TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG LẠC TRẦN NGUYỆT QUYÊN THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG ĐẾN KHÁM, ĐIỀU TRỊ HIẾM MUỘN TẠI KHOA SỨC KHỎE SINH SẢN TRUNG TÂM KIỂM
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
LẠC TRẦN NGUYỆT QUYÊN
THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG ĐẾN KHÁM, ĐIỀU TRỊ HIẾM MUỘN TẠI KHOA SỨC KHỎE SINH SẢN TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT
TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Hà Nội – 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
LẠC TRẦN NGUYỆT QUYÊN
Mã học viên: C01692
THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG ĐẾN KHÁM, ĐIỀU TRỊ HIẾM MUỘN TẠI KHOA SỨC KHỎE SINH SẢN TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT
TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Chuyên ngành: Quản lý Bệnh viện
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong đề tài là trung thực và chưa từng công bố trong bất cứ đề tài nào khác
Tác giả luận văn
Lạc Trần Nguyệt Quyên
Trang 4Để hoàn thành được Luận văn và chương trình học này, Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Thăng Long, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Khoa học sức khỏe của Trường Đại học Thăng Long đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, hoàn thành Luận văn này
Ban Giám đốc Sở Y tế Kiên Giang; Trung Tâm Kiểm soát bệnh Tật tỉnh Kiên Giang và Tập thể khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản các anh chị đồng nghiệp
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có số liệu thực hiện góp phần hoàn thành luận văn
Đặc biệt, vô cùng trân trọng và tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy GS.TS TRƯƠNG VIỆT DŨNG, người thầy đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và đầy nhiệt huyết trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này Xin
tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến tất cả Quý Thầy, cô…Trường Đại học Thăng Long đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và làm luận văn
Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các cặp vợ chồng tới điều trị hiếm muộn tại khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản đã tự nguyện và hợp tác trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu này.Tất cả những người đi trước đã để lại cho tôi nguồn tài liệu tham khảo có giá trị giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi chân thành biết ơn và sẽ mãi mãi khắc ghi
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
(Trung tâm Kiểm soát bệnh tật)
(Thang đo Trầm cảm-Lo âu- Stress)
(Tỷ số chênh) WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Bệnh hiếm muộn 3
1.1.2 Nguyên nhân gây hiếm muộn 3
1.2 Rối loạn lo âu 5
1.2.3 Tiến triển và biến chứng 7
1.2.4 Chẩn đoán rối loạn lo âu bằng thang đo lo âu 7
1.3 Rối loạn trầm cảm 9
1.3.2 Các biểu hiện lâm sàng 10
1.3.4 Chẩn đoán trầm cảm bằng thang đo trầm cảm 10
1.4 Các yếu tố liên quan đến lo âu và trầm cảm ở các cặp vợ chồng
1.5 Các nghiên cứu về lo âu và trầm cảm ở người hiếm muộn 13
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
Trang 72.3 Nội dung nghiên cứu 16
2.3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 16
2.3.2 Mô tả thực trạng lo âu, trầm cảm ở các cặp vợ chồng điều trị
KHUYẾN NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC Bảng thu thập số liệu
Trang 8Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi của đối tượng nghiên cứu 23
Bảng 3.2 Đặc điểm trình độ học vấn 23
Bảng 3.3 Đặc điểm nghề nghiệp 24
Bảng 3.4 Đặc điểm tình trạng kinh tế, tình trạng sống sau kết hôn
và thời gian hiếm muộn 25
Bảng 3.5 Đặc điểm loại hiếm muộn 25
Bảng 3.6 Tỷ lệ lo âu ở các cặp vợ chồng 26
Bảng 3.7 Tỷ lệ trầm cảm ở các cặp vợ chồng 26
Bảng 3.8 Liên quan giữa tuổi với lo âu ở người vợ 27
Bảng 3.9 Liên quan giữa trình độ học vấn với lo âu ở người vợ 27
Bảng 3.10 Liên quan giữa nghề nghiệp với lo âu ở người vợ 28
Bảng 3.11 Liên quan giữa kinh tế và tình trạng sống sau kết hôn với lo âu ở người vợ 28 Bảng 3.12 Liên quan giữa thời gian hiếm muộn với lo âu ở người vợ 29
Bảng 3.13 Liên quan giữa loại hiếm muộn với lo âu ở người vợ 29 Bảng 3.14 Tổng hợp một số yếu tố liên quan đến lo âu ở người vợ 30 Bảng 3.15 Liên quan giữa tuổi với trầm cảm ở người vợ 31
Bảng 3.16 Liên quan giữa trình độ học vấn với trầm cảm ở người vợ 31
Bảng 3.17. Liên quan giữa trình độ học vấn với trầm cảm ở người vợ 32 Bảng 3.18 Liên quan giữa kinh tế và tình trạng sống sau kết hôn với trầm cảm ở người vợ 32
Bảng 3.19 Liên quan giữa thời gian hiếm muộn với trầm cảm ở người vợ 33
Bảng 3.20 Liên quan giữa loại hiếm muộn với trầm cảm ở người vợ 33 Bảng 3.21 Tổng hợp một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người vợ 34
Bảng 3.22 Liên quan giữa tuổi với lo âu ở người chồng 35
Bảng 3.23 Liên quan giữa tuổi với lo âu ở người chồng 35
Trang 9Bảng 3.26 Liên quan giữa thời gian hiếm muộn với lo âu ở người chồng 37 Bảng 3.27 Liên quan giữa loại hiếm muộn với lo âu ở người chồng 37 Bảng 3.28 Tổng hợp một số yếu tố liên quan đến lo âu ở người chồng 38 Bảng 3.29 Liên quan giữa tuổi với trầm cảm ở người chồng 39 Bảng 3.30 Liên quan giữa trình độ học vấn với trầm cảm ở người chồng 39 Bảng 3.31 Liên quan giữa nghề nghiệp với trầm cảm ở người chồng 40 Bảng 3.32 Liên quan giữa kinh tế và tình trạng sống sau kết hôn với trầm
Bảng 3.33 Liên quan giữa thời gian hiếm muộn với trầm cảm ở người chồng 41 Bảng 3.34 Liên quan giữa loại hiếm muộn với trầm cảm ở người chồng 41 Bảng 3.35 Tổng hợp một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người chồng 42
Trang 10
Lo âu và trầm cảm là hai rối loạn tâm thần thường gặp ở bệnh nhân và dân cư trong cộng đồng [29] Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, vươn tới [3] Rối loạn lo âu ở phụ nữ hiếm muộn cũng được báo cáo trong một nghiên cứu phân tích tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới với tỷ lệ hiện mắc là 36,17%, phụ nữ hiếm muộn ở những nước có thu nhập thấp và trung bình là 54,2% và ở các nước có thu nhập cao là 25% [28], rối loạn lo âu ở nam hiếm muộn 38% [34] Một vài nghiên cứu đã chứng minh rối loạn lo âu gây tác động bất lợi cho khả năng sinh sản [16] và giảm lo âu làm tăng tỷ lệ có thai [40],[42]
Trầm cảm, dù ở mức độ nặng, vừa hay nhẹ, đều có những biểu hiện đặc trưng như khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng, tăng mệt mỏi dù chỉ một cố gắng nhỏ [3] Kết quả phân tích tổng hợp các nghiên cứu về trầm cảm ở các cặp vợ chồng Iran mắc chứng hiếm muộn, ghi nhận tỷ lệ trầm cảm ở các cặp vợ chồng là 35,3%, trầm cảm ở nữ là 48,7% và ở nam là 9% [8]
Trang 11Ở Việt Nam, tỷ lệ trầm cảm ở phụ nữ hiếm muộn vào khoảng 12,2% [44] Trầm cảm có thể đóng một vai trò quan trọng trong sinh bệnh chứng hiếm muộn [20],[31]
Những người có bất thường về sinh sản bị rối loạn lo âu và trầm cảm chiếm tỷ lệ cao gần gấp đôi so với dân cư trong cộng đồng Hai rối loạn nầy ảnh hưởng đáng kể lên chất lượng cuộc sống của các cặp vợ chồng hiếm muộn
và cần có sự quan tâm điều trị nhiều hơn [25],[35] Các nghiên cứu ở nước ngoài ghi nhận các yếu tố độc lập liên quan với rối loạn lo âu và trầm cảm ở những bệnh nhân hiếm muộn là tuổi, giới tính, trình độ học vấn, khoảng thời gian mắc hiếm muộn, nguyên nhân hiếm muộn, số lần điều trị hiếm muộn thất bại trước đây [7],[21],[37] Ở Việt Nam, có một vài nghiên cứu về rối loạn trầm cảm ở phụ nữ hiếm muộn nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào báo cáo về rối loạn lo âu và trầm cảm trên các cặp vợ chồng hiếm muộn Xuất phát
từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng lo âu, trầm
cảm và yếu tố liên quan ở các cặp vợ chồng đến khám, điều trị hiếm muộn tại khoa Sức khỏe sinh sản Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Kiên Giang năm 2021”, với hai mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng lo âu, trầm cảm ở các cặp vợ chồng khám, điều trị
hiếm muộn tại khoa Sức khỏe sinh sản Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Kiên Giang năm 2021
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm các cặp vợ
chồng hiếm muộn
Trang 12
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh hiếm muộn
1.1.1 Khái niệm và tỷ lệ mắc
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một cặp vợ chồng được gọi là hiếm muộn hay vô sinh là khi chung sống với nhau và có quan hệ tình dục bình thường, không sử dụng bất cứ một biện pháp tránh thai nào trong khoảng thời gian ít nhất 12 tháng mà vẫn không có con [51]
Hiếm muộn được phân làm hai loại là hiếm muộn nguyên phát và hiếm muộn thứ phát Hiếm muộn nguyên phát khi cặp vợ chồng chưa có thai lần nào
và hiếm muộn thứ phát khi họ đã từng có thai hoặc có con trước đó
Theo thống kê, trên thế giới ước tính có khoảng 10%-15% các cặp vợ chồng mắc chứng hiếm muộn [12],[49] Ở Hoa Kỳ, thời điểm năm 2006-2010,
tỷ lệ phụ nữ đã lập gia đình tuổi từ 15-44 bị hiếm muộn vào khảng 6%, nam giới ở độ tuổi từ 15-44 bị hiếm muộn là 9,4% và ở độ tuổi 25-44 là 12% [14]
Ở Iran, tỷ lệ hiện hành của hiếm muộn nguyên phát dựa trên dịch tễ là 12,8%, hiếm muộn thứ phát là 4,9% [6] Ở Việt Nam, theo thống kê giai đoạn từ 2006-
2010 có khoảng 7-8% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ bị hiếm muộn, trong đó hiếm muộn nguyên phát là 3,5-3,9% và hiếm muộn thứ phát là 3,5-3,8% [10],[45]
1.1.2 Nguyên nhân gây hiếm muộn
Một cặp vợ chồng hiếm muộn (vô sinh) có thể do người chồng, hoặc do người vợ hoặc do cả hai Sự thụ thai có thể xảy ra khi đạt được các điều kiện
đó là: (1) có sự phát triển nang noãn và phóng noãn; (2) có sự sản xuất tinh trùng đảm bảo chất lượng; (3) tinh trùng gặp được trứng và (4) sự thụ tinh và làm tổ lại niêm mạc tử cung Khi có rối loạn bất kỳ khâu nào trong chuỗi các hoạt động sinh sản này dẫn đến kết cục bất lợi [4] Nguyên nhân hiếm muộn có thể phân như sau:
Trang 131.1.2.1 Hiếm muộn do nam giới
- Do bất thường tinh dịch: Thiểu tinh, tinh trùng yếu, tinh trùng dị dạng
- Bất thường giải phẫu: Tinh hoàn ẩn, giãn tĩnh mạch thừng tinh
- Rối loạn chức năng: Rối loạn cương dương, rối loạn phóng tinh
- Các nguyên nhân khác: Chấn thương tinh hoàn, viêm niệu sinh dục
1.1.2.2 Nguyên nhân do nữ giới
- Rối loạn phóng noãn: Sự phát triển và trưởng thành của nang noãn có thể bị ảnh hưởng do thiểu năng vùng dưới đồi-tuyến yên, do buồng trứng suy
- Vòi trứng bất thường: Tổn thương vòi trứng do viêm nhiễm, do phẫu thuật vùng chậu và vòi trứng, lạc nội mạc tử cung ở vòi trứng, bất thường bảm sinh ở vòi trứng
- Nguyên nhân tại tử cung: U xơ tử cung, viêm dính buồng tử cung, bất thường bẩm sinh (dị dạng tử cung 2 sừng, tử cung có vách ngăn, không có tử cung )
- Nguyên nhân do cổ tử cung: Chất nhầy kém, kháng thể kháng tinh trùng, tổn thương cổ tử cung do can thiệp thủ thuật
- Nguyên nhân khác: Tâm lý tình dục, chứng giao hợp đau, các dị dạng bẩm sinh đường sinh dục
1.1.2.3 Vô sinh không rõ nguyên nhân
Khoảng 10% các trường hợp vô sinh không thể tìm được nguyên nhân chính xác sau khi đã thăm khám và làm tất cả các xét nghiệm cần thiết để thăm
dò và chẩn đoán
1.1.3 Các xét nghiệm thăm dò chẩn đoán
1.1.3.1 Thăm dò ở người nữ
- Xét nghiệm nội tiết: Nội tiết tố hướng sinh dục, nội tiết sinh dục
- Thăm dò phóng noãn: Đo thân nhiệt cơ sở, chỉ số cổ tử cung, chỉ số nhân đông, sinh thiết nội mạc tử cung định ngày
Trang 14- Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm phụ khoa, siêu âm theo dõi sự phát triển nang noãn và phóng noãn, siêu âm thai sớm, chụp phim tử cung vòi trứng
- Phẫu thuật nội soi: Chẩn đoán các bất thường sinh dục, nội soi gỡ dính vòi trứng, buồng trứng, bơm thông vòi trứng
- Xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ phát hiện các bất thường di truyền
1.1.3.2 Thăm dò ở nam
- Xét nghiệm tinh dịch: Phân tích tinh dịch
- Chẩn đoán hình ảnh: Khảo sát bìu, tinh hoàn, mào tinh hoàn, thừng tinh qua siêu âm, chụp đường dẫn tinh
- Sinh thiết tinh hoàn, mào tinh hoàn, thừng tinh tìm sự hiện diện của tinh trùng trong trường hợp mẫu tinh dịch vô tinh
- Xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ phát hiện các bất thường di truyền
1.2 Rối loạn lo âu
1.2.1 Khái niệm và tỷ lệ mắc
1.2.1.1 Khái niệm
- Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người
trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, vươn tới
- Lo âu bệnh lý là lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với
sự đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của người bệnh, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ như quá mức hay vô ý
- Lo âu có thể là biểu hiện của nhiều rối loạn tâm thần cơ thể [3]
1.2.1.2 Tỷ lệ mắc rối loạn lo âu
Theo số liệu của WHO, tỷ lệ dân số trên toàn cầu bị rối loạn lo âu vào năm 2015 ước tính là 3,6% Rối loạn lo âu phổ biến ở nữ giới là 4,6% cao hơn
ở nam giới là 2,6% [48] Rối loạn lo âu ở phụ nữ hiếm muộn cũng được báo cáo trong một nghiên cứu phân tích tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới với
Trang 15tỷ lệ hiện mắc 36,17%, phụ nữ hiếm muộn ở những nước có thu nhập thấp và trung bình là 54,2% và ở các nước có thu nhập cao là 25% [28] Ở Trung Quốc,
tỷ lệ rối loạn lo âu ở nam giới hiếm muộn được báo cáo là 7,8% [50]
1.2.2 Biểu hiện lâm sàng của lo âu bệnh lý
- Triệu chứng cơ bản: Là lo âu, hoảng sợ, thường phát sinh cấp, thời gian diễn biến bệnh lý kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, có khi xuất hiện những cơn hoảng sợ cấp, lặp đi lặp lại
- Phân biệt lo âu bệnh lý với lo âu ở người bình thường
+ Lo âu bệnh lý: Chủ đề (không có chủ đề rõ ràng mang tính chất vô lý,
mơ hồ), kéo dài lặp đi lặp lại, nhiều triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật như mạch nhanh, thở gấp, chóng mặt, khô miệng, lạnh tay chân, run rẩy, bất an )
+ Lo âu bình thường: Chủ đề (lo lắng có chủ đề, nội dung rõ ràng như
ốm đau, công ăn việc làm ), xảy ra nhất thời khi có các sự kiện trong đời sống tác động đến tâm lý của chủ thể, hết lo âu khi mất tác động này, không có hoặc
có rất ít rối loạn thần kinh thực vật
- Cơn lo âu:
+ Những biểu hiện cơ thể như triệu chứng hô hấp (nghẹt thở, ho, nấc cục, ngáp), tim mạch (đánh trống ngực, đau vùng trước tim), tiêu hóa (nôn, buồn nôn, tiêu chảy, ứa nước bọt hoặc khô miệng), tiết niệu (đái dắt, đái nhiều), thần kinh-cơ (run, run mặt, run mí mắt), cảm giác, giác quan (cơn ngứa, sởn da gà, tiết nhiều mồ hôi, nghe kém, nhìn mờ, đau đầu, chóng mặt)
+ Các triệu chứng tâm thần: Cảm giác bi quan, lo lắng, nghi ngờ, lo sợ
về quá khứ, hoảng loạn
- Trạng thái lo âu thường xuyên
Khi lo âu trở nên một tình trạng mạn tính
+ Rối loạn tâm thần: chờ đợi nguy hiểm, lo lắng , lúng túng
Trang 16+ Rối loạn cơ thể: Rối loạn giấc ngủ, khó ngủ, giấc ngủ không sâu, thức dậy 3 giờ sáng
+ Sự kích thích: tăng cảm xúc, hay tức giận, thay đổi khí sắc
+ Rối loạn chức năng: rối loạn tiêu hóa, rối loạn nước tiểu, giảm ham muốn tình dục hoặc mất
- Lo âu thể tạng: Tâm căn lo âu dưới dạng cơn ít nhiều mạnh xảy ra ở một nhân cách bị rối loạn Lo âu mạn như là một bệnh tâm căn tạo nên một thể tạng lo âu [3]
1.2.3 Tiến triển và biến chứng
Cơn lo âu kéo dài, nếu không được giải quyết kịp thời, tiến triển thành tâm căn (ám ảnh sợ, Hysteria, ám ảnh)
Biến chứng thường gặp nhất là những rối loạn tâm thể: lo âu trở nên loét, hen, lo âu lan tỏa Đôi khi có thể tạo ra cơn trầm cảm, sầu uất Trên lâm sàng
đi kèm loạn khí sắc chu kỳ với trạng thái lo âu mạnh
1.2.4 Chẩn đoán rối loạn lo âu bằng thang đo lo âu
Hiện nay, có nhiều thang đo đánh giá rối loạn lo âu thông qua bảng câu hỏi tự đánh giá sự hiện diện và độ nặng của các triệu chứng lo âu Bảng câu hỏi điều tra rối loạn lo âu đầu tiên được soạn thảo bởi các nhà tâm lý nhân cách Cattell và Scheier [13] và Taylor [43] Các bảng câu hỏi đánh giá lo âu nầy phổ biến trong nhiều năm, nhưng ngày nay ít được sử dụng Từ thập niên 1950, nhiều bảng đánh giá rối loạn lo âu đã được xây dựng Một đánh giá gần đây xác định có đến 145 thang đo khác nhau được sử dụng để đánh giá lo âu [38]
Các công cụ sử dụng phổ biến để đánh giá rối loạn lo âu được phân thành hai nhóm [41]:
- Nhóm công cụ đánh giá chung: Nhằm đánh giá các mặt thường gặp của các rối loạn lo âu khác nhau
Trang 17- Nhóm công cụ đánh giá chuyên biệt: Nhằm đánh giá rối loạn lo âu trong các tình huống đặc biệt trong lĩnh vực y khoa cũng như ở ngoài lĩnh vực y khoa
Cả hai nhóm công cụ được phê chuẩn có thể được sử dụng để tầm soát mục đích, hoặc đánh giá kết quả điều trị
Có nhiều thang đo lo âu thường được dùng như thang đo rối loạn lo âu STAI (State Trait Anxiety Inventory), thang đo GAD-7 (Generalized Anxiety Disorder), thang đo BAI (Beck Anxiety Inventory), thang đo Zung, thang đo lo
âu và trầm cảm bệnh viện HADS (Hospital Anxiety and Depression Scale), thang đo trầm cảm, lo âu, stress DASS (Depression Anxiety Stress Scales)
Thang đánh giá trầm cảm, lo âu, stress DASS gọi tắt là thang đánh giá DASS được Lovibond mô tả vào năm 1983 [32] Thang đánh giá DASS là một công cụ được xây dựng cho người bệnh tự đánh giá nhằm đo lường mức độ nặng của rối loạn cảm xúc về trầm cảm, lo âu và stress Đây là thang đo chẩn đoán khá phổ biến, chính xác và nhanh chóng Phiên bản gốc thang đánh giá DASS gồm 42 câu hỏi, chia làm 3 loại, mỗi loại cảm xúc được đánh giá bằng
14 câu hỏi về tình trạng trong suốt 1 tuần đã qua Mỗi câu hỏi có 4 phương án trả lời theo thang Likert từ không đúng với tôi chút nào đến hoàn toàn đúng với tôi hoặc hầu hết thời gian là đúng Phiên bản rút gọn thang DASS gồm 21 câu hỏi gọi là DASS-21 [22],[23], mỗi rối loạn được đánh giá gồm 7 câu hỏi, sau khi trả lời điểm của mỗi rối loạn trầm cảm, lo âu, stress được tính bằng cách cộng điểm các đề mục thành phần rồi nhân lên hệ số 2 Dựa trên kết quả điểm
sẽ đánh giá mức độ rối loạn Các rối loạn trầm cảm, lo âu, stress được chia làm
5 mức độ: bình thường, nhẹ, vừa, nặng và rất nặng Trong nghiên cứu nầy, chúng tôi chỉ đánh giá lo âu và trầm cảm dựa vào thang đánh giá DASS-21, nên mục đánh giá stress là không trình bày (xem 2.3.4 Kỹ thuật thu thập thông tin)
1.3 Rối loạn trầm cảm
1.3.1 Khái niệm và tỷ lệ mắc
Trang 18tự cho mình có tội, bi quan Một số trầm cảm nặng, có ý nghĩ tự sát [3]
1.1.3.2 Tỷ lệ mắc trầm cảm
Theo ước tính của WHO, tỷ lệ dân số thế giới bị trầm cảm năm 2015 ước tính là 4,4% Trầm cảm phổ biến ở nữ với tỷ lệ 5,1% cao hơn ở nam với tỷ lệ 3,6% Tỷ lệ lưu hành (prevalence) mắc trầm cảm thay đổi theo khu vực, từ 2,6%
ở nam giới khu vực Tây Thái Bình Dương đến 5,9% ở nữ khu vực Châu Phi
Tỷ lệ lưu hành rối loạn trầm cảm thay đổi theo tuổi, cao ở những người trưởng thành (7,5% ở nữ tuổi từ 55-74 năm, và 5,5% ở nam) [48]
Trầm cảm ở các cặp vợ chồng hiếm muộn cũng được nghiên cứu Ở Iran,
tỷ lệ ở các cặp vợ chồng mắc chứng hiếm muộn chiếm tỷ lệ 35,3%, trầm cảm
ở phụ nữ hiếm muộn là 48,7% và ở nam hiếm muộn là 9% [8] Ở Hungary, tỷ
lệ trầm cảm ở phụ nữ hiếm muộn được ghi nhận chiếm 44,8% [30] Ở Trung Quốc, tỷ lệ trầm cảm ở nam giới hiếm muộn là 20,8% và vừa mắc cả hai rối loạn trầm cảm và lo âu chiếm tỷ lệ 15,4% [50] Ở Việt Nam, tỷ lệ trầm cảm ở
nữ hiếm muộn nghiên cứu ở bệnh viện Từ Dũ là 12,2% [44]
1.3.2 Các biểu hiện lâm sàng
Giai đoạn trầm cảm điển hình (major depressive period): Giai đoạn trầm cảm thường hình thành từ từ trong nhiều tuần với biểu hiện của hội chứng suy nhược và khí sắc ngày càng suy giảm sau đó xuất hiện đủ 3 triệu chứng trầm cảm: cảm xúc bị ức chế (biểu hiện bằng buồn rầu, chán nản, thất vọng ), tư duy bị ức chế (quá trình liên tưởng chậm chạp, bi quan, xấu hổ ), hoạt động
Trang 19bị ức chế (bệnh nhân ngồi im hoặc nằm im lìm hàng giờ ), rối loạn tâm thần khác (hoang tưởng, ảo thanh, giảm chú ý )
1.3.3 Tiêu chuẩn chấn đoán
Chẩn đoán trầm cảm áp dụng các nguyên tắc chẩn đoán đã được mô tả trong bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD.10) Trong đó phải có các các triệu chứng đặc trưng như khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng, tăng mệt mỏi dù chỉ một cố gắng nhỏ Và thường có những triệu chứng phổ biến khác: giảm sự tập trung chú ý, giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin, có
ý tưởng bị tội không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan, ý tưởng
và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng
Khi trầm cảm nặng thường có các triệu chứng sinh học sút cân, mất 5% trọng lượng cơ thể trong 4 tuần Giảm dục năng, mất ngủ, thức giấc sớm
Tình trạng bệnh lý này thường kéo dài ít nhất 2 tuần
1.3.4 Chẩn đoán trầm cảm bằng thang đo trầm cảm
Có nhiều thang đánh giá trầm cảm bao gồm phỏng vấn và tự đánh giá,
có thể sử dụng để tầm soát, chẩn đoán và theo dõi điều trị Mỗi thang đo đã được chứng minh có giá trị và đáng tin cậy Tùy thuộc mục đích sử dụng và cộng đồng thích hợp để quyết định thang đo nào là thích hợp cho bệnh nhân và thực hành Sau đây là các thang đo được sử dụng phổ biến: Thang đánh giá trầm cảm Beck (Beck Depression Inventory) được dùng để tầm soát trầm cảm
và đánh giá biểu hiện hành vi và độ nặng của trầm cảm, giành cho độ tuổi
13-80 Thang đánh giá trầm cảm Trung tâm nghiên cứu dịch tễ (Center for Epidemiologic Studies Depression Scale) dùng cho cộng đồng chung và để tầm soát trầm cảm ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu Thang đánh giá trầm cảm Hamilton (Hamilton Depression Rating Scale) dùng đánh giá trầm cảm ở các cá nhân trước, trong và sau quá trình điều trị Bộ câu hỏi sức khỏe bệnh nhân - 9 (Patient Health Questionnaire 9 – PHQ 9) cho người bệnh tự đánh giá
Trang 20triệu chứng trầm cảm Thang đánh giá nhanh trầm cảm tự báo cáo triệu chứng (Quick Inventory of Depression Symptomatology-Self-Report) [9] Thang đánh giá trầm cảm, lo âu, stress gọi tắt là thang đánh giá DASS (Depression- Anxiety-Stress Scale) là một công cụ có giá trị và đáng tin cậy dùng để đánh giá sự hiện diện của triệu chứng trầm cảm, lo âu hoặc stress Thang đánh giá DASS có giá trị ngang nhau khi sử dụng cho cả nam và nữ Phiên bản gốc là DASS-42 và phiên bản rút gọn là DASS-21 [23],[24]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đề cập đến thang DASS-21, vì theo nhiều tác giả, thang DASS-21 dùng bộ câu hỏi ngắn gọn, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao khi sàng lọc Phiên bản rút gọn thang DASS gồm 21 câu hỏi gọi là DASS-21 [22],[23], mỗi rối loạn được đánh giá gồm 7 câu hỏi, sau khi trả lời điểm của mỗi rối loạn trầm cảm, lo âu, stress được tính bằng cách cộng điểm các đề mục thành phần rồi nhân lên hệ số 2 Dựa trên kết quả điểm sẽ đánh giá mức độ rối loạn (xem 2.3.4 Kỹ thuật thu thập thông tin)
1.4 Các yếu tố liên quan đến lo âu và trầm cảm ở các cặp vợ chồng hiếm muộn
Các nghiên cứu về chủ đề rối loạn lo âu, trầm cảm trên các cặp vợ chồng hiếm muộn trên thế giới còn khiêm tốn Kết quả các nghiên cứu cho thấy, có nhiều yếu tố liên quan đến trầm cảm và lo âu ở nam, nữ mắc chứng hiếm muộn Một nghiên cứu ở Ba Lan ghi nhận các yếu tố nguy cơ trầm cảm và lo âu ở các cặp vợ chồng hiếm muộn là giới nữ, tuổi trên 30, trình độ học vấn thấp, không
đi làm việc, hiếm muộn nam được chẩn đoán, khoảng thời gian hiếm muộn
3-6 năm [21] Ở Thụy Điển, ghi nhận yếu tố mang thai trước đó, và hút thuốc lá
là yếu tố nguy cơ độc lập liên quan trầm cảm ở nữ hiếm muộn và yếu tố hiếm muộn không xác định được nguyên nhân là yếu tố độc lập duy nhất liên quan rối loạn trầm cảm ở nam giới hiếm muộn; với rối loạn lo âu, chưa ghi nhận yếu
tố liên quan ở phụ nữ hiếm muộn, phân tích đơn biến ghi nhận một số yếu tố
Trang 21nguy cơ liên quan đến lo âu ở nam giới hiếm muộn là tuổi, béo phì, hút thuốc, điều trị thụ tinh trong ống nghiệm [46] Báo cáo nghiên cứu ở Hungary ghi nhận triệu chứng trầm cảm và lo âu ở nữ hiếm muộn liên quan với tuổi, mối quan tâm xã hội, mối quan tâm giới tính và stress quan hệ mẹ, lo âu tính cách liên quan với stress tài chính [30] Nghiên cứu ở Iran ghi nhận, nữ giới hiếm muộn có triệu chứng lo âu gấp 2,26 lần so với nam giới hiếm muộn, trong khi
tỷ lệ trầm cảm không liên quan với giới tính, những bệnh nhân bị hiếm muộn
từ 5 năm trở lên gấp 1,51 lần và 1,3 lần những bệnh nhân khác theo thứ tự về triệu chứng lo âu và trầm cảm [35] Ở Trung Quốc, nghiên cứu ghi nhận các yếu tố lâm sàng như bệnh đi kèm (giãn tĩnh mạch thừng tinh, nang mào tinh hoàn, rối loạn cương dương) là những yếu tố nguy cơ liên quan triệu chứng trầm cảm và cả hai trầm cảm và lo âu ở nam giới hiếm muộn, khoảng thời gian hiếm muộn trên 2 năm đi kèm với nguy cơ cao của triệu chứng lo âu [50] Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu ở bệnh viện Từ Dũ, trầm cảm ở bệnh nhân nữ hiếm muộn liên quan với chứng hiếm muộn do chồng, hiếm muộn do cả hai vợ chồng, chồng nghiện rượu, và sử dụng thuốc chống trầm cảm trước đây của người vợ [44]
1.5 Các nghiên cứu về lo âu và trầm cảm ở người hiếm muộn
1.5.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
- Năm 2009, Drosdzol Agnieszka và cộng sự đã báo cáo kết quả nghiên cứu cắt ngang ước tính tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở những cặp vợ chồng người Ba Lan mắc chứng hiếm muộn, kết quả ghi nhận tỷ lệ trầm cảm nặng ở phụ nữ hiếm muộn là 35,4%, lo âu ở nữ hiếm muộn là 15,5% và các yếu tố nguy cơ của trầm cảm và lo âu ở người mắc chứng hiếm muộn bao gồm: giới nữ, tuổi trên 30, trình độ giáo dục thấp, thiếu tham gia hoạt động nghề nghiệp, khoảng thời gian hiếm muộn từ 3-6 năm [21]
Trang 22- Năm 2009, Kazandi Mert và cộng sự đã nghiên cứu mô tả cắt ngang tình
trạng trầm cảm và lo âu ở các cặp vợ chồng người Thổ Nhĩ Kỳ mắc chứng hiếm muộn, kết quả có sự khác biệt giữa các cặp vợ chồng hiếm muộn với các cặp
vợ chồng không hiếm muộn về lo âu trạng thái và lo âu tính cách, trong khi không có sự khác biệt trầm cảm giữa nam và nữ Lo âu và trầm cảm được phát hiện là độc lập với giới tính khi giới nữ và nam hiếm muộn được so sánh [26]
- Năm 2017, Maroufizadeh Saman và cộng sự báo cáo nghiên cứu trên bệnh nhân hiếm muộn (nam, nữ) ở Iran ghi nhận tỷ lệ lo âu chiếm 49,6% và trầm cảm chiếm 33%, nữ giới hiếm muộn có triệu chứng lo âu gấp 2,26 lần so với nam giới hiếm muộn, trong khi tỷ lệ trầm cảm không liên quan với giới tính, những bệnh nhân bị hiếm muộn từ 5 năm trở lên gấp 1,51 lần và 1,3 lần những bệnh nhân khác theo thứ tự về triệu chứng lo âu và trầm cảm [34]
- Năm 2017, Lakatos Eniko và cộng sự báo cáo nghiên cứu cắt ngang lo
âu và trầm cảm ở phụ nữ hiếm muộn ghi nhận trầm cảm chiếm tỷ lệ 44,8% và
lo âu chiếm 39,6% ở phụ nữ hiếm muộn Triệu chứng trầm cảm, lo âu ở nữ hiếm muộn liên quan đến tuổi, mối quan tâm xã hội, mối quan tâm giới tính và stress liên quan mẹ, lo âu tính cách liên quan với stress tài chính [30]
- Năm 2017, Yang Bin và cộng sự báo cáo nghiên cứu trầm cảm và lo âu
và các yếu tố nguy cơ ở đàn ông hiếm muộn Trung Quốc kết quả tỷ lệ trầm cảm
là 20,8%, lo âu 7,8% vừa lo âu và trầm cảm là 15,4% ở nam giới hiếm muộn
và một số yếu tố liên quan với triệu chứng trầm cảm, lo âu ở nam giới hiếm muộn [50]
1.5.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
- Năm 2018, Trần Thơ Nhị đã báo cáo nghiên cứu thực trạng trầm cảm
và hành vi tìm kiếm hỗ trợ ở phụ nữ mang thai, sau sinh tại huyện Đông Anh
Hà Nội, kết quả tỷ lệ trầm cảm của phụ nữ trong khi mang thai là 5%, trầm cảm sau sinh là 8,2% Tỷ lệ mới mắc trầm cảm sau sinh là 6,5% [1]
Trang 23- Năm 2019, Võ Minh Tuấn và cộng sự đã báo cáo nghiên cứu trầm cảm
và các yếu tố liên quan ở phụ nữ hiếm muộn ở bệnh viện Từ Dũ, ghi nhận tỷ lệ trầm cảm ở nữ hiếm muộn là 12,2% và trầm cảm ở nữ hiếm muộn liên quan với hiếm muộn do yếu tố chồng (OR hiệu chỉnh = 3.09, 95% CI=1,44-6,63), yếu tố hiếm muộn do vợ, chồng (OR hiệu chỉnh=4,83, 95% CI=1,32-17,58) và
sử dụng thuốc chống trầm cảm trước đó của vợ (OR hiệu chỉnh = 48,1, 95% CI
= 4,8-47,9) [44]
- Năm 2020, Mai Thị Huệ và cộng sự báo cáo nghiên cứu các yếu tố liên quan với trầm cảm trước sinh ở phụ nữ mang thai Việt Nam, ghi nhận phụ nữ mang thai có nguy cơ trầm cảm trước sinh là 24,5% [33]
Trang 24Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả nam giới, nữ giới ở các cặp vợ chồng đến điều trị hiếm muộn tại khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh
Kiên Giang từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Các cặp vợ chồng được chẩn đoán hiếm muộn theo tiêu chuẩn của
WHO là khi chung sống với nhau và có quan hệ tình dục bình thường, không
sử dụng bất cứ một biện pháp tránh thai nào trong khoảng thời gian ít nhất 12 tháng mà vẫn không có con [51]
- Thường hợp nữ hoặc nam mắc chứng hiếm muộn thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán hiếm muộn của WHO đến khám vẫn được chọn vào nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những cặp vợ chồng chưa có con nhưng không thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán hiếm muộn theo WHO
- Phụ nữ mất kinh sau sinh hoặc trong thời gian đang cho con bú
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ ngày 01/11/2020 đến 31/5/2021
- Địa chỉ: Lô D11 Tuệ tỉnh TP Rạch Giá Tỉnh Kiên Giang
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho việc ước
lượng một tỷ lệ trong quần thể:
Trang 25- n: Là số đối tượng nghiên cứu.
- α: Mức ý nghĩa thống kê (chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95%, thay vào bảng ta được Z1 – α/2 = 1,96)
- d: Sai số mong muốn giữa mẫu và quần thể cho phép, chọn d=0,05
- Với p là tỷ lệ lo âu ở nữ hiếm muộn đã được báo cáo trước đó trong cộng đồng là 54,2% [28]
Áp dụng công thức ta tính được cỡ mẫu là 382 đối tượng, làm tròn 385 đối tượng
- Với p là tỷ lệ trầm cảm ở phụ nữ hiếm muộn đã được báo cáo trước đó trong cộng đồng (p = 12,2%) [44]
Áp dụng công thức tính được cỡ mẫu là 162 đối tượng
Qua tính toán, ta chọn cỡ mẫu nghiên cứu là 385 cặp vợ chồng
2.2.3 Kỹ thuật chọn mẫu
- Cách chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
Tất cả nam, nữ giới ở các cặp vợ chồng được chẩn đoán hiếm muộn đến khám, điều trị tại khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản CDC tỉnh Kiên Giang từ ngày 01/11/2020 đến 31/5/2021 đủ tiêu chuẩn chọn bệnh được phỏng vấn và thu thập theo mẫu phiếu nghiên cứu được thiết kế trước cho đến khi đủ số lượng đối tượng cho nghiên cứu
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Mô tả đặc điểm chung của vợ, chồng các cặp vợ chồng hiếm muộn gồm:
Trang 26- Tuổi: Là biến định lượng, tính tuổi trung bình theo năm dương lịch, độ
lệch chuẩn, tuổi nhỏ nhất và tuổi lớn nhất
- Trình độ học vấn: Là biến định danh, chia thành 4 mức gồm tiểu học trở xuống, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp trở lên
- Nghề nghiệp: Là biến định danh, phân thành 6 nghề như cán bộ công
nhân viên, nông dân, công nhân, buôn bán, nội trợ, nghề khác
- Tình trạng kinh tế: Là biến định danh, chia hai giá trị là đủ sống và tương đối giàu có, được xác định dựa vào đánh giá chủ quan của người bệnh
- Tình trạng sống sau kết hôn: Là biến định danh, chia làm hai nhóm gồm sống riêng bố mẹ, và sống chung bố mẹ
- Thời gian hiếm muộn: Là biến định lượng, tính trung bình theo tháng dương lịch, độ lệch chuẩn, thời gian ngắn nhất và thời gian dài nhất
- Loại hiếm muộn: Là biến định danh, chia hai giá trị là hiếm muộn nguyên phát và hiếm muộn thứ phát
2.3.2 Mô tả thực trạng lo âu, trầm cảm ở các cặp vợ chồng đến khám, điều trị hiếm muộn
2.3.2.1 Tỷ lệ lo âu ở các cặp vợ chồng hiếm muộn
- Lo âu ở vợ hiếm muộn: Là biến định danh, tỷ lệ lo âu được tính bằng
số lượng người vợ hiếm muộn bị rối loạn lo âu chia cho tổng số người vợ hiếm muộn trong nghiên cứu
- Mức độ lo âu ở người vợ hiếm muộn: Được phân thành 4 mức độ gồm
lo âu mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng
- Lo âu ở người chồng hiếm muộn: Là biến định danh, tỷ lệ lo âu được tính bằng số lượng người chồng hiếm muộn bị rối loạn lo âu chia cho tổng số người chồng hiếm muộn trong nghiên cứu
Trang 27- Mức độ lo âu ở người chồng hiếm muộn: Được phân thành 4 mức độ gồm lo âu mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng
Đánh giá lo âu và phân mức độ lo âu dựa vào thang đo DASS-21 [22],[23] Mức độ lo âu dựa vào tổng kết điểm các câu trả lời, rồi nhân cho hệ
số 2
2.3.2.2 Tỷ lệ trầm cảm ở các cặp vợ chồng hiếm muộn
- Trầm cảm ở người vợ hiếm muộn: Là biến định danh, tỷ lệ trầm cảm được tính bằng số lượng người vợ hiếm muộn bị rối loạn trầm cảm chia cho tổng số người vợ hiếm muộn trong nghiên cứu
- Mức độ trầm cảm ở người vợ hiếm muộn: Phân thành 4 mức độ gồm trầm cảm nhẹ, vừa, nặng và rất nặng
- Trầm cảm ở người chồng hiếm muộn: Là biến định danh, tính bằng số lượng người chồng hiếm muộn bị rối loạn trầm cảm chia cho tổng số người chồng trong nghiên cứu
Đánh giá trầm cảm và phân mức độ trầm cảm dựa vào thang đo
DASS-21 [22],[23] Mức độ trầm cảm dựa vào tổng kết điểm các câu trả lời, rồi nhân
hệ số 2
2.3.3 Một số yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở người vợ, chồng hiếm muộn
2.3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở người vợ hiếm muộn
Phân tích các yếu tố liên quan đến lo âu và trầm cảm ở nữ hiếm muộn dựa trên phân tích các yếu tố :
- Yếu tố tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế, tình trạng sống sau
kết hôn với lo âu, trầm cảm ở người vợ hiếm muộn
- Yếu tố thời gian hiếm muộn, loại hiếm muộn với lo âu, trầm cảm ở
người vợ hiếm muộn
2.3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở chồng hiếm muộn
Trang 28Phân tích các yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở người chồng hiếm muộn dựa trên phân tích các yếu tố:
- Liên quan giữa yếu tố tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế, tình trạng sống sau kết hôn với lo âu, trầm cảm ở chồng hiếm muộn
- Liên quan giữa thời gian hiếm muộn và loại hiếm muộn với lo âu, trầm
cảm ở chồng hiếm muộn
2.3.4 Kỹ thuật thu thập thông tin
-Chọn toàn bộ các cặp vợ chồng hoặc nữ hay nam được chẩn đoán hiếm muộn thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh, chủ nhiệm đề tài phối hợp với điều tra viên (nữ hộ sinh) ở khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản CDC tỉnh Kiên Giang thu thập mẫu nghiên cứu Điều tra viên giới thiệu mục đích nghiên cứu Nếu đối tượng hiếm muộn đồng ý tham gia nghiên cứu thì điều tra viên tiến hành thu thập mẫu
- Đánh giá lo âu, trầm cảm bằng thang DASS-21, trong nghiên cứu nầy chỉ sử dụng phần đánh giá lo âu và trầm cảm, không đề cập đến phần Stress Mỗi rối loạn lo âu hoặc trầm cảm có 7 câu hỏi Mỗi câu hỏi có 4 phương án trả lời theo thang Likert (từ 0: không đúng với tôi chút nào cả; 1: đúng với tôi phần nào hoặc thỉnh thoảng mới đúng; 2: đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng; 3: hoàn toàn đúng với tôi hoặc hầu hết thời gian là đúng) Người trả lời đọc kỹ và lựa chọn một trong 4 phương án trả lời phù hợp với mình nhất tại thời điểm hiện tại như sau:
+ Đánh giá lo âu:
Câu 1 Tôi bị khô miệng Chọn trả lời: 0, 1, 2, 3
Câu 2 Tôi bị khó thở (thở gấp, khó thở dù chẳng làm việc gắng sức) Trả lời: 0, 1, 2, 3
Câu 3 Tôi có cảm giác bị run (tay, chân ) Trả lời: 0, 1, 2, 3
Trang 29Câu 4 Tôi lo lắng về những tình huống có thể làm tôi hoảng sợ hoặc biến tôi thành trò cười Trả lời: 0, 1, 2, 3
Câu 5 Tôi thấy mình gần như hoảng loạn Trả lời: 0, 1, 2, 3
Câu 6 Tôi nghe thấy rõ tiếng tim đập mặc dù không có gắng sức cơ thể (cảm giác nhịp tim tăng, cảm giác mất một nhịp tim) Trả lời: 0, 1, 2, 3
Câu 7 Tôi hay sợ vô cớ Trả lời: 0, 1, 2, 3
Cách tính điểm: Điểm của lo âu được tính bằng cách cộng điểm phần trả lời các đề mục, rồi nhân hệ số 2
Câu 5 Tôi thấy mình gần như hoảng loạn Trả lời: 0, 1, 2, 3
Câu 6 Tôi mất hứng thú với mọi việc Trả lời: 0, 1, 2, 3
Câu 7 Tôi cảm thấy mình chẳng đáng làm người Trả lời: 0, 1, 2, 3 Cách tính điểm: Điểm của trầm cảm được tính bằng cách cộng điểm phần trả lời các đề mục, rồi nhân hệ số 2 Kết quả:
Bình thường: 0-9 điểm
Trang 30Trầm cảm mức độ nhẹ: 10-13 điểm
Trầm cảm mức độ vừa: 14-20 điểm
Trầm cảm mức độ nặng: 21-27 điểm
Trầm cảm mức độ rất nặng: ≥ 28 điểm
Nghiên cứu sử dụng điểm cắt là 10 điểm
2.3.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được làm sạch và nhập vào phần mềm SPSS phiên bản 18.0
Tiến hành phân tích thống kê mô tả, tính tỷ lệ cho biến định tính, và tính trung bình cho biến định lượng Dùng phép kiểm Chi bình phương (χ2) để kiểm định sự khác nhau giữa các tỷ lệ và phép kiểm t Student để kiểm định sự khác nhau giữa các biến định lượng với mức chỉ số p <0,05 xem như có ý nghĩa thống kê
Mô hình hồi quy Logistics đơn biến và đa biến được dùng để kiểm định
sự liên quan giữa một số yếu tố dịch tễ, tiền sử bệnh với yếu tố lo âu, trầm cảm
ở nam, nữ hiếm muộn Phân tích dưới đường cong ROC các biến định lượng liên quan để xác định điểm cắt
2.3.6 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.3.6.1 Sai số
Sai số có thể gặp trong nghiên cứu là sai số về thông tin Sai số khi bệnh nhân nhớ lại các triệu chứng về lo âu, trầm cảm, sai số trong quá trình thiết kế, thu thập thông tin, nhập liệu
2.3.6.2 Biện pháp khắc phục sai số
Các biện pháp khắc phục sai số gồm xây dựng đề cương chi tiết, thiết kế
bộ câu hỏi rõ ràng, lựa chọn điều tra viên, tập huấn điều tra viên và giám sát thu thập thông tin, cụ thể như sau:
- Đề cương được xây dựng chi tiết với bộ câu hỏi được thiết kế rõ ràng,
dễ hiểu Các tiêu chuẩn, định nghĩa đưa ra thống nhất rõ ràng.
Trang 31- Điều tra viên được chọn là những nữ hộ sinh trong khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản, đã từng tham gia nghiên cứu trước đây, có kinh nghiệm phỏng vấn và thu thập thông tin Các điều tra viên được tập huấn kỹ, thực hiện phỏng vấn thử trước khi tiến hành phỏng vấn trên đối tượng nghiên cứu
- Giám sát: Sau mỗi ngày phỏng vấn, chủ nhiệm đề tài liên lạc với điều tra viên để thu lại phiếu thu thập và kiểm tra lại số liệu
- Nhập liệu: các số liệu được nhập vào phần mềm SPSS phiên bản 18.0, sau đó được người thứ hai kiểm tra lại số liệu đã nhập vào phần mềm
2.4 Khía cạnh Đạo đức nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu được thông qua và chấp thuận bởi Hội đồng đề cương Trường Đại học Thăng Long
- Đối tượng tham gia nghiên cứu được Bác sĩ thông tin rõ về mục đích, lợi ích của nghiên cứu Sự tham gia của người được phỏng vấn là hoàn toàn tự nguyện Đối tượng được phỏng vấn có quyền rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào Tất cả thông tin của đối tượng phỏng vấn được giữ kín, ngoài những người thực hiện nghiên cứu thì không ai được phép biết nếu không có sự đồng ý của người được phỏng vấn
- Đối với những người không đồng ý tham gia nghiên cứu vẫn được khám
bệnh, điều trị, không biệt đối xử
- Các thông tin thu thập được từ các đối tượng được phỏng vấn chỉ phục
vụ cho mục đích nghiên cứu, hoàn toàn được giữ bí mật
Trang 32Chương 3: KẾT QUẢ
Sau khi tiến hành thu thập số liệu, kết quả có 385 cặp vợ chồng hiếm muộn đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu Qua phân tích, thu được một số kết quả sau:
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi của đối tượng nghiên cứu
Đối tượng Tuổi trung bình
M ± SD (năm)
Tuổi nhỏ nhất
Tuổi lớn nhất
Nhận xét: Kết quả ghi nhận tuổi trung bình của vợ hiếm muộn là
31,7 ± 4,7 (tuổi) thấp hơn tuổi trung bình của chồng 33,7 ± 5,3 (tuổi)
Nhận xét: Vợ hiếm muộn có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao
nhất 31,2%, thấp nhất là tiểu học chiếm tỷ lệ 12,2% Chồng hiếm muộn có trình
độ trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất 34,3%, thấp nhất là tiểu học chiếm
tỷ lệ 8,8%
Trang 33Nhận xét: Kết quả ghi nhận vợ hiếm muộn có nghề buôn bán chiếm tỷ
lệ cao nhất là 34,5%, kế đến là nhân viên nhà nước 27,3% và thấp nhất là nghề khác 2,9% Chồng hiếm muộn có nghề buôn bán chiếm tỷ lệ cao nhất 51,4%,
kế đến là nhân viên nhà nước 23,4%, công nhân chiếm 16,9%, thấp nhất là nghề khác 1,6%
Trang 34Bảng 3.4 Đặc điểm kinh tế, tình trạng sống sau kết hôn, và thời gian hiếm muộn
Đặc điểm Vợ chồng hiếm muộn
Nhận xét: Vợ, chồng hiếm muộn có kinh tế tương đối giàu chiếm tỷ lệ
cao 62,1%, đủ sống chiếm tỷ lệ thấp hơn là 37,9% Sau khi kết hôn sống riêng
bố mẹ chiếm tỷ lệ cao là 71,2%, sống chung bố mẹ chiếm tỷ lệ thấp hơn là 28,8% Thời gian hiếm muộn trung bình là 44,9 ± 9,1 (tháng), thời gian hiếm muộn ngắn nhất là 18 tháng và dài nhất là 63 (tháng)
● Đặc điểm loại hiếm muộn
Bảng 3.5 Đặc điểm loại hiếm muộn
Loại hiếm muộn Vợ, chồng hiếm muộn
Nhận xét: Vợ, chồng hiếm muộn có loại hiếm muộn nguyên phát chiếm
tỷ lệ 51,4%, hiếm muộn thứ phát với tỷ lệ là 48,6%
Trang 353.2 Thực trạng lo âu, trầm cảm ở các cặp vợ, chồng đến khám, điều trị hiếm muộn
Nhận xét: Vợ hiếm muộn có tỷ lệ lo âu là 46,2%, chồng hiếm muộn có
tỷ lệ lo âu là 33,5% Lo âu mức độ nhẹ ở vợ chiếm 41,3%, chồng thấp hơn : 30,4%; mức độ vừa vợ là 4,4% chồng là 3,1% và mức độ nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất 0,5% với vợ và 0% với chồng Sự khác nhau về tình trạng lo âu ở nhóm vợ và nhóm chồng có ý nghĩa thống kê ( p<0,002)
Nhận xét: Tình trạng trầm cảm tương đối nhẹ, chỉ 2 trường hợp vợ trầm
cảm mức vừa (0,6%) Vợ bị trầm cảm với tỷ lệ cao hơn chồng (17,7% so với
10,6%) Sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p=0,01)
Trang 363.3 Yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở vợ, chồng hiếm muộn
3.3.1 Yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở người vợ hiếm muộn
Một số yếu tố liên quan đến lo âu ở người vợ hiếm muộn
Bảng 3.8 Liên quan giữa tuổi với lo âu ở người vợ
Tuổi
Lo âu ở người vợ OR
(KTC 95%)
Nhận xét: Nhóm vợ ≥ 35 tuổi lo âu với tỷ lệ cao hơn nhóm < 35 tuổi, sự
khác nhau có ý nghĩa thống kê Nguy cơ nhóm lớn tuổi hơn bị lo âu cao hơn trên 3 lần so với nhóm tuổi thấp (OR =3,3; p < 0,001)
Bảng 3.9 Liên quan giữa trình độ học vấn với lo âu ở người vợ
Trình độ học vấn Lo âu ở người vợ OR* p
Có (n=178) Không (n=207) Tiểu học trở xuống 18 (38,3%) 29 (61,7%) 1
0,02
Trung học cơ sở 49 (40,8%) 71 (59,2%) 1,11
Trung học phổ thông 42 (47,2%) 47 (52,8%) 1,44
Trung cấp trở lên 69 (53,5%) 60 (46,5%) 1,85
* Phân tích xu hướng ( chi-square for trend)
Nhận xét: Tỷ lệ lo âu dao động từ 38,3% đến 53,5%, phân tích xu hướng
cho thấy lo âu của người vợ tăng dần theo bậc học, học vấn càng cao tỷ lệ lo âu càng nhiều Xu hướng này có ý nghĩa thống kê (p=0,02)
Trang 37Bảng 3.10 Liên quan giữa nghề nghiệp với lo âu ở người vợ
Nghề nghiệp Lo âu ở người vợ p
Có (n=178) Không (n=207) Cán bộ công nhân viên 59 (55,7%) 47(44,3%)
Nhận xét: Nông dân có tỷ lệ lo âu thấp nhất và cán bộ công nhân viên
lo âu nhiều nhất (37,5% so với 57,5%) Sự khác nhau về nguy cơ bị lo âu giữa các nhóm nhìn chung có ý nghĩa thống kê (p=0,002)
Bảng 3.11 Liên quan giữa kinh tế và tình trạng sống sau kết hôn với
<0,001 Sống chung bố mẹ 21 (21,4) 77 (78,6)
Nhận xét: Người vợ kinh tế tương đối giàu có tỷ lệ lo âu nhiều hơn
người vợ chỉ đủ sống (52 % so với 35,6%) Nguy cơ người giàu hơn bị lo âu nhiều hơn gần 2 lần (OR=1,96 ; p =0,002) Người vợ sống riêng với cha mẹ có