Khi đó, thiết bị điện tử sế là mặt hàng chiếm tỷ lệ lớn nhất 40%, tiếp theo là hậu cần, hoá chất, cao su, nhựa, năng Khoảng vài năm trở lại đây, khi đề cập tới việc tại sao thương mại đi
Trang 1DN NOI - DN BAN - DN CAN BIET
Thuong mại di
WiET N
- những uấn đề cần làm rõ
Trần Hữu Linh
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ (E-COM
MERCE)
TMĐT trên thế giới dang thay doi
nhanh chóng Chi một vài chục năm
trước đây, TMĐT chi được xem là việc
thục hiện trao đổi dữ liệu điện tử (EDI),
còn ngày nay, TMĐT được hiểu là việc
tiến hành kinh doanh bảng công cụ điện
tu, dac biét la thong qua Internet TMDT
được chia ra 2 loại chính: doanh nghiệp
- người tiêu dùng (B2C) và doanh nghiệp
- doanh nghiệp (B2B)
B2C VÀ B2B TRÊN THẾ GIỚI
Theo báo cáo chính thức năm 2003
của UNCTAD, giao dịch TMĐT toàn cầu
năm 2003 đạt khoảng 3.878 tỷ USD
TMĐT B2B chiểm tới 95% tổng giá trị
giao dịch
doanh số bán lẻ trực tuyến của
nước này năm 2002 đạt 43,47
tỷ USD B2C ở châu Á - Thái
Bình Dương đạt khoảng 15 tỷ
USD trong nam 2002 va 26 ty
USD trong nam 2003
Giao dịch B2B của Mỹ tiếp
tục giữ vị trí thống trị trong các
hoạt động TMĐT của nước này Năm
2001, doanh số B2B đạt 995 tỷ USD,
chiếm tới 93,3% tổng giá trị giao dịch
TMĐT Liên minh Chau Au dat gan 200
ty USD vao cudi nam 2002 Du kién dén
2004 sé chiém 10% tổng giao dich
thương mại của các doanh nghiệp Khi
đó, thiết bị điện tử sế là mặt hàng
chiếm tỷ lệ lớn nhất (40%), tiếp theo là
hậu cần, hoá chất, cao su, nhựa, năng
Khoảng vài năm trở lại đây, khi đề
cập tới việc tại sao thương mại điện
tử [TMĐT) ở Việt Nam chưa thể
phát triển, hầu hết ý kiến của đại
diện các doanh nghiệp, hiệp hội, các cơ quan hoạch định chính sách
đều “đổ tội” cho Ø nguyên nhân là:
chưa cá hành lang pháp lý và chưa
có hệ thống thanh toán trục tuyến!
Sự thục thế nào, chúng ta cần phải phân tích rõ, vì điều này sẽ ảnh hưởng tói phương hướng và lộ trình phát triển TIMĐT ở Việt Nam
giao thông TMĐT B2B ở khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương cũng tăng trưởng rất nhanh, từ 120 tỷ USD năm 2002 tới gần
200 tỷ năm 2003 và dự kiến sẽ đạt 300
(Vụ Thương mại Điện tử - Bộ Thương mại)
Như vậy, có thể thấy phát triển TMĐT
là xu thế không thể đảo ngược trên thế
giới Đây một mặt là kết quả của xu hướng tất yếu, khách quan của nền kinh
té số hoá, mặt khác là kết quả của các
nỗ lực chủ quan của từng nước ïrong các loại hình giao dịch TMĐT, giao dịch giua các doanh nghiệp B2B chiếm tỷ trọng chủ yếu
THẾ CÒN Ở VIỆT NAM?
Khoảng vài năm trở lại đây, khi đề cập tới việc tại sao thương mại điện tử
(TMĐT) ở Việt Nam chưa thể phát triển, hầu hết ý kiến của đại diện các doanh
nghiệp, hiệp hội, các cơ quan hoạch định chính sách đều “đổ tội” cho 2 nguyên nhân: chưa có hành lang pháp lý
và chưa có hệ thống thanh toán trực
tuyến Cả 2 nguyên nhân trên đều
đúng, nhưng có lẽ chưa đủ! Bây giờ chúng ta hay dat van dé: gia su hién tai hanh lang pháp lý và hệ thống thanh toán trực tuyến trên mạng ở Việt Nam đã hình thành Điều
gi sẽ xảy ra? Liệu các doanh nghiệp Việt Nam có ứng dụng tốt TMĐT để thúc đấy hoạt động
kinh doanh của họ và nền TMĐT
Việt Nam có phát triển, đem lại những giá trị ấn tượng như các nước trên thế giới?
Hãy bắt đầu từ một số kết quả chính của một dự án thử nghiệm do nước ngoài hỗ trợ cho gần 30 doanh nghiệp Việt Nam tham gia xuất khầu hàng hoá trực tuyến vào năm 2003
> Sau nửa năm triển khai dự án, đa
40 tin Hoc TAI CHINH số 16 tháng 10/2004
Trang 2
số các doanh nghiệp đều trả lời rất
chậm thư hỏi hàng của khách hàng
(theo quy định, tối đa 3 ngày kể từ ngày
nhận được yêu cầu của khách hàng,
doanh nghiệp phải có nghĩa vụ trả lời kể
cả không có kha nang cung cap hang)
>> Rất nhiều máy tính của doanh
nghiệp bị nhiễm virus trong thời gian
dài, điều này gay su trậm chẽ trong việc
trả lời thu, đồng thời nhiều khách hàng
bị nhiễm virus do máy tính của doanh
nghiệp Việt Nam phát tán
> Trong thời gian đầu triển khai dự
án, tình trạng giao hàng chậm, giao
thiếu hàng, giao hàng không đúng quy
cách rất phố biến Khách hàng đặt mua
vài bộ ấm chén có hoa văn màu hồng,
tới khi nhận được lại có màu sắc khác;
một vài khách hàng nhận được những
giỏ bằng tre nhưng bị ẩm mốc; một số
hàng hoá khác bị biến dạng, bị vỡ trong
quá trình vận chuyển do gói hang khong
cần thận
> Đa số các doanh nghiệp chưa có
một chính sách về giá linh hoạt đối với
từng đơn hỏi hàng cụ thể, đặc biệt tình
trạng không đủ hàng trong kho khi
khách mua Với số lượng nhiều rất pho
biến Do vậy, doanh nghiệp không thể
bán cho khách hàng, sản xuất cũng
không kịp thời gian yêu cầu
ĐIỀU KIỆN ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP
ỨNG DỤNG TMĐT
Có thể thấy, CNTT và truyền thông
đặc biệt là Internet đã được thừa nhận
là công cụ quan trọng cho hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp Việt
Nam trong vài năm trở lại đây Nhưng,
CNTT và truyền thông giường như chưa
phải là một nhân tố thiết yếu trong việc
nâng cao sức cạnh tranh, chưa có tác
động trục tiếp lên triển vọng gia tăng về
doanh số bán hàng của doanh nghiệp
Việt Nam Rất ít lãnh đạo doanh nghiệp
coi việc tin học hoá các hoạt động trong
nội bộ doanh nghiệp đề tiến tới việc ứng
dụng TMĐT, kinh doanh điện tủ (e-busi-
ness) như là một phần của chiến lược
kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp
Cũng ít doanh nghiệp tin rằng ứng dụng
CNTT và truyền thông sẽ là nhân tố nền
tảng cho triển lược phát triển kinh
doanh dài hạn Rất ít doanh nghiệp sử
dụng các phần mềm chuyên nghiệp khi
tham gia TMĐT như quản lý quan hệ
khách hàng, quản lý hệ thống phân
phối, lập kế hoạch nguồn lục Các
doanh nghiệp Việt Nam nghĩ về TMĐT
vân còn quá đơn giản, chỉ là việc thiết
kế trang web, cập nhật thông tin, tìm
kiếm thông tin trên mạng mà chưa
nhận thúc được rằng, ứng dụng TMĐT
cần tin học hoá hầu hết các hoạt động
nghiệp vụ trong nội bộ doanh nghiệp
MOT SO DIEM CAC DOANH NGHIEP
CAN LUU Y VE TMDT Hién nay, Internet va website da tro nên quen thuộc với nhiều người, nhiều doanh nghiệp, song cùng với sự phổ biến đó là sự nhầm lẫn về TMĐT
=> Nhiều người cho rằng chỉ cần có trang web là sẽ có ngay TMĐT mà không quan tâm đúng mức tới việc thiết kế trang web sao cho thuận tiện để khách
hàng tiềm năng tới thăm và tìm hiểu các
loại sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình, không thay đổi, cập nhật noi dung của website thường xuyên
=> Tin rằng việc sử dụng Internet la cách dễ dàng làm cho một doanh nghiệp và một sản phẩm trở nên nổi tiếng khắp thế giới Có trang web không
có nghĩa là nội dung của nó được mọi người biết đến Không tiến hành quảng cáo, không đăng ký vào các website, đặc biệt là các website đầu mối thương, mại của quốc gia, thế giới thì có lẽ web- site của doanh nghiệp không bao giờ được đối tác biết tới, kể cả trường hợp hiện nay các chương trình tìm kiếm cứ
“lang thang” kháp các nơi trên mạng để tìm kiếm
~> Một thục tế dang ton tại là hiện nay các doanh nghiệp có website song không trả lời yêu cầu của khách hàng một cách sớm nhất
=> Nên sử dụng Internet vào mục tiêu doanh nghiệp, gắn chặt với các mục tiêu của doanh nghiệp Các lãnh đạo doanh nghiệp cần chỉ đạo trục tiếp việc ứng dụng CNTT, TMĐT của doanh nghiệp
mình, muốn vậy cần hiểu thấu đáo về
TMĐT, không nên tin tưởng đến mức
“khoán tráng” cho các “nhà” CNTT Qua điều tra cho thấy ở doanh nghiệp, tổ chức nào mà lãnh đạo có ý thức và quan tâm tới việc ứng dụng, phát triển CNTT thì doanh nghiệp đó sẽ thu được những kết quả khả quan hơn
> Các chuyên gia CNTT nên hiểu
rằng công việc của họ trong TMĐT là rất quan trọng nhung đó chỉ là công việc
ở phía sau, không có họ thì không
có TMĐT nhưng chi có CNTT thì
cũng chảng thể có TMĐT Nếu
nhà quản lý doanh nghiệp hoặc cán bộ phụ trách CNTT của doanh nghiệp có nguồn gốc từ công nghệ, rat co kha nang người đó
sé coi nang phần công nghệ - đây cũng là một hiện tưởng rất phổ biến tại nhiều doanh nghiệp, đặc biệt tại các nền kinh tế kém phát
triển Còn nếu nhà quản lý đó
xuất thân từ lĩnh vực thương mại, không có ý thức phát triển ứng
dụng CNTT thì sẽ dân tới việc coi thường công nghệ Do vậy, doanh nghiệp cần phải dung hoà được cả hai yếu tố trên
=> Mỗi doanh nghiệp Việt Nam cần xây dựng một kế hoạch, chiến lược ứng dụng CNTT, TMĐT một cách nghiêm túc ngay từ bây giờ, cần tham khảo, học hỏi
từ các doanh nghiệp khác, các tổ chức
ho trợ thương mại trãnh tuyệt đối tình trạng làm theo phong trào
HƯỚNG TỚI KINH DOANH ĐIỆN TỬ (E-BUSINESS)
Kinh doanh điện tử (e-business) là một khái niệm rộng hơn, nó đề cập tới việc các doanh nghiệp ứng dụng CNTT
và truyền thông, đặc biệt là công nghệ dựa trên nền Internet để cải thiện va thay đổi các quy trình kinh doanh của doanh nghiệp Hay nói theo cách quen thuộc, đó là việc tin học hoá mọi hoạt động của doanh nghiệp
Kinh doanh điện tử có thé tac dong lên tất cả các hoạt động của một doanh nghiệp Đó là một chiến lược tổng thể, trong do TMDT chi la mot phan trong chiến lược đó Các doanh nghiệp cần nhận thức được vấn đè này và nên thay đổi các ứng dụng truyền thống với các đối tác của họ sang kinh doanh điện tử
Việc thay đổi nay sé bat dau từ các hoạt
động chính dựa vào CNTT và Internet như cải thiện dịch vụ khách hàng, tổ chức tốt mối quan hệ với hệ thống phân phối, thu hút khách hàng hiện tại cùng như khách hàng mới
TMĐT giữa các doanh nghiệp (B2B) chiếm tỷ trọng chủ yếu trong doanh số TMĐT của một quốc gia B2B phụ thuộc vào năng lực và kha nang sản sàng về TMĐT, kinh doanh điện tử của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp Việt Nam cần nhìn nhận TMĐT, kinh doanh
điện tử một cách thực tế và nghiêm túc
hơn để có thêm một công cụ đầy sức mạnh, giúp nâng cao năng lục cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang ngày một trở
nên quyết liệt §
TIN HỌC TÀI CHÍNH số 1B tháng 10/2004 44