1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

87 13 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyễn Văn Oanh Đánh Giá Chất Lượng Cuộc Sống Của Người Bệnh Sau Phẫu Thuật Ung Thư Tuyến Giáp Tại Viện Y Học Phóng Xạ Và U Bướu Quân Đội Năm 2022
Tác giả Nguyễn Văn Oanh
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương
Trường học Trường Đại học Dược Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Tổng quan về tuyến giáp (13)
      • 1.1.1. Giải phẫu, mô học và sinh lý bệnh tuyến giáp (13)
      • 1.1.2. Dịch tễ, yếu tố nguy cơ UTTG (14)
      • 1.1.3. Bệnh học UTTG (15)
      • 1.1.4. Điều trị UTTG (21)
      • 1.1.5. Một số biến chứng sau phẫu thuật (24)
      • 1.1.6. Theo dõi sau phẫu thuật UTTG (24)
    • 1.2. Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và công cụ đánh giá . 15 1. Khái niệm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (25)
      • 1.2.2. Công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống (27)
    • 1.3. Tình hình nghiên cứu chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTTG sau phẫu thuật ở Việt Nam và trên thế giới (28)
      • 1.3.1. Trên thế giới (28)
      • 1.3.2. Tại Việt Nam (31)
    • 1.4. Thông tin về địa điểm nghiên cứu (31)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu (33)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (33)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (33)
    • 2.3. Biến số nghiên cứu và phương pháp đánh giá (34)
      • 2.3.1. Biến số nghiên cứu (34)
      • 2.3.2. Các bộ công cụ được sử dụng (36)
    • 2.4. Quá trình thu thập số liệu (39)
    • 2.5. Sai số và cách khống chế sai số (40)
    • 2.6. Quản lý và phân tích, xử lý số liệu (40)
    • 2.7. Vấn đề đạo đức nghiên cứu (41)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (42)
    • 3.1. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật Ung thư tuyến giáp (42)
      • 3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học của nhóm đối tượng nghiên cứu (42)
      • 3.1.2. Đặc điểm về bệnh của nhóm đối tượng nghiên cứu (46)
      • 3.1.3. Trầm cảm, lo âu của bệnh nhân theo thang đo HADS và DASS-10 (48)
      • 3.1.3. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật UTTG theo thang đo EORTC-C30 (50)
      • 3.1.4. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật UTTG theo thang đo THYCA-QoL (55)
    • 3.2. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư tuyến giáp sau phẫu thuật tại Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội (57)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (62)
    • 4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu (62)
      • 4.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học (62)
      • 4.1.2. Đặc điểm bệnh (64)
    • 4.2. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật UTTG (66)
      • 4.2.1. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật UTTG theo thang đo EORTC-C30 (66)
      • 4.2.2. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật UTTG theo thang đo THYCA-QoL (69)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Là các bệnh nhân UTTG đã được phẫu thuật và hiện đang khám theo dõi định kỳ tại Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội

Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 09 năm 2022 đến tháng 2 năm 2023 Địa điểm nghiên cứu: Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội.

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Phương pháp chọn mẫu: Lấy mẫu thuận tiện

Các tiêu chí lựa chọn tham gia nghiên cứu bao gồm bệnh nhân đã được chẩn đoán chính xác ung thư tuyến giáp, đầy đủ hồ sơ bệnh án gồm thông tin hành chính, bệnh sử, tiền sử, kết quả thăm khám lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh xác nhận mô bệnh học Ngoài ra, các bệnh nhân phải đã underwent phẫu thuật loại bỏ tuyến giáp và được theo dõi ít nhất 4 đến 6 tuần sau phẫu thuật, đồng thời hoàn thành đầy đủ các câu hỏi trong khảo sát.

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Bệnh nhân quá suy kiệt hoặc mắc các bệnh lý mạn tính nặng như suy hô hấp, suy tim, suy thận mạn giai đoạn cuối…

Có các rối loạn về tâm thần, rối loạn cản trở về ngôn ngữ và giao tiếp

Tính theo công thức ước tính một giá trị trung bình n = Z 2 1- α/2

Trong đó: n: Cỡ mẫu nghiên cứu cần có

S: độ lệch chuẩn = 12,7 (lấy từ nghiên cứu của Wing Lok Chan với điểm tổng thể CLCS trung bình là 84,4 ± 12,7) [19]

𝐗̅ : giá trị trung bình CLCS của người bệnh từ nghiên cứu của Wing Lok Chan

𝞮: Mức sai lệch tương đối, chọn bằng 0,03 α:Mức ý nghĩa thống kê, chọn 0,05, nên Z1-α/2= 1,96

Tính được cỡ mẫu tối thiểu là 97 bệnh nhân

Trong nghiên cứu, 219 bệnh nhân đã được tiếp cận nhằm đảm bảo tính toàn diện và đáng tin cậy của dữ liệu Tỷ lệ phản hồi đạt 100%, cho thấy sự hợp tác tích cực từ phía các bệnh nhân Tuy nhiên, sau quá trình kiểm tra và xử lý dữ liệu, có 19 phiếu khảo sát bị loại do thiếu thông tin quan trọng Cuối cùng, cỡ mẫu nghiên cứu còn lại là 200 bệnh nhân, đảm bảo đủ số lượng để phân tích chính xác và hợp lý.

Biến số nghiên cứu và phương pháp đánh giá

Bảng 2 4: Biến số nghiên cứu và cách thu thập

TT Tên biến Khái niệm Phân loại Cách thu thập

1 Độ tuổi Bằng 2023 trừ năm sinh Dạng số Phiếu hỏi

2 Giới tính Là nam hay nữ Nhị phân Phiếu hỏi

Chưa kết hôn, Ly hôn, Ly thân, Góa, Đã kết hôn Phân loại Phiếu hỏi

TT Tên biến Khái niệm Phân loại Cách thu thập

4 Nghề nghiệp Là công việc chính mà hiện tại bệnh nhân đang làm Phân loại Phiếu hỏi

Dưới THPT, Tốt nghiệp THPT, Đại học, Cao đẳng Phân loại Phiếu hỏi

6 Khu vực sống Hà Nội hay địa phương khác

Nông thôn hay thành thị Phân loại Phiếu hỏi

7 Tiền sử Trong gia đình bệnh nhân, có ai cũng bị UTTG hay không Phân loại Phiếu hỏi

UTTG thể nhú UTTG thể nang UTTG thể tủy UTTG thể không biệt hóa

Giai đoạn I Giai đoạn II Giai đoạn III Giai đoạn IV

Cắt một phần thùy giáp Cắt bán phần tuyến giáp Cắt toàn phần tuyến giáp

Chất lượng cuộc sống theo bộ câu hỏi

Thu thập chất lượng cuộc sống của người bệnh theo bộ câu hỏi EORTC-C30 (Phần 2.3.2)

Chất lượng cuộc sống theo bộ câu hỏi

Thu thập chất lượng cuộc sống của người bệnh theo bộ câu hỏi THYCA-QoL (Phần 2.3.2)

Thang đo lo lắng và trầm cảm bệnh viện

Thu thập tình trạng lo lắng, trầm cảm của người bệnh theo thang điểm HADS (Phần 2.3.2)

Thang đo căng thẳng, lo âu, trầm cảm

Thu thập tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm của người bệnh theo thang điểm HADS (Phần 2.3.2)

2.3.2 Các bộ công cụ được sử dụng

2.3.2.1 Bộ câu hỏi EORTC- C30 phiên bản 3.0 của Tổ chức nghiên cứu và điều trị ung thư châu Âu

Bảng 2 5: Bố cục bộ câu hỏi EORTC – C30

Các khía cạnh đánh giá Tổng số câu hỏi Số thứ tự câu hỏi

Mất cảm giác ngon miệng 1 13

Các câu trả lời này sẽ được quy đổi thành điểm các chỉ số (theo thang điểm

Dựa vào công thức trong sách hướng dẫn của EORTC, điểm cho các bộ câu hỏi được tính dựa trên điểm thô trung bình của các câu trả lời, nhằm đảm bảo tính chính xác và nhất quán trong đánh giá Điểm thô ban đầu được tính dựa trên dữ liệu trung bình từ các bộ câu hỏi mẫu do EORTC ban hành, giúp chuẩn hóa quá trình chấm điểm và cung cấp kết quả đáng tin cậy Việc áp dụng công thức này giúp các chuyên gia y tế dễ dàng xác định mức độ phù hợp của từng bộ câu hỏi trong các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

27 điểm các câu hỏi cùng vấn đề Điểm thô RawScore (RS) của mỗi chỉ số = RS (I1 + I2 + … In)/n Sau đó RS được quy đổi sang thang điểm 100 để thành điểm S

- Với các chỉ số chức năng: S = [1 - (RS - 1)/3] x 100

- Với các chỉ số triệu chứng: S = [(RS - 1)/3] x 100

Chỉ số "CLCS chung" được tính bằng công thức S = [(RS - 1)/6] x 100, tạo thành một điểm tổng hợp duy nhất phản ánh hiệu quả tổng thể Điểm tổng thể CLCS được tính dựa trên 13 thang đo, bao gồm các yếu tố như hoạt động thể chất, vai trò xã hội, hòa nhập xã hội, tâm lý cảm xúc, khả năng nhận thức, cùng với các yếu tố được đảo ngược của triệu chứng như mệt mỏi, đau, buồn nôn/nôn để đảm bảo hướng thống nhất của tất cả các thang đo Trong đó, điểm tổng thể EORTC-C30 phản ánh sự kết hợp của các khía cạnh về chức năng và triệu chứng, giúp đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Để đánh giá tình trạng sức khỏe, các chỉ số triệu chứng như khó thở, mất ngủ, mất cảm giác ngon miệng, táo bón và tiêu chảy được tính trung bình chia cho 13 Các chỉ số có điểm trên ngưỡng 20/100 được coi là ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống (CLCS), trong khi các chỉ số chức năng có điểm dưới 80/100 cũng được xem là ảnh hưởng đến CLCS Điểm CLCS chung và tổng thể càng cao chứng tỏ tình trạng sức khỏe càng tốt, phản ánh mức độ ảnh hưởng của các triệu chứng và chức năng đối với chất lượng cuộc sống.

2.3.2.2 Bộ câu hỏi Chất lượng cuộc sống liên quan đến bệnh nhân Ung thư tuyến giáp - THYroid CAncer-Quality of Life (THYCA-QoL)

Bảng 2 6: Bố cục bộ câu hỏi THYCA-QoL

Các khía cạnh đánh giá Tổng số câu hỏi Số thứ tự câu hỏi

Vấn đề về cổ/miệng 3 1, 2, 5

Bảng câu hỏi gồm 24 mục, trong đó tất cả các câu hỏi đều dựa trên việc ghi nhận các triệu chứng xuất hiện trong tuần qua, ngoại trừ câu về mức độ quan tâm đến tình dục được đánh giá trong bốn tuần Mỗi mục được trả lời theo thang điểm 4, từ 1 - “hoàn toàn không” đến 4 - “rất nhiều”, giúp đánh giá mức độ ảnh hưởng của các triệu chứng THYCA-QoL gồm bảy thang đo liên quan đến các vấn đề về thần kinh cơ, giọng nói, sự tập trung, hệ giao cảm, cổ họng/miệng, tâm lý và cảm giác, cùng với sáu mục riêng về các vấn đề như sẹo, cảm thấy ớn lạnh, ngứa ran tay chân, tăng cân, đau đầu và quan tâm đến hoạt động tình dục Điểm số thu thập được sẽ chuyển đổi theo quy tắc tuyến tính thành thang điểm từ 0 đến 100, giúp phản ánh mức độ ảnh hưởng của CLCS đối với người bệnh; điểm số càng cao thể hiện mức độ tác động ngày càng lớn của bệnh.

“quan tâm đến tình dục”, điểm cao hơn cho thấy quan tâm đến tình dục nhiều hơn

2.3.2.3 Thang đo lo lắng và trầm cảm bệnh viện (Hospital anxiety and depression scale – HADS)

Thang đo lo lắng và trầm cảm bệnh viện (HADS) là công cụ tự đánh giá gồm 14 mục, nhằm đo lường mức độ lo lắng và trầm cảm của người bệnh HADS được chia thành hai tiêu chí chính: lo lắng và trầm cảm, giúp đánh giá toàn diện các triệu chứng tâm lý Điểm trung bình của các tiêu chí này dao động từ 0 trở lên, phản ánh mức độ nhẹ đến nặng của các triệu chứng Thang đo HADS là phương pháp hiệu quả để xác định mức độ lo lắng và trầm cảm, từ đó hỗ trợ chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị phù hợp.

- 21 và tổng điểm cho thang đo HADS là từ 0 - 42 Điểm cao hơn cho thấy mức

29 độ lo lắng và/hoặc trầm cảm cao hơn Độ tin cậy và hiệu lực của thang đo đã được chứng minh ở các nghiên cứu trước đây

2.3.2.4 Thang đo căng thẳng lo âu trầm cảm (Depression Anxiety Stress Scale-

Thang đo căng thẳng lo âu trầm cảm DASS-10 là phiên bản rút gọn gồm 10 mục của DASS-42, giúp đánh giá mức độ căng thẳng, lo âu và trầm cảm toàn diện DASS-10 xác định điểm trung bình của hai tiêu chí chính là trầm cảm và lo lắng/căng thẳng, phục vụ cho việc theo dõi kết quả tâm lý thường xuyên Thang đo này được thiết kế phù hợp để sử dụng trong các hoạt động tâm lý học và các cơ sở chăm sóc sức khỏe tâm thần nhằm hỗ trợ chẩn đoán và quản lý các vấn đề tâm lý hiệu quả.

Điểm tổng hợp phản ánh mức độ căng thẳng, lo âu và trầm cảm tổng thể của người dùng, với thang điểm từ 0 đến 30, trong đó điểm số cao hơn biểu thị tình trạng đau khổ nghiêm trọng hơn hoặc số lượng triệu chứng gia tăng.

• Lo lắng-Căng thẳng: Mục 1, 4, 6, 7, 8, 9 (tổng điểm từ 0-18 điểm)

Trầm cảm được đánh giá dựa trên các mục 2, 3, 5, và 10, với tổng điểm từ 0-12, phản ánh mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở người bệnh Điểm tổng thể này có thể phân loại thành ba nhóm mức độ nghiêm trọng khác nhau, giúp xác định chính xác tình trạng tâm lý của bệnh nhân và hướng đến điều trị phù hợp Việc đánh giá chi tiết và chính xác là rất cần thiết để đảm bảo người bệnh nhận được sự can thiệp kịp thời và hiệu quả nhất.

• Nhẹ/cận lâm sàng (≤ 6 điểm)

• Nghiêm trọng (từ 13 điểm trở lên)

Cả bốn bộ công cụ nêu trên đều đã được xin phép các tác giả/tổ chức giữ bản quyền trước khi sử dụng.

Quá trình thu thập số liệu

Khoảng 4 đến 6 tuần sau khi phẫu thuật, bệnh nhân quay trở lại bệnh viện để tái khám và điều trị bằng Iod phóng xạ Thời gian điều trị của bệnh nhân là khoảng

Bệnh nhân được tiếp cận qua phương pháp lấy mẫu thuận tiện, phát phiếu (bộ câu hỏi có sẵn) để người bệnh tự điền, giúp dễ dàng thu thập dữ liệu Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh được thực hiện bằng các công cụ tiêu chuẩn như EORTC-30 và THYCA-QoL, đảm bảo độ chính xác trong đo lường cảm nhận về sức khỏe và ảnh hưởng của bệnh Phương pháp này giúp thu thập thông tin khách quan, có hệ thống, hỗ trợ công tác nghiên cứu và chăm sóc bệnh nhân hiệu quả hơn.

Sau khi hướng dẫn bệnh nhân cách trả lời các câu hỏi, phiếu khảo sát được gửi đến những bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu trước khi điều trị bằng Iod phóng xạ Các phiếu câu hỏi sẽ được thu thập lại trước khi bệnh nhân ra viện, nhằm đảm bảo dữ liệu đầy đủ và chính xác cho nghiên cứu.

Sai số và cách khống chế sai số

Các sai số có thể gặp phải

- Bệnh nhân không hiểu rõ câu hỏi hoặc trả lời đại khái

- Sai số trong quá trình nhập số liệu

Cách khắc phục sai số

- Giải thích rõ cho bệnh nhân hiểu mục đích nghiên cứu và hỏi trước khi tiến hành Hỏi chi tiết và tìm thời gian thích hợp để hỏi

- Làm sạch số liệu, bổ sung các số liệu bị thiếu, loại trừ các giá trị ngoại lai trước khi phân tích.

Quản lý và phân tích, xử lý số liệu

- Các số liệu sau khi thu thập được nhập và xử lý bằng phần mềm Excel 2010 và SPSS 20

- Phân tích thống kê mô tả định tính: tỷ lệ phần trăm, trung bình, độ lệch chuẩn

- Kiểm định bằng test Kolmogorov – Smirnov để xác định số liệu định lượng có phân bố chuẩn hay không

- Kiểm định khác biệt giữa 2 trung bình với phân phối chuẩn bằng t-test; phân phối không chuẩn Wilcoxon signed-test ghép cặp

- Kiểm định khác biệt giữa các trung bình với phân phối chuẩn bằng ANOVA test; phân phối không chuẩn bằng Kruskal Wallis test

Để đánh giá mối quan hệ giữa hai biến định lượng, ta có thể sử dụng hệ số tương quan Pearson \( r \) nếu dữ liệu phân bố chuẩn Trong trường hợp dữ liệu không phân bố chuẩn hoặc có các phân bố không đối xứng, phương pháp tính hệ số tương quan Spearman sẽ phù hợp hơn Việc lựa chọn phương pháp phù hợp giúp xác định chính xác mức độ liên quan giữa các biến, hỗ trợ các phân tích thống kê và ra quyết định chính xác hơn trong nghiên cứu.

Vấn đề đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành với sự chấp thuận của Ban lãnh đạo bệnh viện

Y học phóng xạ và U bướu Quân đội

- Chỉ lấy các thông tin cần thiết cho nghiên cứu Mọi thông tin của bệnh nhân đều được đảm bảo giữ bí mật

- Thông tin thu thập được mã hóa chỉ để phục vụ cho nghiên cứu này

Nghiên cứu này không can thiệp vào bệnh nhân mà chỉ nhằm đảm bảo sức khỏe cho họ Mục đích chính là cảnh báo về các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn, giúp nâng cao ý thức phòng ngừa bệnh tật Kết quả nghiên cứu không nhằm thúc đẩy bất kỳ hành động can thiệp nào, mà tập trung vào việc giám sát và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật Ung thư tuyến giáp

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của nhóm đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 7: Phân bố bệnh nhân theo tuổi

Nhóm tuổi Tần số (n = 200) Tỷ lệ (%)

Trong nghiên cứu, tuổi trung bình của bệnh nhân là 43,17 ± 11,51 tuổi, với mức độ tuổi thấp nhất là 20 và cao nhất là 72 tuổi Đặc biệt, nhóm tuổi dưới 55 chiếm đa số, với 164 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 82,00%, cho thấy đây là nhóm tuổi thường gặp trong khảo sát này.

Biểu đồ 3 1: Phân bố bệnh nhân theo giới tính (n 0) Nhận xét:

Phần lớn bệnh nhân là nữ với 83,00% Tỷ lệ bệnh nhân nữ/nam là 4,88/1

Bảng 3 8: Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp và trình độ học vấn và thu nhập Đặc điểm Tần số

Thu nhập bình quân hàng tháng

Của bệnh nhân 5,56 ± 3,37 triệu đồng Của gia đình bệnh nhân 11,96 ± 6,26 triệu đồng

Nghiệp nghiệp của bệnh nhân khá đa dạng, chủ yếu là lao động tự do, nông dân và công nhân, chiếm lần lượt 26,50%, 24,00% và 19,50% Ngoài ra, một số nghề nghiệp khác bao gồm nhân viên văn phòng (11,00%), giáo viên (4,50%) và người về hưu (4,00%), phản ánh sự đa dạng trong cơ cấu nghề nghiệp của bệnh nhân.

Phân bố về trình độ học vấn cho thấy nhóm dưới THPT chiếm tỷ lệ thấp nhất, chỉ với 25,00%, trong khi đó, nhóm trên THPT và tốt nghiệp THPT chiếm tỷ lệ cao hơn đáng kể Điều này phản ánh sự đa dạng trong trình độ học vấn của cộng đồng và ảnh hưởng đến các hoạt động giáo dục và phát triển nhân khẩu Việc nắm bắt chính xác tỷ lệ các nhóm trình độ học vấn giúp các nhà hoạch định chính sách có các chiến lược phù hợp nhằm nâng cao trình độ học vấn của người dân.

34 lệ cao hơn với lần lượt là 34,00% và 41,00%

- Thu nhập bình quân hàng tháng của cả gia đình bệnh nhân là khoảng 11,96 ± 6,26 triệu đồng; trong đó của riêng bệnh nhân là khoảng 5,56 ± 3,37 triệu đồng

Bảng 3 9: Phân bố bệnh nhân theo tình trạng hôn nhân và khu vực sống Đặc điểm Tần số

Tình trạng hôn nhân Độc thân/ ly thân/ ly hôn/ góa 24 12,00 Đã kết hôn 176 88,00

Hà Nội 16 8,00 Địa phương khác 184 92,00

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh nhân (88,00%) đã kết hôn, cho thấy tỷ lệ người có gia đình cao Phân bố theo khu vực sinh sống, nhóm bệnh nhân đến từ khu vực nông thôn chiếm đa số (72,00%), trong khi nhóm thành thị chỉ chiếm 28,00%, cho thấy sự chênh lệch đáng kể Ngoài ra, phần lớn người bệnh (92,00%) đến từ các địa phương ngoài Hà Nội, phản ánh sự phân bổ lớn của bệnh nhân đến từ các tỉnh thành khác để khám chữa bệnh.

Bảng 3 10: Phân bố bệnh nhân theo thời gian phát hiện bệnh

Thời gian phát hiện bệnh Tần số

Nhận xét: Bệnh nhân chủ yếu mới phát hiện UTTG gần đây, trong đó có 153/200 người bệnh phát hiện bệnh < 6 tháng tương đương 76,50%

Biểu đồ 3 2: Tiền sử gia đình liên quan đến UTTG của người bệnh Nhận xét:

Theo kết quả nghiên cứu, có 18/200 người bệnh (chiếm tỷ lệ 9,00%) có người nhà mắc UTTG

Có mắc UTTGKhông mắc UTTG

3.1.2 Đặc điểm về bệnh của nhóm đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 11: Phân bố bệnh nhân theo mô bệnh học

Mô bệnh học UTTG Tần số

Trong số các bệnh nhân nghiên cứu, UTTG thể nhú chiếm tỷ lệ cao nhất với 195 bệnh nhân, chiếm 97,50%, trong khi đó UTTG thể nang chỉ chiếm 2,50% với 5 bệnh nhân Không ghi nhận bệnh nhân nào mắc bệnh ở thể tủy hoặc thể kém biệt hóa, cho thấy phân bố bệnh rõ ràng theo các thể bệnh khác nhau.

Bảng 3 12: Phân bố bệnh nhân theo giai đoạn bệnh

Giai đoạn I 134 (93,71%) 9 (6,29%) 150 (71,5%) Giai đoạn II 30 (58,82%) 21 (41,18%) 51 (25,50%)

Trong nghiên cứu, đa số bệnh nhân được phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, chiếm đến 71,50% các trường hợp ở giai đoạn I Giai đoạn II và III lần lượt chiếm tỷ lệ 25,50% và 3,00%, trong khi không có trường hợp nào được phát hiện ở giai đoạn IV Phát hiện bệnh sớm giúp nâng cao khả năng điều trị thành công và giảm các biến chứng của bệnh.

Bảng 3 13: Phân bố bệnh nhân theo di căn bệnh và phương pháp điều trị Đặc điểm Tần số

Di căn Chưa di căn 170 85,00 Đã di căn 30 15,00

Cắt toàn bộ tuyến giáp 147 73,50

Theo kết quả nghiên cứu, có 30 trường hợp đã di căn, chiếm tỷ lệ 15,00% Phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp (TBTG) chiếm tỷ lệ cao nhất với 73,50%, trong khi đó, các bệnh nhân được cắt bán phần tuyến giáp chiếm 16,00% và cắt một phần tuyến giáp là 10,50%.

Bảng 3 14: Phân bố bệnh nhân theo một số đặc điểm liên quan Đặc điểm Tần số

Trong nghiên cứu, có 37 bệnh nhân (18,5%) mắc các bệnh kèm theo Kiểm tra thói quen sinh hoạt cho thấy, 10,5% bệnh nhân có thói quen hút thuốc lá hoặc thuốc lào, trong khi 7,0% thường xuyên uống rượu hoặc bia Đa số bệnh nhân (70,5%) duy trì hoạt động tập thể dục ít nhất một lần mỗi tuần Trung bình, chỉ số BMI của nhóm nghiên cứu là 22,21 ± 2,43, phản ánh mức cân nặng phù hợp với tiêu chuẩn sức khỏe.

3.1.3 Trầm cảm, lo âu của bệnh nhân theo thang đo HADS và DASS-10

Bảng 3 15: Điểm trung bình trầm cảm/lo âu nội viện của bệnh nhân theo thang đo HADS

𝒙̅ ± SD Trung vị (25 th -75 th ) Min-Max

Điểm trung bình lo âu và trầm cảm nội viện của bệnh nhân lần lượt là 5,61 ± 3,66 và 5,78 ± 3,68 điểm, cho thấy mức độ lo lắng và trầm cảm trung bình trong nhóm bệnh nhân Tổng điểm trung bình của thang đo HADS là 11,39 ± 6,82 điểm, với trung vị là 12 điểm và khoảng tứ phân vị từ 6 đến 16 điểm, phản ánh phân bố điểm số đa dạng trong nhóm bệnh nhân.

Bảng 3 16: Điểm trung bình trầm cảm, lo âu và căng thẳng của bệnh nhân theo thang đo DASS-10

𝒙̅ ± SD Trung vị (25 th -75 th ) Min-Max

Điểm trung bình của trầm cảm là 2,28 ± 2,25, trong khi điểm trung bình của lo âu và căng thẳng nội viện lần lượt là 3,56 ± 3,15, cho thấy mức độ trung bình của các triệu chứng này trong nhóm bệnh nhân Tổng thể, thang đo DASS phản ánh mức độ phổ biến của các vấn đề tâm lý như trầm cảm, lo âu và căng thẳng trong bệnh nhân nội viện Kết quả này cho thấy cần chú ý đến chăm sóc tâm lý của bệnh nhân để giảm thiểu ảnh hưởng của các triệu chứng này trong quá trình điều trị.

10 là 5,84 ± 5,21 điểm; trung vị 5 điểm; khoảng tứ phân vị =1-9 điểm

Bảng 3 17: Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và căng thẳng của bệnh nhân theo thang đo

Theo kết quả nghiên cứu, có 122 bệnh nhân (61,0%) có triệu chứng trầm cảm,

40 lo âu, căng thẳng ở mức độ nhẹ; 62 (31,0%) có triệu chứng ở mức độ trung bình

Tỷ lệ người bệnh ở mức độ nghiêm trọng là 8,0% tương đương 16/200 người bệnh

3.1.3 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật UTTG theo thang đo EORTC-C30

Bảng 3 18: Điểm trung bình chất lượng cuộc sống theo thang đo EORTC-

Nhận xét: Điểm trung bình thang đo EORTC-C30 là 74,70 ± 14,05; trong đó: chỉ số chức năng là: 73,87 ± 16,06; chỉ số triệu chứng là: 24,78 ± 14,66

Biểu đồ 3.3 thể hiện điểm trung bình các chỉ số chức năng và điểm tổng thể CLCS của bệnh nhân Đường ngang màu đỏ trên biểu đồ thể hiện ngưỡng ảnh hưởng đến CLCS, góp phần xác định mức độ ảnh hưởng của các chỉ số chức năng Các chỉ số chức năng nằm dưới đường màu đỏ cho thấy có ảnh hưởng đáng kể đến CLCS của bệnh nhân, giúp đánh giá chính xác hơn tình trạng bệnh và lập kế hoạch điều trị phù hợp.

Cả 5 chỉ số chức năng đều có giá trị dưới ngưỡng 80/100; trong đó hòa nhập xã hội có điểm trung bình thấp nhất 66,58 ± 23,66

Các chỉ số chức năng và điểm tổng thể trung bình của người bệnh ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Nhìn chung, mức độ chức năng hoàn chỉnh và điểm số trung bình cao giúp nâng cao đời sống tinh thần và thể chất của họ, góp phần cải thiện khả năng tự lập và giảm thiểu các hạn chế hàng ngày Do đó, việc duy trì và cải thiện các chỉ số này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Vai trò xã hội Hòa nhập xã hội

Biểu đồ 3.4 thể hiện điểm trung bình CLCS của các chỉ số triệu chứng (n=0), trong đó đường ngang màu đỏ biểu thị ngưỡng ảnh hưởng đến CLCS Các chỉ số triệu chứng nằm trên đường màu đỏ cho thấy có tác động rõ rệt đến CLCS của bệnh nhân, giúp đánh giá mức độ ảnh hưởng của các triệu chứng đối với tình trạng bệnh.

Sau phẫu thuật ung thư biểu mô tuyến giáp, chỉ số triệu chứng “mệt mỏi” đạt 36,56 điểm, cao hơn ngưỡng 20/100, cho thấy nó ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Trong khi đó, chỉ số buồn nôn và nôn cùng tiêu chảy có giá trị dưới ngưỡng với điểm trung bình lần lượt là 13,17 điểm và 8,67 điểm, cho thấy không tác động đáng kể đến CLCS của người bệnh.

Mệt mỏi Đau Mất ngủ Khó thở Buồn nôn và nôn

Chán ăn Táo bón Tiêu chảy

Bảng 3 19: Tần suất xuất hiện triệu chứng

TT Chỉ số triệu chứng Tỷ lệ (%) n = 200

Trong số 200 bệnh nhân, có đến 79,0% phản ánh cảm giác mệt mỏi và mất ngủ, cho thấy đây là các triệu chứng phổ biến nhất Ngược lại, chỉ có 19,0% bệnh nhân phàn nàn về triệu chứng tiêu chảy, cho thấy mức độ xuất hiện ít hơn nhiều so với các vấn đề về giấc ngủ và mệt mỏi.

Biểu đồ 3 5: Đặc điểm triệu chứng mệt mỏi của bệnh nhân (n 0) Nhận xét:

Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư tuyến giáp sau phẫu thuật tại Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội

Trong nghiên cứu này, bảng 3 thể hiện mối liên hệ giữa các đặc điểm nhân khẩu học và các chỉ số chất lượng cuộc sống theo thang đo EORTC-30 Các đặc điểm nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính và trình độ học vấn đều có ảnh hưởng đáng kể đến điểm chỉ số chức năng, cho thấy rằng sự phân tích các yếu tố này là quan trọng để hiểu rõ hơn về tác động của các đặc điểm cá nhân đến khả năng duy trì hoạt động hàng ngày của bệnh nhân Ngoài ra, các yếu tố nhân khẩu học còn liên quan tới các điểm chỉ số triệu chứng, phản ánh mức độ trải qua các triệu chứng liên quan đến bệnh lý, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc đánh giá và điều trị Việc xác định các mối liên hệ này giúp các nhà nghiên cứu và y tế xây dựng các chiến lược chăm sóc phù hợp, tối ưu hóa chất lượng cuộc sống của người bệnh dựa trên đặc điểm nhân khẩu học của họ.

Nghề nghiệp Lao động tự do 73,6 ± 17,6

Ly hôn/Ly thân/Góa 70,4 ± 21,8

Điểm trung bình chỉ số chức năng của nam giới cao hơn so với nữ giới, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Trong khi đó, điểm trung bình chỉ số triệu chứng của nữ giới cao hơn nam giới và sự khác biệt này đạt ý nghĩa thống kê với p = 0,02 Các kết quả này cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về các chỉ số giữa hai giới, đặc biệt là ở chỉ số triệu chứng.

Nhóm từ 55 tuổi trở lên có năng lực cao hơn so với nhóm dưới 55 tuổi, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,05) Điểm trung bình chỉ số triệu chứng của nhóm ≥ 55 tuổi cao hơn so với nhóm < 55 tuổi, tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Thu nhập cá nhân và gia đình có mối tương quan thuận với chỉ số chức năng và tương quan nghịch với chỉ số triệu chứng, các mối quan hệ này đều là tương quan yếu nhưng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Chưa phát hiện sự khác biệt rõ rệt về điểm trung bình của chỉ số chức năng và chỉ số triệu chứng theo nghề nghiệp, khu vực sinh sống hoặc tình trạng hôn nhân.

Bảng 3.21 thể hiện mối liên quan giữa các đặc điểm bệnh lý với các chỉ số chất lượng cuộc sống (CLCS) theo thang đo EORTC-30 Các đặc điểm này ảnh hưởng đến điểm số chức năng, đặc biệt là các lĩnh vực như chức năng vận động, giao tiếp, và hoạt động hàng ngày Đồng thời, đặc điểm bệnh cũng có tác động rõ rệt lên các điểm số liên quan đến các triệu chứng như mệt mỏi, đau đớn và rối loạn tiêu hóa, phản ánh mức độ ảnh hưởng của bệnh đến chất lượng sống của người bệnh Nhờ đó, việc xác định các đặc điểm này giúp cải thiện quản lý điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Nhận xét: Điểm trung bình chỉ số triệu chứng giảm dần theo từng giai đoạn bệnh, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,02

Chưa tìm thấy sự khác biệt giữa điểm trung bình chỉ số chức năng và chỉ số triệu chứng theo bệnh kèm theo, mô bệnh học

Bảng 3 22: Mối liên quan giữa điểm trung bình CLCS theo thang đo EORTC-30 và thang đo DASS-10 (n 0) Đặc điểm Điểm chỉ số chức năng Điểm chỉ số triệu chứng

Điểm trung bình chỉ số chức năng giảm dần và điểm trung bình chỉ số triệu chứng tăng dần theo mức độ của DASS-10, cho thấy rằng khi mức độ này tăng, chức năng ngày càng suy giảm trong khi triệu chứng ngày càng nghiêm trọng Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, đề cập đến mối liên hệ rõ rệt giữa mức độ triệu chứng và chức năng.

Bảng 3 23: Mối liên quan giữa các đặc điểm bệnh với các chỉ số CLCS theo thang đo THYCA-QoL (n 0) Đặc điểm Thang đo CLCS THYA-QoL

Mô bệnh học Thể nhú 46,8 ± 10,6

50 Đặc điểm Thang đo CLCS THYA-QoL

Điểm trung bình của chỉ số CLCS THYCA-QoL ở bệnh nhân đã di căn cao hơn so với bệnh nhân chưa di căn, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Tuy nhiên, chưa ghi nhận sự khác biệt rõ ràng giữa điểm trung bình CLCS theo THYCA-QoL và các yếu tố kèm theo, mô bệnh học, hoặc giai đoạn bệnh.

Bảng 3 24: Mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học với các chỉ số CLCS theo thang đo THYCA-QoL (n 0) Đặc điểm 𝑿̅±SD p

Nghề nghiệp Lao động tự do 45,3 ± 9,2

Khu vực sống Thành thị 44,4 ± 8,2

Ly hôn/Ly thân/Góa 47,7 ± 12,2

Tiền sử gia đình Có bị UTTG 48,1 ± 12,0

Thu nhập cá nhân, gia đình có mối tương quan nghịch biến với điểm trung bình CLCS theo thang đo THYCA-QoL, cho thấy rằng mức thu nhập cao hơn liên quan đến chất lượng cuộc sống tốt hơn Tương quan giữa thu nhập bản thân và điểm THYA-QoL là tương quan yếu nhưng có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, khẳng định mối liên hệ này là đáng chú ý trong phân tích Hiện chưa tìm thấy mối liên quan đáng kể giữa các yếu tố khác với điểm trung bình CLCS, cho thấy cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Bảng 3 25: Mối liên quan giữa điểm trung bình CLCS theo thang đo EORTC-30 và THYCA-QoL; DASS-10; HADS (n 0)

DASS-10 Lo lắng-Căng thẳng -0,516 0,0001

Điểm CLCS theo thang đo EORTC-30 có mối tương quan nghịch, rất chặt chẽ với điểm CLCS theo thang đo THYCA-QoL, với hệ số tương quan r = -0,77, cho thấy khi điểm CLCS của EORTC-30 tăng thì điểm CLCS của THYCA-QoL lại giảm Ngoài ra, điểm CLCS theo thang đo EORTC-30 cũng có mối tương quan nghịch, chặt chẽ với các thang đo HADS và DASS-10, phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa các chỉ số về chất lượng cuộc sống và tâm lý của người bệnh.

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học

Tuổi và giới là hai yếu tố quan trọng hàng đầu trong nghiên cứu về ung thư nói chung và u tuyến giáp nói riêng, ảnh hưởng trực tiếp đến tiên lượng bệnh và phương pháp điều trị phù hợp Việc hiểu rõ vai trò của tuổi tác và giới giúp xác định khả năng tiến triển của bệnh cũng như lựa chọn các phương pháp can thiệp tối ưu nhất Do đó, các yếu tố này đóng vai trò then chốt trong xây dựng chiến lược điều trị cá nhân hóa và nâng cao hiệu quả điều trị ung thư tuyến giáp.

Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên 200 bệnh nhân có độ tuổi trung bình là 43,17 ± 11,51, phù hợp với các nghiên cứu của Trần Văn Thông (2014) và Nguyễn Văn Hùng (2013) với độ tuổi trung bình lần lượt là 43,27 ± 14,71 và 42,75 ± 1,39 [6, 15] UTTG có thể gặp ở mọi lứa tuổi, trong nghiên cứu này, độ tuổi của bệnh nhân dao động từ 20 đến 72 tuổi Các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam cũng cho thấy nhóm tuổi trẻ chiếm tỷ lệ cao hơn, chiếm đến 82,0% các trường hợp, có thể do người trẻ hiện nay có khả năng tiếp cận thông tin truyền thông rộng rãi hơn, từ đó quan tâm đến sức khỏe và chủ động đi khám phát hiện bệnh sớm hơn [9, 15].

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hormon sinh dục nữ (estrogen) đóng vai trò thúc đẩy sự khởi phát của u tử cung (UTTG) Điều này góp phần tạo ra sự chênh lệch giới tính trong các bệnh nhân mắc u tử cung, nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố hormone trong quá trình hình thành và phát triển của bệnh.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy UTTG gặp phải chủ yếu ở nữ giới, chiếm 83,0%, với tỷ lệ nữ trênnam là 4,88/1, phù hợp với các nghiên cứu trước đó của Lê Văn Long (2017) và Trần Hữu Hiệu (2019) có tỷ lệ nữ/nam lần lượt là 7,4/1 Dữ liệu của GLOBOCAN 2018 cũng xác nhận rằng tỷ lệ nữ trênnam toàn cầu và Việt Nam lần lượt là 3/1 và 4,8/1, cho thấy rằng tỷ lệ bệnh nhân nữ cao hơn nam giới do ảnh hưởng của hormone estrogen.

Một nghiên cứu của Lê Ngọc Phúc và cộng sự (2022) tại Viện Y học Phóng xạ và U bướu quân đội cho thấy, tuổi trung bình của bệnh nhân mắc u tuyến giáp là 48,5 ± 12,2 tuổi, trong đó hơn 77% dưới 55 tuổi và tỷ lệ nữ giới so với nam giới là 19,7/1, phản ánh độ tuổi và giới tính phổ biến của UTTG tại đây Sự khác biệt so với các nghiên cứu khác có thể do tác giả tập trung vào bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú với mẫu nhỏ chỉ gồm 62 bệnh nhân.

Nói tóm lại, theo các nghiên cứu gần đây và dựa theo những y văn trên thế giới, bệnh nhân UTTG thường gặp ở đối tượng nữ giới, trẻ tuổi

Trình độ học vấn và nghề nghiệp

Theo bảng 3.2, thành phần nghề nghiệp của bệnh nhân tham gia nghiên cứu khá đa dạng, chủ yếu là lao động tự do (26,5%), nông dân (24,0%) và công nhân (19,5%) Về trình độ học vấn, có đến 75,0% bệnh nhân có trình độ từ trung học phổ thông trở lên, gấp đôi so với nghiên cứu của Đặng Thị Bích Ngọc (2017) về nhóm chung các loại ung thư [10] Điều này phản ánh sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam và các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho đào tạo sau đại học so với trước đây.

Tình trạng hôn nhân và khu vực sống

Gần 88% nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu đã kết hôn, phù hợp với các nghiên cứu về UTTG và ung thư nói chung, phản ánh tỷ lệ kết hôn cao ở Việt Nam Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, tuổi kết hôn trung bình của người Việt là 25,2 tuổi, với tỷ lệ ly hôn thấp chỉ 1,8% và tỷ lệ kết hôn ở nữ đạt 81,5% Ngoài ra, đa số bệnh nhân là nữ giới (83%) và có tuổi trên 25, chiếm 98,19%, cho thấy sự phụ thuộc vào yếu tố giới tính và độ tuổi trong nhóm bệnh nhân này.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân sống tại thành phố chiếm 28,0%, trong khi tỷ lệ tại nông thôn là 72,0%, phù hợp với kết quả của Jie Li (2019) tại Trung Quốc với 69,6% bệnh nhân ở nông thôn [34] Tỷ lệ bệnh nhân ở các địa phương khác cũng vượt 90%, cho thấy rõ xu hướng nâng cao chất lượng cuộc sống và ý thức chăm sóc sức khỏe của người dân Việt Nam Người dân ngày càng quan tâm đến sức khỏe và lựa chọn dịch vụ y tế tốt nhất, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Thời gian phát hiện bệnh

Theo kết quả nghiên cứu trong bảng 3.3, có đến 82,0% số bệnh nhân được phát hiện UTTG qua thăm khám và chẩn đoán của bác sĩ trong vòng 12 tháng, trong đó 76,5% được phát hiện trước 6 tháng Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, như của tác giả Trần Văn Thông (2014) với tỷ lệ 85,71%, cho thấy khả năng phát hiện sớm UTTG qua thăm khám lâm sàng và chẩn đoán y học.

Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm lâm sàng của bác sĩ, việc phát hiện sớm ung thư tuyến giáp giúp người bệnh tiếp cận các phương pháp điều trị hiệu quả hơn, nâng cao khả năng thành công trong quá trình điều trị Việc chẩn đoán sớm còn giúp theo dõi sau điều trị một cách chính xác, giảm thiểu biến chứng và tăng cơ hội hồi phục cho bệnh nhân UTTG.

Với sự phát triển của xã hội, người dân ngày càng hiểu biết hơn, dẫn đến đa số bệnh nhân UTTG được chẩn đoán tình cờ qua khám sức khỏe định kỳ, và xu hướng này đang gia tăng theo thời gian [7, 24] Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu thuộc nhóm tuổi dưới 55, chiếm 78,7%, do đó ít mắc các bệnh mạn tính hơn, ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh và các yếu tố liên quan.

55 nhân mắc bệnh kèm theo trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ chiếm 17,8% còn lại là các bệnh nhân không có bệnh kèm theo (82,2%)

Hiện nay, phân loại mô bệnh học theo AJCC (2017) gồm 4 loại chính: UTTG thể nhú, UTTG thể nang, UTTG thể tủy và UTTG thể không biệt hóa, được sử dụng phổ biến trong lâm sàng và nghiên cứu Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ UTTG thể nhú chiếm 97,5%, thể nang 2,5%, không ghi nhận trường hợp nào thuộc thể tủy hoặc thể không biệt hóa Các kết quả này tương tự với các nghiên cứu trước đó, như của Nguyễn Hồng Minh (2017) tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An với tỷ lệ thể nhú 97,5% và thể nang 2,5%, hay của Nguyễn Thị Thanh Yên (2017) với tỷ lệ thể nhú 96,6%, thể nang 2,8%, thể tủy 0,6%, thể hiện sự thống nhất trong phân loại mô bệnh học của UTTG theo các nghiên cứu khác nhau.

Theo nghiên cứu của Bùi Diệu (2012), UTTG tại Bệnh viện K có tỷ lệ thể nhú chiếm đến 85%, là dạng phổ biến nhất Các thể khác như thể nang chiếm 5,2%, thể tủy chiếm 3,5%, thể không biệt hóa là 4%, và các thể khác chiếm 2,3% Nghiên cứu này nêu bật đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của UTTG qua phân tích trên 1125 trường hợp khám và điều trị, giúp nâng cao nhận thức về các dạng và tần suất của bệnh.

Nghiên cứu của Susanne và cộng sự tại Đức năm 2012 cho thấy tỷ lệ các thể UTTG phổ biến là thể nhú chiếm 71%, thể nang 20%, thể tủy 5%, thể không biệt hóa 2% và các thể khác 2% Với mẫu lớn gồm 1125 và 1743 đối tượng, nghiên cứu này ghi nhận sự phân bố rõ ràng của các thể UTTG, tỷ lệ này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của chúng tôi.

Trong nghiên cứu này hầu hết các bệnh nhân được phát hiện bệnh sớm với giai đoạn I và II chiếm tỷ lệ cao là 97,0% (giai đoạn I: 71,5%; giai đoạn II: 25,5%)

Tỷ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu trước đây của Chử Quốc Hoàn (2013) với tỷ lệ giai đoạn I là 65,8% và giai đoạn II là 4,6%, cũng như của Lê Văn Long (2017) với tỷ lệ giai đoạn I là 75,91% và giai đoạn II là 2,27% Sự khác biệt này phần nào được giải thích bởi việc nghiên cứu của chúng tôi sử dụng phân loại giai đoạn UTTG mới nhất, giúp cung cấp cái nhìn chính xác hơn về tỷ lệ và phân bổ các giai đoạn của bệnh.

AJCC 8 th cho nên ngưỡng tuổi để đánh giá xếp loại giai đoạn bệnh tăng từ 45 lên

Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật UTTG

4.2.1 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật UTTG theo thang đo EORTC-C30

Dựa vào biểu đồ 3.3 thấy rằng điểm tổng thể CLCS trung bình theo thang

57 đo EORTC-C30 của các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là: 74,7 ± 14,05 Kết quả của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu gần đây của Wing Lok Chan

Nghiên cứu của chúng tôi thu tuyển bệnh nhân sau phẫu thuật từ 4-6 tuần, khiến điểm trung bình CLCS thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó, như của Đậu Thị Hồng Nhung năm 2021 (84,4 ± 12,7 điểm) và năm 2022 (92,2 ± 5,7 điểm), do các biến chứng tạm thời sau phẫu thuật đã phần lớn hồi phục khi thời gian sau phẫu thuật vượt quá 6 tháng Tất cả các chỉ số chức năng của chúng tôi đều dưới ngưỡng 80/100, cho thấy ảnh hưởng của phẫu thuật UTTG đến CLCS của bệnh nhân Trong số các triệu chứng, 6/8 chỉ số vượt ngưỡng 20/100, trong đó "mệt mỏi" có điểm cao nhất và ảnh hưởng lớn nhất đến CLCS, còn các triệu chứng buồn nôn/nôn và tiêu chảy có giá trị dưới ngưỡng, không ảnh hưởng đáng kể đến CLCS của bệnh nhân Bảng so sánh chi tiết các chỉ số CLCS với các nghiên cứu quốc tế sẽ giúp hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của phẫu thuật UTTG đến chất lượng sống của bệnh nhân.

Bảng 4 26: So sánh các chỉ số CLCS theo thang đo EORTC-30 với các nghiên cứu về CLCS của bệnh nhân UTTG trên thế giới

Chỉ số Nghiên cứu của chúng tôi

Chỉ số Nghiên cứu của chúng tôi

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điểm CLCS của từng chỉ số gần như tương đồng với nghiên cứu của Susanne Singer (2012), khi tất cả đều có điểm dưới ngưỡng 80/100, phản ánh mức độ chức năng hạn chế ở bệnh nhân Các chỉ số triệu chứng chính ảnh hưởng lớn nhất đến CLCS gồm mệt mỏi, mất ngủ, khó thở và đau, trong khi hai triệu chứng không ảnh hưởng đến CLCS là nôn-buồn nôn và tiêu chảy, chủ yếu do cả hai nghiên cứu tuyển chọn bệnh nhân trong giai đoạn sớm (giai đoạn I chiếm 84,8%) Sự khác biệt về thời điểm thu tuyển, khi Susanne Singer khảo sát sau 6 tháng phẫu thuật, có thể giải thích vì các biến chứng hậu phẫu tạm thời đã hồi phục, khiến bệnh nhân ít phàn nàn về triệu chứng hơn Ngoài ra, nền tảng văn hóa và dân tộc khác nhau cũng ảnh hưởng đến nhận thức về bệnh tật và tác động đến CLCS, gây ra sự khác biệt giữa các quốc gia trên thế giới.

Nhìn chung, qua 2 nghiên cứu của tác giả Wing Lok Chan (2021) và Susanne Singer (2012) những chỉ số chức năng và triệu chứng có ảnh hưởng đến

Chất lượng cuộc sống được đánh giá qua các yếu tố chính như tâm lý cảm xúc, khả năng nhận thức (chỉ số chức năng), cũng như các triệu chứng như mệt mỏi và mất ngủ (chỉ số triệu chứng) [19, 23], phản ánh tổng thể trạng thái sức khỏe và tinh thần của mỗi người.

4.2.2 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật UTTG theo thang đo THYCA-QoL

Theo kết quả nghiên cứu và biểu đồ 3.6, điểm trung bình của THYCA-QoL là 46,46 ± 10,59 điểm, phản ánh các vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau điều trị Trong đó, vấn đề về giọng nói là mối quan tâm hàng đầu khi xét theo thang đo đa mục, với điểm số cao nhất là 49,38 ± 15,69 điểm, cho thấy bệnh nhân thường phàn nàn về vấn đề này nhất Ngược lại, các vấn đề liên quan đến giao cảm và cảm giác ít gây phiền hà hơn đối với CLCS của bệnh nhân Trong thang đo đơn mục, vấn đề về sẹo mổ ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng cuộc sống, với điểm số 55,63 ± 23,97 điểm, còn các triệu chứng như ngứa ngáy chân tay ít ảnh hưởng hơn, thể hiện qua điểm số thấp là 38,63 ± 15,41 điểm.

Nghiên cứu của Yu Lan và cộng sự (2021) chỉ ra rằng vấn đề về sẹo sau phẫu thuật cắt bỏ thùy giáp ít ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống so với cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp Tuy nhiên, nghiên cứu của Rogers và cộng sự (2017) cho thấy rằng người bệnh chủ yếu quan tâm đến vấn đề tăng cân, với điểm trung bình 1,90/4 (tương đương 47,5/100), và nhiều bệnh nhân cho rằng vết sẹo mổ ảnh hưởng đến hình ảnh cá nhân của họ Vấn đề về sẹo thực sự ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật tuyến giáp, chủ yếu do lo sợ về tác động tiêu cực của sẹo đến ngoại hình Ngoài ra, Sasha và cộng sự đã phát hiện có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức về ngoại hình cổ và các chỉ số sức khỏe tinh thần như lo lắng, trầm cảm, chức năng xã hội, và mệt mỏi ở bệnh nhân.

Bảng 4 27: So sánh các chỉ số CLCS theo thang đo THYCA-QoL với các nghiên cứu về CLCS của bệnh nhân UTTG trên thế giới (thang đo 100)

Vấn đề ảnh hưởng đến CLCS

Vấn đề về tình dục 43,88 - - 42,75

Theo số liệu từ bảng 4.2, điểm trung bình các chỉ số đơn mục theo nghiên cứu của Melanie Goldfarb (2016) thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của chúng tôi, do tác giả thu thập dữ liệu sau phẫu thuật hơn 1 năm (76,56% đối tượng), khiến các triệu chứng có xu hướng giảm đáng kể sau thời gian dài phục hồi Tuy nhiên, nghiên cứu của Goldfarb cũng chỉ ra rằng các yếu tố về sẹo ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, đặc biệt là những người trẻ tuổi, qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm sóc sẹo để nâng cao chất lượng cuộc sống [27].

Cơ thể thường xuyên cảm giác ớn lạnh chủ yếu xuất phát từ việc tuyến giáp đã được phẫu thuật, có thể là phần hoặc toàn bộ tuyến Phẫu thuật tuyến giáp làm giảm lượng hormone tiết ra, gây rối loạn quá trình trao đổi chất và ngăn cơ thể sản xuất nhiệt Điều này dẫn đến hiện tượng ớn lạnh, giải thích tại sao dù đã điều trị lâu dài, chỉ số hormone vẫn ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật u tuyến giáp.

Sau một thời gian, các vấn đề liên quan đến giọng nói và cổ miệng sẽ được cải thiện rõ rệt, giúp nâng cao chất lượng giọng nói Điều này giải thích lý do điểm trung bình về giọng nói trong nghiên cứu của chúng tôi (39,38 ± 15,68 điểm) thấp hơn nhiều so với kết quả của nghiên cứu của Melanie Goldfarb (2016).

4.3 Một số yếu tố liên quan đến CLCS của bệnh nhân sau phẫu thuật UTTG

Gần đây, nghiên cứu của Le Mengmeng (2020) chỉ ra rằng chẩn đoán quá mức đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của ung thư tuyến giáp thể nhú (UTTG) toàn cầu, tạo ra thách thức lớn về sức khỏe cộng đồng Sự tiến bộ trong công nghệ chẩn đoán hình ảnh và việc tăng cường giám sát y tế đã góp phần làm tăng khả năng phát hiện vi ung thư biểu mô tuyến giáp, nhưng vẫn khẳng định lợi ích của việc phát hiện sớm và điều trị UTTG, với hơn một nửa số bệnh nhân phát hiện di căn hạch sau phẫu thuật theo nghiên cứu của Mai Thế Vương (2019) Mặc dù ung thư biểu mô tuyến giáp có tiên lượng tích cực, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (CLCS) vẫn bị giảm so với dân số chung hoặc các loại ung thư khác, vì vậy, nghiên cứu đã sử dụng phân tích t-test hoặc Mann-Whitney để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân UTTG dựa trên đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm bệnh.

Trong phân tích dữ liệu, chúng tôi sử dụng kiểm định ANOVA hoặc Kruskal-Wallis để đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm, phù hợp với phân bố dữ liệu chuẩn hoặc không chuẩn Ngoài ra, chúng tôi còn tính toán hệ số tương quan giữa điểm trung bình của CLCS và các yếu tố ảnh hưởng như điểm DASS-10, HADS, và phân tích các đặc điểm nhân khẩu học của nhóm nghiên cứu nhằm làm rõ mối liên hệ giữa các yếu tố này với kết quả nghiên cứu.

Qua phân tích, chúng tôi nhận thấy bệnh nhân lao động tự do có điểm chỉ số triệu chứng cao hơn so với những người có việc làm ổn định, phù hợp với nghiên cứu của Melanie (2016) cho rằng người thất nghiệp thường phản ánh nhiều vấn đề về giọng nói và mệt mỏi Các nghiên cứu của Ting Wang và Wing Lok Chan cũng khẳng định rằng thất nghiệp ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTTG Tuy nhiên, chúng tôi chưa tìm thấy mối liên hệ rõ ràng giữa chỉ số chức năng và chỉ số triệu chứng với nghề nghiệp của bệnh nhân (p> 0,05), có thể do cỡ mẫu của nghiên cứu còn hạn chế, trong khi các nghiên cứu trước đó đều có cỡ mẫu lớn hơn 600 bệnh nhân.

Nghiên cứu của Jie Li (2019) tại Trung Quốc cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về điểm CLCS giữa các bệnh nhân UTTG sống ở khu vực nông thôn và thành phố, phù hợp với kết quả của nghiên cứu chúng tôi Tuy nhiên, điểm số chức năng của bệnh nhân sống tại thành phố cao hơn so với nông thôn, chủ yếu do điều kiện cơ sở vật chất và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế tốt hơn ở thành phố Nhờ đó, bệnh nhân ở thành phố dễ dàng nhận được chăm sóc y tế hơn và có khả năng phục hồi nhanh hơn.

Nam giới mắc UTTG thường có triệu chứng nặng hơn và tiến triển nhanh hơn so với nữ giới, do đó cần chú ý đến các yếu tố liên quan đến giới tính trong chẩn đoán và điều trị Nhiều nghiên cứu cho thấy testosterone có ảnh hưởng đáng kể đến sự tiến triển của UTTG ở nam giới, góp phần làm tăng tốc độ phát triển bệnh Điều đáng chú ý là trong nghiên cứu, giới tính không chỉ ảnh hưởng đến biểu hiện lâm sàng mà còn liên quan đến cơ chế sinh học của bệnh, làm nổi bật tầm quan trọng của việc xem xét yếu tố giới trong các chiến lược điều trị và phòng ngừa UTTG.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bệnh nhân nam có điểm trung bình chỉ số chức năng cao hơn so với nữ giới và điểm triệu chứng thấp hơn, phù hợp với kết quả của Ting Wang và cộng sự (2018) Điều này có thể do cách nhìn nhận về bệnh tật khác nhau giữa hai giới, khi phụ nữ thường lo lắng hơn về bệnh tật và quan tâm đến ngoại hình hơn Ngoài ra, xuất hiện sẹo vùng cổ sau phẫu thuật cũng được xem là yếu tố làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTTG, như báo cáo của Goswami Bên cạnh đó, nam giới thường hoạt động thể chất nhiều hơn về cường độ và thời gian, đặc biệt là trong độ tuổi trẻ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Tập thể dục đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tác dụng phụ của điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân UTTG, như đã đề cập trong nghiên cứu của Ting Wang (2018) Chính các yếu tố này giải thích tại sao điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nam cao hơn so với nữ trong nghiên cứu của chúng tôi.

Các nghiên cứu trên thế giới cho kết quả trái ngược nhau về ảnh hưởng của tuổi đối với CLCS Nghiên cứu tại Hoa Kỳ của Goswami cho thấy nhóm tuổi trẻ bị ảnh hưởng nhiều hơn, trong khi nghiên cứu của Yu Lan Trung Quốc lại cho rằng CLCS giảm theo tuổi do người cao tuổi gặp nhiều khó khăn hơn trong quá trình phục hồi sau điều trị Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, không có sự khác biệt có ý nghĩa về chỉ số chức năng và triệu chứng giữa các nhóm tuổi, có thể do đặc điểm riêng của bệnh nhân UTTG tại cơ sở nghiên cứu của chúng tôi so với các bệnh nhân trên thế giới.

Ngày đăng: 16/08/2023, 18:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Diệu (2012), "Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của ung thư tuyến giáp qua nghiên cứu 1125 trường hợp khám và điều trị tại bệnh viện K", Tạp chí Y học Việt Nam. 393, tr. 79-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của ung thư tuyến giáp qua nghiên cứu 1125 trường hợp khám và điều trị tại bệnh viện K
Tác giả: Bùi Diệu
Năm: 2012
2. Nguyễn Thùy Dương (2019), Thông cáo báo chí Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, General Statistics Office of Vietnam, truy cập ngày, tại trang web https://www.gso.gov.vn/su-kien/2019/12/thong-cao-bao-chi-ket-qua-tong-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-nam-2019/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông cáo báo chí Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019
Tác giả: Nguyễn Thùy Dương
Nhà XB: General Statistics Office of Vietnam
Năm: 2019
3. Nguyễn Xuân Hậu (2017), "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng di căn hạch của ung thư tuyến giáp tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội", Tạp chí Y học Việt Nam. 451, tr. 138-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng di căn hạch của ung thư tuyến giáp tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Xuân Hậu
Năm: 2017
4. Trần Hữu Hiệu (2019), Đánh giá sớm phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại trung tâm ung bướu Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sớm phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại trung tâm ung bướu Thái Nguyên
Tác giả: Trần Hữu Hiệu
Năm: 2019
5. Chử Quốc Hoàn (2013), Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, tỉ lệ các nhóm mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư tuyến giáp tại bệnh viện K, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, tỉ lệ các nhóm mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư tuyến giáp tại bệnh viện K
Tác giả: Chử Quốc Hoàn
Năm: 2013
6. Nguyễn Văn Hùng (2013), Đánh giá kết quả điều trị ung thư tuyến giáp tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương và bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2007 - 2013, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả điều trị ung thư tuyến giáp tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương và bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2007 - 2013
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Năm: 2013
7. Lê Văn Long (2017), Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại bệnh viện K năm 2017, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại bệnh viện K năm 2017
Tác giả: Lê Văn Long
Năm: 2017
8. Dương Ngọc Lê Mai, Lê Đại Minh và Nguyễn Tiến Đạt (2020), "Trầm cảm, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2019", Tạp chí Nghiên cứu Y học. 125(1), tr. 136-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm cảm, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2019
Tác giả: Dương Ngọc Lê Mai, Lê Đại Minh và Nguyễn Tiến Đạt
Năm: 2020
9. Nguyễn Hồng Minh (2017), Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại bệnh viện ung bướu Nghệ An, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại bệnh viện ung bướu Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Hồng Minh
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2017
10. Đặng Thị Bích Ngọc (2017), Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tại khoa ung bướu - chăm sóc giảm nhẹ, bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016 - 2017, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tại khoa ung bướu - chăm sóc giảm nhẹ, bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016 - 2017
Tác giả: Đặng Thị Bích Ngọc
Năm: 2017
11. Đậu Thị Hồng Nhung và Hồ Thị Kim Thanh (2022), "Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú và thế nang sau phẫu thuật cắt tuyến giáp", Tạp chí Nghiên cứu Y học. 151(3), tr. 63-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú và thế nang sau phẫu thuật cắt tuyến giáp
Tác giả: Đậu Thị Hồng Nhung và Hồ Thị Kim Thanh
Năm: 2022
12. Lê Ngọc Phúc và Nguyễn Xuân Hậu (2022), "Kết quả điều trị Ung thư tuyến giáp thể nhú tại Viện Y học Phóng xạ và U bướu Quân đội", Tạp chí Y học Việt Nam. 521, 12(1), tr. 17-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều trị Ung thư tuyến giáp thể nhú tại Viện Y học Phóng xạ và U bướu Quân đội
Tác giả: Lê Ngọc Phúc và Nguyễn Xuân Hậu
Năm: 2022
13. Trần Thị Kim Phượng (2018), "Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng giai đoạn II điều trị hóa xạ đồng thời tại bệnh viện K", Tạp chí Y học Việt Nam. 466, tr. 74-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng giai đoạn II điều trị hóa xạ đồng thời tại bệnh viện K
Tác giả: Trần Thị Kim Phượng
Năm: 2018
14. Bộ Y tế (2015), Ung Thư Tuyến Giáp. Chẩn đoán và điều trị bệnh Nội tiết chuyển hóa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ung Thư Tuyến Giáp. Chẩn đoán và điều trị bệnh Nội tiết chuyển hóa
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2015
15. Trần Văn Thông (2014), Đánh giá sớm kết quả phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại bệnh viện đại học Y Hà Nội, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sớm kết quả phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại bệnh viện đại học Y Hà Nội
Tác giả: Trần Văn Thông
Năm: 2014
16. Mai Thế Vương (2019), Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật của bệnh nhân vi ung thư tuyến giáp thể nhú tại bệnh viện K, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật của bệnh nhân vi ung thư tuyến giáp thể nhú tại bệnh viện K
Tác giả: Mai Thế Vương
Năm: 2019
17. Nguyễn Hải Yến (2017), Trầm cảm và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện ung bướu Hà Nội năm 2019, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm cảm và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện ung bướu Hà Nội năm 2019
Tác giả: Nguyễn Hải Yến
Năm: 2017
18. Nguyễn Thị Thanh Yên (2017), Đối chiếu kết quả siêu âm, tế bào học với mô bệnh học ung thư biểu mô tuyến giáp tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.……………………………………………….Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu kết quả siêu âm, tế bào học với mô bệnh học ung thư biểu mô tuyến giáp tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Yên
Năm: 2017
19. Wing-Lok Chan et. al. (2021), "Health-related quality of life in Asian differentiated thyroid cancer survivors", J Cancer Control. 28, pp. 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health-related quality of life in Asian differentiated thyroid cancer survivors
Tác giả: Wing-Lok Chan et. al
Năm: 2021
20. Yu Lan et. al. (2021), "The quality of life in papillary thyroid microcarcinoma patients undergoing lobectomy or total thyroidectomy: A cross‐ sectional study", J Cancer Medicine. 10(6), pp. 1989-2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The quality of life in papillary thyroid microcarcinoma patients undergoing lobectomy or total thyroidectomy: A cross‐ sectional study
Tác giả: Yu Lan et. al
Năm: 2021

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 1: Giải phẫu tuyến giáp - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Hình 1. 1: Giải phẫu tuyến giáp (Trang 13)
Hình 1. 2: Phân loại nhân tuyến giáp theo AI TI-RADS 2019 - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Hình 1. 2: Phân loại nhân tuyến giáp theo AI TI-RADS 2019 (Trang 17)
Bảng 1. 1: Phân giai đoạn UTTG thể biệt hóa - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 1. 1: Phân giai đoạn UTTG thể biệt hóa (Trang 20)
Bảng 1. 2: Phân loại đáp ứng sau điều trị UTTG và mục tiêu TSH - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 1. 2: Phân loại đáp ứng sau điều trị UTTG và mục tiêu TSH (Trang 24)
Bảng 1. 3: Một số nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến CLCS - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 1. 3: Một số nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến CLCS (Trang 29)
Bảng 3. 8: Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp và trình độ học vấn và thu - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 3. 8: Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp và trình độ học vấn và thu (Trang 43)
Bảng 3. 10: Phân bố bệnh nhân theo thời gian phát hiện bệnh - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 3. 10: Phân bố bệnh nhân theo thời gian phát hiện bệnh (Trang 45)
Bảng 3. 14: Phân bố bệnh nhân theo một số đặc điểm liên quan - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 3. 14: Phân bố bệnh nhân theo một số đặc điểm liên quan (Trang 47)
Bảng 3. 15: Điểm trung bình trầm cảm/lo âu nội viện của bệnh nhân theo - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 3. 15: Điểm trung bình trầm cảm/lo âu nội viện của bệnh nhân theo (Trang 48)
Bảng 3. 19: Tần suất xuất hiện triệu chứng - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 3. 19: Tần suất xuất hiện triệu chứng (Trang 53)
Bảng 3. 21: Mối liên quan giữa các đặc điểm bệnh với các chỉ số CLCS theo thang - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 3. 21: Mối liên quan giữa các đặc điểm bệnh với các chỉ số CLCS theo thang (Trang 58)
Bảng 3. 23: Mối liên quan giữa các đặc điểm bệnh với các chỉ số CLCS theo thang - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 3. 23: Mối liên quan giữa các đặc điểm bệnh với các chỉ số CLCS theo thang (Trang 59)
Bảng 3. 22: Mối liên quan giữa điểm trung bình CLCS theo thang đo EORTC-30 - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 3. 22: Mối liên quan giữa điểm trung bình CLCS theo thang đo EORTC-30 (Trang 59)
Bảng 3. 24: Mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học với các chỉ số CLCS - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 3. 24: Mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học với các chỉ số CLCS (Trang 60)
Bảng 3. 25: Mối liên quan giữa điểm trung bình CLCS theo thang đo EORTC-30 - Nguyễn văn oanh đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại viện y học phóng xạ và u bướu quân đội năm 2022 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i
Bảng 3. 25: Mối liên quan giữa điểm trung bình CLCS theo thang đo EORTC-30 (Trang 61)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w