TỔNG QUAN
Tổng quan về danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện
1.1.1 Khái niệm Danh mục thuốc
Theo WHO, danh mục thuốc bệnh viện là danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện Việc xây dựng danh mục thuốc BV một cách cẩn thận giúp đảm bảo sự an toàn, hiệu quả trong điều trị, giảm thiểu sai sót y tế và tối ưu hóa quản lý thuốc Một danh mục thuốc bệnh viện được thiết kế tốt không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ y tế mà còn góp phần kiểm soát chi phí và nâng cao khả năng đáp ứng nhanh chóng với nhu cầu điều trị của bệnh nhân.
Việc loại bỏ các thuốc không an toàn và kém hiệu quả giúp giảm số ngày nằm viện, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Đồng thời, chiến lược này giúp giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
- Giảm số lượng và chi phí mua thuốc, sử dụng chi phí tiết kiệm được để mua các thuốc chất lượng tốt hơn, an toàn và hiệu quả hơn
- Giúp Bệnh viện tập trung vào các hoạt động cung cấp thông tin thuốc và đào tạo liên tục cho nhân viên
1.1.2 Các bước xây dựng danh mục thuốc tại Bệnh viện
Khoa Dược thu thập dữ liệu về tình hình sử dụng thuốc trong năm trước, bao gồm số lượng, giá trị, thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, phản ứng có hại và sai sót trong điều trị từ các nguồn tin cậy Hội đồng Tổ chức và Đào tạo họp để phân tích khách quan tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện dựa trên dữ liệu thu thập được từ Khoa Dược Đồng thời, các bác sĩ điều trị đề xuất các thuốc cần bổ sung hoặc loại bỏ, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
Xây dựng DMT và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị
Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng danh mục (ví dụ như: thuốc hạn chế sử dụng, thuốc gây nghiện, hướng tâm thần,…)
Khoa Dược đã phối hợp với Hệ thống Đào tạo & Đào tạo (HĐT&ĐT) để thống nhất danh mục thuốc Các danh mục này đã được tổng hợp thành dự thảo và trình lên Giám đốc Bệnh viện xem xét, ký duyệt để ban hành danh mục chính thức, đảm bảo sự phù hợp và chất lượng trong quản lý thuốc của bệnh viện.
1.1.3 Một số văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
Nghị định số 54/2017/NĐ-CP ngày 08 tháng 05 năm 2017 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật dược
Thông tư số 21/2013/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 08/8/2013 quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong Bệnh viện
Thông tư số 22/2012/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 10/6/2012 quy định tổ chức và hoạt động của khoa dược Bệnh viện
Thông tư số 23/2011/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 10/6/2011 Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh
Thông tư 31/2012/TT-BYT ngày 20/12/2012 của Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn hoạt động dược lâm sàng trong Bệnh viện
Thông tư 19/2018/TT-BYT ngày 30/8/2018 của Bộ Y tế về việc Ban hành danh mục thuốc thiết yếu
Thông tư số 30/2018/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 30/10/2018 quy định về danh mục, tỷ lệ và điều kiện thanh toán cho thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế Văn bản này xác định rõ các loại thuốc và dịch vụ y tế được bảo hiểm thanh toán, giúp người bệnh dễ dàng tiếp cận các phương pháp điều trị phù hợp và tiết kiệm chi phí Thủ tục thanh toán theo thông tư này đảm bảo minh bạch, đúng quy định của Bộ Y tế, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ bảo hiểm y tế.
Thông tư số 05/2015/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 17/3/2015 quy định về danh mục thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền được thanh toán từ quỹ bảo hiểm y tế Văn bản này nhằm cập nhật các loại thuốc phù hợp để người bệnh được hưởng chế độ bảo hiểm y tế khi sử dụng các thuốc y học cổ truyền Việc ban hành thông tư giúp đảm bảo rõ ràng về danh mục thuốc cổ truyền được hỗ trợ, góp phần nâng cao hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng Nhà nước khuyến khích sử dụng thuốc dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền trong điều trị, đồng thời mở rộng phạm vi bao phủ của bảo hiểm y tế đối với các loại thuốc này.
Tháng 1/2016, Bộ Y tế ban hành Thông tư 01/2016/TT-BYT quy định rõ về việc kê đơn thuốc YHCT và YHVT tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Nội dung của thông tư hướng dẫn cách thức kê đơn thuốc y học cổ truyền và y học cổ truyền kết hợp với thuốc hóa dược nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả điều trị Thông tư còn nhấn mạnh việc phối hợp giữa các phương pháp y học truyền thống và hiện đại trong quá trình khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế Việc áp dụng đúng quy định này giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và đảm bảo quyền lợi của bệnh nhân khi sử dụng thuốc.
Thông tư 19/2018/TT-BYT ngày 30/8/2018 của Bộ Y tế ban hành Danh mục thuốc thiết yếu
Thông tư 01/2020/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 16/1/2020 quy định sửa đổi, bổ sung Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 của Bộ
Bệnh viện và cơ sở y tế đã ban hành danh mục, tỷ lệ thanh toán và điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu phù hợp với các quy định của bảo hiểm y tế Các quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế khi sử dụng các dịch vụ y tế liên quan, đồng thời giúp kiểm soát chi phí và nâng cao chất lượng điều trị Việc cập nhật danh mục và tỷ lệ thanh toán theo hướng dẫn của Bộ Y tế đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong việc chi trả phí khám chữa bệnh.
Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc
1.2.1 Phương pháp phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp đánh giá mối quan hệ giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, giúp xác định rõ các loại thuốc chiếm tỷ lệ lớn nhất trong ngân sách y tế Phương pháp này hỗ trợ quản lý tài chính hiệu quả bằng cách phân loại thuốc theo mức độ tiêu thụ và chi phí, từ đó tối ưu hóa nguồn lực Áp dụng phân tích ABC giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định chính xác hơn về phân bổ ngân sách cho các thuốc quan trọng nhất, nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc và giảm thiểu lãng phí.
Phân tích ABC tạo ra cơ sở đưa ra những quyết định quan trọng trong tồn trữ, mua sắm, lựa chọn nhà cung cấp
Các loại thuốc thay thế phổ biến được sử dụng với số lượng lớn vì có chi phí thấp hoặc dễ dàng có sẵn trên thị trường, giúp giảm thiểu chi phí điều trị mà vẫn duy trì hiệu quả.
- Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn
- Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế
Việc đánh giá mức độ tiêu thụ thuốc giúp phản ánh rõ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng Phân tích này cũng cho phép phát hiện những bất cập và sự chưa hợp lý trong việc sử dụng thuốc Bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật theo hệ thống mã ICD, chúng ta có thể xác định chính xác các vấn đề liên quan đến phương pháp điều trị và sử dụng thuốc Điều này góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cộng đồng và cải thiện chính sách sử dụng thuốc hợp lý trong cộng đồng.
Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của Bệnh viện
Tóm lại, phân tích ABC có ưu điểm chính giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào
Tuy nhiên, nhược điểm của phân tích ABC: Không cung cấp được đầy đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau
1.2.2 Phương pháp phân tích VEN
1.2.2.1 Khái niệm: là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong Bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn [7]
Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 03 nhóm cụ thể sau:
Thuốc V (Vital drugs) là loại thuốc sống còn, cần thiết trong các trường hợp cấp cứu hoặc các tình huống quan trọng Đây là những loại thuốc thiết yếu phải có trong kho thuốc của bệnh viện để đảm bảo hiệu quả công tác khám chữa bệnh Sự có mặt của thuốc V đảm bảo khả năng ứng phó nhanh chóng và chính xác trong các tình huống khẩn cấp, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người bệnh.
Thuốc E (thuốc thiết yếu) là các loại thuốc cần thiết để điều trị các bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện Việc sử dụng thuốc E giúp đảm bảo cung cấp đầy đủ các loại thuốc cần thiết cho các trường hợp bệnh nhẹ, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và chăm sóc bệnh nhân Thuốc E đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động của hệ thống y tế, đáp ứng nhu cầu điều trị căn bản của cộng đồng.
Thuốc N (thuốc không thiết yếu) là những loại thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ hoặc bệnh có khả năng tự khỏi mà không cần điều trị đặc biệt Các thuốc này bao gồm những loại có hiệu quả điều trị chưa được xác nhận rõ ràng hoặc có giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng mang lại Sử dụng thuốc N không thiết yếu giúp giảm chi phí y tế và hạn chế lạm dụng thuốc không cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho người bệnh.
1.2.2.2 Ý nghĩa của phân tích VEN
Phương pháp phân tích VEN là công cụ hiệu quả giúp xác định các loại thuốc cần ưu tiên trong quá trình lựa chọn mua sắm và sử dụng Phương pháp này hỗ trợ quản lý tồn kho một cách tối ưu, đồng thời giúp xác định thuốc có giá cả phù hợp, đảm bảo tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc trong hệ thống y tế.
- Việc lựa chọn thuốc: Các thuốc V và E nên được đưa ra ưu tiên lựa chọn Đặc biệt khi ngân sách hạn hẹp
Trong quá trình mua sắm thuốc, các thuốc V và E cần được kiểm soát chặt chẽ thông qua việc thường xuyên đặt hàng và duy trì dự trữ phù hợp, đồng thời giảm dự trữ các thuốc không cần thiết để tối ưu nguồn lực Nếu ngân sách không hạn chế, việc sử dụng phân tích VEN giúp đảm bảo đủ số lượng thuốc V và E cần thiết được mua trước tiên, đảm bảo cung ứng liên tục Sau khi thực hiện phân tích, lựa chọn nhà cung cấp uy tín là bước quan trọng để đảm bảo cung cấp các thuốc thiết yếu, trong đó có thể thử nghiệm bằng cách ký hợp đồng mua các thuốc không thiết yếu với nhà cung cấp mới để đánh giá độ tin cậy.
Dựa trên kết quả phân tích VEN, chúng tôi đề xuất sử dụng thuốc V và E một cách hợp lý nhằm tối ưu hiệu quả điều trị Đồng thời, cần xem xét lại việc sử dụng quá nhiều thuốc không thiết yếu để giảm thiểu tác dụng phụ và tiết kiệm chi phí Việc quản lý thuốc phù hợp góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân và đảm bảo an toàn trong sử dụng thuốc.
- Việc dự trữ thuốc: Chú ý đặc biệt lưu trữ các thuốc hạng mục V, E để tránh hết kho
1.2.3 Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN
Phân tích VEN nên được thực hiện kết hợp với phân tích ABC để xác định mối quan hệ giữa các thuốc có chi phí cao nhưng mức độ ưu tiên thấp Đặc biệt, cần hạn chế hoặc loại bỏ các thuốc nhóm N, dù chúng có chi phí cao trong nhóm A Việc kết hợp phân tích VEN và ABC sẽ tạo thành ma trận ABC/VEN, giúp tối ưu hóa nguồn lực và giảm thiểu chi phí không cần thiết trong quản lý thuốc.
Bảng 1.1 Ma trận ABC/VEN
A AV: (Thuốc quan trọng, giá trị sử dụng lớn)
AE: Thuốc thiết yếu, giá trị sử dụng lớn)
AN: Thuốc không thiết yếu, giá trị sử dụng lớn)
BV: (Thuốc quan trọng giá trị sử dụng trung bình)
BE: (Thuốc thiết yếu giá trị sử dụng trung bình)
BN: (Thuốc không thiết yếu giá trị sử dụng trung bình)
C CV: (Thuốc quan trọng, giá trị sử dụng ít)
CE: (Thuốc thiết yếu, giá trị sử dụng ít)
CN: (Thuốc không thiết yếu, giá trị sử dụng ít)
1.2.4 Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị
1.2.4.1 Khái niệm: là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [4]
Dựa trên dữ liệu về hoạt động điều trị, bài viết giúp xác định các nhóm thuốc có lượng tiêu thụ và chi phí cao nhất, từ đó tối ưu hóa quản lý thuốc Đồng thời, dựa trên thông tin về thuốc, bài viết phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc không hợp lý, nhận diện các loại thuốc bị lạm dụng hoặc có mức tiêu thụ không phản ánh đúng thực tế Các đánh giá này góp phần nâng cao tính hiệu quả và an toàn trong khám chữa bệnh, đồng thời hỗ trợ các quyết định chính sách về sử dụng thuốc hợp lý.
Hỗ trợ HĐT&ĐT trong việc lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị nhằm tối ưu hóa ngân sách chăm sóc sức khỏe Đồng thời, giúp xác định các thuốc phù hợp cho các liệu pháp điều trị thay thế, đảm bảo hiệu quả điều trị cao nhất với chi phí hợp lý.
Phương pháp phân tích nhóm điều trị giúp xác định các nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc và chi phí cao nhất, từ đó nhận diện các vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý Qua đó, có thể phát hiện những thuốc bị lạm dụng hoặc không phù hợp với các ca bệnh cụ thể như sốt rét và sốt xuất huyết Hội đồng thuốc và điều trị chọn lựa các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong từng nhóm điều trị và trong các liệu pháp thay thế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc và giảm thiểu lãng phí.
Thực trạng phân tích danh mục thuốc sử dụng trong Bệnh viện
1.2.1 Về cơ cấu nhóm tác dụng dược lý
Các kết quả nghiên cứu tại một số bệnh viện chuyên ngành hô hấp như Bệnh viện Lao & Bệnh Phổi Nghệ An, Bệnh viện Phổi Bình Thuận, Hải Dương, Trung ương, Hải Phòng cho thấy DMT sử dụng đa dạng các nhóm thuốc Tây Dược, trong đó có 05 nhóm thuốc chiếm hơn 80% tổng chi phí thuốc Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất về số lượng kê đơn cũng như giá trị sử dụng trong cơ cấu thuốc của các bệnh viện Thông tin này đã được trình bày rõ ràng trong bảng đính kèm, giúp định hướng quản lý và tối ưu sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế.
Bảng 1.2 Cơ cấu sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý tại một số
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu
05 nhóm thuốc có GT lớn
Nhóm thuốc điều trị kí sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Bệnh phổi Nghệ An năm 2015 [28]
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu
05 nhóm thuốc có GT lớn
Nhóm thuốc điều trị kí sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
4 Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2017 [25] 397 22 55,1 85,3 19,1 38,5
Trong năm 2019, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng tại các bệnh viện, được quan tâm đặc biệt về việc sử dụng hợp lý Hội nghị tư vấn xây dựng kế hoạch hành động chống kháng thuốc ngày 26/10/2011 đã nhấn mạnh rằng vấn đề kháng thuốc đang gây ra hậu quả nghiêm trọng, làm hạn chế nguồn cung cấp thuốc kháng khuẩn mới, đặc biệt cho bệnh nhân bị nhiễm vi khuẩn đa kháng Mặc dù các bệnh lây nhiễm tại Việt Nam có xu hướng giảm dần, chiếm khoảng 25% tổng số bệnh tật, nhưng nhu cầu sử dụng kháng sinh vẫn không giảm mà ngày càng gia tăng Việc tập trung kinh phí lớn và sử dụng nhiều thuốc trong nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn đặt ra thách thức lớn cho các bệnh viện trong việc hạn chế lạm dụng kháng sinh, góp phần giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc.
Cơ cấu danh mục thuốc kháng sinh theo nhóm tác dụng dược lý
Chi phí cho kháng sinh luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sử dụng thuốc tại các bệnh viện, gây áp lực đáng kể đối với ngân sách y tế Nghiên cứu chuyên sâu về các phân nhóm kháng sinh cho thấy, nhóm beta-lactam chiếm tỷ lệ cao cả về số khoản mục và giá trị sử dụng, phản ánh vai trò quan trọng của nhóm thuốc này trong điều trị nhiễm trùng.
Bảng 1.3 Tỷ lệ sử dụng nhóm beta-lactam tại một số Bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Nhóm beta-lactam
KM %KM GT (tỷ đồng) %GT
1 Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2017 [25] 30 39,5 47,3 67,2
2 Bệnh viện Phổi Hải Dương năm 2017 [24] 10 34,5 13,4 55,0
3 Bệnh viện Phổi Bình Thuận năm 2017 [21] 13 52,0 3,2 79,0
4 Bệnh viện Phổi Hải Phòng năm 2019 [22] 14 45,2 4,6 87,8
1.2.2 Tình hình sử dụng thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
Với mong muốn tăng dần tỷ lệ sử dụng thuốc nội tại các cơ sở y tế, năm
2012 Cục quản lý Dược đã tổ chức thành công diễn đàn “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, năm 2016, Bộ Y tế ban hành Thông tư 10/2016/TT-
Hiện nay, quy định về danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp đã được thay thế bằng Thông tư 03/2019/TT-BYT, một trong những giải pháp thúc đẩy ngành dược Việt Nam phát triển bền vững Chính sách này nhằm bảo đảm nguồn cung ứng thuốc phòng và chữa bệnh trong nước, giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu từ nước ngoài Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước vẫn còn rất thấp, theo nghiên cứu tại một số bệnh viện, tỷ lệ này còn hạn chế đáng kể.
Bảng 1.4 Cơ cấu sử dụng thuốc theo nguồn gốc xuất xứ tại một số Bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Số
1 Bệnh viện Lao và Bệnh phổi
2 Bệnh viện Phổi tỉnh Bình
3 Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2017 [25] 397 73,3 92,4 26,7 7,6
4 Bệnh viện Phổi Hải Dương năm 2017 [24] 203 59,1 90,0 40,9 10,0
5 Bệnh viện Phổi Hải Phòng năm 2019 [22] 129 46,5 89,3 53,5 10,7
Nghiên cứu cho thấy sự mất cân đối nghiêng về thuốc nhập khẩu trong Dược phẩm tại các bệnh viện, gây gánh nặng chi phí cho người bệnh và ngân sách Bảo hiểm Y tế Mục tiêu giai đoạn 2 của Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” đến năm 2020 là đạt tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước là 22% tại tuyến Trung ương, 50% tại tuyến tỉnh và 75% tại tuyến huyện Điều này nhấn mạnh cần thúc đẩy sản xuất thuốc trong nước để giảm phụ thuộc vào thuốc nhập khẩu và giảm chi phí cho bệnh nhân.
Để đạt được những mục tiêu đề ra trong công tác xây dựng DMT, cần thiết phải áp dụng những biện pháp tích cực và phù hợp hơn Việc tìm kiếm các giải pháp hiệu quả sẽ giúp nâng cao chất lượng và tính khả thi của quá trình xây dựng DMT, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững và thành công của dự án.
1.2.3 Tình hình sử dụng thuốc generic, thuốc biệt dược gốc
Việc sử dụng thuốc generic là giải pháp thiết thực giúp giảm chi phí trong điều trị Năm 2016, chi phí sử dụng thuốc biệt dược gốc trong khám chữa Bệnh BHYT chiếm gần 8.226 tỷ đồng, tương đương 26% tổng chi phí thuốc Tại các bệnh viện trung ương, tỷ lệ sử dụng thuốc biệt dược gốc đạt 47%, trong khi đó tại các bệnh viện tuyến tỉnh là 24% và tuyến huyện chỉ khoảng 7% Các nghiên cứu tại một số bệnh viện cho thấy cơ cấu sử dụng thuốc generic và thuốc biệt dược gốc có sự khác biệt rõ rệt giữa các tuyến, góp phần giảm tải chi phí y tế.
Bảng 1.5 Cơ cấu sử dụng thuốc generic, thuốc biệt dược gốc tại một số Bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Số
1 Bệnh viện Lao và Bệnh phổi
2 Bệnh viện Phổi tỉnh Bình
3 Bệnh viện Phổi Hải Dương năm 2017 [24] 203 84,7 84,7 15,3 15,3
4 Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2017 [25] 397 66,7 48,7 33,3 51,3
5 Bệnh viện Phổi Hải Phòng năm 2019 [22] 128 91,5 85,0 8,5 15,0
Các bệnh viện chủ yếu ưu tiên sử dụng thuốc generic, trong khi các khoản mục BDG chiếm tỷ lệ rất ít Tuy nhiên, thuốc BDG lại có giá trị sử dụng lớn vì tham gia đấu thầu theo các gói BDG hoặc các phương án điều trị tương đương Do không có sự cạnh tranh trong đấu thầu đối với thuốc BDG, hầu hết các loại thuốc này đều trúng thầu với giá cao, ảnh hưởng đến chi phí khám chữa bệnh.
1.2.4 Tình hình sử dụng thuốc theo thành phần, đường đùng
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế: Nguyên tắc lựa chọn thuốc thành phẩm để mua sắm, sử dụng cho người Bệnh là ưu tiên lựa chọn thuốc đơn chất [13];
Bệnh viện lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp dựa trên tình trạng và mức độ bệnh lý của người bệnh, trong đó đường tiêm chỉ được sử dụng khi bệnh nhân không thể uống thuốc hoặc thuốc uống không đạt hiệu quả điều trị mong muốn Nghiên cứu tại các bệnh viện cho thấy thuốc đơn thành phần và thuốc dùng theo đường tiêm truyền chiếm tỷ lệ cao về số lượng khoản mục và giá trị sử dụng, phản ánh rõ ưu thế và tính phổ biến của các dạng thuốc này trong quá trình điều trị.
Bảng 1.6 Cơ cấu sử dụng thuốc theo thành phần, đường dùng tại một số
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Số
1 Bệnh viện Lao và Bệnh phổi
2 Bệnh viện Phổi tỉnh Bình
3 Bệnh viện Phổi Hải Dương năm 2017 [24] 203 87,7 93,0 57,1 81,1
4 Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2017 [25] 397 91,2 94,6 53,1 75,4
5 Bệnh viện Phổi Hải Phòng năm 2019 [22] 129 90,7 74,9 53,5 67,7
Phân tích ABC, VEN và ABC/VEN tại một số Bệnh viện ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, phương pháp phân tích ABC/VEN đã được Trường Đại học Dược Hà Nội tích hợp vào chương trình đào tạo và tập huấn chuyên đề Dược lâm sàng, nhằm đánh giá danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Phương pháp phân tích ABC dễ thực hiện hơn, trong khi phân tích VEN phức tạp hơn nhưng mang lại cái nhìn toàn diện hơn về giá trị và ưu tiên của các nhóm thuốc Phân tích ABC/VEN đã được áp dụng tại các cơ sở y tế như Sở Y tế, bệnh viện và các cơ sở khám chữa bệnh hợp pháp có nhu cầu nhằm tối ưu hóa phân loại và quản lý thuốc hiệu quả Tuy nhiên, phân tích VEN đòi hỏi kỹ thuật và kiến thức chuyên sâu hơn để phân loại thuốc vào các nhóm V, E một cách chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế.
Hiện tại tại Việt Nam, chưa có tiêu chí chính xác để phân loại thuốc V, E, N, chỉ mới đưa ra định nghĩa ban đầu về các loại thuốc này Việc xác định rõ tiêu chuẩn phân loại đòi hỏi sự đồng thuận cao giữa các thành viên trong Hội đồng Thực hành và Đào tạo (HĐT&ĐT), nhằm đảm bảo tính chính xác và nhất quán trong công tác phân loại thuốc.
Nghiên cứu tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2017 cho thấy thuốc hạng A chiếm 13,6% tổng chi phí mua sắm thuốc với giá trị hơn 146 tỷ đồng, chiếm gần 80% tổng giá trị sử dụng thuốc Thuốc hạng B và C lần lượt chiếm 17,9% về khối lượng và 68,5% về chi phí, trong khi đó thuốc hạng C chiếm 15,0% về khối lượng nhưng chỉ 5,1% về tổng giá trị sử dụng thuốc Những kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của thuốc hạng A trong ngân sách và hoạt động điều trị tại bệnh viện.
Nhóm GTSD N có 13 thuốc, chiếm 3,27% tổng khuyến mại (KM) và 1,35% tổng giá trị sử dụng, cho thấy sự đa dạng và tiêu thụ đáng kể trong danh mục này Trong khi đó, nhóm AN chỉ gồm 1 thuốc, chiếm 0,25% về KM và 0,4% về GTSD, chủ yếu được sử dụng nhằm hỗ trợ và không đem lại lợi ích rõ ràng trong điều trị Điều này phản ánh xu hướng sử dụng thuốc theo nhóm nhằm mục đích hỗ trợ, nhưng cần xem xét cẩn thận để tối ưu hoá hiệu quả điều trị.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Nghệ
Trong phân tích kết quả, nhóm A gồm 30 khoản mục chiếm 11,2% tổng số khoản mục thuốc sử dụng, trị giá 6,5 tỷ đồng, chiếm 79,5% tổng giá trị sử dụng Nhóm thuốc N bao gồm 32 thuốc, chiếm 11,9% số khoản mục và 11,3% tổng giá trị sử dụng Ngoài ra, nhóm AN gồm 07 thuốc, chiếm 6,9% tổng giá trị sử dụng tương ứng với 2,6% số khoản mục, trong đó có các nhóm thuốc tăng cường miễn dịch, bổ gan, vitamin và khoáng chất.
Thống kê kết quả phân tích ABC/ VEN tại một số Bệnh viện chuyên ngành hô hấp được thể hiện trong các bảng sau:
Bảng 1.7 Cơ cấu thuốc theo phân tích ABC tại một số Bệnh viện
Bệnh viện/năm nghiên cứu
Bệnh Phổi Nghệ An năm 2015 [28]
Bệnh viện/năm nghiên cứu
Bảng 1.8 Cơ cấu thuốc theo phân tích VEN tại một số Bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu
%KM %GT %KM %GT %KM %GT
Bệnh Phổi Nghệ An năm 2015 [28]
Bảng 1.9 Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN tại một số Bệnh viện
Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Nghệ An năm
Bệnh viện Phổi Hải Dương năm
Bệnh viện Phổi Trung ương năm
Bệnh viện Phổi Hải Phòng năm
%KM %GT %KM %GT %KM %GT %KM %GT
Một vài nét về Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, tiền thân là Bệnh viện Hồng Bàng, được xây dựng và hoạt động từ năm 1906, với hơn 116 năm lịch sử phát triển Nằm tại số 120 đường Hồng Bàng, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện nằm ở trung tâm hành chính và kinh tế năng động của quận 5 Vị trí đắc địa, phía Đông giáp đường Ngô Quyền, phía Nam giáp đường Hồng Bàng, phía Tây tiếp giáp trường học và phía Bắc là khu dân cư, giúp dễ dàng di chuyển ngay cả vào giờ cao điểm Bệnh viện có khuôn viên rộng khoảng 4,6 hécta, trồng nhiều cây cổ thụ và cây cảnh có hoa quanh năm, tạo môi trường trong lành, thúc đẩy quá trình hồi phục nhanh chóng cho bệnh nhân.
Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch là đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực chỉ đạo tuyến về lao và bệnh phổi tại khu vực miền Nam, vinh dự mang tên của anh hùng lao động, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế đầu tiên của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông được xem như ông tổ trong ngành lao và bệnh phổi Phương châm hành động của bệnh viện là: “Chỉ có nắm vững tình hình bệnh phổi trong nước mới chuẩn đoán bệnh lao chính xác, ít sai lầm,” và chúng tôi phát triển dựa trên tinh thần này Ban đầu là bệnh viện lao, nhưng hiện nay, Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch là trung tâm chuyên sâu về phổi, với hệ thống trang thiết bị hiện đại, tiên tiến, được đầu tư từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn của bệnh viện và sự hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế Giá trị cốt lõi của bệnh viện là “Phát triển – Nhân văn – Thiện nguyện,” nhằm thực hiện sứ mệnh “Chăm sóc tốt sức khỏe phổi,” với tầm nhìn “Vươn tới đỉnh cao bệnh phổi.”
Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch là bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế TP.HCM, đảm nhận vai trò bệnh viện đầu ngành trong lĩnh vực khám, chữa bệnh về Lao và Bệnh Phổi cho các tỉnh miền Nam theo quyết định số 4026/QĐ-BYT ngày 20/10/2010 của Bộ Y tế Đây là cơ sở thực hành của nhiều trường đại học y hàng đầu như Đại học Y Dược TP.HCM, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Học viện Quân Y, Khoa Y Đại học Quốc gia TP.HCM, và Đại học Tân Tạo Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo tuyến và phát triển y tế chuyên sâu về Lao và Bệnh Phổi khu vực miền Nam.
Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch có 10 phòng chức năng bao gồm Phòng Tổ chức Cán bộ, Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Phòng Công tác Xã hội, Phòng Quản lý Chất lượng, Phòng Điều dưỡng, Phòng Chỉ đạo tuyến, Phòng Tài chính Kế toán, Phòng Hành chính Quản trị, Phòng Vật tư Trang thiết bị và Phòng Công nghệ Thông tin, đảm bảo vận hành hiệu quả toàn bộ hoạt động của bệnh viện Khu chẩn đoán kỹ thuật cao của bệnh viện gồm có 4 khoa cận lâm sàng gồm Chẩn đoán hình ảnh, Vi sinh, Sinh hoá - Huyết học - Miễn dịch, Giải phẫu bệnh, cùng với 1 khoa Khám bệnh và Quản lý điều trị ngoại trú nhằm phục vụ trung bình lượng bệnh nhân đến khám và điều trị.
Bệnh viện tiếp đón khoảng 1.500 lượt bệnh nhân mỗi ngày và có 16 giường bệnh để điều trị ban ngày Khu A chuyên về bệnh phổi gồm tổng cộng 406 giường, trong đó các khoa A2, A3, A4, A5, A6 có 315 giường (63 giường mỗi khoa), cùng khoa Hồi sức cấp cứu chống độc với 187 giường (bảo gồm các khoa B2 với 80 giường, B3 59 giường và B4 48 giường) Khu C là khu kỹ thuật chuyên sâu về chẩn đoán bệnh phổi không lây nhiễm, với tổng cộng 210 giường, bao gồm các khoa C4, C5, C6 (78 giường, 26 mỗi khoa), khoa Gây mê hồi sức với 15 giường, khoa Ngoại lồng ngực 1 có 80 giường, khoa Ngoại lồng ngực 2 có 42 giường, khoa Cấp cứu ngoại chẩn với 46 giường, khoa Dịch vụ điều trị bệnh phổi với 33 giường, cùng một khoa Nhi với 20 giường (gồm 5 giường điều trị trong ngày) Ngoài ra, bệnh viện còn có các khoa như Kiểm soát nhiễm khuẩn, Phục hồi chức năng và Dược để phục vụ dịch vụ chăm sóc bệnh nhân toàn diện.
Bệnh viện có đội ngũ 905 nhân viên y tế có tay nghề cao, chuyên nghiệp trong lĩnh vực nội và ngoại khoa về lao và bệnh phổi Đặc biệt, bệnh viện nổi bật trong phẫu thuật lồng ngực, chẩn đoán và hoá trị ung thư phổi, cũng như điều trị các bệnh phổi không lao và lao, chiếm khoảng 30% Hàng ngày, bệnh viện phục vụ khoảng 1.500 lượt bệnh nhân ngoại trú và quản lý 1.035 giường nội trú với công suất hoạt động đạt 110%, thể hiện khả năng cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao và đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Tiếp nhận khám, chẩn đoán, điều trị, theo dõi quản lý bệnh nhân mắc các bệnh hô hấp không lao và bệnh lao
Phụ trách chỉ đạo tuyến trong lĩnh vực khám, chữa bệnh cho chuyên khoa Lao và Bệnh Phổi tại các tỉnh/thành phố miền Nam được phân công dựa trên Quyết định số 4026/QĐ-BYT ngày 20 tháng 10 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế Nhiệm vụ của người phụ trách gồm hướng dẫn, kiểm tra và nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh chuyên ngành Lao và Bệnh Phổi tại các địa phương trong khu vực miền Nam Việc ban hành và thực hiện quy chế phối hợp là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe người dân luôn được duy trì và cải thiện theo tiêu chuẩn y tế quốc gia.
Tiếp nhận tất cả các bệnh nhân đang ở trong tình trạng cấp cứu, đặc biệt liên quan đến bệnh hô hấp và bệnh lao
Chúng tôi chuyên tiếp nhận, khám, chẩn đoán và điều trị các bệnh phổi không lao như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, viêm phế quản, viêm phổi không lao, khí quản, khí phổi, tràn khí màng phổi, tràn mủ màng phổi, dày màng phổi, u phổi, u trung thất, cũng như các bệnh phổi nghề nghiệp và bệnh lao Quản lý bệnh nhân mắc các bệnh này được thực hiện theo tiêu chuẩn y tế nhằm đảm bảo chẩn đoán chính xác và quá trình điều trị hiệu quả Đội ngũ y tế của chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ và theo dõi tình trạng bệnh của bệnh nhân để nâng cao chất lượng chăm sóc và phục hồi sức khỏe.
Do bệnh nhân tự đến hay tuyến dưới chuyển đến
Theo yêu cầu người bệnh và thân nhân bệnh nhân, theo yêu cầu các cơ quan, xí nghiệp trong và ngoài nước
Theo yêu cầu của Hội Đồng Giám Định Y Khoa, và của Ban Bảo vệ Sức khoẻ Thành uỷ
1.3.4.1 Chỉ đạo tuyến công tác khám, chữa bệnh
Khảo sát đánh giá năng lực chuyên môn và nhu cầu đào tạo của tuyến dưới
Để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, cần hướng dẫn và tạo điều kiện cho tuyến dưới thực hiện đúng tuyến kỹ thuật, đảm bảo tuân thủ các quy trình chuyên môn Việc thông báo kịp thời các sai sót về chuyên môn kỹ thuật giúp nâng cao hiệu quả công tác y tế và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Đẩy mạnh công tác hướng dẫn, kiểm tra và giám sát nhằm nâng cao năng lực cho tuyến dưới, góp phần nâng cao chất lượng toàn diện của hệ thống y tế.
Kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn, quy trình kỹ thuật của đơn vị tuyến dưới
Hỗ trợ kỹ thuật tuyến dưới khi có yêu cầu
Tổ chức đào tạo lại và đào tạo liên tục cho cán bộ tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật, nhằm nâng cao năng lực và chất lượng công tác y tế tại Bệnh viện hoặc tại các cơ sở y tế địa phương Việc này giúp đảm bảo đội ngũ nhân viên y tế luôn cập nhật kiến thức mới, đáp ứng tốt nhất yêu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng Đào tạo chuyên môn kỹ thuật định kỳ là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
Tiếp nhận cán bộ chuyên môn của tuyến dưới về học tập thực hành, nâng cao tay nghề
Tổ chức thực hiện công tác nghiên cứu khoa học- công nghệ
Thực hiện nghiên cứu khoa học về chỉ đạo tuyến
1.3.4.2 Triển khai công tác hướng về cộng đồng
Cùng với tuyến dưới, hướng về cộng đồng thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu, tham gia phòng chống lao và bệnh phổi
Các tỉnh thành phía Nam được chỉ đạo thực hiện đúng hướng của Trung Ương trong công tác kiểm tra, giám sát hàng quý và đột xuất, đánh giá kết quả đã đạt được, và tập hợp báo cáo quý, năm để gửi về Trung Ương Ngoài ra, nhiệm vụ còn gồm đào tạo cán bộ, giáo dục truyền thông, điều tra dịch tễ, nghiên cứu khoa học và phân phối tiếp liệu từ CTCLQG cho các tỉnh phía Nam.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, các Tổ chống lao quận huyện được chỉ đạo thực hiện các hoạt động chống lao hàng năm theo chỉ tiêu và đường hướng của Trung ương và Sở Y tế Nhiệm vụ của họ bao gồm tổ chức triển khai các biện pháp phòng chống lao tại địa phương, kiểm tra giám sát và đánh giá công tác đã thực hiện, đào tạo cán bộ, giáo dục truyền thông cộng đồng, lập kế hoạch tiếp liệu và điều tra dịch tễ, cùng với nghiên cứu khoa học để nâng cao hiệu quả công tác chống lao.
Hàng năm, tổ chức tổng kết công tác chỉ đạo tuyến theo kế hoạch đã đề ra, đồng thời báo cáo kết quả hoạt động cho Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và Dự án phòng chống lao quốc gia Việc tổng kết đúng định kỳ giúp đánh giá hiệu quả công tác, xác định các điểm cần cải thiện và đảm bảo các hoạt động phòng chống lao đạt mục tiêu đề ra Báo cáo kết quả là cơ sở để điều chỉnh chiến lược, nâng cao chất lượng công tác y tế dự phòng và tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác phòng chống lao.
Mô hình bệnh tật của Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm 2021
Năm 2021, đối mặt với dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch đã tích cực phát triển chuyên khoa sâu về bệnh lý phổi không do lao và nâng cao khả năng đáp ứng dịch bệnh Bệnh viện đã triển khai mô hình “Split Hospital” để tách đôi khu vực điều trị, giúp sẵn sàng tiếp nhận và điều trị COVID-19 hiệu quả, với một nửa diện tích bệnh viện dành riêng cho bệnh nhân COVID-19, bao gồm các cổng vào riêng, các khu nhà và phòng áp lực âm, giường hồi sức, cũng như khu vực xét nghiệm RT-PCR chẩn đoán COVID-19 Mô hình này hỗ trợ bệnh viện quản lý tốt hơn số lượng lên tới 700 giường dành cho bệnh nhân COVID-19, đảm bảo an toàn và tối ưu hóa quy trình điều trị trong bối cảnh dịch bệnh phức tạp.
Bảng 1.10 Mô hình bệnh tật tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm 2021 phân loại theo mã ICD-10
TT Chương bệnh Tên bệnh Mã
Chương I Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
Viêm phổi J12-J18 4851 13,99 Viêm phế quản J20 16 0,05 Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính J44 2.987 8,62 Hen phế quản J45 206 0,59 Giãn phế quản J47 241 0,70 Tràn dịch màng phổi J90-J91 63 0,18 Tràn khí màng phổi J93 538 1,55
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay trên thế giới có khoảng 70% thuốc là các chế phẩm sao chép hoặc thuốc không thiết yếu, gây ra những thách thức trong việc kiểm soát chất lượng và an toàn thuốc Tại Việt Nam, có hơn 22.000 số đăng ký thuốc còn hiệu lực, trong đó khoảng 12.000 số đăng ký nước ngoài với trên 1.000 hoạt chất và khoảng 10.000 số đăng ký trong nước với hơn 500 hoạt chất, chứng tỏ thị trường thuốc đa dạng và phong phú Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra nhiều khó khăn trong việc lựa chọn thuốc phù hợp để điều trị trong cộng đồng cũng như tại các bệnh viện.
Trong quy trình quản lý cung ứng thuốc tại bệnh viện, xây dựng danh mục thuốc đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả Việc này còn giúp thuận tiện trong hoạt động mua sắm, lưu trữ thuốc, đảm bảo đủ nguồn cung cấp thuốc có chất lượng cao, dễ dàng cho công tác kê đơn, quản lý thông tin thuốc và kiểm soát ADR kịp thời.
Việc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa trên danh mục thuốc năm trước do thiếu phân tích dữ liệu sử dụng thuốc để làm căn cứ Các dữ liệu này là yếu tố quan trọng, mang tính định lượng giúp thuyết phục bác sĩ và đối tượng kê đơn trong bệnh viện.
Phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh chính xác thực trạng sử dụng thuốc ở các bệnh viện tại Việt Nam Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn cao nhờ vào việc cung cấp dữ liệu đáng tin cậy về các loại thuốc được sử dụng phổ biến và phù hợp với thực tiễn điều trị Trước đó, đã có nhiều nghiên cứu về danh mục thuốc tại các bệnh viện khác trên khắp cả nước, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phân phối thuốc Chính vì vậy, việc phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch giúp phù hợp hóa công tác quản lý thuốc, tăng cường an toàn cho bệnh nhân và hướng tới tối ưu hóa nguồn lực y tế.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng: Danh mục thuốc đã được sử dụng năm 2021
- Địa điểm: Tại khoa dược Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
Phương pháp nghiên cứu
Bảng 2.11 Biến số nghiên cứu
T Tên biến Định nghĩa/ Giải thích Phân loại biến
Mục tiêu 1 Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã được sử dụng tại Bệnh viện
Phạm Ngọc Thạch thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021
Nhóm thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
Phân loại Thuốc hoá dược theo quy định tại Thông tư số
Phân loại Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu theo quy định tại Thông tư 05/TT-
Phân loại (Thuốc hóa dược/ thuốc từ dược liệu)
Nhóm thuốc sử dụng theo nhóm dược lý
Phân loại thuốc hóa dược theo quy định tại TT số 30/2018/TT- BYT Phân loại thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu quy định tại
(27 nhóm tác dụng dược lý của thuốc hóa dược; 11 nhóm thuốc
Tài liệu sẵn có cổ truyền, thuốc dược liệu)
Nhóm thuốc kháng sinh theo phân nhóm kháng sinh
Phân loại nhóm kháng sinh theo phân nhóm tại Thông tư số 30/2018/TT- BYT
Phân loại (theo nhóm: β- lactam, marcolid,
Nhóm Beta- lactam theo cấu trúc hóa học
Dựa vào Quyết định 708 để xác định các kháng sinh nhóm beta-lactam theo cấu trúc hóa học [7]:
Cephalospori, quinolon theo phổ tác dụng
Phân loại căn cứ vào Quyết định 708 để xác định các kháng sinh [7]:
Nhóm thuốc đơn thành phần- đa thành phần
- Thuốc đơn thành phần: là thuốc có một hoạt chất có tác dụng dược lý
- Thuốc đa thành phần: là thuốc có >1 hoạt chất có tác dụng dược lý khác nhau
Phân loại (Đơn thành phần/ Đa thành phần
Nhóm thuốc sử dụng theo nguồn gốc- xuất xứ
- Thuốc sản xuất trong nước: do các công ty dược phẩm trong nước và công ty liên doanh tại Việt Nam sản xuất
- Thuốc nhập khẩu: thuốc do các công ty dược phẩm nước ngoài sản xuất được nhập khẩu qua các công ty dược phẩm tại Việt Nam
Phân loại (Thuốc sản xuất trong nươc/
Căn cứ vào danh mục thuốc Biệt dược gốc của cục quản lý dược thuốc hoá dược chia thành 2 nhóm:
Thuốc generic không nằm trong danh mục công bố BDG của cục quản lý dược
Thuốc BDG là các thuốc nằm trong danh mục công bố của Cục quản lý dược
Phân loại (Biệt dược gốc/
Thuốc sử dụng theo đường dùng
Là đường đưa thuốc vào cơ thể được ghi trên thuốc
Phân loại (Uống/tiêm , tiêm truyền/ đường khác)
Mục tiêu 2 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc đã được sử dụng tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/
Thuốc hạng A sử dụng theo nhóm TDDL:
- Thuốc hóa dược quy định tại
TT số 30/2018/TT- BYT (27 nhóm)
- Thuốc thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu quy định tại
Biến phân loại: (27 nhóm tác dụng dược lý của thuốc hóa dược; 11 nhóm thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu)
- Thuốc nhóm V: Thuốc sống còn
- Thuốc nhóm E: Thuốc thiết yếu Thuốc nhóm N: Thuốc không thiết yếu
Thuốc AN theo nhóm tác dụng dược lý
Thuốc AN phân loại theo tác dụng dược lý của thuốc (Thuốc hóa dược theo TT30/TT-BYT; thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu theo
Biến phân loại: (AN, BN)
Phương pháp mô tả cắt ngang
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Kỹ thuật, công cụ thu thập
Từ phần mềm quản lý thuốc của Bệnh viện, tiến hành xuất ra Excel
- Mô tả cụ thể quá trình thu thập
Các số liệu sau khi được thu thập được đưa vào phần mềm Microsoft Excel để xử lý và phân tích theo các bước sau:
Bước 1: Tổng hợp tất cả dữ liệu về DMT đã sử dụng trong năm 2021 vào một bảng Excel bao gồm tên thuốc (cả generic và biệt dược), nồng độ và hàm lượng, đơn vị tính, đơn giá, số lượng sử dụng, quốc gia sản xuất và nhà cung cấp (Phụ lục).
Nồng độ, hàm lượng Đơn vị tính
Nước sản xuất Đơn giá
Bước 2: Tổng hợp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:
• Xếp theo nhóm tác dụng dược lý (Thêm Trường số 8)
- Căn cứ theo Thông tư 30/2018/ TT-BYT ban hành danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế
• Xếp theo nguồn gốc, xuất xứ (Thêm Trường số 9)
- Phân loại căn cứ vào nguồn gốc xuất xứ của thuốc (thuốc nội/ ngoại)
• Xếp theo các thuốc đơn thành phần/đa thành phần (Thêm Trường số 10)
- Căn cứ vào số lượng thành phần hoạt chất của thuốc
• Xếp theo tên gốc/tên biệt dược/tên thương mại (Thêm Trường số 11)
- Căn cứ vào phụ lục Biệt dược gốc công bố trên website của Cục quản lý dược - Bộ Y tế
• Xếp theo DMT nghiện, hướng thần/ thuốc thường
- Căn cứ vào Thông tư số 20/2017/TT-BYT, ngày 10 tháng 5 năm 2017
• Xếp theo đường dùng (uống/tiêm/đường dùng khác)
- Dựa vào dạng bào chế của sản phẩm
Bước 3: Tính tổng SLDM, giá trị của từng biến số, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu (nếu cần)
Trong năm 2021, Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch đã sử dụng tổng cộng 895 khoản mục thuốc, bao gồm cả thuốc hóa dược, thuốc cổ truyền và thuốc từ dược liệu Cụ thể, số lượng thuốc hóa dược chiếm 738 khoản mục, trong khi thuốc cổ truyền và thuốc từ dược liệu gồm 157 khoản mục Các thuốc này được sử dụng trong suốt từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2021, phản ánh đa dạng và phong phú trong việc cung cấp điều trị tại bệnh viện.
2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu
- Xử lý trước khi nhập số liệu: Làm sạch số liệu, mã hóa
- Phần mềm nhập số liệu: Microsoft Excel 2013
- Xử lý sau khi nhập số liệu:
Tính tổng giá trị tiền mỗi loại bằng cách nhân số lượng sử dụng với đơn giá Tổng số tiền bằng tổng số tiền của mỗi loại
Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm chia cho tổng số tiền
2.2.5.2 Phân tích số liệu v Phương pháp phân tích ABC
Số liệu sau khi thu thập, làm sạch, tiến hành phân tích ABC với các bước sau:
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm thuốc (N sản phẩm)
Bước 2: Điền thông tin cho mỗi sản phẩm gồm đơn giá (gi) và số lượng sản phẩm (ni) (I = 1, 2, 3 N)
• Đơn giá của từng sản phẩm
• Số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc
Bước 3 trong quy trình tính toán giá trị thành tiền của sản phẩm là nhân đơn giá với số lượng mỗi sản phẩm để xác định giá trị từng mặt hàng Tổng số tiền của đơn hàng được tính bằng tổng các giá trị thành tiền của tất cả các sản phẩm trong danh mục Việc tính chính xác giá trị thành tiền giúp đảm bảo tính minh bạch và đúng đắn trong quản lý tài chính, đồng thời tối ưu hoá quá trình kiểm kê và báo cáo doanh thu.
Bước 4 trong quy trình mua hàng hoặc bán hàng là tính giá trị thành tiền cho từng sản phẩm Điều này được thực hiện bằng cách nhân đơn giá của sản phẩm với số lượng mua hoặc bán Sau đó, tổng số tiền cần thanh toán hoặc thu được sẽ là tổng của các giá trị thành tiền của tất cả các sản phẩm trong đơn hàng Quá trình này giúp xác định chính xác số tiền phải trả hoặc thu cho từng mặt hàng, đảm bảo minh bạch và chính xác trong hoạt động kinh doanh.
Trong bước 5, bạn cần sắp xếp các sản phẩm theo thứ tự giảm dần của tỷ lệ phần trăm giá trị, giúp dễ dàng xác định các mặt hàng có giá trị cao nhất Tiếp theo, ở bước 6, tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm, bắt đầu từ sản phẩm thứ nhất và cộng dồn với các sản phẩm tiếp theo trong danh sách Việc này sẽ cung cấp cái nhìn tổng thể về đóng góp của từng sản phẩm vào tổng giá trị, hỗ trợ phân tích và ra quyết định kinh doanh hiệu quả.
Bước 7: Phân hạng sản phẩm như sau:
• Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 – 80% tổng giá trị tiền (có k từ 0 – 75%)
• Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 – 20% tổng giá trị tiền (có k từ 75 – 90%)
• Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 – 10% tổng giá trị tiền (có k > 90%)
Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 – 20% tổng sản phẩm; hạng
B chiếm 10 – 20% và 60 – 80% còn lại là hạng C v Phương pháp phân tích VEN
Bước 1: Từng thành viên Hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại V,
Bước 2: Kết quả phân loại của các thành viên được tập hợp và thống nhất, sau đó, Hội đồng sẽ:
Bước 3: Lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp
Bước 4: Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này trong trường hợp không còn nhu cầu điều trị
Bước 5: Xem lại số lượng mua dự kiến, mua các thuốc nhóm V và E trước nhóm N và bảo đảm thuốc nhóm V và E có một lượng dự trữ an toàn
Bước 6: Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V và E chặt chẽ hơn nhóm N
- Tính tỷ lệ (%) giá trị của nhóm (VEN) ỉ Phõn tớch phương phỏp ABC/VEN
Phân tích chéo ABC và VEN giúp phân loại thuốc hiệu quả, bằng cách xếp các thuốc V, E, N từ nhóm A vào các phân nhóm AV, AE, AN Sau đó, tính tổng số, tỷ lệ phần trăm thuốc, số đơn vị tiêu thụ và giá trị sử dụng trong từng phân nhóm nhỏ này, rồi làm tương tự với các nhóm B và C để xây dựng ma trận ABC/VEN Việc kết hợp phân tích các nhóm AV, AE, AN cùng nhóm điều trị giúp đánh giá danh mục thuốc, đặc biệt là phân nhóm AN, từ đó tối ưu hoá quản lý thuốc và chi phí y tế.
Sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, % chi phí của từng thuốc sử dụng trên tổng chi phí sử dụng thuốc toàn viện
Theo Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018, các nhóm điều trị thuốc được phân loại căn cứ vào danh mục, tỷ lệ thanh toán và điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu Việc phân loại này giúp xác định rõ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế trong việc được hưởng các loại thuốc phù hợp theo quy định Các thuốc được xếp vào nhóm điều trị theo Thông tư đảm bảo sự minh bạch, công bằng trong việc phân bổ và thanh toán chi phí thuốc trong hệ thống y tế.
Dưới đây là các câu chính tóm tắt nội dung của bài viết, đảm bảo phù hợp SEO và phản ánh ý nghĩa của từng đoạn:1 Phân tích tổng hợp chi phí và tỷ lệ chi phí của các thuốc trong từng nhóm giúp xác định các nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất trong điều trị tại phòng khám.2 Việc so sánh chi phí thuốc với mô hình bệnh tật thực tế giúp đánh giá sự phù hợp và hiệu quả trong quá trình kê đơn thuốc.3 Phương pháp tính tỷ trọng, dựa trên tỷ lệ phần trăm của giá trị số liệu của từng nhóm thuốc trên tổng số, hỗ trợ phân tích chính xác về mức độ chi tiêu cho các nhóm thuốc khác nhau.
-TL% : là tỉ lệ phần trăm đạt được ở từng chỉ số -X: là số các chỉ số
- (: là tổng số các chỉ số
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm 2021
3.1.1 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phân loại thuốc hóa dược và thuốc đông y/ thuốc từ dược liệu
Bảng 3.12 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nhóm thuốc hóa dược và thuốc đông y/ thuốc từ dược liệu
Số khoản mục Giá trị sử dụng
2 Thuốc đông y/ Thuốc từ dược liệu 157 17,5 30.630.174 15,0
Trong khảo sát 895 loại thuốc sử dụng, có 738 thuốc hóa dược chiếm 82,5% tổng số thuốc, trong khi đó, thuốc đông y và thuốc từ dược liệu chỉ chiếm 17,5% với 157 loại thuốc Tổng giá trị sử dụng của các loại thuốc thể hiện rõ sự ưu thế của thuốc hóa dược, đạt 173.273.139 triệu đồng, chiếm 85,0% tổng giá trị sử dụng Ngược lại, thuốc đông y và thuốc từ dược liệu có giá trị sử dụng là 30.630.174 triệu đồng, chiếm 15,0% tổng giá trị Đây phản ánh xu hướng ưu tiên sử dụng các loại thuốc hóa dược trong thị trường dược phẩm hiện nay.
3.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
Danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý được sử dụng tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch được trình bày ở bảng 3.13
Bảng 3.13 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
STT Nhóm thuốc tác dụng dược lý
Số khoản mục Giá trị sử dụng
1 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 196 21,9 68.011.050 33,4
2 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch 73 8,2 45.824.745 22,5
3 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 53 5,9 14.709.113 7,2
4 Thuốc điều trị bệnh lao 36 4,0 5.541.650 2,7
5 Thuốc tác dụng đối với máu 28 3,1 7.777.664 3,8
Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid- base và các dung dịch tiêm truyền khác
8 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 20 2,2 1.758.984 0,9
Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
Thuốc giải độc và các thuốc dùng trong trường hợp ngộ độc
15 Thuốc giãn cơ và ức chế cholinesterase 8 0,9 528.684 0,3
16 Thuốc chống co giật, chống động kinh 10 1,1 222.282 0,1
18 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn 7 0,8 144.338 0,1
II Thuốc đông y/ thuốc từ dược liệu 157 30.630.174
1 Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy 70 7,8 12.204.000 6,0
2 Nhóm thuốc an thần, định khí, dưỡng tâm 23 2,6 6.646.000 3,3
Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì
4 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 12 1,3 3.623.174 1,8
5 Nhóm phát tán phong thấp 6 0,7 50.000 0,0
9 Nhóm thuốc chữa các bệnh âm, về huyết 3 0,3 209.000 0,1
10 Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế 3 0,3 148.000 0,1
12 Nhóm phát tán phong hàn 3 0,3 88.000 0,0
13 Nhóm thanh nhiệt giải độc 1 0,1 3.000 0,0
15 Nhóm thuốc chữa bệnh về ngũ quan 1 0,1 60.000 0,0
16 Nhóm thuốc chữa các bệnh về âm, về huyết 1 0,1 58.000 0,0
Danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm
Năm 2021, thị trường dược phẩm phân thành 22 nhóm thuốc hóa dược và 16 nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu Các loại thuốc này được phân loại theo tác dụng dược lý, với tổng cộng 895 số khoản mục Tổng giá trị sử dụng thuốc trong năm đạt 203.903.313 triệu đồng, cho thấy quy mô và tiềm năng phát triển lớn của ngành dược Việt Nam.
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm đến 21,9% về số khoản mục và 33,4% giá trị sử dụng, tương đương khoảng 67.631.612 triệu đồng, phản ánh xu hướng chọn thuốc điều trị phổ biến tại bệnh viện Việc sử dụng rộng rãi các loại kháng sinh và thuốc chống nhiễm khuẩn có thể dẫn đến hiện tượng kháng thuốc ngày càng tăng Ngoài ra, các nhóm thuốc có giá trị lớn tiếp theo là thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch, chiếm 8,2% số khoản mục và 22,5% giá trị sử dụng, cùng với nhóm thuốc tác dụng trên đường hô hấp, chiếm 5,9% về số khoản mục và 7,2% về giá trị sử dụng.
Trong nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu: Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy có giá trị sử dụng cao nhất chiếm 7,8%
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống điều trị y tế, do đó cần xem xét kỹ các chỉ tiêu liên quan để đảm bảo hiệu quả và an toàn Việc phân loại và cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm này giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu điều trị, đồng thời nâng cao chất lượng khám chữa bệnh It's essential to regularly cập nhật danh mục thuốc để phù hợp với xu hướng và các hướng dẫn y học mới nhất, giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị ký sinh trùng và nhiễm khuẩn.
Bảng 3.14 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị kí sinh trùng chống nhiễm khuẩn
Số khoản mục Giá trị sử dụng
Trong nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng chống nhiễm khuẩn, nhóm kháng sinh β-lactam được sử dụng nhiều nhất, chiếm 69,5% số lượng mặt hàng với 130 khoản mục, đồng thời đóng góp 47.299.083 triệu đồng trong tổng giá trị sử dụng, phản ánh vai trò chính của nhóm thuốc này trong điều trị nhiễm khuẩn.
Nhóm thuốc beta-lactam và quinolon là hai loại thuốc chủ đạo và lựa chọn hàng đầu trong điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn tại bệnh viện Việc phân chia hai nhóm thuốc này dựa trên cấu trúc hóa học và phổ tác dụng giúp nâng cao hiệu quả điều trị và tối ưu hóa sử dụng thuốc Các thuốc beta-lactam bao gồm penicillins, cephalosporins và carbapenems, có tác dụng rộng khắp trong điều trị nhiễm khuẩn Trong khi đó, quinolon được biết đến với khả năng diệt khuẩn mạnh mẽ, thường được sử dụng trong các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu, hầu họng và toàn thân Việc lựa chọn thuốc phù hợp theo nhóm này giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị, giảm thiểu biến chứng và tăng khả năng hồi phục cho bệnh nhân.
Bảng 3.15 Cơ cấu nhóm thuốc beta-lactam, quinolon theo theo cấu trúc hóa học/ phổ tác dụng
STT Phân nhóm kháng sinh beta-lactam, quinolon
Số khoản mục Giá trị sử dụng
Trong nhóm β-lactam, nhóm cephalosporin chiếm tỷ lệ lớn với 105 khoản mục, chiếm 66,0% về số lượng và có giá trị sử dụng đạt 40.573.273 triệu đồng, chiếm 71,0% Phân loại nhóm cephalosporin dựa trên phổ kháng khuẩn cho thấy, cephalosporin thế hệ 3 được sử dụng nhiều nhất, với 68 khoản mục chiếm 42,8% và giá trị sử dụng đạt 31.865.973 triệu đồng, chiếm 55,9%.
Trong nhóm thuốc quinolon, các thuốc thế hệ 3 chiếm phần lớn về giá trị sử dụng, đạt 6.439.760 triệu đồng, tương ứng 11,3% Phân tích nhóm thuốc β-lactam và quinolon theo đường dùng cho thấy sự ưu tiên sử dụng các loại thuốc này trong điều trị, phản ánh xu hướng chọn lựa phù hợp với hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân.
Bảng 3.16 Cơ cấu nhóm thuốc β -lactam, quinolon theo đường dùng
Nhóm kháng sinh Đường dùng Khoản mục Giá trị sử dụng
(%) β - lactam Đường tiêm 117 73,6 43.745.483 76,7 Đường uống 13 8,2 3.553.600 6,2
Tổng 130 81,8 47.299.083 83,0 Quinolon Đường tiêm 28 17,6 8.381.180 14,7 Đường uống 1 0,6 1.318.820 2,3
Nhóm thuốc β-lactam đường tiêm chiếm 73,6% tổng số khoản mục, với 117 mục, và có giá trị sử dụng cao nhất đạt 43.745.483 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 76,7% Trong khi đó, nhóm thuốc β-lactam đường uống gồm 13 khoản mục, chiếm 8,2% tổng số, với giá trị sử dụng chỉ đạt 3.553.600 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 6,2%.
Nhóm quinolon đường tiêm bao gồm 28 khoản mục, trong đó có 3 hoạt chất chính là ciprofloxacin, levofloxacin và moxifloxacin, chiếm tỷ lệ 17,6% về số lượng; giá trị sử dụng đạt 8.381.180 triệu đồng, chiếm 14,7% tổng giá trị Trong khi đó, quinolon đường uống chỉ có 1 khoản mục, chiếm 0,6% về số lượng, với giá trị sử dụng là 1.318.820 triệu đồng, chiếm 2,3% tổng giá trị.
Nhìn về mặt số liệu cho thấy có vấn đề lạm dụng kháng sinh β-lactam và quinolon đường tiêm
3.1.3 Cơ cấu danh mục thuốc hoá dược đã sử dụng theo nhóm đơn thành phần/ đa thành phần
Bảng 3.17 Cơ cấu danh mục thuốc hoá dược theo nhóm đơn thành phần/đa thành phần
Số khoản mục Giá trị sử dụng
Qua khảo sát 738 thuốc hóa dược được sử dụng thì có nhóm thuốc đơn thành phần có 706 khoản mục chiếm 95,7%, nhóm thuốc đa thành phần thì có
Trong tổng số các khoản mục, nhóm thuốc đơn thành phần chiếm 95,5% với giá trị sử dụng đạt 165.516.534 triệu đồng, thể hiện vai trò quan trọng trong ngành dược phẩm Ngược lại, nhóm thuốc đa thành phần chiếm 4,5% với giá trị sử dụng là 7.756.605 triệu đồng, góp phần đa dạng hóa các liệu trình điều trị Tổng cộng, các khoản mục này chiếm 4,3% tổng giá trị, phản ánh sự phân bổ rõ ràng giữa hai nhóm thuốc chính trong thị trường dược phẩm hiện nay.
3.1.4 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nguồn gốc – xuất xứ
Bảng 3.18 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nguồn gốc – xuất xứ
Số khoản mục Giá trị sử dụng
Trong năm 2021, phần lớn thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch có nguồn gốc trong nước, chiếm 60,4% về số lượng với 541 khoản mục và giá trị sử dụng khoảng 75.949.817 triệu đồng, chiếm 37,2% Tuy nhiên, thuốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ 39,6% về số lượng với 354 khoản mục và có giá trị sử dụng lên tới 127.953.496 triệu đồng, chiếm 62,8% Điều này cho thấy giá trị sử dụng thuốc nhập khẩu tại bệnh viện còn cao, góp phần làm tăng đáng kể chi phí điều trị cho bệnh nhân.
3.1.5 Cơ cấu danh mục thuốc hóa dược theo biệt dược gốc và generic
Tỷ lệ nhóm thuốc hóa dược theo biệt dược gốc và generic trong DMT của Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm 2021 được thể hiện qua bảng 3.19 như sau:
Bảng 3.19 Cơ cấu danh mục thuốc theo biệt dược gốc và generic
Số khoản mục Giá trị sử dụng
Kết quả phân tích cho thấy nhóm thuốc theo tên biệt dược gốc gồm 41 khoản mục, chiếm tỷ lệ 5,6%, với giá trị sử dụng đạt 30.019.746 triệu đồng, chiếm 17,3% tổng giá trị Trong khi đó, nhóm thuốc theo tên generic có 697 khoản mục, chiếm tỷ lệ 94,4%, với giá trị sử dụng lên tới 143.253.392 triệu đồng, chiếm 82,7% tổng giá trị Điều này cho thấy nhóm thuốc generic chiếm ưu thế lớn về số lượng và giá trị sử dụng trong thị trường dược phẩm.
3.1.6 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo đường dùng
Bảng 3.20 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo đường dùng
Số khoản mục Giá trị sử dụng
Giá trị (Triệu đồng) Tỷ lệ (%)
Dựa trên khảo sát 895 danh mục thuốc sử dụng, nhóm thuốc dùng đường uống chiếm tỷ lệ phổ biến với 445 khoản mục, chiếm 49,7% tổng số và có giá trị sử dụng 66.294.637 triệu đồng, chiếm 32,5% Trong khi đó, nhóm thuốc dùng đường tiêm, truyền có số lượng khoản mục là 439, chiếm 49,1%, nhưng lại có giá trị sử dụng cao nhất đạt 134.225.383 triệu đồng, chiếm 65,8% Nhóm thuốc dùng các đường khác như phun, hít chỉ chiếm 1,2% với 11 khoản mục, nhưng giá trị sử dụng thấp hơn, đạt 3.383.293 triệu đồng, chiếm 1,7%.
3.2 Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng theo phương pháp ABC/ VEN
3.2.1 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phương pháp phân tích ABC Bảng 3.21 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng năm 2021 theo phương pháp phân tích ABC
Giá trị sử dụng Số khoản mục
Cơ cấu mua sắm và sử dụng cơ bản hợp lý ở cả 3 nhóm A, B và C Cụ thể như sau:
Thuốc nhóm A giá trị sử dụng cao nhất là 162.784.087 triệu đồng chiếm 79,8% và có 108 số khoản mục chiếm 12,1%
Thuốc hạng B giá trị sử dụng 30.852.177 triệu đồng chiếm 15,1% và có
Trong khi đó, thuốc hạng C có giá trị sử dụng thấp nhất là 10.267.049 triệu đồng, chỉ chiếm 5,0% và có 626 số khoản mục chiếm 69,9%
3.2.2 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo tác dụng dược lý nhóm A Bảng 3.22 Cơ cấu danh mục thuốc theo tác dụng dược lý nhóm A
STT Nhóm thuốc tác dụng dược lý
Số khoản mục Giá trị sử dụng
1 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 33 30,6 65.436.620 40,2
2 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch 28 25,9 40.374.627 24,8
3 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 8 7,4 11.910.250 7,3
5 Thuốc điều trị bệnh lao 3 2,8 4.744.728 2,9
6 Thuốc tác dụng đối với máu 3 2,8 5.867.670 3,6
Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid- base và các dung dịch tiêm truyền khác
9 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 1 0,9 1.035.099 0,6
Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
Thuốc giải độc và các thuốc dùng trong trường hợp ngộ độc
II Thuốc đông y/ thuốc từ dược liệu 20 20.355.661
1 Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy 8 7,4 7.338.127 4,5
Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì
3 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 4 3,7 2.805.247 1,7
4 Nhóm thuốc an thần, định khí, dưỡng tâm 3 2,8 4.009.030 2,5