1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thái phương trinh khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng hoặc điều trị covid 19 của người dân tại xã lăng thành, huyện yên thành, tỉnh nghệ an khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

72 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thái Phương Trinh khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng hoặc điều trị covid 19 của người dân tại xã Lăng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Tác giả Thái Phương Trinh
Người hướng dẫn TS. Lã Thị Quỳnh Liên
Trường học Hà Nội University of Pharmacy
Chuyên ngành Quản lý và Kinh tế Dược
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (10)
    • 1.1 Tổng quan về kháng sinh và kháng kháng sinh (10)
      • 1.1.1 Kháng sinh (10)
      • 1.1.2 Kháng kháng sinh (11)
      • 1.1.3 Vai trò của kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 (13)
    • 1.2 Tổng quan về tự dùng thuốc (14)
      • 1.2.1 Khái niệm (14)
      • 1.2.2 Lợi ích và nguy cơ của tự dùng thuốc (14)
      • 1.2.3 Mô hình đánh giá hành vi tự dùng thuốc và các yếu tố liên quan (15)
    • 1.3 Thực trạng sử dụng và quản lý sử dụng kháng sinh trong bối cảnh COVID-19 (16)
      • 1.3.1 Trên thế giới (16)
      • 1.3.2 Tại Việt Nam (18)
    • 1.4 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19 (20)
      • 1.4.1 Kiến thức của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19 (20)
      • 1.4.2 Thái độ của người dân trong cộng đồng về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19 (21)
      • 1.4.3 Thực hành của người dân trong cộng đồng về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19 (22)
      • 1.4.4 Đánh giá mối liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19 (23)
    • 1.5 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (25)
    • 1.6 Tính cấp thiết của đề tài (25)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (27)
    • 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu (27)
      • 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu (27)
      • 2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu (27)
    • 2.2 Phương pháp nghiên cứu (27)
      • 2.2.1 Thiết kế nghiên cứu (27)
      • 2.2.2 Biến số nghiên cứu (28)
      • 2.2.3 Mẫu nghiên cứu (31)
      • 2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu (32)
      • 2.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu (34)
    • 2.3 Vấn đề đạo đức (35)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (36)
    • 3.1 Kết quả nghiên cứu (36)
      • 3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (36)
      • 3.1.2 Thực hành tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 (37)
      • 3.1.3 Kiến thức về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng và điều trị COVID-19 (40)
      • 3.1.4 Thái độ về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 (45)
      • 3.1.5 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 (48)
    • 3.2 Bàn luận (49)
      • 3.2.1 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 (50)
      • 3.2.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 (55)
      • 3.2.3 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 (57)
      • 3.2.4 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu (57)
    • 1. Kết luận (58)
      • 1.1 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 (58)
      • 1.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 (59)
    • 2. Kiến nghị ............................................................................................................... 52 PHỤ LỤC (59)

Nội dung

TỔNG QUAN

Tổng quan về kháng sinh và kháng kháng sinh

Kháng sinh là các chất kháng khuẩn được sinh ra từ các chủng vi sinh vật như vi khuẩn, nấm, Actinomycetes, nhằm ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác Hiện nay, kháng sinh không chỉ có nguồn gốc tự nhiên mà còn được sản xuất qua quá trình bán tổng hợp hoặc tổng hợp hóa học Trong y học hiện đại, kháng sinh được định nghĩa là tất cả các chất tự nhiên, bán tổng hợp hoặc tổng hợp, có khả năng kháng khuẩn hiệu quả.

Cơ chế tác dụng của kháng sinh

Sau khi vào tế bào, kháng sinh được vận chuyển tới điểm tác động chính, tác dụng lên 4 thành phần cấu tạo cơ bản của tế bào để kiểm soát hoặc tiêu diệt vi khuẩn Kháng sinh hoạt động bằng cách kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn, đặc biệt hiệu quả với các vi khuẩn đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ (giai đoạn log phase), khi vi khuẩn phát triển theo cấp số nhân.

- Ức chế sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn

- Gây rối loạn chức năng màng bào tương

- Ức chế sinh tổng hợp protein

- Ức chế sinh tổng hợp acid nucleic [4] Độ dài đợt điều trị

Thời gian điều trị phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của nhiễm khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn và sức đề kháng của người bệnh Các trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ và trung bình thường có kết quả sau 7-10 ngày điều trị, trong khi những trường hợp nhiễm khuẩn nặng hoặc tổ chức kháng sinh khó thâm nhập như màng tim, màng não, xương – khớp hay bệnh lao thì thời gian điều trị kéo dài hơn nhiều Tuy nhiên, một số bệnh nhiễm khuẩn, chẳng hạn như nhiễm khuẩn tiết niệu – sinh dục không biến chứng, chỉ cần điều trị trong khoảng 3 ngày hoặc thậm chí chỉ một liều duy nhất.

Sự xuất hiện của nhiều loại kháng sinh có thời gian bán thải kéo dài đã giúp giảm đáng kể số lần dùng thuốc trong quá trình điều trị, đồng thời nâng cao khả năng tuân thủ điều trị của người bệnh Ví dụ, thuốc azithromycin chỉ cần dùng trong 3-5 ngày hoặc thậm chí một liều duy nhất đã đủ để đạt hiệu quả điều trị, mang lại tiện lợi và hiệu quả cao cho bệnh nhân.

- Không nên điều trị kéo dài để tránh kháng thuốc, tăng tỷ lệ xuất hiện tác dụng không mong muốn và tăng chi phí điều trị [4]

Lưu ý tác dụng không mong muốn và độc tính khi sử dụng kháng sinh

Tất cả các kháng sinh đều có thể gây ra tác dụng không mong muốn (ADR), vì vậy cần cân nhắc kỹ nguy cơ và lợi ích trước khi quyết định kê đơn, nhằm đảm bảo an toàn cho người bệnh Mặc dù đa số trường hợp phản ứng phụ nhẹ, nhưng vẫn cần lưu ý để phòng tránh các biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra khi sử dụng kháng sinh không đúng cách Việc tuân thủ hướng dẫn sử dụng và theo dõi sát sao các tác dụng phụ giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả điều trị.

ADR thường tự khỏi sau khi ngưng thuốc, nhưng một số trường hợp có thể gặp các hậu quả nghiêm trọng như hội chứng Stevens-Johnson hoặc Lyell, dẫn đến nguy cơ tử vong hoặc sốc phản vệ Các phản ứng quá mẫn thường liên quan đến tiền sử dùng kháng sinh của người bệnh, do đó cần phải khai thác kỹ tiền sử dị ứng và tiền sử dùng thuốc trước khi kê đơn Đồng thời, luôn phải chuẩn bị sẵn các phương tiện chống sốc khi sử dụng kháng sinh để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

Khái niệm kháng kháng sinh

Kháng kháng sinh là khả năng của vi sinh vật chống lại tác dụng của kháng sinh, làm giảm hiệu quả của thuốc trong việc điều trị nhiễm trùng Đa kháng thuốc xảy ra khi một vi sinh vật trở nên kháng nhiều loại kháng sinh khác nhau, gây khó khăn trong việc phòng và điều trị các bệnh nhiễm trùng do chúng gây ra [23].

Cơ chế kháng kháng sinh

Kháng kháng sinh là hậu quả không thể tránh khỏi của việc sử dụng kháng sinh, bởi vì các vi khuẩn chưa bị tiêu diệt đã biến đổi để trở nên đề kháng với các loại thuốc này Quá trình này diễn ra qua một hoặc nhiều cơ chế khác nhau như đột biến gen, truyền kháng thuốc qua plasmid hoặc thay đổi khả năng thấm thuốc của vi khuẩn Sự xuất hiện của KKS làm giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị nhiễm trùng, gây ra các vấn đề y tế nghiêm trọng Việc hiểu rõ các cơ chế hình thành kháng thuốc là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa và kiểm soát kháng kháng sinh hiện nay.

- Vi khuẩn sản xuất enzym làm phân huỷ hoặc biến đổi kháng sinh

- Thay đổi ở đích tác dụng làm cho kháng sinh không gắn được hoặc giảm ái lực với đích tác dụng

- Làm giảm tính thấm của kháng sinh vào vách hoặc màng của tế bào vi khuẩn

- Xuất hiện hoặc tăng cường hoạt động của hệ thống bơm tống thuốc đẩy kháng sinh ra khỏi tế bào

- Thay thế hoàn toàn đích tác dụng hoặc thay đổi con đường trao đổi chất mà không bị ức chế bởi kháng sinh

Vi khuẩn mang gen kháng một loại thuốc kháng sinh cũng có thể dẫn đến kháng nhiều nhóm kháng sinh có cùng cấu trúc, làm tăng khả năng lây truyền kháng thuốc giữa các vi khuẩn Ngoài đột biến gene, vi khuẩn còn có thể nhận gen kháng thuốc từ vi khuẩn khác thông qua các thành phần di truyền như nhiễm sắc thể, plasmid và transposon, giúp gen kháng thuốc dễ dàng lan truyền Sự xuất hiện của kháng kháng sinh không chỉ làm cho vi khuẩn kháng thuốc lây lan nhanh chóng mà còn gây khó khăn trong quá trình điều trị, khiến việc kiểm soát và tiêu diệt các chủng kháng thuốc trở nên vô cùng thử thách.

Nguyên nhân của kháng kháng sinh

Việc tự dùng thuốc là nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh ở người Việc mua bán và sử dụng kháng sinh tràn lan cùng với sự thiếu hiểu biết của người dân về cách sử dụng thuốc, tác dụng phụ, liều tối đa cho phép và các vấn đề liên quan đã tạo điều kiện cho việc sử dụng thuốc không đúng cách, góp phần gia tăng tỉ lệ kháng kháng sinh trong cộng đồng.

Chẩn đoán sai, lạm dụng và sử dụng quá liều thuốc kháng sinh không đúng cách có thể gây ra hội chứng kháng thuốc (KKS), làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và dẫn đến các mối đe dọa nghiêm trọng về sức khỏe như vấn đề về da và các phản ứng dị ứng nặng Việc sử dụng thuốc kháng sinh cần tuân thủ đúng chỉ định nhằm hạn chế các tác hại này và bảo vệ hiệu quả điều trị.

Phát triển kháng sinh mới gặp nhiều khó khăn do việc đầu tư vào nghiên cứu, sản xuất kháng sinh ít mang lại lợi nhuận so với các thuốc điều trị bệnh mãn tính, khiến các tổ chức và công ty dược phẩm xem đây là khoản đầu tư không hấp dẫn Hơn nữa, số lượng kháng sinh mới cần thiết để điều trị các bệnh nhiễm trùng hạn chế, gây thách thức lớn trong việc mở rộng và đa dạng hóa các lựa chọn điều trị hiện có.

Lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản gây ra nguy cơ phát triển kháng kháng sinh mạnh mẽ do việc sử dụng rộng rãi ngoài mục đích điều trị bệnh, như phòng bệnh và kích thích tăng trưởng Điều này tạo cơ hội cho vi khuẩn kháng thuốc phát triển trên quy mô lớn, làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho người qua việc tiếp xúc với gia súc hoặc tiêu thụ thực phẩm nhiễm vi khuẩn kháng thuốc.

Hậu quả của kháng kháng sinh

Kháng kháng sinh (KKS) ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân và gia đình, đồng thời trở thành gánh nặng lớn cho hệ thống y tế toàn cầu do việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn ngày càng khó khăn, đặc biệt nghiêm trọng ở các nước thu nhập thấp và trung bình với nguồn lực hạn chế KKS làm tăng gánh nặng bệnh tật, kéo dài thời gian điều trị và tăng nguy cơ biến chứng cũng như tỷ lệ tử vong Việc kháng thuốc đã khiến các phương pháp điều trị nhiễm khuẩn trở nên phức tạp, tốn kém hơn, thậm chí không thể áp dụng phác đồ phù hợp, buộc phải sử dụng thuốc mới và đắt tiền hơn, nhiều trong số đó có nguy cơ phản ứng phụ cao Nghiên cứu cho thấy vi khuẩn gây viêm phổi kháng thuốc gia tăng đã cướp đi sinh mạng của 1,8 triệu trẻ em mỗi năm Dự kiến đến năm 2050, số ca tử vong do KKS có thể lên tới 10 triệu người/năm, vượt xa số người chết từ ung thư và tai nạn giao thông.

Kháng kháng sinh (KKS) tạo ra gánh nặng kinh tế đáng kể, làm giảm thu nhập, năng suất lao động và tăng chi phí chẩn đoán, điều trị như xét nghiệm, vật tư, máy móc và thuốc Gánh nặng chi phí điều trị do các bệnh nhiễm khuẩn kháng thuốc gây ra rất lớn, do việc sử dụng các kháng sinh mới đắt tiền thay thế các kháng sinh cũ Tại châu Âu, tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn kháng thuốc lên đến hơn 25%, phản ánh mức độ nghiêm trọng của vấn đề này.

000 ca/ năm, thiệt hại kinh tế lên tới 1,5 tỉ euro/ năm [54]

Tổng quan về tự dùng thuốc

Theo Tổ chức Y tế thế giới, tự dùng thuốc (self-medication) là quá trình các cá nhân lựa chọn và sử dụng thuốc để điều trị các bệnh hoặc triệu chứng tự nhận biết, là một phần của tự chăm sóc Tự chăm sóc là hành động của cá nhân trong việc chăm sóc sức khỏe của chính mình bằng cách tận dụng kiến thức và thông tin sẵn có, qua đó trao quyền quyết định và quản lý sức khỏe một cách dễ dàng và hiệu quả Việc tự dùng thuốc giúp người dân chủ động trong việc chăm sóc sức khỏe, đồng thời phối hợp với các chuyên gia y tế khi cần thiết để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.

Tự dùng thuốc là vấn đề đáng quan tâm toàn cầu ảnh hưởng đến cả các nước phát triển và đang phát triển Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỉ lệ tự dùng thuốc phổ biến, dao động từ 32,5% đến 81,5% trên toàn thế giới, cho thấy đây là thực trạng cần được quan tâm và kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho người bệnh.

1.2.2 Lợi ích và nguy cơ của tự dùng thuốc

Tự dùng thuốc được coi là một phần của quá trình tự chăm sóc bản thân, thúc đẩy các cá nhân thực hiện các hoạt động liên quan đến cải thiện sức khỏe, phòng và điều trị bệnh, phục hồi sức khỏe sau chấn thương hoặc bệnh tật [8] Tự dùng thuốc giúp giảm gánh nặng kinh tế cho bệnh nhân, hệ thống chăm sóc sức khỏe, các cơ quan chính phủ và các công ty bảo hiểm [7] Tuy nhiên, không thể phủ nhận hậu quả của việc tự dùng thuốc không phù hợp và không cần thiết, vì tự dùng thuốc có thể dẫn đến sử dụng nhiều thuốc, chẩn đoán sai, tác dụng phụ, tương tác thuốc, KKS và tăng chi phí thuốc [7] Các nhà hoạch định chính sách chăm sóc sức khỏe muốn thúc đẩy luật pháp và chính sách ủng hộ việc tự sử dụng thuốc theo quy định, nhưng không thể bỏ qua những thách thức liên quan đến tự dùng thuốc trong dân chúng nói chung [7] Vì vậy, nâng cao nhận thức cộng đồng và giáo dục về sử dụng thuốc an toàn và hợp lý là cần thiết để vượt qua những thách thức của vấn đề tự dùng thuốc

Các nhà khoa học có quan điểm rất khác nhau về lợi ích và rủi ro của việc tự dùng thuốc trên các đối tượng và lĩnh vực đời sống khác nhau [7], cụ thể được trình bày trong bảng 1.1

Bảng 1.1 Lợi ích và rủi ro của tự dùng thuốc trong một số lĩnh vực đời sống Đối tượng Lợi ích Rủi ro

Ngành công nghiệp dược phẩm

- Tăng mức độ tiếp cận các loại thuốc

- Bảo vệ chống lại cạnh tranh thương mại

- Quảng cáo thuốc kê đơn

Dược sĩ và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe

- Tăng vai trò tư vấn với bệnh nhân

- Tham gia nhiều hơn với bệnh nhân

- Tránh các tham vấn không cần thiết

Người đóng thuế chăm sóc sức khỏe

Hạn chế chi phí chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là ở những quốc gia mà chính phủ là người chi trả chính

Bệnh nhân Được trao quyền và có trách nhiệm với sức khỏe của chính mình

- Sử dụng thuốc không phù hợp, không đúng cách

- Chậm trễ trong điều trị một số tình trạng bệnh nghiêm trọng

- Che dấu các triệu chứng do sử dụng thuốc không kê đơn

- Hủy hoại mối quan hệ giữa bệnh nhân và bác sĩ

1.2.3 Mô hình đánh giá hành vi tự dùng thuốc và các yếu tố liên quan

Mô hình sử dụng dịch vụ y tế đã được sửa đổi của Andersen đánh giá lựa chọn sử dụng các dịch vụ y tế của người dân dựa trên 3 yếu tố: ảnh hưởng, tạo điều kiện và nhu cầu Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: giới tính, tuổi, dân tộc, tình trạng kinh tế - xã hội, nghề nghiệp và trình độ giáo dục Các yếu tố tạo điều kiện đề cập đến những hạn chế về tính khả dụng như thu nhập hộ gia đình, bảo hiểm y tế, dịch vụ y tế và khoảng cách gần

Các yếu tố thúc đẩy hành vi tự điều trị bao gồm các yếu tố nhu cầu như loại bệnh và thời gian mắc bệnh, nhằm kích hoạt hành động chăm sóc sức khỏe cá nhân Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khi nào và tại sao người dùng tìm kiếm các dịch vụ y tế tự phục vụ phù hợp Hiểu rõ các yếu tố nhu cầu là bước nền tảng giúp cải thiện hiệu quả các dịch vụ y tế tự điều trị và nâng cao trải nghiệm chăm sóc sức khỏe của người dân.

Hình 1.1 Khung khái niệm của mô hình sử dụng dịch vụ y tế của Andersen

Mô hình này thường được sử dụng trong các nghiên cứu về các yếu tố dự đoán hoặc quyết định liên quan đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Các nghiên cứu này tập trung vào việc lựa chọn giữa chăm sóc tại nhà hoặc tại các cơ sở y tế Phần lớn các nghiên cứu trong lĩnh vực này được thực hiện tại Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, nhằm hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người bệnh.

Thực trạng sử dụng và quản lý sử dụng kháng sinh trong bối cảnh COVID-19

Thực trạng sử dụng kháng sinh và KKS trong đại dịch COVID-19

Trên thế giới, việc sử dụng kháng sinh không đúng cách trong bối cảnh COVID-

Việc sử dụng kháng sinh trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong giai đoạn COVID-19 diễn ra phổ biến, đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng đề kháng kháng sinh (KKS) [25, 28, 41] Khoảng 72% bệnh nhân nhập viện do COVID-19 được điều trị bằng thuốc kháng sinh, mặc dù chỉ 8% trong số họ bị nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc nấm đồng nhiễm [28] Azithromycin là loại kháng sinh phổ biến nhất được đề xuất để điều trị cho bệnh nhân COVID-19, cùng với nhiều loại khác [28, 41] Tuy nhiên, sự lo lắng về sức khỏe cộng đồng và việc sử dụng kháng sinh không đúng cách, đặc biệt tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình có hệ thống kiểm soát kháng sinh yếu, đã làm tăng nguy cơ kháng thuốc Nghiên cứu của Zavala-Flores E và cộng sự cho thấy gần 69% bệnh nhân COVID-19 đã sử dụng kháng sinh (như ceftriaxone và azithromycin) trước khi nhập viện, gây lo ngại về việc tự ý sử dụng kháng sinh không theo chỉ định y tế [25].

Trong đại dịch COVID-19, việc gia tăng sử dụng chất diệt khuẩn đã ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng kháng kháng sinh, tạo điều kiện cho sự phát triển của vi sinh vật đa kháng thuốc và làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh nhân, đặc biệt là trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) Từ đầu năm 2020, hiện tượng này đã lan rộng toàn cầu, dẫn đến nhiều trường hợp đồng nhiễm gây tử vong do vi sinh vật kháng thuốc ở bệnh nhân mắc COVID-19.

Quản lý sử dụng kháng sinh trong điều trị COVID-19

Các khuyến nghị về sử dụng kháng sinh trong điều trị COVID-19 được trình bày tại bảng 1.2

Bảng 1.2 Mô tả tóm tắt các khuyến nghị về sử dụng kháng sinh trong điều trị COVID-19

Hướng dẫn Cập nhật cuối cùng

Khuyến nghị chung về điều trị kháng sinh

Bệnh nhân nội trú COVID-19

Bệnh nhân ngoại trú COVID-19

Tổ chức Y tế Thế giới

11/2021 Liệu pháp kháng sinh không được khuyến cáo ở những bệnh nhân mắc

COVID-19 nhẹ Ở những bệnh nhân mắc

Trong mức độ trung bình của COVID-19, không nên kê đơn thuốc kháng sinh trừ khi có nghi ngờ nhiễm vi khuẩn Đối với bệnh nhân mắc COVID-19 nặng, hướng dẫn khuyến nghị điều trị bằng kháng sinh dựa trên kinh nghiệm, kết hợp với đánh giá lâm sàng, các yếu tố cơ địa của bệnh nhân và dịch tễ học địa phương, nhằm tăng hiệu quả điều trị càng sớm càng tốt.

Xem xét điều trị bằng kháng sinh theo kinh nghiệm ở người cao tuổi, đặc biệt là ở cơ sở chăm sóc dài hạn

05/2022 Điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm không được khuyến cáo

Khuyến nghị sử dụng kháng sinh tuân theo các hướng dẫn được thiết lập cho bệnh nhân không mắc COVID-19 Điều trị kháng sinh không được khuyến cáo

Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh Châu Âu (ECDC)

02/2022 Chỉ xem xét điều trị bằng kháng sinh nếu nghi ngờ hoặc xác nhận đồng nhiễm vi khuẩn

Chỉ xem xét điều trị bằng kháng sinh nếu nghi ngờ hoặc xác nhận đồng nhiễm vi khuẩn

Chỉ điều trị kháng sinh nếu nghi ngờ hoặc xác nhận đồng nhiễm vi khuẩn

Viện Y tế và chất lượng điều trị Quốc gia

04/2022 Chỉ xem xét sử dụng kháng sinh nếu nghi ngờ hoặc xác nhận đồng nhiễm vi khuẩn

Chỉ xem xét sử dụng kháng sinh nếu nghi ngờ hoặc xác nhận đồng nhiễm vi khuẩn

Doxycycline không được khuyến cáo

Hiệp hội trị liệu chống nhiễm trùng Ý và Hiệp hội phổi Ý

07/2021 Không nên dùng kháng sinh trong trường hợp không có nhiễm trùng do vi khuẩn đã được chứng minh

Khi có dấu hiệu X-quang cho thấy tổn thương đông đặc ở phổi, việc cân nhắc điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm là cần thiết Tuy nhiên, nên lấy mẫu để nuôi cấy trước khi bắt đầu điều trị kháng sinh để đảm bảo chính xác và hiệu quả Điều này giúp lựa chọn thuốc phù hợp, giảm tình trạng kháng thuốc và nâng cao hiệu quả điều trị các bệnh lý phổi.

Azithromycin không được khuyến cáo

Các hướng dẫn đều đề xuất hạn chế sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh nhân mắc COVID-19, trừ khi có chỉ định rõ ràng Đối với các bệnh nhân COVID-19 nặng, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị sử dụng kháng sinh sớm dựa trên đánh giá lâm sàng, yếu tố nguy cơ của bệnh nhân và dịch tễ học địa phương, lý tưởng nhất dựa trên kết quả cấy máu để tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh Ngoài ra, đặc biệt ở người cao tuổi và những người sống tại các cơ sở chăm sóc dài hạn, WHO đề xuất cân nhắc sử dụng kháng sinh dựa trên kinh nghiệm khi có khả năng mắc viêm phổi, nhằm giảm thiểu rủi ro biến chứng và đảm bảo điều trị hiệu quả.

Các hướng dẫn còn lại nhấn mạnh rằng việc sử dụng kháng sinh chỉ nên thực hiện khi có dấu hiệu nghi ngờ hoặc đã xác định rõ tình trạng đồng nhiễm vi khuẩn hoặc nhiễm trùng thứ cấp Việc này giúp hạn chế tình trạng kháng thuốc và đảm bảo việc điều trị hiệu quả, phù hợp với nguyên tắc sử dụng thuốc hợp lý.

Thực trạng sử dụng kháng sinh và KKS trong đại dịch COVID-19

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa có nghiên cứu hoặc báo cáo chi tiết về tình hình KKS trước và sau đại dịch COVID-19 Tuy nhiên, KKS vẫn là vấn đề quan trọng cần được quan tâm và theo dõi sát sao để đảm bảo an toàn và phát triển bền vững trong tương lai.

12 đề cấp bách mà hệ thống y tế cả nước phải đối mặt

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng đáng báo động của kháng kháng sinh kháng thuốc (KKS) do việc sử dụng kháng sinh không hợp lý ở nhiều cấp độ của hệ thống chăm sóc sức khỏe, trong nuôi trồng thủy hải sản, chăn nuôi và cộng đồng Bất chấp luật pháp Việt Nam cấm bán thuốc kê kháng sinh mà không có đơn của bác sĩ, từ 88 đến 97% các cửa hàng vẫn bán thuốc này không theo quy định Nghiên cứu tại các bệnh viện Việt Nam cho thấy khoảng một phần ba bệnh nhân nội trú sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý trong thời gian điều trị Ở Việt Nam, kháng sinh chiếm hơn 50% tổng các loại thuốc dùng cho người và thường được bán không có đơn thuốc tại các nhà thuốc cộng đồng, góp phần làm gia tăng nguy cơ kháng kháng sinh ngày càng cao.

Quản lý sử dụng kháng sinh trong điều trị COVID-19

Kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu, Bộ Y tế đã ban hành các hướng dẫn và quy định về chẩn đoán, điều trị cho các nhóm đối tượng khác nhau, đảm bảo cập nhật liên tục để tối ưu phương án phòng ngừa và điều trị, giảm thiểu lây nhiễm, nâng cao an toàn cho người dân Các khuyến nghị của Bộ Y tế được trình bày rõ ràng trong bảng 1.3 để hỗ trợ công tác phòng chống dịch hiệu quả.

Bảng 1.3 Hướng dẫn, quy định của Bộ Y tế về sử dụng kháng sinh trong điều trị

TT Quyết định Hướng dẫn, quy định

1 Quyết định 4109/QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn tạm thời

“Danh mục thuốc điều trị ngoại trú cho người nhiễm COVID-19 tại nhà” [1]

Danh mục thuốc điều trị ngoại trú cho người nhiễm COVID-19 tại nhà không bao gồm thuốc kháng sinh

2 Quyết định 250/QĐ-BYT về việc ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19” [2]

Khi có biểu hiện nghi ngờ nhiễm khuẩn, cần tiến hành xét nghiệm công thức máu và bilan viêm như CRP hoặc procalcitonin (PCT) để xác định chính xác tình trạng nhiễm trùng Việc chẩn đoán hình ảnh, ví dụ như X-quang, là bước quan trọng trước khi sử dụng kháng sinh nhằm đảm bảo chẩn đoán chính xác và tránh lạm dụng thuốc không cần thiết.

3 Quyết định 405/QĐ-BYT về

Hướng dẫn chẩn đoán điều trị

Thuốc kháng sinh sử dụng khi có bằng chứng lâm sàng và xét nghiệm

Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19

1.4.1 Kiến thức của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19

Kiến thức về tự dùng thuốc

Nghiên cứu tại Pakistan về tự sử dụng thuốc kháng sinh của nhân viên y tế trong bối cảnh COVID-19 cho thấy 83,1% nhân viên y tế nhận thức rõ rằng tự dùng thuốc kháng sinh để tự chăm sóc sức khỏe là không thể chấp nhận, do liên quan đến các rủi ro về sức khỏe Đồng thời, 100% người tham gia khảo sát cho biết họ cần sự hỗ trợ từ nhân viên y tế khi gặp tác dụng phụ do tự dùng thuốc [46] Trong một nghiên cứu cắt ngang tại Kenya về việc sử dụng kháng sinh để tự điều trị COVID-19, phần lớn người dân (92,1%) nhận thức rõ rằng tự dùng thuốc không chỉ không điều trị được bệnh, mà còn có thể gây ra các tác dụng phụ không mong muốn [38].

Kiến thức về tác dụng, chỉ định của kháng sinh

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về tự dùng thuốc kháng sinh, kháng kháng sinh và COVID-19 của người dân trong cộng đồng Một nghiên cứu tại Australia cho thấy có đến 81,1% người dân hiểu đúng về tác dụng của kháng sinh đối với các bệnh thông thường như cảm cúm và đau đầu, trong khi tỷ lệ này tại Saudi Arabia chỉ là 24,8% Kết quả này cho thấy mức độ nhận thức về thuốc kháng sinh khác nhau giữa các quốc gia, ảnh hưởng đến việc tự điều trị và phòng ngừa COVID-19 trong cộng đồng.

Nghiên cứu tại Syria và Malaysia cho thấy sự khác biệt lớn về kiến thức của người dân về kháng sinh, khi chỉ có 24,5% và 64,7% người được hỏi hiểu rằng kháng sinh không thể ngăn ngừa mọi bệnh tật Khi hỏi về khả năng tiêu diệt vi khuẩn, tỷ lệ trả lời chính xác dao động từ 49,0% đến 74,4%, cho thấy mức độ nhận thức chưa đồng đều về công dụng của kháng sinh.

[9, 18, 73] Khoảng một nửa số người tham gia nghiên cứu ở Iran (43,9%) nhận thức đúng rằng kháng sinh không có tác dụng trong việc phòng ngừa hoặc điều trị COVID-

19 [42] Ngoài ra, tỉ lệ người dân trả lời khảo sát ở Ethiopia (46,7%) trả lời đúng về việc kháng sinh chỉ được sử dụng khi có đơn thuốc của bác sĩ [16]

Kiến thức về tác dụng không mong muốn khi sử dụng kháng sinh

Nghiên cứu cắt ngang tại Ethiopia đã đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của cộng đồng về việc tự dùng thuốc kháng sinh, trong đó có đến 65,9% người dân nhận thức được rằng sử dụng kháng sinh có thể gây ra các tác dụng không mong muốn.

Kiến thức về cách dùng kháng sinh

Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành tự dùng thuốc kháng sinh cho thấy đa số người dân (92,6%) tại Malaysia có hiểu biết đúng về việc điều chỉnh liều thuốc kháng sinh, trong khi chỉ 16,3% ở Syria trả lời đúng về vấn đề này Ngoài ra, khoảng 54,0% đến 81,5% người tham gia khảo sát tại Saudi Arabia, Ethiopia và Jordan nhận thức rằng không nên ngừng dùng thuốc kháng sinh ngay khi triệu chứng bệnh thuyên giảm hoặc cảm thấy tốt hơn, nhằm tránh tình trạng lạm dụng thuốc và kháng thuốc kháng sinh.

Nghiên cứu tại Syria và Saudi Arabia cho thấy tỷ lệ người dân đúng chính xác về việc có cần hướng dẫn của nhân viên y tế khi thay đổi liều kháng sinh rất khác nhau, lần lượt là 16,5% và 92,6% Trong khi đó, một nghiên cứu cắt ngang tại Jordan về kiến thức và nhận thức về việc sử dụng kháng sinh trong đại dịch COVID-19 cho thấy phần lớn người dân (82,2%) đồng ý rằng không nên sử dụng thuốc kháng sinh do người khác cung cấp để điều trị cùng một bệnh.

Kiến thức về kháng kháng sinh

Các nghiên cứu tại Jordan và Australia cho thấy gần 75% người tham gia biết đến khái niệm kháng kháng sinh, trong khi ở Saudi Arabia, Malaysia và Syria, khoảng 2/3 hiểu rằng việc sử dụng kháng sinh không đúng cách có thể thúc đẩy tình trạng kháng thuốc tăng nhanh, với tỷ lệ đúng lần lượt là 65,6%, 59,6% và 65,3% Trong khi đó, nghiên cứu tại Ethiopia ghi nhận tỷ lệ này thấp hơn là 36,6% Tại Jordan, có đến 42,8% người hiểu rằng kháng kháng sinh không chỉ là vấn đề của những người dùng thuốc lâu dài, mà còn có thể lây lan sang người khác, với 37% nhận thức rõ về khả năng lây truyền của vi khuẩn kháng kháng sinh.

1.4.2 Thái độ của người dân trong cộng đồng về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19

Hiện chưa có nghiên cứu toàn cầu nào tập trung vào thái độ của cộng đồng về việc tự ý sử dụng kháng sinh để phòng bệnh hoặc điều trị COVID-19 Các nghiên cứu đã thực hiện đều tập trung vào các khía cạnh riêng như thái độ về kháng sinh, kháng kháng sinh, tự dùng thuốc hoặc ứng phó với COVID-19, ví dụ như tại Pakistan, Ethiopia, Syria, Saudi Arabia, Jordan Các nghiên cứu này chủ yếu khảo sát về sự cần thiết của đơn thuốc kháng sinh, thời gian sử dụng, việc dự trữ thuốc kháng sinh tại nhà, cũng như các phương pháp giải quyết vấn đề kháng kháng sinh Ngoài ra, một số nghiên cứu còn đề cập đến thói quen tự dùng thuốc và các chuẩn mực mới trong phòng chống COVID-19 như rửa tay, đeo khẩu trang, làm việc tại nhà, tự theo dõi nhiệt độ.

1.4.3 Thực hành của người dân trong cộng đồng về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19 Đánh giá thực hành tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 của người dân trong cộng đồng được tra cứu thấy trong nhiều nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu đánh giá trực tiếp về kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 đã được tiến hành, như: nghiên cứu cắt ngang về sử dụng kháng sinh trong các trường hợp tự điều trị COVID-19 ở Kenya [38]; vai trò của tâm lý, kiến thức và kinh nghiệm về thuốc kháng sinh trong việc tự dùng thuốc để bảo vệ chống lại COVID-19 tại Australia

Nhiều nghiên cứu đã đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân về việc tự sử dụng thuốc kháng sinh trong quá trình phòng và điều trị COVID-19 Ví dụ, một nghiên cứu tại Kenya đã khảo sát kiến thức và thái độ của bệnh nhân về việc tự sử dụng thuốc kháng sinh, trong khi một nghiên cứu tại Jordan tập trung vào nhận thức về sử dụng kháng sinh và kháng khuẩn sinh học trong suốt đại dịch Các kết quả này giúp làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tự sử dụng thuốc và cung cấp cơ sở cho các chiến lược nâng cao ý thức cộng đồng về sử dụng thuốc đúng mục đích trong đại dịch COVID-19.

19 ở Nigeria [64] hay thực hành tự dùng thuốc trong đại dịch COVID-19 ở người trường thành tại Peru [55]

Nội dung đánh giá thực hành bao gồm việc khảo sát xem người dân đã từng nghe nói về kháng sinh hay chưa, cũng như việc họ đã tự ý sử dụng kháng sinh để phòng hoặc điều trị COVID-19 hay chưa Nếu đã sử dụng, nghiên cứu sẽ tập trung vào nguyên nhân tự ý dùng thuốc, thời điểm sử dụng, nguồn cung cấp kháng sinh, thời gian dùng, cách tự dùng thuốc và căn cứ dẫn đến quyết định tự dùng Đồng thời, đánh giá cũng xem xét mức độ cải thiện triệu chứng sau khi sử dụng kháng sinh để hiểu rõ hơn về tác động và hiệu quả của việc tự ý sử dụng trong cộng đồng.

Về tỉ lệ đã từng tự sử dụng kháng sinh để phòng hoặc điều trị COVID-19

Nghiên cứu tại Kenya cho thấy 23,6% người dân đã tự ý sử dụng kháng sinh để điều trị COVID-19, phản ánh sự thiếu hiểu biết về việc sử dụng thuốc đúng cách trong đại dịch Trong khi đó, tại Australia, có tới 19,5% người tham gia khảo sát tự dùng thuốc kháng sinh để phòng chống COVID-19, gây lo ngại về nguy cơ kháng thuốc và các tác dụng phụ không mong muốn.

Về nguyên nhân tự dùng thuốc kháng sinh

Nghiên cứu tại Nigeria cho thấy nguyên nhân phổ biến gây sợ hãi liên quan đến COVID-19 là người dân lo ngại bị kỳ thị hoặc phân biệt đối xử nếu mắc bệnh (79,5%), sợ bị cách ly hoặc tự cách ly (77,3%), và sợ bị lây nhiễm hoặc tiếp xúc với các trường hợp nghi ngờ hoặc đã mắc COVID-19 (76,3%) Ngoài ra, nhiều người còn tự dùng kháng sinh do không có thuốc hoặc các biện pháp điều trị đặc hiệu tại các cơ sở y tế (53,0%), do khó tiếp cận dịch vụ y tế (23,0%), hoặc chi phí điều trị quá đắt đỏ (15,3%).

Khoảng cách xa cơ sở y tế, giãn cách xã hội và tình trạng quá tải tại các cơ sở y tế là những nguyên nhân chính dẫn đến 20% người dân tại Kenya tự sử dụng kháng sinh mà không có hướng dẫn của bác sĩ Điều này phản ánh rõ tác động của các hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế đối với hành vi sử dụng kháng sinh tự ý của cộng đồng.

Về thời điểm tự dùng thuốc kháng sinh

Nghiên cứu tại Kenya cho thấy phần lớn người dân (60,6%) tự sử dụng thuốc trước khi thực hiện xét nghiệm Ngoài ra, có 14,1% người tham gia đã sử dụng kháng sinh khi tình trạng bệnh trở nên nặng hơn, gây ra các triệu chứng như khó thở, đau ngực, đau họng nghiêm trọng, mất khứu giác và mất vị giác.

Về nguồn cung cấp kháng sinh

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Xã Lăng Thành là xã bán sơn địa nằm ở phía Bắc huyện

Yên Thành, tỉnh Nghệ An, chia thành ba vùng chính: vùng cao, vùng trung, và vùng sâu, phù hợp với đặc điểm địa lý và khí hậu của từng khu vực Tổng diện tích tự nhiên của huyện đạt 4.935,8 ha, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác Với 7 xóm và hơn 9.000 cư dân, Yên Thành là địa phương có cộng đồng dân cư đông đảo, góp phần vào sự phát triển bền vững của huyện.

Dân cư chủ yếu sinh sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên đời sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn Diện tích xã rộng lớn gây khó khăn trong việc đảm bảo điều kiện học hành cho trẻ em, dẫn đến các trường học phải bố trí đến 3 điểm trường để phục vụ cộng đồng.

Trong năm 2022, toàn xã ghi nhận 1258 trường hợp mắc

COVID-19 (chiếm tỉ lệ khoảng

14,0% dân số) Các ca nhiễm

Hầu hết các trường hợp COVID-19 đều nhẹ và không gây ra các ca bệnh nặng hay tử vong Người dân được cách ly và điều trị tại nhà dưới sự hướng dẫn của nhân viên y tế xã để đảm bảo an toàn Trong quá trình điều trị, người dân sử dụng thuốc để giảm triệu chứng, bổ sung vitamin và duy trì chế độ dinh dưỡng đầy đủ Ngoài ra, việc thường xuyên tập thể dục giúp nâng cao sức đề kháng và bảo vệ sức khỏe trong thời gian mắc bệnh.

Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu như đại dịch COVID-19, cộng đồng đã đối mặt với nỗi lo lắng và sợ hãi do thiếu các phương pháp điều trị đặc hiệu, tỷ lệ tử vong cao và nguy cơ biến chứng nghiêm trọng Nhiều người lựa chọn sử dụng các biện pháp cổ truyền và thuốc hóa dược để tự điều trị hoặc phòng ngừa, nhưng lại ít quan tâm đến tính an toàn và hiệu quả của chúng Tại Việt Nam, tình trạng lạm dụng thuốc cùng với sự sẵn có và khả năng tiếp cận dễ dàng đã khiến việc sử dụng thuốc không đúng cách trở nên phổ biến hơn, gây thất vọng về hiệu quả và các rủi ro sức khỏe tiềm ẩn.

Hình 1.2 Bản đồ vị trí xã Lăng Thành thuộc huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An

Việc tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng và điều trị COVID-19 đã gây ra những lo ngại lớn về tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng Sử dụng không hợp lý 19 loại kháng sinh đã làm trầm trọng hơn vấn đề này, ảnh hưởng đến hiệu quả chữa bệnh và sức khỏe cộng đồng Cần nâng cao ý thức và tuân thủ hướng dẫn của các chuyên gia y tế để hạn chế tình trạng kháng kháng sinh trong bối cảnh đại dịch.

Việc đưa ra các khuyến nghị dựa trên thực trạng thực hành, kiến thức và thái độ của người dân là yếu tố then chốt để xây dựng chiến lược giáo dục hiệu quả, đồng thời cung cấp các biện pháp dự phòng và điều trị kịp thời Điều này giúp thúc đẩy việc sử dụng kháng sinh hợp lý của cộng đồng và tăng cường quản lý kháng sinh trong hệ thống y tế, góp phần củng cố nền tảng phòng ngừa các tình huống y tế khẩn cấp trong tương lai, như dịch COVID-19.

Đề tài “Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 của người dân tại xã Lăng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An” nhằm đánh giá thực trạng sử dụng kháng sinh tự ý của người dân trong giai đoạn dịch bệnh Nghiên cứu này giúp hiểu rõ mức độ nhận thức, thái độ và hành vi của cộng đồng về việc sử dụng kháng sinh để phòng hoặc điều trị COVID-19 Kết quả sẽ cung cấp cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao ý thức cộng đồng và kiểm soát việc tự ý sử dụng kháng sinh, góp phần giảm thiểu các nguy cơ về kháng thuốc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Người dân trên địa bàn xã Lăng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An

Tiêu chuẩn lựa chọn: Người dân đang sinh sống, làm việc tại xã Lăng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An

- Người dân thuộc đối tượng được chăm sóc sức khỏe từ người khác (trẻ em dưới 16 tuổi)

- Người dân không đủ nhận thức để trả lời phiếu khảo sát (người sa sút trí tuệ)

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: xã Lăng Thành – huyện Yên Thành – tỉnh Nghệ An

- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2022 - tháng 05/2023

- Thời gian thu thập số liệu: Nghiên cứu tiến hành khảo sát tại các xóm trong xã từ tháng 03/2023 – tháng 04/2023.

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang

Sơ đồ tiến trình tiến hành nghiên cứu được trình bày tại hình 2.3:

Hình 2.3 Sơ đồ tiến trình tiến hành nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập thông tin thông qua 4 nhóm biến số chính bao gồm:

- Thông tin chung của người dân

- Thực hành tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

- Kiến thức của người dân về tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

- Thái độ của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

Chi tiết các biến số được trình bày tại các bảng 2.4, 2.5, 2.6 và 2.7 như sau:

Bảng 2.4 Biến số về thông tin chung của người dân

Mã biến Biến số Định nghĩa/ Phân loại biến

A2 Giới tính Định danh (1: Nam; 2: Nữ)

Trình độ học vấn Định danh (1: Chưa tốt nghiệp phổ thông; 2: Phổ thông (12/12); 3: Trung cấp/ Cao đẳng; 4: Đại học/ Sau đại học)

Tình trạng việc làm của người dân được phân thành các nhóm chính: chưa đến tuổi lao động hoặc không có việc làm, nhân viên y tế, người làm việc ngoài lĩnh vực y tế, và những người đã nghỉ hưu hoặc đã qua tuổi lao động Thông tin này giúp đánh giá chính xác mức độ hoạt động lao động và phân bố nhân lực trong cộng đồng Việc xác định rõ tình trạng việc làm là yếu tố quan trọng để xây dựng các chính sách phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, và thúc đẩy sự ổn định thị trường lao động Các dữ liệu này cũng cung cấp cái nhìn toàn diện về cơ cấu lao động theo các nhóm tuổi và ngành nghề khác nhau.

A5 Thu nhập hàng tháng Định danh (1: < 5 triệu đồng; 2: 5-10 triệu đồng; 3:

>10 triệu đồng) A6 Bảo hiểm y tế Nhị phân (1: Có; 0: Không)

Bảng 2.5 Biến số về thực hành tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

Mã biến Biến số Định nghĩa mô tả

B1 Đã từng nghe nói đến thuốc kháng sinh

Nhị phân (1: Đã từng; 0: Chưa từng)

B2 Đã từng tự sử dụng kháng sinh để phòng hoặc điều trị

Nhị phân (1: Đã từng; 0: Chưa từng)

Nguyên nhân khiến người bệnh tự dùng thuốc kháng sinh bao gồm chi phí điều trị tại cơ sở y tế cao, khó tiếp cận các cơ sở y tế do khoảng cách xa hoặc tình trạng quá tải, cùng với nỗi sợ lây nhiễm hoặc tiếp xúc khi tới bệnh viện Những yếu tố này dẫn đến việc tự ý sử dụng thuốc kháng sinh mà không có sự hướng dẫn của chuyên gia y tế Đây là vấn đề đáng chú ý cần được nâng cao awareness để đảm bảo sử dụng thuốc đúng cách, tránh tình trạng kháng thuốc và các biến chứng sức khỏe.

Các mã biến như Mã biến số 4 mô tả tâm lý lo sợ phải cách ly tập trung hoặc tự cách ly khi nhiễm COVID-19, trong khi Mã biến số 5 phản ánh nỗi sợ bị kỳ thị hoặc phân biệt đối xử nếu mắc bệnh Ngoài ra, có mã biến số 6 đề cập đến tình trạng thiếu thuốc hoặc các biện pháp điều trị COVID-19 tại các cơ sở y tế, gây khó khăn cho bệnh nhân trong việc điều trị Cuối cùng, Mã biến số 7 liên quan đến nhân viên y tế tại nhà thuốc hoặc quầy thuốc bán thuốc cho người tự mua thuốc, ảnh hưởng đến quá trình tự điều trị tại nhà.

Bạn nên sử dụng thuốc kháng sinh khi có tiếp xúc gần với những người mắc COVID-19 đã xác nhận hoặc khi nhanh chóng phát hiện dương tính hoặc xuất hiện triệu chứng của bệnh Ngoài ra, nên bắt đầu dùng thuốc kháng sinh ngay khi các triệu chứng trở nên nặng hơn để đảm bảo hiệu quả điều trị.

Nguồn cung cấp thuốc kháng sinh chủ yếu bao gồm nhà thuốc, quầy thuốc và các cơ sở y tế như trạm y tế, bệnh viện Ngoài ra, thuốc kháng sinh còn được chia sẻ từ bạn bè, người thân, hoặc sử dụng lại từ những đợt điều trị trước đó Việc sử dụng thuốc kháng sinh từ các nguồn này cần tuân thủ đúng quy định để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.

B6 Thời gian tự ý sử dụng kháng sinh Định danh (1: < 3 ngày; 2: 3-5 ngày; 3: 5-7 ngày; 4:

Việc tự sử dụng thuốc kháng sinh cần dựa trên các căn cứ rõ ràng để đảm bảo an toàn và hiệu quả Các yếu tố quan trọng bao gồm liều lượng và cách dùng được quy định trên tờ hướng dẫn sử dụng, cũng như dựa vào lời khuyên hoặc chế độ sử dụng từ người thân, bạn bè Ngoài ra, kinh nghiệm cá nhân từ những lần dùng thuốc trước đó cũng góp phần quyết định, cùng với thông tin từ các phương tiện truyền thông như báo chí, sách, truyền hình hoặc đài phát thanh Cuối cùng, tra cứu trên Internet là nguồn tham khảo hữu ích để hiểu rõ về cách dùng thuốc kháng sinh một cách chính xác.

Sau khi sử dụng thuốc kháng sinh, mức độ cải thiện triệu chứng được đánh giá theo các mức: Thuyên giảm đáng kể, Cải thiện một chút, Không cải thiện, hoặc Trở nên nghiêm trọng hơn Đánh giá này giúp xác định hiệu quả của thuốc kháng sinh trong việc giảm triệu chứng bệnh và hướng điều trị phù hợp Theo đó, việc theo dõi và phản hồi về mức độ cải thiện là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị và nâng cao trải nghiệm bệnh nhân.

Bảng 2.6 Biến số về kiến thức của người dân về tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

Mã biến Biến số Định nghĩa mô tả

C1 Đã từng nghe nói về thuật ngữ “tự dùng thuốc”

Nhị phân (1: Đã từng; 0: Chưa từng)

C2 Tự dùng thuốc có thể không điều trị được bệnh, mà còn gây ra các

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

Mã biến Biến số Định nghĩa mô tả tác dụng phụ

Nếu gặp các tác dụng phụ khi tự dùng thuốc, cần tìm kiếm sự giúp đỡ của bác sĩ, dược sĩ

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

Thuốc kháng sinh có thể ngăn chặn và đẩy nhanh quá trình chữa lành mọi bệnh tật

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

C5 Kháng sinh có thể tiêu diệt được vi khuẩn

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

C6 Kháng sinh có hiệu quả trong chữa các bệnh thông thường

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

C7 Kháng sinh có hiệu quả trong phòng hoặc điều trị COVID-19

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

Chỉ một số bệnh nhân mắc

COVID-19 cần sử dụng kháng sinh để điều trị

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

C9 Có thể dùng thuốc kháng sinh mà không cần đơn thuốc của bác sĩ

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

C10 Kháng sinh không gây ra các tác dụng phụ

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

C11 Hiệu quả của thuốc kháng sinh có thể bị giảm nếu dùng không đủ liều

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

Nên ngừng thuốc kháng sinh ngay khi triệu chứng bệnh thuyên giảm/ cảm thấy tốt hơn

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

Có thể thay đổi liều lượng thuốc kháng sinh mà không cần hỏi ý kiến của nhân viên y tế

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

Có thể sử dụng thuốc kháng sinh mà người khác cho để điều trị cùng một bệnh

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

C15 Đã từng nghe nói đến “kháng thuốc kháng sinh” hay “nhờn thuốc kháng sinh”

Nhị phân (1: Đã từng; 0: Chưa từng)

C16 Tình trạng KKS sẽ tăng nhanh hơn Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không

Mã biến Biến số Định nghĩa mô tả do sử dụng kháng sinh không đúng cách hoặc không cần thiết biết/ Không chắc chắn)

KKS chỉ là vấn đề đối với những người dùng thuốc kháng sinh thường xuyên

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

C18 Vi khuẩn KKS có thể lây lan từ người này sang người khác

Thứ bậc (1: Đúng; 2: Sai; 3: Không biết/ Không chắc chắn)

Bảng 2.7 Biến số về thái độ của người dân về tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

Mã biến Biến số Định nghĩa mô tả

D1 Để tự chăm sóc bản thân, chúng ta cần tự sử dụng kháng sinh để phòng hoặc điều trị COVID-19

Thứ bậc (4: hoàn toàn không đồng ý; 3: không đồng ý; 2: đồng ý; 1: hoàn toàn đồng ý)

Dùng thêm kháng sinh để tăng khả năng phòng bệnh COVID-19

Thứ bậc (4: hoàn toàn không đồng ý; 3: không đồng ý; 2: đồng ý; 1: hoàn toàn đồng ý)

Tự sử dụng kháng sinh vừa giúp chúng ta tiết kiệm chi phí, vừa tránh tiếp xúc với người khác

Thứ bậc (4: hoàn toàn không đồng ý; 3: không đồng ý; 2: đồng ý; 1: hoàn toàn đồng ý)

Tự sử dụng kháng sinh ngay khi có xét nghiệm dương tính với COVID-

19 giúp giảm nguy cơ tử vong và tránh tình trạng bệnh nặng thêm

Thứ bậc (4: hoàn toàn không đồng ý; 3: không đồng ý; 2: đồng ý; 1: hoàn toàn đồng ý)

Phải dừng sử dụng thuốc kháng sinh ngay khi cảm thấy khỏe hơn để giảm nguy cơ gặp tác dụng phụ của thuốc

Thứ bậc (4: hoàn toàn không đồng ý; 3: không đồng ý; 2: đồng ý; 1: hoàn toàn đồng ý)

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể: n 𝑍 2

Trong đó: n: cỡ mẫu nghiên cứu (số lượng người dân cần khảo sát) p: tỷ lệ ước tính dựa trên các nghiên cứu trước đó

25 d: ước lượng khoảng sai lệch cho phép giữa tham số mẫu và tham số quần thể α: mức ý nghĩa thống kê

Do đó: Ta sẽ coi sai số d = 5% = 0,05

Chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95%, Z= 1,96

Vì không có các nghiên cứu trước đây nên ta chọn P = 0,5 Áp dụng công thức trên, cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là: n = (1,96)

2 × 0,5 × (1−0,5) 0,05 2 ≈ 385 (người) Lấy dư 10%, cỡ mẫu nghiên cứu cần thiết sẽ là: 424 (người)

Trong khảo sát, đã có tổng cộng 442 người dân cộng đồng tham gia Sau khi loại bỏ 15 phiếu trả lời không hợp lệ, còn lại 427 phiếu hợp lệ, chiếm tỷ lệ 96,6%, được sử dụng để phân tích chính xác dữ liệu nghiên cứu.

Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để thu thập số liệu

2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu

Thiết kế bộ câu hỏi khảo sát:

Nghiên cứu tiến hành khảo sát người dân trong cộng đồng sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc được xây dựng như sau:

Dựa trên quá trình tổng quan tài liệu, nghiên cứu xây dựng bộ câu hỏi khảo sát dựa trên các nghiên cứu đã công bố và các quy định, hướng dẫn của Việt Nam và các nước khác trên thế giới Mô hình dịch vụ y tế của Andersen đã được điều chỉnh để phát triển phần “Thông tin chung”, nhằm xác định các yếu tố nhân khẩu học cần thiết cho nghiên cứu Việc này giúp bổ sung các yếu tố quan trọng vào câu hỏi đánh giá thực hành, đảm bảo tính toàn diện và phù hợp với các hướng dẫn quốc tế và Việt Nam.

Chi tiết nguồn tham khảo các câu hỏi khảo sát được trình bày ở Phụ lục 01

Để hoàn thiện bộ công cụ, nghiên cứu đã tiến hành xin ý kiến từ các chuyên gia nhằm nâng cao tính khả thi và phù hợp của khảo sát Một trong những đề xuất quan trọng là điều chỉnh các câu hỏi Thông tin chung để đảm bảo bao quát toàn diện các đối tượng tham gia, qua đó nâng cao độ chính xác của dữ liệu thu thập Ngoài ra, để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi về “đã từng nghe nói hay chưa” (C1 và C15) sẽ không tính điểm, tránh gây nhầm lẫn hoặc ảnh hưởng đến kết quả tổng thể Đồng thời, các câu hỏi về Thái độ cần được chỉnh sửa sát với nội dung đề tài, đặc biệt là về việc tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19, nhằm thu thập dữ liệu phản ánh đúng thực trạng và nâng cao tính ứng dụng của nghiên cứu.

19) Ngoài ra, các câu hỏi về thực hành và kiến thức cũng được chỉnh sửa từ ngữ để dễ hiểu hơn

Nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm khảo sát bộ câu hỏi với 30 người dân trong cộng đồng để đánh giá tính hiệu quả Một trong những thay đổi đáng chú ý dựa trên ý kiến của người dân là việc chuyển đổi các câu hỏi về thái độ từ thang đo Likert 5 về 4 mức để giảm thiểu sự mơ hồ và tăng độ chính xác trong phản hồi của người dân.

Trong quá trình trả lời mặc định, việc chọn phương án "Trung lập" thường dẫn đến khó khăn trong việc biện giải kết quả rõ ràng và thuyết phục Ngoài ra, người dân cũng đã đề xuất nên cải thiện cách diễn đạt bằng cách thay đổi một số từ ngữ để bài viết trở nên dễ hiểu hơn, từ đó nâng cao hiệu quả truyền đạt thông tin và đáp ứng nhu cầu của cộng đồng.

- Cuối cùng, bộ công cụ được chỉnh sửa, diễn đạt từ ngữ dễ hiểu và hoàn chỉnh trước khi triển khai khảo sát chính thức

Phiếu khảo sát hoàn thiện (Phụ lục 02) gồm các câu hỏi được thiết kế đa dạng dưới dạng lựa chọn một hoặc nhiều đáp án, câu hỏi đúng – sai, và theo thang đo 4 mức Likert để thu thập ý kiến chính xác từ người trả lời Nội dung chính của phiếu tập trung vào các chủ đề liên quan đến nội dung nghiên cứu, nhằm đảm bảo dữ liệu phù hợp và có giá trị phân tích Việc sử dụng các dạng câu hỏi này giúp nâng cao khả năng thu thập dữ liệu chính xác, phục vụ hiệu quả cho quá trình phân tích và đưa ra kết luận chính xác.

Phần 1: Thông tin chung của người dân (6 câu): tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng việc làm, thu nhập hàng tháng, có bảo hiểm y tế hay không

Phần 2: Thực hành liên quan đến tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 (8 câu): khảo sát xem người dân đã từng nghe nói đến kháng sinh hay chưa, đã từng tự ý sử dụng kháng sinh để phòng hoặc điều trị COVID-

Việc tự sử dụng thuốc kháng sinh thường bắt nguồn từ những nguyên nhân như chủ quan chủ ý, tự ý mua và dùng thuốc mà không có hướng dẫn của bác sĩ Người dùng cần lưu ý thời điểm tự ý sử dụng thuốc phù hợp, dựa trên triệu chứng và mức độ nặng nhẹ của bệnh Nguồn cung cấp thuốc kháng sinh cần đảm bảo rõ ràng, uy tín để tránh tình trạng dùng thuốc không đúng cách hoặc không an toàn Thời gian dùng thuốc kháng sinh phải tuân theo chỉ định của bác sĩ để đạt hiệu quả tối ưu và giảm thiểu kháng kháng sinh Cách tự dùng thuốc cần phù hợp, có căn cứ khoa học, tránh lạm dụng và tự ý điều chỉnh liều lượng Cuối cùng, việc theo dõi mức độ cải thiện triệu chứng sau khi dùng thuốc là rất quan trọng để đánh giá hiệu quả điều trị và quyết định tiếp tục sử dụng hay cần tư vấn y tế thêm.

Vấn đề đạo đức

Thông tin riêng tư và cá nhân của đối tượng nghiên cứu được bảo mật tuyệt đối, với dữ liệu được mã hóa để đảm bảo bí mật Trước khi khảo sát, người dân được thông báo rằng tất cả dữ liệu sẽ được giữ kín và chỉ sử dụng để mục đích nghiên cứu, đồng thời họ có quyền từ chối tham gia Kết quả nghiên cứu chỉ được báo cáo dưới dạng tổng hợp, không ảnh hưởng đến lợi ích của người tham gia.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 16/08/2023, 18:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Adebisi Yusuff Adebayo, Jimoh Nafisat Dasola, Ogunkola Isaac Olushola, Uwizeyimana Theogene, Olayemi Alaka Hassan, et al. (2021), "The use of antibiotics in COVID-19 management: a rapid review of national treatment guidelines in 10 African countries", Tropical Medicine and Health, 49(1). pp.51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The use of antibiotics in COVID-19 management: a rapid review of national treatment guidelines in 10 African countries
Tác giả: Adebisi Yusuff Adebayo, Jimoh Nafisat Dasola, Ogunkola Isaac Olushola, Uwizeyimana Theogene, Olayemi Alaka Hassan
Nhà XB: Tropical Medicine and Health
Năm: 2021
7. Akhund R., Jamshed F., Jaffry H. A., Hanif H., and Fareed S. (2019), "Knowledge and Attitude of General Pakistani Population Towards Antibiotic Resistance", Cureus, 11(3). pp.e4266 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge and Attitude of General Pakistani Population Towards Antibiotic Resistance
Tác giả: Akhund R., Jamshed F., Jaffry H. A., Hanif H., Fareed S
Nhà XB: Cureus
Năm: 2019
8. Ali Akhtar (2020), "Awareness, Attitude and Practices Related to COVID-19 Pandemic in General Public of Province Sindh, Pakistan", Pakistan Journal of Medicine and Dentistry Sách, tạp chí
Tiêu đề: Awareness, Attitude and Practices Related to COVID-19 Pandemic in General Public of Province Sindh, Pakistan
Tác giả: Ali Akhtar
Nhà XB: Pakistan Journal of Medicine and Dentistry
Năm: 2020
9. Alqarni Saleh Abdullah and Abdulbari Mohammed (2019), "Knowledge and attitude towards antibiotic use within consumers in Alkharj, Saudi Arabia", Saudi Pharmaceutical Journal, 27(1). pp.106-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge and attitude towards antibiotic use within consumers in Alkharj, Saudi Arabia
Tác giả: Alqarni Saleh Abdullah, Abdulbari Mohammed
Nhà XB: Saudi Pharmaceutical Journal
Năm: 2019
10. Angela GEM de Boer, Wijker Wouter, and Hanneke CJM de Haes (1997), "Predictors of health care utilization in the chronically ill: a review of the literature", Health Policy, 42(2). pp.101-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predictors of health care utilization in the chronically ill: a review of the literature
Tác giả: Angela GEM de Boer, Wijker Wouter, Hanneke CJM de Haes
Nhà XB: Health Policy
Năm: 1997
11. Azami-Aghdash S., Mohseni M., Etemadi M., Royani S., Moosavi A., et al. (2015), "Prevalence and Cause of Self-Medication in Iran: A Systematic Review and Meta- Analysis Article", Iran J Public Health, 44(12). pp.1580-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence and Cause of Self-Medication in Iran: A Systematic Review and Meta- Analysis Article
Tác giả: Azami-Aghdash S., Mohseni M., Etemadi M., Royani S., Moosavi A
Nhà XB: Iran J Public Health
Năm: 2015
12. Babitsch B., Gohl D., and von Lengerke T. (2012), "Re-revisiting Andersen's Behavioral Model of Health Services Use: a systematic review of studies from 1998- 2011", Psychosoc Med, 9. pp.Doc11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Re-revisiting Andersen's Behavioral Model of Health Services Use: a systematic review of studies from 1998- 2011
Tác giả: Babitsch B., Gohl D., von Lengerke T
Nhà XB: Psychosoc Med
Năm: 2012
13. Bartlett John G, Gilbert David N, and Spellberg Brad (2013), "Seven ways to preserve the miracle of antibiotics", Clinical Infectious Diseases, 56(10). pp.1445- 1450 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seven ways to preserve the miracle of antibiotics
Tác giả: Bartlett John G, Gilbert David N, Spellberg Brad
Nhà XB: Clinical Infectious Diseases
Năm: 2013
15. Beović Bojana, Doušak May, Ferreira-Coimbra João, Nadrah Kristina, Rubulotta Francesca, et al. (2020), "Antibiotic use in patients with COVID-19: a‘snapshot’Infectious Diseases International Research Initiative (ID-IRI) survey", Journal of Antimicrocial Chemotherapy, 75(11). pp.3386-3390 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antibiotic use in patients with COVID-19: a‘snapshot’Infectious Diseases International Research Initiative (ID-IRI) survey
Tác giả: Beović Bojana, Doušak May, Ferreira-Coimbra João, Nadrah Kristina, Rubulotta Francesca
Nhà XB: Journal of Antimicrocial Chemotherapy
Năm: 2020
16. Bogale Alemtsehay Adam, Amhare Abebe Feyissa, Chang Jie, Bogale Hewan Adam, Betaw Sintayehu Tsegaye, et al. (2019), "Knowledge, attitude, and practice of self-medication with antibiotics among community residents in Addis Ababa, Ethiopia", Expert Review of Anti-infective Therapy, 17(6). pp.459-466 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge, attitude, and practice of self-medication with antibiotics among community residents in Addis Ababa, Ethiopia
Tác giả: Bogale Alemtsehay Adam, Amhare Abebe Feyissa, Chang Jie, Bogale Hewan Adam, Betaw Sintayehu Tsegaye
Nhà XB: Expert Review of Anti-infective Therapy
Năm: 2019
17. Buetti Niccolò, Mazzuchelli Timothy, Lo Priore Elia, Balmelli Carlo, Llamas Michael, et al. (2020), "Early administered antibiotics do not impact mortality in critically ill patients with COVID-19", Journal of Infection, 81(2). pp.e148-e149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Early administered antibiotics do not impact mortality in critically ill patients with COVID-19
Tác giả: Buetti Niccolò, Mazzuchelli Timothy, Lo Priore Elia, Balmelli Carlo, Llamas Michael
Nhà XB: Journal of Infection
Năm: 2020
18. Chang C. T., Lee M., Lee J. C. Y., Lee N. C. T., Ng T. Y., et al. (2021), "Public KAP towards COVID-19 and Antibiotics Resistance: A Malaysian Survey of Knowledge and Awareness", Int J Environ Res Public Health, 18(8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public KAP towards COVID-19 and Antibiotics Resistance: A Malaysian Survey of Knowledge and Awareness
Tác giả: Chang C. T., Lee M., Lee J. C. Y., Lee N. C. T., Ng T. Y., et al
Nhà XB: Int J Environ Res Public Health
Năm: 2021
20. Chen Tao, Wu DI, Chen Huilong, Yan Weiming, Yang Danlei, et al. (2020), "Clinical characteristics of 113 deceased patients with coronavirus disease 2019:retrospective study", The BMJ, 368 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical characteristics of 113 deceased patients with coronavirus disease 2019:retrospective study
Tác giả: Chen Tao, Wu DI, Chen Huilong, Yan Weiming, Yang Danlei
Nhà XB: The BMJ
Năm: 2020
21. Duenas-Castell C., Polanco-Guerra C. J., Martinez-Avila M. C., Almanza Hurtado A. J., Rodriguez Yanez T., et al. (2022), "When to Use Antibiotics in COVID-19:A Proposal Based on Questions", Cureus, 14(7). pp.e27398 Sách, tạp chí
Tiêu đề: When to Use Antibiotics in COVID-19:A Proposal Based on Questions
Tác giả: Duenas-Castell C., Polanco-Guerra C. J., Martinez-Avila M. C., Almanza Hurtado A. J., Rodriguez Yanez T
Nhà XB: Cureus
Năm: 2022
24. Erku Daniel A, Belachew Sewunet A, Abrha Solomon, Sinnollareddy Mahipal, Thomas Jackson, et al. (2021), "When fear and misinformation go viral:Pharmacists' role in deterring medication misinformation during the'infodemic'surrounding COVID-19", Research in Social and Administrative Pharmacy, 17(1). pp.1954-1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: When fear and misinformation go viral:Pharmacists' role in deterring medication misinformation during the'infodemic'surrounding COVID-19
Tác giả: Erku Daniel A, Belachew Sewunet A, Abrha Solomon, Sinnollareddy Mahipal, Thomas Jackson
Nhà XB: Research in Social and Administrative Pharmacy
Năm: 2021
25. Ernesto Z.F. and Jannin S.M. (2020), "Medicación prehospitalaria en pacientes hospitalizados por COVID-19 en un hospital público de Lima-Perú", SciELO, 37(3).pp.393-395 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medicación prehospitalaria en pacientes hospitalizados por COVID-19 en un hospital público de Lima-Perú
Tác giả: Ernesto Z.F., Jannin S.M
Nhà XB: SciELO
Năm: 2020
26. European Centre for Disease Prevention and Control (ECDC) (2022), Treatment and pharmaceutical prophylaxis of COVID-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment and pharmaceutical prophylaxis of COVID-19
Tác giả: European Centre for Disease Prevention and Control (ECDC)
Năm: 2022
27. Feldman Charles and Anderson Ronald (2021), "The role of co-infections and secondary infections in patients with COVID-19", Pneumonia, 13. pp.1-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of co-infections and secondary infections in patients with COVID-19
Tác giả: Feldman Charles, Anderson Ronald
Nhà XB: Pneumonia
Năm: 2021
28. Getahun Haileyesus, Smith Ingrid, Trivedi Kavita, Paulin Sarah, and Balkhy Hanan H (2020), "Tackling antimicrobial resistance in the COVID-19 pandemic", Bulletin of the World Health Organization, 98(7). pp.442 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tackling antimicrobial resistance in the COVID-19 pandemic
Tác giả: Getahun Haileyesus, Smith Ingrid, Trivedi Kavita, Paulin Sarah, Balkhy Hanan H
Nhà XB: Bulletin of the World Health Organization
Năm: 2020
30. Golkar Zhabiz, Bagasra Omar, and Pace Donald Gene (2014), "Bacteriophage therapy: a potential solution for the antibiotic resistance crisis", The Journal of Infection in Developing Countries, 8(02). pp.129-136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bacteriophage therapy: a potential solution for the antibiotic resistance crisis
Tác giả: Golkar Zhabiz, Bagasra Omar, Pace Donald Gene
Nhà XB: The Journal of Infection in Developing Countries
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w