợp, chỉ ra liệu có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê hay không khi mức ý nghĩa p-valued ≤ 0,05 Các phương pháp này giúp các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận chính xác về sự khác biệt trong các dữ liệu phân tích, nâng cao độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
- Các kết quả phân tích số liệu được trình bày dưới dạng các bảng biểu.
Đạo đức nghiên cứu
Đối tượng tham gia nghiên cứu được nghe giải thích về mục đích nghiên cứu trước khi tiến hành điền phiếu điều tra
Trong quá trình nghiên cứu, người tiến hành không can thiệp trực tiếp hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người bệnh, đảm bảo sự an toàn và tôn trọng quyền lợi của họ Tất cả thông tin từ đối tượng nghiên cứu đều được bảo mật tuyệt đối, đảm bảo tính trung thực và khách quan của dữ liệu thu thập Các thông tin này không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ áp lực hay tác động nào, chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của kết quả.
Nghiên cứu được phép của hội đồng đề cương trường Đại học Thăng Long và Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y-sinh học của Bệnh viện.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng quản lý người bệnh ngoại trú và tuân thủ thuốc của người bệnh
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của người bệnh Parkinson
Nhóm tuổi Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Người bệnh Parkinson có độ tuổi từ 60 đến 70 tuổi chiếm đa số với tỷ lệ
Trong số các bệnh nhân Parkinson (PD), có đến 56,9% là người từ 60 tuổi trở lên, cho thấy tuổi tác là yếu tố nguy cơ chính Trước đó, tỷ lệ người mắc PD dưới 50 tuổi và trong độ tuổi từ 50 đến dưới 60 tuổi lần lượt là 20% và 23,1%, phản ánh rằng bệnh có thể xuất hiện ở nhiều nhóm tuổi khác nhau, nhưng phổ biến hơn ở người cao tuổi.
Bảng 3.2 Đặc điểm về giới tính của người bệnh Parkinson
Giới tính Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: NB giới tính nữ chiếm tỷ lệ cao hơn NB giới tính nam (55,6% so với 44,4%)
Bảng 3.3 Đặc điểm về trình độ học vấn của người bệnh Parkinson
Trình độ học vấn Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Trung cấp/Cao đẳng 31 19,4 Đại học/Cao học 7 4,4
Nhận xét: NB Parkinson chủ yếu có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở, chiếm tỷ lệ
37.5%, tiếp đó là trình độ tiểu học với tỷ lệ là 23,1% Người bệnh Parkinson có trình độ Đại học/Cao học chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ với 4,4%
Bảng 3.4 Đặc điểm về nghề nghiệp của người bệnh Parkinson
Trình độ học vấn Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Theo nhận xét, đa phần bệnh nhân Parkinson có nghề nghiệp chính là nông dân, chiếm tỷ lệ 40%, tiếp đến là nhóm đã nghỉ hưu với tỷ lệ 30% Ngoài ra, có 24,4% bệnh nhân làm công nhân và 5,6% người bệnh tham gia các công việc khác như buôn bán hoặc công việc văn phòng.
Bảng 3.5 Đặc điểm các triệu chứng lâm sàng run khi nghỉ của đối tượng nghiên cứu
Run chi trên Run chi dưới Run môi
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ% Số lượng Tỷ lệ%
Nhẹ liên tục/ trung bình theo cơn 76 47,5% 60 37,5% 3 1,9%
Biểu đồ 3.1 Mức độ run khi nghỉ của người bệnh Parkinson
Biểu đồ 3.1 thể hiện mức độ run của người bệnh Parkinson, cho thấy tất cả các bệnh nhân đều có biểu hiện run tay trên từ nhẹ đến nặng, trong đó “run chi trên mức độ nhẹ và trung bình liên tục chiếm tỷ lệ gần bằng nhau” Khoảng 4,4% người bệnh không có biểu hiện run chi dưới, trong khi 75% không có biểu hiện run môi Các bệnh nhân có run chi dưới mức độ nhẹ chiếm 47,5%, còn 37,5% có run mức trung bình Ngoài ra, 21,2% người bệnh Parkinson có biểu hiện run môi mức độ nhẹ, phản ánh mức độ phổ biến và phân bố của các biểu hiện run trong nhóm bệnh nhân.
Run chi trên Run chi dưới Run môi
Nhẹ liên tục/Trung bình theo cơn Trung bình liên tục
Bảng 3.6 Đặc điểm các triệu chứng cứng cơ, ổn định tư thế và chậm động/giảm động của đối tượng nghiên cứu
Cứng cơ Ổn định tư thế Chậm động, giảm động
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Nhẹ liên tục/ trung bình theo cơn 90 56,3% 60 37,5% 67 41,9%
Cứng cơ Ổn định tư thế Chậm động, giảm động
Bình thường Rất nhẹ Nhẹ đến trung bình
Biểu đồ 3.2 thể hiện mức độ cứng cơ, ổn định tư thế và chậm hoặc giảm động ở bệnh nhân Parkinson, với đầy đủ năm mức từ bình thường đến nghiêm trọng Gần 56,3% bệnh nhân Parkinson có mức cứng cơ nhẹ đến trung bình, cho thấy phần lớn người bệnh gặp phải mức độ cứng cơ trung bình hoặc nhẹ Về ổn định tư thế, có 40,6% bệnh nhân thấy xu hướng dễ đi về phía sau nhưng vẫn có thể chỉnh sửa tư thế mà không cần hỗ trợ, thuộc mức nhẹ Các dữ liệu này giúp xác định mức độ vận động cứng cơ và ổn định của bệnh nhân Parkinson để có hướng điều trị phù hợp.
BN Parkinson thường gặp mất đáp ứng tư thế và dễ té ngã nếu người khám không hỗ trợ giữ lại, đặc biệt ở mức trung bình Khoảng 36,2% bệnh nhân có biểu hiện chậm động từ từ, trong khi 41,9% khác hạn chế vận động khi di chuyển ghế Những triệu chứng này phản ánh khả năng vận động giảm sút đáng kể ở người bệnh Parkinson.
Bảng 3.7 Đặc điểm về BHYT của người bệnh Pakinson
BHYT Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh Parkinson có BHYT là 43,8% thấp hơn tỷ lệ NB
Bảng 3.8 Thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm (tính theo năm) Thời gian
Khoảng thời gian từ khi có triệu chứng đầu tiên tới khi chẩn đoán 0,50 ± 0,57
Thời gian mắc bệnh trung bình của bệnh nhân Parkinson trong nghiên cứu là 4,8 năm, với khoảng dao động từ 1 đến 15 năm, cho thấy sự đa dạng về thời gian bệnh diễn tiến Thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến khi được chẩn đoán chính thức trung bình là khoảng 6 tháng, trong đó có những trường hợp chẩn đoán ngay từ khi triệu chứng bắt đầu hoặc sau tối đa 2 năm Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm để can thiệp kịp thời.
Bảng 3.9 Điều kiện về chăm sóc người bệnh Parkinson Đặc điểm về vấn đề chăm sóc Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Không có người chăm sóc 58 36,3
Theo đánh giá, có đến 88,8% bệnh nhân Parkinson có khả năng tự sinh hoạt hàng ngày, trong khi chỉ 11,3% cần người hỗ trợ chăm sóc Đối tượng chăm sóc bệnh nhân Parkinson chủ yếu là chồng hoặc vợ chiếm tỷ lệ 47,5%, tiếp đến là con với tỷ lệ 13,1% Tuy nhiên, vẫn còn đến 36,3% bệnh nhân Parkinson không có ai chăm sóc, đặt ra những thách thức lớn cho công tác hỗ trợ và chăm sóc bệnh nhân.
Bảng 3.10 Thời gian và chi phí đến khám của người bệnh Parkinson Đặc điểm Thời gian
Thời gian di chuyển đến nơi khám (phút) 90 ± 83,8
Chi phí di chuyển đến nơi khám (nghìn đồng) 200 ± 164,4
Nhận xét: Thời gian trung bình NB Parkinson di chuyển từ nhà tới Bệnh viện Bạch
Thời gian trung bình của bệnh nhân Parkinson di chuyển là khoảng 90 phút, với thời gian ngắn nhất là 25 phút và dài nhất là 8 tiếng Phần lớn bệnh nhân mất khoảng 1 giờ để đến Bệnh viện Bạch Mai thăm khám và điều trị Chi phí trung bình mà bệnh nhân Parkinson phải trả để đến khám là khoảng 200.000 đồng, với mức thấp nhất là không mất phí và cao nhất là 1.2 triệu đồng.
3.1.2 Thực trạng quản lý người bệnh Parkinson ngoại trú
Bảng 3.11 Tình trạng khai thác tiền sử bệnh của người bệnh Parkinson
Khai thác tiền sử bệnh Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Đa số bệnh nhân Parkinson (chiếm tỷ lệ 99,4%) đều được khai thác kỹ lưỡng tiền sử bệnh, đảm bảo chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả Tuy nhiên, vẫn còn một trường hợp duy nhất chưa được thực hiện khảo sát về tiền sử bệnh, cho thấy cần nâng cao công tác thu thập thông tin bệnh án để đảm bảo chất lượng chẩn đoán và chăm sóc bệnh nhân.
Bảng 3.12 Tình trạng khai thác sử dụng thuốc của người bệnh PD
Sử dụng thuốc Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Người bệnh Parkinson đang sử dụng thuốc chữa bệnh chiếm tỷ lệ cao với
98,1%, chỉ có 03 trường hợp người bệnh chưa được khai thác thông tin có tỷ lệ 1,9%
Bảng 3.13 Sự giải thích về tác dụng của thuốc điều trị Parkinson cho người bệnh
Nội dung Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Giải thích về tác dụng của thuốc
Mức độ giải thích Ít 15 11,9
Chưa đầy đủ 41 32,5 Đầy đủ 70 55,6
Dễ hiểu và có thể làm được 116 92,1
Hiểu nhưng khó làm theo 3 2,4
Kết quả khảo sát chỉ ra rằng có 78,8% bệnh nhân Parkinson đã được giải thích về tác dụng của thuốc sắp uống, trong khi 21,3% chưa nhận được giải thích hoặc không nhớ thông tin Trong số 126 bệnh nhân được giải thích về tác dụng thuốc điều trị, có 55,6% cho biết mức độ giải thích là đầy đủ, còn 32,5% cho biết mức độ giải thích chưa đủ rõ ràng Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc cung cấp hướng dẫn rõ ràng về thuốc để nâng cao hiệu quả điều trị và sự hài lòng của bệnh nhân.
Sau khi được giải thích về tác dụng của thuốc, có đến 92,1% người bệnh đánh giá là dễ hiểu và có thể thực hiện được, cho thấy mức độ giải thích còn hạn chế nhưng phần lớn người bệnh đã nắm bắt được thông tin cần thiết Trong khi đó, tỷ lệ người bệnh đánh giá nội dung khó hiểu và khó làm theo vẫn còn thấp, lần lượt là 5,6% và 2,4%, phản ánh rằng các hướng dẫn đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của người bệnh.
Bảng 3.14 Kiến thức về bệnh Parkinson của người bệnh sau khi tư vấn - giải thích
Nội dung Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
NB hiểu về hướng điều trị bệnh PD
Bệnh có thể chữa được 16 10
NB hiểu về việc tuân thủ thuốc Đúng 102 63,7
Cách hiểu chưa đúng về tuân thủ thuốc
Tự mua lại đơn cũ 36 62,1
Dùng thuốc khi bệnh trở nặng 22 37,9
Người bệnh Parkinson hiểu đúng về hướng điều trị bệnh Parkinson là bệnh mãn tính chiếm tỷ lệ đến 90%, trong khi chỉ có 10% hiểu sai về bệnh này Sau khi được tư vấn và giải thích, có đến 63,7% bệnh nhân hiểu đúng về tầm quan trọng của việc tuân thủ thuốc trong quá trình điều trị, còn 36,3% chưa hiểu rõ về vấn đề này Trong số đó, 62,1% cho rằng có thể tự mua lại đơn thuốc cũ, trong khi 37,9% chỉ dùng thuốc khi bệnh trở nên nặng hơn, cho thấy vẫn còn nhiều bệnh nhân cần được nâng cao kiến thức và ý thức về việc điều trị dài hạn.
Biểu đồ 3.3 Tình trạng quản lý người bệnh Parkinson
Nhận xét: Biểu đồ 3.3 cho thấy tình trạng quản lý tốt người bệnh Parkinson cao hơn tình trạng quản lý chưa tốt (73,8% so với 26,3%)
3.1.3 Thực trạng tuân thủ thuốc của người bệnh Parkinson
Bảng 3.15 Uống thêm thực phẩm chức năng và lý do uống thêm
Nội dung Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Uống thêm thực phẩm chức năng
Lý do uống Bồi bổ sức khỏe 19 59,4
Nhận xét: 80% người bệnh PD không sử dụng thêm thực phẩm chức năng (TPCN), có
13,8% NB sử dụng thêm 1 loại TPCN, 4,4% NB sử dụng 2 loại TPCN và chỉ có 1,9%
Theo thống kê, người tiêu dùng thường sử dụng từ 3 loại TPCN trở lên để tăng cường sức khỏe Trong đó, mục đích chính là bồi bổ sức khỏe chiếm tỷ lệ 59,4%, giúp nâng cao hệ miễn dịch và duy trì sức đề kháng tự nhiên Ngoài ra, 40,6% người dùng chọn dùng TPCN với mong muốn nhanh chóng hồi phục bệnh, đồng thời hỗ trợ quá trình phục hồi cơ thể hiệu quả hơn Việc sử dụng đa dạng các loại TPCN phù hợp giúp tối ưu hóa hiệu quả chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Quản lý tốt Quản lý chưa tốt
Bảng 3.16 Bỏ bớt thuốc và lý do bớt thuốc
Nội dung Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Lý do bỏ bớt thuốc
Nhiều thuốc quá 6 18,8 Để dành đến lúc không có 14 43,8
Khoảng 20% bệnh nhân Parkinson bỏ thuốc điều trị do nhiều lý do khác nhau Trong đó, 43,8% bệnh nhân muốn giữ thuốc để sử dụng khi cần thiết hoặc không còn thuốc mới, 18,8% bỏ thuốc vì phải dùng quá nhiều loại thuốc gây khó chịu, và 6,2% lo sợ tác dụng phụ độc hại Ngoài ra, 31,2% bệnh nhân bỏ thuốc do mệt mỏi, tự giảm liều hoặc không đủ khả năng tài chính để tiếp tục điều trị Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân Parkinson duy trì thuốc vẫn chiếm đến 80%, cho thấy ý thức và sự tuân thủ điều trị vẫn được duy trì khá tốt.
Bảng 3.17 Thực trạng quên thuốc
Nội dung Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Quên mất lượt dùng thuốc 35 33,7
Không thể có người nhắc 10 9,6 Đi xa không mang theo 4 3.8
Tần suất quên thuốc Đôi khi 59 56,7
Số lần quên trong tháng
Dựa trên phân tích, có tới 65% bệnh nhân (BN) quên thuốc, trong khi chỉ 35% không quên Các nguyên nhân chính gây quên thuốc gồm không đúng giờ (chiếm 50%) và quên lượt uống (33,7%), cùng với việc không mang theo thuốc khi đi xa lần lượt là 9,6% và 3,8% Tần suất quên thuốc của BN thể hiện rõ qua tỷ lệ: 56,7% thỉnh thoảng quên, 34,6% đôi khi quên, và 8,7% thường xuyên quên Trong tháng, 33,7% BN quên 1 lần, 23,1% quên 2 lần, 19,2% quên 3 lần, và có tới 24% quên từ 4 lần trở lên Khi quên thuốc, phần lớn BN (51,9%) uống bù, 46,2% bỏ liều và chỉ 1,9% xin lời khuyên từ bác sĩ, cho thấy mức độ tuân thủ thuốc còn hạn chế.
Bảng 3.18 Số lượt bỏ điều trị trong năm 2021 và lý do bỏ điều trị
Nội dung Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Lý do bỏ điều trị
Uống kéo dài độc hại 2 3,8
Không thanh toán được chi phí 10 18,9
Nhận xét: 66.9% NB tiếp tục điều trị, 33,1% NB từ bỏ việc điều trị
Một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ thuốc của người bệnh Parkinson
3.2.1 Mối liên quan giữa hoạt động quản lý người bệnh ngoại trú và việc tuân thủ thuốc của bệnh nhân Parkinson
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa hoạt động quản lý người bệnh với tuân thủ thuốc
Quản lý người bệnh ngoại trú
Nhận xét: Hoạt động quản lý NB ngoại trú tốt giúp NB tuân thủ đúng hơn gấp 1,9
(95% CI: 0,963-4.003) lần quản lý NB ngoại trú chưa tốt, tuy nhiên mối liên quan này chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
3.2.2 Mối liên quan giữa đặc điểm của người bệnh và việc tuân thủ thuốc của bệnh nhân Parkinson
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa đặc điểm tuổi và tuân thủ thuốc
Nội dung Tuân thủ thuốc OR
Từ 60 tuổi đến dưới 70 tuổi 36 (58,1%) 26 (41,9%)
Nhận xét: So sánh với nhóm tuổi dưới 50, tỷ lệ tuân thủ thuốc tốt của các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê, (p>0.05)
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng và tuân thủ thuốc
Nội dung Tuân thủ thuốc OR
Nhận xét: Giới tính nam có tỷ lệ tuân thủ thuốc cao hơn 1.018 lần so với giới tính nữ
Các yếu tố như trình độ học vấn và nghề nghiệp đều ảnh hưởng đến tỷ lệ tuân thủ thuốc, nhưng các mối liên quan này chưa đạt ý nghĩa thống kê (p>0.05) Cụ thể, người có trình độ từ trung học phổ thông trở xuống có tỷ lệ tuân thủ thấp hơn 1.83 lần so với người có trình độ từ trung cấp trở lên (95%CI: 0.542-1.914) Ngoài ra, nông dân có tỷ lệ tuân thủ thuốc thấp hơn 1.2 lần so với công nhân hoặc người đã về hưu, nội trợ (95%CI: 0.252-1.176 và 0.392-1.767).
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa việc có bảo hiểm y tế và việc tuân thủ thuốc
Nội dung Tuân thủ thuốc OR
Nhận xét cho thấy, bệnh nhân Parkinson có bảo hiểm y tế (BHYT) có tỷ lệ tuân thủ thuốc cao hơn gấp 2.550 lần so với nhóm không có BHYT Mối liên hệ này có ý nghĩa thống kê (p=0.006, 95% CI: 1.321 - 4.922), cho thấy việc có BHYT đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao adherence điều trị cho bệnh nhân Parkinson.
Bảng 3.23 Mối liên quan việc tự sinh hoạt và tuân thủ thuốc
Nội dung Tuân thủ thuốc OR
Kết quả nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân Parkinson tự sinh hoạt độc lập có tỷ lệ tuân thủ thuốc cao hơn gấp 3.071 lần so với những người cần chăm sóc, với khoảng tin cậy 95% (95% CI: 1.090-8.656) Mối liên hệ này có ý nghĩa thống kê rõ ràng (p