TỔNG QUAN
Tổng quan về danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế
1.1.1 Khái niệm danh mục thuốc
Danh mục thuốc (DMT) là một danh sách các loại thuốc quan trọng được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, giúp các bác sĩ dễ dàng kê đơn và quản lý thuốc cho bệnh nhân Việc có sẵn danh mục thuốc đầy đủ và cập nhật là yếu tố cần thiết để đảm bảo an toàn, hiệu quả trong điều trị DMT giúp hệ thống y tế nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời hỗ trợ các bác sĩ lựa chọn thuốc phù hợp dựa trên những tiêu chí về hiệu quả, an toàn và sức khỏe cộng đồng.
1.1.2 Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc
- Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng để điều trị;
- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; phạm vi chuyên môn của bệnh viện;
- Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu của
- Danh mục thuốc phải được rà soát, bổ sung, hiệu chỉnh hàng năm cho phù hợp với tình hình thực tế điều trị
1.1.3 Các bước xây dựng danh mục thuốc
- Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng;
- Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan;
- Xây dựng DMT và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị; nội dung hướng dẫn sử dụng danh;
- Định kỳ hằng năm đánh giá, sửa đổi, bổ sung
1.1.4 Một số văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
- Luật Dược số 105/2016/QH13 ngày 06 thág 04 năm 2016
- Thông tư số 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh
- Thông tư số 22/2012/TT-BYT ngày 10/6/2012 của Bộ Y tế quy định tổ
4 chức và hoạt động của khoa dược bệnh viện
- Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện
Tháng 3 năm 2015, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 05/2015/TT-BYT, xác định danh mục thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền và vị thuốc y học cổ truyền được thanh toán bởi quỹ bảo hiểm y tế Văn bản này quy định rõ các loại thuốc y học cổ truyền phù hợp để hỗ trợ chi trả, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc và quản lý dịch vụ y tế Thông tư nhằm thúc đẩy việc ứng dụng thuốc dược liệu trong điều trị, đồng thời đảm bảo quyền lợi người bệnh khi sử dụng các loại thuốc này qua hệ thống bảo hiểm y tế.
- Thông tư số 19/2018/TT-BYT ngày 30/8/2018 của Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc thiết yếu
Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 của Bộ Y tế quy định danh mục và tỷ lệ thanh toán cùng các điều kiện để người tham gia bảo hiểm y tế được hưởng quyền lợi liên quan đến thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu Văn bản này xác định rõ các loại thuốc và dịch vụ y tế thuộc phạm vi thanh toán của bảo hiểm y tế, góp phần minh bạch hóa quy trình và nâng cao quyền lợi cho người bệnh Thông tư cũng hướng dẫn các bước để xác định tỷ lệ thanh toán phù hợp, đảm bảo tính công bằng và hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao.
- Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 của Bộ Y tế quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở công lập
Thông tư 01/2020/TT-BYT ngày 16/1/2020 của Bộ Y tế đã sửa đổi, bổ sung Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 Thông tư này quy định danh mục, tỷ lệ thanh toán và điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu nằm trong phạm vi hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế.
- Quyết định 5631/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 của Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu “Hướng dẫn và thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện
Thông tư số 20/2022/TT-BYT ngày 31/12/2022 của Bộ Y tế quy định về danh mục và tỷ lệ thanh toán chi phí thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu trong phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế Các điều kiện thanh toán rõ ràng giúp đảm bảo quyền lợi cho bệnh nhân, đồng thời tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác quản lý y tế Thông tư này góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe và kiểm soát chi phí y tế hợp lý.
Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc
Phân tích DMT nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về tình hình sử dụng thuốc hàng năm tại cơ sở, giúp đánh giá xu hướng tiêu thụ và tác động của thuốc trong cộng đồng Việc này đóng vai trò quan trọng làm căn cứ để xây dựng chiến lược quản lý và phát triển DMT trong các năm tiếp theo, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả Thông qua phân tích dữ liệu chính xác, cơ sở có thể xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc, từ đó tối ưu hóa các chương trình can thiệp và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
5 cho hợp lý hơn đồng thời có biện pháp cải tiến nâng cao chất lượng sử dụng thuốc
Có nhiều phương pháp phân tích danh mục thuốc tại các cơ sở y tế, bao gồm phân tích nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN và phân tích liều xác định hàng ngày (DDD) Những công cụ này giúp hệ thống quản lý thuốc hiệu quả hơn và phát hiện sớm các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc Việc áp dụng các phương pháp này là cần thiết để nâng cao chất lượng quản lý dược và đảm bảo an toàn cho người bệnh.
1.2.1 Phương pháp phân tích nhóm điều trị a) Khái niệm:
- Là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [7]
Phương pháp này dựa trên dữ liệu thống kê chi phí sử dụng thuốc, phân tích phần trăm chi phí của từng loại thuốc trong tổng chi phí dùng thuốc toàn viện Sau đó, các thuốc được phân loại theo nhóm điều trị dựa trên tỷ lệ chi phí để đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc và tối ưu hóa ngân sách điều trị trong bệnh viện.
Phân loại nhóm điều trị được xác định dựa trên các quy định của Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 và Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế Ngoài ra, việc phân loại còn dựa vào danh mục thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế Thế giới hoặc các tài liệu tham khảo khác Điều này nhằm đảm bảo tính chính xác và phù hợp trong quá trình quản lý và cung cấp dịch vụ y tế.
- Tổng hợp chi phí, phần trăm chi phí của từng nhóm thuốc
- Phân tích đánh giá tính hợp lý, mối tương quan giữa các nhóm thuốc với mô hình bệnh tật của Trung tâm Y tế
Trong phạm vi luận văn này, thuốc được phân loại dựa trên nhóm tác dụng dược lý theo Thông tư 30/2018/TT-BYT ban hành ngày 30/10/2018, giúp xác định các thuốc được hưởng bảo hiểm y tế như thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu Đồng thời, các thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền và vị thuốc y học cổ truyền cũng được liệt kê theo Thông tư 05/2015/TT-BYT ngày 17/03/2015, quy định phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế Phân tích nhóm điều trị đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả điều trị, tối ưu hóa sử dụng thuốc và nâng cao chất lượng chăm sóc y tế cho bệnh nhân.
Chúng tôi giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ và chi phí cao nhất, hỗ trợ tối ưu hóa nguồn lực y tế Dựa trên dữ liệu về mô hình bệnh tật (MHBT), chúng tôi phân tích và phát hiện các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc không hợp lý, bao gồm tình trạng lạm dụng thuốc và mức tiêu thụ không đại diện, nhằm nâng cao hiệu quả và an toàn trong quản lý thuốc.
Phương pháp phân tích nhóm điều trị giúp HĐT&ĐT xác định các nhóm thuốc có mức tiêu thụ và chi phí cao nhất, từ đó hỗ trợ lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và liệu pháp thay thế [7] Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện các vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, như thuốc bị lạm dụng hoặc những thuốc không phản ánh đúng mức tiêu thụ trong các ca bệnh Nhờ đó, hạn chế lãng phí nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc trong điều trị.
1.2.2 Phương pháp phân tích ABC a) Khái niệm phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp quan trọng trong quản lý dược phẩm, giúp xác định mối tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí để phân loại các loại thuốc theo mức độ chiếm dụng ngân sách Mục đích của phân tích ABC nhằm tối ưu hóa quản lý nguồn lực y tế, giúp đưa ra các quyết định chính xác về phân bổ ngân sách cho các loại thuốc, từ đó kiểm soát chi phí hiệu quả và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
Phân tích ABC tạo ra cơ sở đưa ra những quyết định quan trọng trong tồn trữ, mua sắm, lựa chọn nhà cung cấp
Các thuốc thay thế phổ biến được sử dụng với số lượng lớn, đặc biệt là những thuốc có chi phí thấp hoặc dễ dàng có sẵn trên thị trường, giúp người dùng lựa chọn các phương án điều trị tiết kiệm chi phí hơn Việc sử dụng những thuốc này không chỉ giảm gánh nặng tài chính mà còn mở ra cơ hội tiếp cận điều trị cho nhiều bệnh nhân hơn Lựa chọn các thuốc thay thế có chi phí thấp hơn là một chiến lược hiệu quả để tối ưu hóa nguồn lực y tế và giảm áp lực cho hệ thống chăm sóc sức khỏe.
+ Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế
Đánh giá mức độ tiêu thụ thuốc phản ánh rõ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng, giúp phát hiện những bất cập và chưa hợp lý trong sử dụng thuốc Phương pháp này so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật theo hệ thống ICD, từ đó xác định các điểm cần cải thiện trong việc sử dụng thuốc để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
- Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của Trung tâm
Tóm lại, phân tích ABC có ưu điểm chính giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào
Tuy nhiên, nhược điểm của phân tích ABC: Không cung cấp được đầy đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau
1.2.3 Phương pháp phân tích VEN a) Khái niệm: Là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong Bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn [7]
Trong phân tích VEN, thuốc được phân chia thành ba nhóm chính, trong đó nhóm V (Vital drugs) bao gồm các loại thuốc sống còn, cực kỳ cần thiết trong các tình huống cấp cứu và bệnh viện Đây là những thuốc quan trọng nhất, không thể thiếu để đảm bảo chức năng khám chữa bệnh hiệu quả, góp phần duy trì tính mạng và sức khỏe của bệnh nhân.
Thuốc E (thuốc thiết yếu) là những loại thuốc dùng để điều trị các bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của bệnh viện Chúng đóng góp vào việc duy trì hiệu quả điều trị cho các bệnh lý cơ bản và đảm bảo sự sẵn có của các phương pháp điều trị cần thiết trong mô hình bệnh tật của bệnh viện Việc cung cấp thuốc E đảm bảo đáp ứng nhanh chóng và phù hợp với nhu cầu điều trị hàng ngày của bệnh nhân.
Thuốc N, hay còn gọi là thuốc không thiết yếu, là loại thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ hoặc có thể tự khỏi mà hiệu quả điều trị chưa rõ ràng hoặc giá thành cao không phù hợp với lợi ích lâm sàng Phân tích VEN đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ ưu tiên của các loại thuốc này, giúp tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực y tế và nâng cao hiệu quả điều trị Việc đánh giá VEN hỗ trợ các nhà lập chính sách y tế trong việc phân bổ ngân sách hợp lý, đảm bảo việc sử dụng thuốc phù hợp, an toàn và tiết kiệm.
Phân tích VEN là phương pháp quan trọng giúp xác định các loại thuốc cần ưu tiên trong việc mua sắm và sử dụng Phương pháp này hỗ trợ quản lý hàng tồn kho hiệu quả, đảm bảo tính liên tục của dịch vụ y tế Ngoài ra, VEN giúp xác định các thuốc có giá cả phù hợp, tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả điều trị Áp dụng phân tích VEN sẽ giúp các cơ sở y tế đưa ra quyết định chính xác về lựa chọn thuốc dựa trên mức độ thiết yếu và giá trị sử dụng.
- Việc lựa chọn thuốc: Các thuốc V và E nên được đưa ra ưu tiên lựa chọn Đặc biệt khi ngân sách hạn hẹp
Thực trạng sử dụng thuốc ở các Trung tâm Y tế tuyến quận, huyện tại Việt Nam
1.3.1 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
Thuốc được phân thành hai nhóm chính dựa trên nguồn gốc: nhóm thuốc hóa dược và nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu Phân tích cơ cấu sử dụng thuốc theo nguồn gốc tại một số Trung tâm Y tế- Truyền thông (TTYT) cho thấy sự đa dạng trong việc lựa chọn thuốc, phản ánh xu hướng kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại để nâng cao hiệu quả điều trị Kết quả này được trình bày rõ ràng trong bảng số liệu kèm theo, giúp làm rõ tỷ lệ sử dụng của từng nhóm thuốc trong hệ thống y tế địa phương.
Bảng 1.2 Kết quả cơ cấu theo nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu của một số TTYT
TT TTYT/năm nghiên cứu
Thuốc hóa dược Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
1 TTYT huyện Đức Huệ tỉnh
2 TTYT huyện Kim Bảng tỉnh
TTYT huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2019
1.3.2 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
Bộ Y tế ban hành Thông tư 30/2018/TT-BYT về Danh mục, tỷ lệ và điều kiện thanh toán thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu, trong đó DMT được phân loại thành 27 nhóm TDDL phù hợp với từng bệnh viện và trung tâm y tế Theo khảo sát, nhóm điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ lớn nhất về số lượng và giá trị sử dụng tại các bệnh viện đa khoa, trong khi tại các bệnh viện chuyên khoa nội tiết và trung tâm y tế tuyến huyện, chi phí thuốc chủ yếu tập trung vào nhóm hormon và thuốc tác dụng trên hệ nội tiết, tiếp theo là nhóm thuốc tim mạch Các nghiên cứu cho thấy, cơ cấu sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý phản ánh rõ rệt trong các bảng phân tích, giúp hiểu rõ hơn về phân bổ thuốc phù hợp với từng loại hình bệnh viện.
Bảng 1.3 Tỷ lệ sử dụng nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn tại một số Trung tâm Y tế
STT TTYT/năm nghiên cứu SKM % SKM GTSD (đồng) % GTSD
TTYT huyện Đức Huệ tỉnh Long An năm 2019
TTYT huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam năm 2019
Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2019 [11]
Bảng 1.4 Tỷ lệ sử dụng nhóm thuốc đường tiêu hoá tại một số Trung tâm
STT TTYT/năm nghiên cứu SKM % SKM
1 TTYT huyện Đức Huệ tỉnh
2 TTYT huyện Kim Bảng tỉnh
TTYT huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2019
Bảng 1.5 Tỷ lệ sử dụng nhóm khoáng chất và vitamin tại một số Trung tâm
STT TTYT/năm nghiên cứu SKM %
1 TTYT huyện Đức Huệ tỉnh
2 TTYT huyện Kim Bảng tỉnh
3 TTYT huyện Yên Khánh tỉnh
1.3.3 Tình hình sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu
Hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, năm 2012 Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế đã có kế hoạch triển khai đề án;
Người Việt Nam ưu tiên sử dụng thuốc Việt Nam là chiến lược quan trọng thúc đẩy ngành Dược phát triển bền vững Chính sách này giúp bảo đảm nguồn cung thuốc phòng, chữa bệnh nội địa và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài Nhờ các hoạt động và giải pháp đồng bộ, tỷ lệ sử dụng thuốc nội địa và số lượng thuốc sản xuất trong nước tại các cơ sở y tế ngày càng tăng qua các năm, góp phần nâng cao vị thế ngành Dược Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu năm 2019 về cơ cấu sử dụng thuốc tại một số trung tâm y tế cho thấy thuốc sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ cao cả về số lượng cũng như giá trị sử dụng Cơ cấu này thể hiện rõ sự ưu tiên sử dụng thuốc nội địa trong các trung tâm y tế, góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước và giảm phụ thuộc vào thuốc nhập khẩu Bảng số liệu chi tiết về tỷ lệ sử dụng thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước tại các trung tâm y tế cung cấp cái nhìn toàn cảnh về xu hướng sử dụng thuốc trong hệ thống y tế địa phương, phù hợp với chiến lược phát triển thuốc trong nước.
Bảng 1.6 Cơ cấu sử dụng thuốc nhập khẩu, thuốc sản xuất trong nước
STT TTYT/ năm nghiên cứu Thuốc NK Thuốc SXTN
1 TTYT huyện Đức Huệ tỉnh
2 TTYT huyện Kim Bảng tỉnh Hà
3 TTYT huyện Yên Khánh tỉnh
1.3.4 Về thuốc đơn thành phần, đa thành phần
Thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế quy định ưu tiên sử dụng thuốc dạng đơn chất để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị Đối với thuốc phối hợp nhiều thành phần, phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể bệnh nhân và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với dạng đơn chất Nhiều nghiên cứu cho thấy, các thuốc đơn thành phần có tỷ lệ sử dụng cao với SKM trên 80% và tỷ lệ GTSD vượt trên 60%, góp phần nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.
Bảng 1.7 Kết quả nghiên cứu cơ cấu thuốc đơn thành phần/ đa thành phần tại một số TTYT
STT TTYT/ năm nghiên cứu Thuốc đơn TP Thuốc đa TP
1 TTYT huyện Đức Huệ tỉnh
TTYT huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam năm 2019
TTYT huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2019
1.3.5 Tình hình sử dụng thuốc Biệt dược gốc, thuốc generic
Theo thông báo của Bộ Y tế, các thuốc biệt dược thường chiếm tỷ lệ cao tại một số bệnh viện, trong khi đối với các cơ sở y tế hạng 3, tỷ lệ sử dụng thuốc biệt dược thường thấp hơn Việc sử dụng đa số thuốc Generic giúp giảm chi phí điều trị hiệu quả và được Bộ Y tế ưu tiên lựa chọn dựa trên các tiêu chí về hiệu quả và khả năng chi trả Các kết quả nghiên cứu từ các trung tâm y tế cho thấy, cấu trúc sử dụng thuốc biệt dược gốc và thuốc Generic trong các bệnh viện có sự khác biệt rõ rệt, phản ánh xu hướng tăng cường sử dụng thuốc Generic để tiết kiệm ngân sách y tế.
Bảng 1.8 Kết quả nghiên cứu cơ cấu thuốc Biệt dược gốc/ thuốc Generic tại một số TTYT
STT TTYT/ năm nghiên cứu
Thuốc Biệt dược gốc Thuốc Generic
TTYT huyện Đức Huệ tỉnh Long An năm
Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2019 [11]
1.3.6 Về cơ cấu thuốc theo đường dùng
Theo Thông tư số 23/2011/TT-BYT, Bộ Y tế khuyến cáo chỉ sử dụng đường tiêm trong các cơ sở y tế khi người bệnh không thể uống thuốc hoặc khi dùng đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị Việc chọn phương pháp dùng thuốc phải dựa trên tiêu chí an toàn và hiệu quả, ưu tiên các đường dùng phù hợp với tình trạng sức khỏe của người bệnh Chỉ dùng thuốc bằng đường tiêm khi thật sự cần thiết để đảm bảo an toàn và tối ưu hóa quá trình điều trị.
Theo kết quả nghiên cứu về cơ cấu thuốc theo đường dùng tại một số trung tâm y tế, thuốc đường uống chiếm tỷ lệ cao nhất, với hơn 68% về số lượng và vượt 80% về giá trị sử dụng Điều này cho thấy thuốc dạng uống là phần lớn trong các phương pháp điều trị, phản ánh xu hướng ưu tiên sử dụng thuốc dễ sử dụng và phù hợp trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Bảng 1.9 Kết quả một số nghiên cứu về phân tích cơ cấu thuốc theo đường dùng
TT TTYT/ năm nghiên cứu
TTYT huyện Đức Huệ tỉnh Long An năm
Bảng tỉnh Hà Nam năm 2019 [10]
Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2019 [11]
1.3.7 Kết quả phân tích ABC, VEN và ma trận ABC/VEN tại một số TTYT
Phân tích ABC, VEN và ma trận ABC/VEN là phương pháp quan trọng trong quản lý dược phẩm bệnh viện nhằm phát hiện các loại thuốc có giá trị và khối lượng sử dụng lớn nhưng chưa mang lại hiệu quả điều trị rõ ràng Các loại thuốc chủ yếu gồm thuốc vitamin, khoáng chất, dược phẩm đông y, thuốc từ dược liệu và thuốc bổ, cần được kiểm soát chặt chẽ để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng Việc áp dụng các phân tích này giúp xây dựng quy trình DMT bệnh viện hợp lý, quản lý tốt nguồn lực dược phẩm, đảm bảo sử dụng thuốc phù hợp ngân sách và nguồn quỹ BHYT.
Bảng 1.10 Kết quả phân tích ABC tại một số TTYT
TT TTYT/năm nghiên cứu
TTYT huyện Đức Huệ tỉnh Long An năm
Bảng tỉnh Hà Nam năm 2019 [10]
Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2019 [11]
Bảng 1.11 Kết quả phân tích VEN tại một số TTYT
TT TTYT/năm nghiên cứu
1 TTYT huyện Đức Huệ tỉnh
2 TTYT huyện Kim Bảng tỉnh
3 TTYT huyện Yên Khánh tỉnh
Bảng 1.12 Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN tại một số TTYT
TTYT huyện Đức Huệ tỉnh Long An năm 2019 [9]
TTYT huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam năm 2019 [10]
TTYT huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2019 [11]
% SKM % GTSD % SKM % GTSD % SKM % GTSD
Vài nét cơ bản về Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
1.4.1 Đặc điểm địa hình Đăk Mil là một huyện biên giới, diện tích tự nhiên 682,99 km2, bao gồm
10 xã/thị trấn, có 125 thôn bon, tổ dân phố, trong đó có 11 bon đồng bào dân tộc thiểu số
Dân số toàn huyện có: 25.096 hộ, 108.104 khẩu; Trong đó dân tộc thiểu số: 21.368 người, chiếm; 19.2% Mật độ dân số 159 người/km2
Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil được thành lập theo Quyết định số 1542/QĐ-UBND ngày 28/09/2018 củaỦy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, nhằm tổ chức lại trung tâm y tế cấp huyện phù hợp với quy định của Sở Y tế Việc thành lập trung tâm y tế mới này nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng địa phương Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế tỉnh Đắk Nông, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và phòng bệnh cho cư dân khu vực.
17 sáp nhập Bệnh viện đa khoa huyện, Trung tâm Y tế huyện và Trung tâm Dân số Kế hoạch hóa gia đình huyện
Khoa Dược – TTB – VTYT thuộc Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil được thành lập từ năm 2018 theo Quyết định 1542/QĐ-UBND ngày 28/9/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông Sự hình thành này dựa trên việc tổ chức lại Trung tâm Y tế huyện Đắk Mil, sau khi sáp nhập Bệnh viện đa khoa huyện, Trung tâm Y tế huyện và Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện.
Hiện nay, khoa có 10 nhân viên gồm 6 Dược sĩ đại học, 3 Dược sĩ hệ cao đẳng và 1 Dược sĩ trung học, đều được đào tạo bài bản về chuyên môn nghiệp vụ và có trách nhiệm cao Khoa Dược-TTB-VTYT đảm nhiệm chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc trung tâm về công tác dược phẩm, nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc, vật tư y tế và hóa chất có chất lượng cao Ngoài ra, khoa còn tư vấn và giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý để đảm bảo tốt nhất cho bệnh nhân.
1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Y tế
Trung tâm Y tế huyện đã được giao chỉ tiêu 155 giường bệnh và xếp hạng hạng III, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng địa phương Trung tâm có chức năng cung cấp dịch vụ y tế dự phòng, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và các dịch vụ y tế khác theo quy định của pháp luật Địa điểm hoạt động phục vụ người dân trong huyện và các vùng lân cận, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đảm bảo sức khỏe cộng đồng.
Trung tâm Y tế có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng Ngoài ra, trung tâm còn cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng để đảm bảo chăm sóc toàn diện cho người dân Trung tâm còn thực hiện các dịch vụ liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản, đảm bảo quyền và sức khỏe sinh sản cho các đối tượng Các hoạt động về an toàn thực phẩm, dân số cũng nằm trong phạm vi nhiệm vụ của trung tâm nhằm thúc đẩy các chính sách an toàn và phù hợp với nhu cầu cộng đồng Đồng thời, trung tâm thực hiện các xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và thăm dò chức năng để phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị chính xác.
1.4.3 Mô hình tổ chức tại Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Hình 1.1 Mô hình tổ chức tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
1.4.4 Về cơ cấu nhân lực
Tổng số biên chế được giao là 254, trong đó có 199 biên chế hành chính sự nghiệp và 55 biên chế hợp đồng từ nguồn thu Các loại hợp đồng khác gồm có 68 hợp đồng và 09 biên chế hợp đồng lao động phổ thông, trong đó có 02 hợp đồng lao động phổ thông.
- Tổng nhân lực hiện có 249, trong đó Trung tâm Y tế: 165 (Biên chế:
150, HĐ chuyên môn: 4, HĐ 68 và 161: 11) và tuyến xã: 84 (Biên chế: 82, HĐ chuyên môn: 02)
1 Phòng Hành chính - Kế toán
2 Phòng Kế hoạch nghiệp vụ
1 Khoa Hồi sức cấp cứu
9 Khoa Dân số - Phát triển
10 Khoa Kiểm soát bệnh tật và HIV/AIDS
11 Khoa YTCC, Dinh dưỡng và ATTP
Bảng 1.13 Cơ cấu nhân lực của TTYT huyện Đăk Mil
2 Trình độ Đại học và sau đại học 120 (48,2%) cao đẳng 8 (3,2%)
1.4.5 Hoạt động khám chữa bệnh năm 2021-2022 của TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Trong giai đoạn 2021-2022, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại TTYT giảm so với năm 2019 Tuy nhiên, trung tâm vẫn tiếp đón tổng cộng 115.729 lượt bệnh nhân ngoại trú, chủ yếu tập trung vào các bệnh về hô hấp, tim mạch, nội tiết, cơ xương khớp và bệnh tiêu hoá.
1.4.6 Mô hình bệnh tật của TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông 2021-2022
Mô hình bệnh tật là căn cứ quan trọng hàng đầu để cung ứng thuốc cho trung tâm, dựa trên số liệu thống kê về tình trạng bệnh nhân khám và điều trị Thứ dữ liệu này phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên, xã hội của khu vực dân cư sinh sống Ngoài ra, mô hình bệnh tật còn là cơ sở thiết yếu để đánh giá sự phù hợp của các loại thuốc được sử dụng, bao gồm số lượng và cơ cấu thuốc phù hợp với nhu cầu thực tế của bệnh nhân.
Mô hình bệnh tật của TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông với một số chương bệnh cụ thể được trình bày theo bảng sau [10]:
Bảng 1.14 Mô hình bệnh tật tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông năm
2021-2022 được phân loại theo mã quốc tế ICD10
Stt Chương bệnh và Mã ICD Tần suất Tỷ lệ %
1 Chương I: (A00-B99) Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng 2.669 2,31
3 Chương III: (D50-D89) Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các bệnh lý liên quan đến cơ chế miễn dịch
4 Chương IV: (E00-E90) Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hoá 10.239 8,85
5 Chương V: (F00-F99) Rối loạn tâm thần và hành vi 3.852 3,33
6 Chương VI: (G00-G99) Bệnh hệ thần kinh 1.386 1,20
7 Chương VII: (H00-H59) Bệnh mắt và phần phụ 1.373 1,19
8 Chương VIII: (H60-H95) Bệnh tai và xương chũm 6.376 5,51
Stt Chương bệnh và Mã ICD Tần suất Tỷ lệ %
9 Chương IX: (I00-I99) Bệnh hệ tuần hoàn 9.034 7,81
10 Chương X: (J00-J99) Bệnh hệ hô hấp 28.820 24,90
11 Chương XI: (K00-K93) Bệnh hệ tiêu hoá 12.971 11,21
12 Chương XII: (L00-L99) Bệnh da và tổ chức dưới da 2.922 2,52
13 Chương XIII: (M00-M99) Bệnh hệ cơ, xương, khớp và mô liên kết 20.781 17,96
14 Chương XIV: (N00-N99) Bệnh hệ sinh dục, tiết niệu 3.745 3,24
15 Chương XV: (O00-O99) Mang thai, sinh đẻ và hậu sản 159 0,14
16 Chương XVI: (P00-P96) Một số bệnh lý khởi phát trong thời kỳ chu sinh 16 0,01
17 Chương XVII: (Q00-Q99) Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về nhiễm sắc thể 141 0,12
Chương XVIII: (R00-R99) Các triệu chứng và bất thường về lâm sàng, cận lâm sàng không phân loại nơi khác
Chương XIX: (S00-T98) Tổn thương, ngộ độc và hậu quả của một số nguyên nhân từ bên ngoài
20 Chương XX: (V01-Y98) Các nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong 18 0,02
21 Chương XXI: (Z00-Z99) Các yếu tố liên quan đến tình trạng sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế 2.494 2,16
Stt Chương bệnh và Mã ICD Tần suất Tỷ lệ %
22 Chương XXII: (U00-U99) Mã dành cho những mục đích đặc biệt 56 0,05
Mô hình bệnh tật của TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông năm 2021-
Năm 2022, Trung tâm Y tế Đăk Mil ghi nhận đa dạng 22 nhóm bệnh phù hợp với mô hình khám chữa bệnh của một trung tâm y tế đa chức năng tuyến huyện Các bệnh thuộc hệ tuần hoàn chiếm tỷ lệ cao nhất với 21,32%, tiếp đó là các bệnh nội tiết, dinh dưỡng, chuyển hóa với 20,73%, và bệnh hệ hô hấp chiếm 15,53% Như vậy, các nhóm bệnh chủ yếu của trung tâm bao gồm hệ hô hấp, hệ cơ xương khớp, hệ tiêu hoá, hệ nội tiết, và hệ tuần hoàn, phản ánh đặc trưng của một trung tâm y tế đa khoa tuyến cơ sở.
1.4.7 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, việc xây dựng DMT cho TTYT gặp nhiều khó khăn vì chủ yếu dựa vào dữ liệu của năm trước do thiếu thông tin phân tích về sử dụng thuốc, gây ảnh hưởng đến quyết định chọn thuốc phù hợp Hoạt động của HĐT&ĐT tại Trung tâm Y tế chưa thực sự hiệu quả và chưa chú trọng đến các tiêu chí lựa chọn thuốc như ưu tiên thuốc sản xuất trong nước, thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic, hạn chế tiêu chuẩn chất lượng Ngoài ra, thực trạng sử dụng thuốc tại các đơn vị vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là tỷ lệ cao sử dụng thuốc hỗ trợ, khoáng chất, vitamin, thuốc đông y và các loại dược liệu, gây ảnh hưởng đến chất lượng điều trị và quản lý thuốc.
Xây dựng danh mục thuốc hợp lý giúp cho việc mua sắm thuốc dễ dàng hơn, đảm bảo cung ứng đủ thuốc chất lượng và điều trị bệnh hiệu quả, mang lại sự hài lòng cho người bệnh Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào trước đây về phân tích danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu này để có cái nhìn chính xác nhất về thực trạng hoạt động sử dụng thuốc tại Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông.
Bài viết đề cập đến các vấn đề bất cập hiện tại trong cơ cấu danh mục thuốc, nhằm đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn cho các năm tới Cơ cấu danh mục thuốc phù hợp giúp nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc trong khám chữa bệnh, đồng thời góp phần giảm thiểu chi phí thuốc, tiết kiệm ngân sách y tế Việc xây dựng danh mục thuốc tối ưu không chỉ phù hợp với nhu cầu sức khỏe cộng đồng mà còn hỗ trợ nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách thuốc hiệu quả hơn Các đề xuất đưa ra nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giảm thiểu lãng phí và đảm bảo cung cấp thuốc phù hợp, an toàn cho người bệnh.
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Danh mục thuốc đã được sử dụng tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông năm 2021-2022
- TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.1 Nhóm các biến số phân tích danh mục thuốc sử dụng tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông năm 2021-2022
TT Tên biến Giải thích/khái niệm biến
Giá trị biến Cách thu thập
I Mục tiêu 1: Mô tả cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng tại
Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông năm 2021-2022
1 Nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
Thuốc sử dụng được phân loại theo nguồn gốc:
- Thuốc hóa dược: quy định tại TT 30/2018/TT-BYT
- Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu: quy định tại TT 05/2015/TT-BYT
2 Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
Bảng thu thập số liệu
2 Nhóm tác dụng dược lý của thuốc
Thuốc sử dụng được phân loại theo nhóm tác dụng dược lý:
- Thuốc hóa dược được phân thành 27 nhóm dược lý căn cứ vào TT 30/2018/TT- BYT
- Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm…
Bảng thu thập số liệu
- Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu được phân được phân thành 11 nhóm căn cứ vào TT 05/2015/TT-BYT
2 Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu:
- Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm…
3 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn theo phân nhóm
Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn sử dụng theo nhóm (Phân loại nhóm kháng sinh theo quy định tại TT số 30/2018/TT- BYT)
Bảng thu thập số liệu
Thuốc kháng sinh β - lactam sử dụng phân loại theo các thế hệ (Phân loại theo Quyết định 708/QĐ-BYT)
Bảng thu thập số liệu
Thuốc đường tiêu hoá sử dụng theo nhóm tác dụng (Phân loại nhóm thuốc tim mạch theo TT 30/2018/TT- BYT)
1 Thuốc điều trị tiêu chảy
2 Thuốc kháng acid và các thuốc chống loét khác
Bảng thu thập số liệu
Thuốc khoáng chất và vitamin sử dụng theo nhóm tác dụng (Phân nhóm theo TT 30/2018/TT-BYT)
Bảng thu thập số liệu
7 Nguồn gốc, xuất xứ của thuốc
- Thuốc sản xuất trong nước: Là các Thuốc sản xuất tại Việt Nam
Là các Thuốc sản xuất ở nước ngoài được nhập khẩu về Việt Nam
1 Thuốc sản xuất trong nước
Bảng thu thập số liệu
8 Thuốc hóa dược đơn thành phần và đa thành phần
Thuốc hóa dược được phân loại theo số hoạt chất có tác dụng dược lý trong công thức
- Thuốc đơn thành phần: Thuốc có 1 hoạt chất có tác dụng dược lý
- Thuốc đa thành phần: Thuốc có > 1 hoạt chất có tác dụng dược lý khác nhau
Bảng thu thập số liệu
9 Thuốc biệt dược gốc và thuốc generic
Thuốc sử dụng phân loại theo biệt dược gốc và generic dựa trên công bố của Cục QLD
Bảng thu thập số liệu
Thuốc generic được phân nhóm theo tiêu chí kỹ thuật được quy định tại Thông tư 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019
Bảng thu thập số liệu
Thuốc được phân loại theo đường đưa thuốc vào cơ thể: thuốc dùng đường uống, thuốc dùng tiêm và tiêm truyền; thuốc có đường dùng khác…
Bảng thu thập số liệu
Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích danh mục thuốc tại Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông trong năm 2021-2022 bằng các phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN Phân tích này giúp xác định các loại thuốc quan trọng, phân loại theo mức độ tiêu thụ và tính cấp thiết, từ đó tối ưu hóa quản lý tồn kho và sử dụng nguồn lực y tế hiệu quả Việc áp dụng phương pháp ABC giúp phân nhóm thuốc dựa trên giá trị tiêu thụ, trong khi phương pháp VEN tập trung vào tính cấp thiết của thuốc trong điều trị Kết hợp hai phương pháp này qua ma trận ABC/VEN cung cấp cái nhìn toàn diện về danh mục thuốc, nâng cao hiệu quả phân phối và sử dụng thuốc tại trung tâm y tế địa phương.
12 Thuốc hạng A theo nhóm tác dụng dược lý
Thuốc hạng A sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý:
- Thuốc hóa dược quy định tại TT số 30/2018/TT- BYT
- Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu quy định tại TT 05/2015/TT-BYT (11 nhóm)
(27 nhóm tác dụng dược lý của thuốc hóa dược; 11 nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu)
Bảng thu thập số liệu
13 Thuốc hạng A trùng nhau về hoạt chất, hàm lượng, đường dùng
Là các thuốc trùng nhau về hoạt chất, hàm lượng, đường dùng trong nhóm A
Tên thuốc,Giá trị sử dụng
Bảng thu thập số liệu
Báo cáo này dựa trên dữ liệu hồi cứu từ các sổ sách, hóa đơn và chứng từ liên quan đến thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2021 đến ngày 30/06/2022 Thông tin cắt ngang này giúp phân tích chính xác việc quản lý, sử dụng thuốc tại địa phương và đề xuất các giải pháp cải thiện công tác dược trong giai đoạn nghiên cứu.
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu a) Nguồn thu thập số liệu
Sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu từ nguồn tài liệu sẵn có để thu thập các dữ liệu liên quan đến danh mục thuốc đã sử dụng:
- Danh mục thuốc đã sử dụng tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông từ 01/01/2021 đến 30/06/2022
- Báo cáo sử dụng thuốc lấy từ Khoa Dược – TTB - VTYT, TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông 01/01/2021 đến 30/06/2022 b) Quá trình thu thập số liệu
- Lấy số liệu từ Báo cáo nhập xuất tồn của Khoa Dược – TTB - VTYT, TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông 01/01/2021 đến 30/06/2022
Dữ liệu danh mục thuốc đã được thu thập từ ngày 01/01/2021 đến ngày 30/06/2022 của Trung tâm Y tế huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, nhằm phân tích và xử lý số liệu hiệu quả Trong quá trình xử lý dữ liệu trên bảng tính Excel, các cột không cần thiết đã được loại bỏ, chỉ giữ lại các thông tin quan trọng như tên thuốc, hoạt chất, nồng độ, hàm lượng, đơn vị tính, đơn giá, số lượng đã sử dụng, hạn dùng, đồng thời hoàn chỉnh các cột về nguồn gốc, xuất xứ, nhóm tác dụng dược lý, đường dùng, nhóm tiêu chí kỹ thuật và các thuốc nhập khẩu theo Thông tư 03/2019/TT-BYT Ngoài ra, dữ liệu còn bổ sung các thông tin liên quan đến thuốc đơn thành phần, đa thành phần, thuốc biệt dược gốc và thuốc generic nhằm đảm bảo tính đầy đủ và chính xác cho quá trình phân tích.
- Các thông tin trên được đưa vào “Biểu mẫu thu thập số liệu danh mục thuốc sử dụng tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông năm 2021-2022” (Phụ lục I)
- Sàng lọc và làm sạch số liệu
Trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2021 đến ngày 30/06/2022, TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông đã sử dụng tổng cộng 314 khoản mục thuốc gồm thuốc hóa dược, thuốc đông y và thuốc từ dược liệu, với tổng giá trị lên đến 14.397.223.100 đồng Trong đó, có 268 khoản mục thuốc hóa dược và 46 khoản mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu, phản ánh hoạt động cung ứng và sử dụng thuốc đa dạng của đơn vị trong giai đoạn này.
2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu a) Xử lý số liệu
Dưới đây là tổng hợp dữ liệu của 314 khoản mục thuốc đã được sử dụng tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông trong năm 2021-2022, được trình bày trên một bảng tính Excel để giúp phân tích và quản lý thuốc hiệu quả Thông tin này cung cấp cái nhìn tổng quan về mức tiêu thụ thuốc, giúp các nhà quản lý ra quyết định chính xác, tăng cường công tác kiểm kê và kiểm soát sử dụng thuốc trong cơ sở y tế Báo cáo này là tài liệu quan trọng nhằm nâng cao công tác quản lý thuốc, đảm bảo sử dụng hợp lý, an toàn và hiệu quả cho cộng đồng.
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm gồm 314 khoản mục
Trong bước 2, bạn cần điền đầy đủ thông tin cho từng sản phẩm bao gồm tên thuốc, tên hoạt chất, nồng độ, hàm lượng, đơn vị tính, đơn giá, số lượng đã sử dụng, hạn dùng, nguồn gốc xuất xứ, nhóm TCKT, nhóm tác dụng dược lý, đường dùng, nhóm thuốc hóa dược, thuốc đông y hoặc thuốc từ dược liệu Việc cung cấp chính xác các nội dung này giúp quản lý thuốc hiệu quả và đảm bảo tuân thủ quy định về an toàn thuốc Các mục này đóng vai trò quan trọng trong hồ sơ lưu trữ và theo dõi nguồn gốc, chất lượng của từng loại thuốc sử dụng trong quá trình điều trị.
Trong bước 3, xử lý số liệu ngoại lai và làm sạch dữ liệu là bước quan trọng để đảm bảo độ chính xác của phân tích Khi một thuốc có các đơn giá khác nhau trong các lần nhập hàng khác nhau, cần hợp nhất các khoản mục thành một dòng duy nhất để dễ dàng quản lý Đơn giá được tính lại dựa trên tổng giá trị sử dụng chia cho tổng số lượng sử dụng, gọi là đơn giá trung bình, giúp chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao tính chính xác của báo cáo.
Bước 4: Tính số tiền (giá trị sử dụng) cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm: Ci = gi x qi
Trong đó: Đơn giá của từng sản phẩm: gi (i = 1,2,3…)
Số lượng sử dụng của sản phẩm là yếu tố quan trọng trong việc xác định tổng giá trị tiêu thụ Tổng giá trị tiêu thụ được tính bằng tổng số tiền (giá trị sử dụng) của từng sản phẩm, biểu thị bằng công thức C= ∑Ci Phân tích số liệu giúp đánh giá hiệu quả tiêu thụ sản phẩm và tối ưu hóa chiến lược bán hàng, từ đó nâng cao doanh thu và lợi nhuận.
- Dùng các hàm Sum, If, Count, Subtotal, Autofilter, Sort để tổng hợp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:
+ Xếp theo nguồn gốc thuốc hóa dược và thuốc đông y, thuốc từ dược liệu + Xếp theo nhóm tác dụng dược lý
+ Xếp theo nguồn gốc, xuất xứ: thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu + Xếp theo tên gốc/ tên biệt dược
+ Xếp theo số lượng thành phần hoạt chất có tác dụng dược lý của thuốc: đơn thành phần/ đa thành phần
+ Xếp theo đường dùng của thuốc: đường tiêm, truyền, đường uống, đường dùng khác (dùng ngoài, xịt mũi, nhỏ mắt, đặt hậu môn )
- Tính tổng số khoản mục, trị giá tiêu thụ của từng biến số, tính tỷ lệ phần
30 trăm giá trị số liệu
Là phương pháp tính tỷ lệ % của một nhóm đối tượng với các số liệu trong tổng số với công thức sau:
SKM mỗi nhóm đối tượng cần nghiên cứu
Tổng SKM sử dụng của các nhóm đối tượng nghiên cứu
Giá trị mỗi nhóm đối tượng cần nghiên cứu
Tổng giá trị sử dụng của các nhóm đối tượng nghiên cứu
Công thức được áp dụng để tính toán các nội dung nghiên cứu nhằm phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn năm 2021-2022 Các phương pháp này giúp đánh giá chính xác tỷ lệ sử dụng các loại thuốc, từ đó đề xuất các giải pháp tối ưu hóa việc quản lý và sử dụng thuốc tại địa phương Việc áp dụng công thức nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh và đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn Kết quả phân tích sẽ cung cấp dữ liệu cần thiết để cải thiện công tác dự trù, quản lý thuốc, cũng như hướng tới nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại trung tâm.
Các loại thuốc được phân chia dựa trên nguồn gốc và xuất xứ, gồm thuốc biệt dược gốc và thuốc Generic Thuốc còn được phân theo nhóm tác dụng dược lý để dễ dàng phân loại và sử dụng phù hợp Ngoài ra, thuốc còn đa dạng về thành phần, gồm thuốc đơn thành phần và thuốc đa thành phần, đáp ứng nhu cầu điều trị đa dạng của bệnh nhân.
* Phương pháp phân tích nhóm điều trị:
- Tính tiền cho mỗi thuốc bằng cách nhân đơn giá với số lượng sử dụng của từng thuốc
- Tổng số tiền bằng tổng của lượng tiền cho mỗi thuốc
* Phương pháp phân tích ABC:
- Liệt kê 314 sản phẩm thuốc
- Điền các thông tin: đơn giá, số lượng, thành tiền của mỗi sản phẩm
- Tính % giá trị của mỗi sản phẩm bằng cách lấy của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền
- Sắp xếp các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần
Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm bắt đầu từ sản phẩm thứ nhất Quá trình này thực hiện bằng cách cộng dồn tỷ lệ phần trăm của từng sản phẩm vào tổng, giúp xác định chính xác tỷ lệ phần trăm tích lũy của toàn bộ danh sách sản phẩm Việc tính phần trăm tích lũy giúp phân tích phân bố giá trị một cách rõ ràng và dễ dàng theo dõi từng bước, từ đó hỗ trợ tối ưu hóa quản lý và lập kế hoạch kinh doanh.
- Phân hạng sản phẩm như sau:
- Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 2,79%-79,74% tích luỹ giá trị tiền;
- Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 80,05-94,92% tích luỹ giá trị tiền;
- Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 95,02%-100% tích luỹ giá trị tiền;
* Phương pháp phân tích VEN:
Các nhóm thuốc được phân loại theo ba loại chính V, E, N để hỗ trợ công tác khám chữa bệnh hiệu quả Thuốc V là thuốc sống còn, bắt buộc phải có trong các trường hợp cấp cứu hoặc các điều trị quan trọng nhằm đảm bảo tính mạng người bệnh Thuốc E là thuốc thiết yếu, dùng cho các bệnh lý ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong mô hình bệnh tật, góp phần điều trị các bệnh phổ biến Thuốc N là thuốc không thiết yếu, thường dùng cho các bệnh nhẹ, tự khỏi hoặc các trường hợp mà hiệu quả điều trị chưa rõ ràng, đồng thời có thể có chi phí cao không phù hợp với lợi ích lâm sàng mang lại.
* Phương pháp phân tích DMT theo ma trận ABC/VEN
Dựa trên quá trình phân loại thuốc V, E, N vào nhóm A, các nhóm con AV, AE, và AN được hình thành, từ đó ta tính tổng số lượng và giá trị sử dụng thuốc của từng nhóm nhỏ này Phân tích này giúp xác định rõ tỷ lệ phần trăm và tổng giá trị sử dụng thuốc trong mỗi nhóm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng thuốc trong lĩnh vực y tế.
+ Tiếp tục làm như vậy với nhóm B, C thu được kết quả ma trận ABC/VEN
* Trình bày kết quả nghiên cứu:
Sử dụng phần mềm Microsoft office Word 2013, mô hình hóa dưới dạng bảng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông 2021-2022
3.1.1 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu được phân tích trong bảng sau:
Bảng 3.1 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng (đồng)
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ %
2 Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 46 14,65 3.539.424.820 24,58
Trong giai đoạn 2021-2022, Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông đã sử dụng tổng cộng 314 loại thuốc SKM với tổng kinh phí hơn 14,39 tỷ đồng Trong đó, phần lớn chiếm lĩnh là thuốc hóa dược, với 268 khoản mục chiếm 85,35% số lượng thuốc và chiếm 75,42% tổng giá trị tiêu dùng, tương đương hơn 10,86 tỷ đồng Ngược lại, thuốc đông y và dược liệu chỉ chiếm 14,65% số loại thuốc, với 46 khoản mục, nhưng vẫn đóng góp gần 24,58% giá trị tiêu thụ, đạt hơn 3,53 tỷ đồng.
3.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý được quy định tại Thông tư 30/2018/TT-BYT đối với thuốc hóa dược và Thông tư 05/2015/TT-BYT đối với thuốc đông y, thuốc từ dược liệu Phân tích thuốc theo nhóm TDDL giúp các nhà quản lý đánh giá sự phù hợp của việc sử dụng thuốc so với mô hình bệnh tật và nhận biết phần nào về tình trạng lạm dụng thuốc Kết quả này được trình bày trong bảng phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn 2021-2022 theo nhóm TDDL.
Bảng 3.2 Cơ cấu DMT đã sử dụng năm 2021-2022 theo nhóm tác dụng dược lý
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng
% Giá trị (đồng) Tỷ lệ
I Phân nhóm thuốc hóa dược 268 85,35 10.857.798.280 75,42
Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
II Phân nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 46 14,65 3.539.424.820 24,58
Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 6 1,91 795.145.800 5,52
Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy
3 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 5 1,59 489.909.750 3,40
Trong năm 2021-2022, DMT tại Trạm y tế huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông chủ yếu được sử dụng từ 22/27 nhóm thuốc hóa dược, chiếm 85,35% về số lượng SKM và đóng góp 75,42% giá trị lớn nhất với tổng số hơn 10,85 tỷ đồng Trong khi đó, nhóm thuốc đông y và thuốc từ dược liệu gồm tất cả 9 nhóm, chiếm 14,65% về số lượng SKM và có giá trị thấp hơn, đạt khoảng 3,54 tỷ đồng, chiếm 24,58% tổng giá trị sử dụng.
Số nhóm thuốc chiếm SKM và giá trị từ cao xuống thấp:
+ Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn: 63 SKM chiếm 20,06%, GTSD 3.215.716.732 đồng chiếm 22,34%
+ Nhóm thuốc đường tiêu hoá: 31 SKM chiếm 9,87%; GTSD 1.405.896.193 đồng chiếm 9,77%
+ Nhóm khoáng chất và vitamin: 14 SKM chiếm 4.46%; GTSD 1.385.617.260 đồng chiếm 5.22%
+ Nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp: 28 SKM chiếm 8,92%; GTSD 1.336.538.288 đồng chiếm 9.28%
+ Nhóm thuốc hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết: 27 SKM chiếm 8,60%; GTSD 1.228.393.140 đồng chiếm 8,53%
Các nhóm thuốc còn lại có SKM không nhiều và GTSD thấp
Trong các nhóm thuốc được sử dụng phổ biến, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn, nhóm thuốc đường tiêu hoá, cùng nhóm khoáng chất và vitamin đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe Trong phạm vi nghiên cứu này, đề tài tập trung phân tích kỹ hơn về ba nhóm thuốc có tỉ lệ sử dụng cao nhất để đưa ra các giải pháp tối ưu hóa việc sử dụng thuốc và đảm bảo an toàn cho người dùng Việc quan tâm đặc biệt đến các nhóm thuốc này giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu các rủi ro liên quan đến việc sử dụng thuốc không đúng cách.
- Nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu:
+ Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm sử dụng nhiều nhất với 06 SKM chiếm 1,91%, GTSD 795.145.800 đồng chiếm 5,52%
+ Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy với 10 SKM chiếm 3,18 %, GTSD: 539.245.300 đồng chiếm 3,75%
+ Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 05 SKM chiếm 1,59%; GTSD 489.909.750 đồng chiếm 3.40%
+ Nhóm thuốc chữa các bệnh về Âm, về Huyết 05 SKM chiếm 1,59%; GTSD: 477.204.720 đồng chiếm 3,31%
+ Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế 07 SKM chiếm 2,23%; GTSD: 475.266.000 đồng chiếm 3,30%
Một số nhóm thuốc khác có SKM không nhiều và GTSD không lớn
3.1.3 Cơ cấu thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn theo phân nhóm
Bảng 3.3 Cơ cấu thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn theo phân nhóm
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng (đồng)
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ %
Trong kết quả phân tích trên chúng ta thấy nhóm kháng sinh được sử dụng năm 2021-2022 có tất cả 53 SKM, GTSD chiếm 3.161.300.392 đồng Trong đó:
- Nhóm β –lactam đươc sử dụng nhiều nhất với 28 SKM chiếm 52,83%, với GTSD 2.948.734.980 đồng chiếm 93,28%
- Nhóm quinolon với 06 SKM (11,32%) và GTSD 119.017.800 đồng chiếm 3,76%
3.1.4 Cơ cấu sử dụng kháng sinh theo nhóm β -lactam
Bảng 3.4 Cơ cấu sử dụng kháng sinh nhóm β -lactam
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng
Giá trị (đồng) Tỷ lệ %
1 Các cephalosporin 21 75,00 2.286.962.120 77,56 cephalosporin thế hệ 1 4 14,29 467.793.000 15,86 cephalosporin thế hệ 2 2 7,14 84.811.200 2,88 cephalosporin thế hệ 3 15 53,57 1.734.357.920 58,82
Trong nhóm kháng sinh β-lactam, cephalosporin là phân nhóm được sử dụng nhiều nhất, chiếm 77,56% tổng doanh số với giá trị 2.286.962.120 đồng Đặc biệt, các loại cephalosporin thế hệ thứ 3 như cefotaxim, cefpodoxim và cefdinir chiếm 53,57% tổng doanh số kháng sinh và 58,82% doanh số của nhóm cephalosporin Trong khi đó, phân nhóm penicillin có doanh số thấp hơn, đạt 661.772.860 đồng, chiếm 22,44% tổng doanh số kháng sinh.
3.1.5 Cơ cấu nhóm thuốc đường tiêu hoá
Bảng 3.5 Cơ cấu nhóm thuốc đường tiêu hoá
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng
1 Thuốc điều trị tiêu chảy 6 19,35 756.277.400 53,79
Thuốc kháng acid và các thuốc chống loét khác tác dụng trên đường tiêu hóa
Trong nhóm thuốc đường tiêu hóa, phân nhóm thuốc điều trị tiêu chảy có giá trị sản phẩm đạt cao nhất với 06 sản phẩm, tổng GTSD là 756.277.400 đồng, chiếm 53,79% thị trường Phân nhóm thuốc kháng tiết acid và các thuốc chống loét khác ảnh hưởng trên đường tiêu hóa đứng thứ hai về GTSD, gồm 06 sản phẩm, với tổng giá trị là 455.842.864 đồng, chiếm 32,42%.
3.1.6 Cơ cấu nhóm Khoáng chất và Vitamin
Bảng 3.6 Cơ cấu nhóm Khoáng chất và Vitamin
TT Nhóm thuốc Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị (đồng) Tỷ lệ %
Dựa trên cơ cấu DMT năm 2021-2022 theo nhóm tác dụng dược lý, nhóm khoáng chất và vitamin là nhóm thuốc hoá dược được sử dụng nhiều thứ ba tại trung tâm, với 14 loại thuốc chiếm 4,46% tổng số thuốc Giá trị trị dụng của nhóm này đạt 1.385.617.260 đồng, chiếm tỷ lệ 9,62% tổng giá trị sử dụng, trong đó vitamin có tỷ lệ sử dụng cao hơn so với các loại khoáng chất.
3.1.7 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc, xuất xứ
Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu sử dụng trong 2021-
2022 thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.7 Cơ cấu thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước
Số lượng mặt hàng sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị (đồng) Tỷ lệ %
Thuốc sản xuất trong nước được TTYT sử dụng 2021-2022 là 293 SKM chiếm 93,31%, với tổng kinh phí 12.325.105.904 đồng chiếm 85,61%; Thuốc
39 nhập khẩu 21 SKM chiếm 6,69%, tổng kinh phí 2.072.117.196 đồng chiếm 14,39%
3.1.8 Cơ cấu thuốc đơn thành phần/đa thành phần trong danh mục thuốc hoá dược
Bảng 3.8 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần, đa thành phần
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng
% Giá trị (đồng) Tỷ lệ
Trong năm 2021-2022, DMT hoá dược tại TTYT huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông chủ yếu là thuốc đơn thành phần, chiếm 88,43% tổng số mặt hàng (237 SKM) và đóng góp 83,61% giá trị sử dụng với tổng giá trị là hơn 9 tỷ đồng Thuốc đa thành phần chiếm tỷ lệ 11,57% với 31 SKM và có giá trị sử dụng hơn 1,77 tỷ đồng, chiếm 16,39% tổng giá trị Điều này cho thấy xu hướng sử dụng chủ yếu các loại thuốc đơn thành phần tại địa phương trong giai đoạn này.
3.1.9 Cơ cấu thuốc Biệt dược gốc và thuốc Generic
Bảng 3.9 Cơ cấu thuốc BDG, thuốc Generic
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị (đồng) Tỷ lệ %
Bảng 3.10 Cơ cấu thuốc generic theo nhóm tiêu chí kỹ thuật
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị (đồng) Tỷ lệ %
Trong bảng phân tích, thuốc Generic chiếm đa số với 264 SKM, chiếm 98,51% số lượng và giá trị là 10.696.483.725 đồng, chiếm 98,51% tổng giá trị Thuốc Bảo vệ giảm độc huyết (BDG) chỉ với 4 SKM, chiếm 1,49% số lượng nhưng vẫn đóng góp 1,40% tổng giá trị, tương đương 161.314.555 đồng Nhấn mạnh sự thống trị của thuốc Generic trong thị trường về cả số lượng và giá trị.
3.1.10 Cơ cấu thuốc theo đường dùng
Bảng 3.11 Cơ cấu thuốc theo đường dùng
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị (đồng) Tỷ lệ %
Theo bảng số liệu, thuốc sử dụng đường uống chiếm tỷ lệ cao nhất với 213 sơ khí sức khỏe (SKM), chiếm khoảng 67,83% tổng số lượng Tổng giá trị sử dụng của thuốc đường uống đạt 12.419.343.223 đồng, chiếm 86,26% tổng GTSD Trong đó, thuốc dùng theo đường tiêm còn có tỷ lệ nhỏ hơn, thể hiện sự ưu tiên và phổ biến của thuốc đường uống trong việc điều trị và chăm sóc sức khỏe.
66 SKM chiếm 21,02 có giá trị 1.530.473.262 đồng chiếm 10,63%, thuốc dùng theo đường khác có 35 SKM chiếm 11,15% có giá trị 447.406.615 đồng chiếm 3,11%.
Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông 2021-2022 theo phương pháp phân tích ABC, VEN và ma trận ABC/VEN
3.2.1 Cơ cấu DMT đã sử dụng tại TTYT theo phân tích ABC
Bảng 3.12 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích ABC
STT Hạng Giá trị sử dụng Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị (đồng) Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Phân tích cho thấy, cơ cấu mua sắm và sử dụng thuốc tại TTYT chưa phù hợp với khuyến cáo của Bộ Y tế, đặc biệt rõ ràng ở nhóm A và B Điều này cho thấy cần có sự điều chỉnh để nâng cao hiệu quả và tính hợp lý trong quản lý thuốc tại các trung tâm y tế này Việc điều chỉnh cơ cấu mua sắm thuốc sẽ góp phần đảm bảo chất lượng chăm sóc sức khỏe và tối ưu nguồn lực y tế.
DMT hạng A bao gồm 81 khoản mục tương ứng với 25,80% tổng DMT,
Tỷ lệ 25,80% này cao hơn so với khuyến cáo của Bộ Y tế (10-20%)
DMT hạng B bao gồm 82 khoản mục tương ứng với 26,11% tổng DMT,
Tỷ lệ 26,11% này cao hơn so với khuyến cáo của Bộ Y tế (10-20%)
3.2.2 Cơ cấu thuốc hạng A theo nhóm tác dụng dược lý
Bảng 3.13 Cơ cấu thuốc hạng A theo nhóm tác dụng dược lý
STT Nhóm tác dụng dược lý
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng
% Giá trị (đồng) Tỷ lệ
I Phân nhóm thuốc hóa dược 58 71,60 8.515.097.635 74,17
Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
II Phân nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 23 28,40 2.965.252.350 25,83
Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 4 4,94
Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 2 2,47
Trong nhóm thuốc hóa dược nhóm A, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất với 11 sản phẩm, chiếm 20,99% tổng số, tổng giá trị đạt 2.758.033.840 đồng, chiếm 24,02% Tiếp theo là nhóm thuốc khoáng chất và vitamin, góp phần quan trọng vào danh mục thuốc hóa dược trong nhóm A.
Trong tổng danh mục, nhóm thuốc SKM chiếm tỷ lệ lớn nhất với 43 mặt hàng, trong đó 09 SKM (11,11%) có giá trị 1.318.295.700 đồng (11,48%), tiếp theo là nhóm thuốc đường tiêu hoá gồm 04 SKM (4,94%) với tổng giá trị 1.047.258.000 đồng (9,12%) Các nhóm thuốc còn lại có số lượng SKM và giá trị sử dụng tương đối thấp Nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu nhóm A có 23 SKM (28,40%) với tổng giá trị 2.965.252.350 đồng (25,83%), mặc dù hiệu quả điều trị không rõ ràng hoặc chỉ mang tính hỗ trợ, nhưng giá trị của nhóm này chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng danh mục.
Trong DMT nhóm A, không nên bao gồm các nhóm thuốc không cần thiết như thuốc đông y, thuốc từ dược liệu, vitamin và khoáng chất nhằm tối ưu hóa nguồn lực Việc xem xét và điều chỉnh việc lựa chọn các loại thuốc này giúp tập trung kinh phí vào các nhóm thuốc điều trị cần thiết, nâng cao hiệu quả điều trị và tiết kiệm chi phí.
3.2.3 Các thuốc hạng A có cùng hoạt chất, hàm lượng, đường dùng
Bảng 3.14 Các thuốc hạng A trùng nhau về hoạt chất, hàm lượng, đường dùng
STT Tên hoạt chất Hàm lượng/ nồng độ Đường dùng
Nhóm TCKT Đơn giá (đồng)
Giá trị sử dụng (đồng)
Giá trị dự kiến (đồng)
Chênh lệch khi thay thế (đồng)
300mg + 3000mg Uống Bodycan Việt
Cefotaxim 500mg Tiêm Goldbetin Italy 1 20.500 11.079 227.119.500 140.526.036 86.593.464
Có 02 cặp thuốc hạng A có cùng hoạt chất, hàm lượng, đường dùng được sử dụng dưới dạng các biệt dược khác nhau thuộc các nhóm TCKT khác nhau theo quy định tại TT15/2019/TT-BYT Chênh lệch GTSD giữa các loại thuốc này là tương đối lớn Thay vì sử dụng song song hai thuốc trong mỗi nhóm có thể lựa chọn sử dụng một loại thuốc ở nhóm TCKT thấp hơn (chuyển thuốc từ nhóm 1 sang nhóm 2, nhóm 2 sang nhóm 4) sẽ tiết kiệm chi phí 104.611.464 đồng
3.2.4 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích VEN
Bảng 3.15 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích VEN
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị (đồng) Tỷ lệ %
Nhận xét: Theo bảng trên cho thấy
Tỷ lệ thuốc sống còn (V) chiếm 23,57% với 74 loại thuốc, trong đó giá trị bán lẻ đạt 2.197.597.479 đồng, chiếm 15,60% tổng giá trị sổ sách Nhóm thuốc này chủ yếu bao gồm các loại thuốc cấp cứu và thuốc quan trọng, cần thiết để đảm bảo công tác khám chữa bệnh hiệu quả.
- Thuốc thiết yếu (E) có 145 SKM (46,18%) với GTSD 6.846.189.731 đồng chiếm 47,55% về tổng GTSD
- Đáng lưu ý ở đây là nhóm thuốc không thiết yếu (N) có tới 95 khoản mục (30,25%) với GTSD 5.353.435.890 đồng chiếm (37,18%), tập trung chủ
46 yếu ở nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu, khoáng chất và vitamin Điều này cho thấy có sự chưa phù hợp trong lựa chọn và sử dụng thuốc
3.2.5 Phân tích ma trận ABC/VEN
Bảng 3.16 Phân tích ma trận ABC/VEN
Số lượng mặt hàng sử dụng
Giá trị sử dụng SKM Tỷ lệ % Giá trị (đồng) Tỷ lệ %
Kết quả phân tích ma trận của các tiểu nhóm trong các nhóm như sau:
- Các tiểu nhóm cần thiết trong quá trình điều trị gồm:
+ Nhóm AV có 14 SKM (4,46%) với GTSD là 1.479.470.755 (10,28%); nhóm BV 19 SKM (6,05%) với GTSD là 553.767.243 đồng (3,85%); nhóm CV
41 SKM (13,06%) với GTSD là 164.359.481 đồng (1,14%)
+ Nhóm AE có 35 SKM (11,15%), GTSD cao nhất 5.717.331.180 đồng (39,71% GTSD); Nhóm BE 28 SKM (8,92%), GTSD 718.033.156 đồng chiếm (4,99%); Nhóm CE có 82 SKM (26,11%), GTSD 410.825.395 đồng (2,85%)
- Các tiểu nhóm không cần thiết trong quá trình điều trị bao gồm:
+ Tiểu nhóm chiếm giá trị cao nhưng không cần thiết trong quá trình điều trị là AN có 32 SKM (10,19%), GTSD là 4.283.548.050 đồng chiếm 29,75% GTSD
Trong tổng số 313 SKM được đề cập, BN có 35 SKM chiếm 11,15% với giá trị sở hữu dự kiến (GTSD) đạt 914.675.730 đồng, chiếm 6,35% tổng GTSD Trong khi đó, nhóm CN có 28 SKM, tương đương 8,92%, với GTSD là 155.212.110 đồng, chiếm 1,08% Để đánh giá rõ hơn về tính hợp lý của nhóm thuốc AN và BN, bài viết sẽ đi vào phân tích sâu hơn về nhóm AN, BN nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng và tính hợp lý của phân bổ tài sản trong nhóm này.
3.2.6 Phân tích cơ cấu các thuốc trong nhóm AN
Bảng 3.17 Cơ cấu các thuốc trong nhóm AN
Số lượng mặt hàng sử dụng Giá trị sử dụng SKM Tỷ lệ % Giá trị (đồng) Tỷ lệ %
2 Calcium stella 500 mg 300mg + 2940mg 1 3,13 210.210.000 4,91
II Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 23 71,88 2.965.252.350 69,22
Phong thấp trung ương 1 330mg+
Kết quả phân tích cho thấy, nhóm thuốc AN bao gồm 32 sản phẩm SKM với tổng giá trị sử dụng đạt 4.283.548.050 đồng, trong đó có 09 thuốc hóa dược và 23 thuốc đông y từ dược liệu Đây là những nhóm thuốc có mức tiêu thụ lớn, đóng vai trò quan trọng trong thị trường dược phẩm hiện nay.
Hiện chưa rõ hiệu quả điều trị của 48 loại thuốc này, do đó, TTYT nên xem xét loại bỏ hoặc giảm số lượng các thuốc trong danh mục thuốc thiết yếu của đơn vị Việc kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng thuốc nhằm tránh lãng phí ngân sách và đảm bảo phù hợp với chế độ thanh toán của quỹ BHYT là cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực y tế.
3.2.7 Phân tích cơ cấu các thuốc trong nhóm BN
Bảng 3.18 Cơ cấu nhóm thuốc BN
Số lượng mặt hàng sử dụng
SKM Tỷ lệ % Giá trị (đồng) Tỷ lệ %
II Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 18 51,43 533.652.720 58,34
Khang minh tỷ viêm nang 600mg; 300mg;
2 Nhân sâm tam thất tw3 50mg, 20mg 1 2,86 44.208.000 4,83
Các thuốc trong nhóm BN có 35 sản phẩm kinh doanh, với giá trị tiêu thụ đạt 914.675.730 đồng, trong đó có 17 sản phẩm thuốc hoá dược và 18 sản phẩm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu Nhóm thuốc này có mức tiêu thụ không lớn, nhưng hiệu quả điều trị chưa rõ ràng, do đó cần hạn chế sử dụng Trung tâm y tế (TTYT) nên thực hiện quản lý chặt chẽ việc sử dụng các thuốc trong nhóm này để tránh lãng phí ngân sách và đảm bảo phù hợp với chế độ thanh toán của quỹ BHYT.
BÀN LUẬN
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông năm 2021-2022
Việc sử dụng DMT tại các trung tâm phụ thuộc vào mô hình bệnh tật, loại DMT (chủ yếu hay thiết yếu), hướng dẫn điều trị chuẩn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, và nguồn tài chính của trung tâm Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 về danh mục thuốc hóa dược, cùng với Thông tư 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 về danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu, làm căn cứ để các trung tâm xây dựng dự toán và sử dụng DMT phù hợp trong phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế.
Phân tích DMT đã được sử dụng tại trung tâm giúp hoạt động đào tạo và phát triển (HĐT&ĐT) phát hiện và quản lý các vấn đề bất hợp lý liên quan đến việc sử dụng thuốc Việc này góp phần nâng cao hiệu quả trong quản lý thuốc và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Dựa trên kết quả phân tích, trung tâm đề xuất các giải pháp cải thiện nhằm lựa chọn DMT phù hợp hơn trong năm tiếp theo Điều này giúp tối ưu hóa quy trình sử dụng thuốc, giảm thiểu rủi ro và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
4.1.1 Về cơ cấu DMT hóa dược/thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
Trong giai đoạn 2021-2022, DMT tại TTYT đã sử dụng tổng cộng 314 suất khoán thuốc với giá trị sử dụng lên đến hơn 14,39 tỷ đồng Thuốc hóa dược chiếm tỷ lệ lớn nhất với 268 suất khoán, chiếm 85,35% tổng số, và có giá trị sử dụng khoảng 10,86 tỷ đồng, chiếm 75,42% Trong khi đó, thuốc đông y và thuốc từ dược liệu có 46 suất khoán, chiếm 14,65% tổng số, với giá trị hơn 3,54 tỷ đồng, chiếm 24,58%.
Trong năm 2019, TTYT huyện Đăk Mil có tỷ lệ số lượng thuốc hoá dược sử dụng (SKM) và giá trị sử dụng thuốc (GTSD) cao hơn so với nhiều địa phương khác Trong khi đó, TTYT huyện Đức Huệ tỉnh Long An có tỷ lệ SKM (79,63%) và GTSD (66,44%) thấp hơn các trung tâm y tế khác, chứng tỏ mức tiêu thụ thuốc thấp hơn Tuy nhiên, các TTYT này có tỷ lệ sử dụng thuốc đông y và thuốc từ dược liệu cao hơn so với TTYT huyện Yên Khánh năm 2019, với SKM là 8,61% và GTSD là 15,5%, nhưng thấp hơn so với TTYT huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam (12,38% SKM và 22,45% GTSD) và TTYT huyện Đức Huệ tỉnh Long An (22,37% SKM và 33,56% GTSD), phản ánh xu hướng sử dụng thuốc đông y và dược liệu có thể khác nhau giữa các địa phương.
Việc sử dụng nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu trong khám ngoại trú cho các bệnh nhẹ, người cao tuổi và các vấn đề tâm lý đã góp phần tăng giá trị sử dụng của các loại thuốc này Các thuốc bổ trợ như Hoạt huyết dưỡng não, Phong thấp trung ương 1, Thập toàn đại bổ, Carecaps, Thông xoang tán và các loại siro ho thường được cấp phát để hỗ trợ quá trình điều trị Tuy nhiên, mặc dù các thuốc này chỉ có tác dụng hỗ trợ và khuyến khích kết hợp Đông y, Tây y, cần quản lý chặt chẽ việc kê đơn để giảm thiểu tác động tiêu cực đến Quỹ Bảo hiểm y tế và đảm bảo hiệu quả sử dụng.
4.1.2 Về cơ cấu phân nhóm thuốc điều trị theo tác dụng dược lý
Cơ cấu nhóm điều trị bao gồm 22 nhóm thuốc hóa dược và 09 nhóm thuốc đông y, thuốc dược liệu
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng chống nhiễm khuẩn có số khách hàng sử dụng (SKM) cao nhất, chiếm 20,06% với 63 SKM và tổng giá trị sản phẩm tiêu dùng (GTSD) đạt 3.215.716.732 đồng, chiếm 22,34% Mặc dù tỷ lệ SKM của nhóm thuốc này cao hơn so với các nhóm thuốc khác, nhưng về GTSD lại thấp hơn so với các Trung tâm y tế (TTYT) khác, ví dụ như TTYT huyện Đức Huệ tỉnh Long An năm.
Trong năm 2019, tỷ lệ sử dụng thuốc nhóm SKM và GTSD tại các trung tâm y tế huyện như Yên Khánh (Ninh Bình) là 17,04% và 24,34%, còn tại huyện Kim Bảng (Hà Nam) lần lượt là 17,22% và 23,44% Các trung tâm y tế đa khoa tuyến huyện, đặc biệt là TTYT Đắk Mil với 344 danh mục kỹ thuật vượt tuyến, cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc điều trị ký sinh trùng chống nhiễm khuẩn phù hợp và đáp ứng đúng quy chuẩn.
Về cơ cấu thuốc kháng sinh theo phân nhóm
Các bệnh viện và Trung tâm y tế đang phải đối mặt với sự lan rộng của các chủng vi khuẩn đa đề kháng kháng sinh, dẫn đến tình trạng kháng thuốc nghiêm trọng trên toàn cầu, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển Vấn đề này gây ra gánh nặng lớn về y tế khi phải đối mặt với các bệnh nhiễm khuẩn khó kiểm soát và chi phí cao cho việc thay thế các loại kháng sinh cũ bằng các loại thuốc mới, đắt đỏ Tình trạng kháng kháng sinh không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị mà còn đặt ra thách thức lớn trong công tác hạn chế sự phát triển của các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
Các bệnh liên quan đến 51 loại khuẩn đường tiêu hóa, đường hô hấp, các bệnh truyền qua đường tình dục và nhiễm khuẩn bệnh viện là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cao ở các nước đang phát triển Việc kiểm soát các bệnh này gặp nhiều khó khăn do sự phát triển và lan truyền của tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn, làm giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện có.
Ngày 04/3/2016, Bộ Y tế ban hành Quyết định 772/QĐ-BYT nhằm hướng dẫn quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện, tập trung vào việc thúc đẩy sử dụng kháng sinh hợp lý, giảm thiểu hậu quả không mong muốn khi dùng kháng sinh, nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh, ngăn ngừa vi khuẩn đề kháng kháng sinh và giảm chi phí y tế.
Phần lớn giá trị tiền thuốc kháng sinh tập trung vào nhóm β-lactam, chiếm 93,28% tổng số sử dụng, trong đó phân nhóm cephalosporin chiếm 77,56%, đặc biệt cephalosporin thế hệ 3 chiếm 53,57% trong nhóm này và 58,82% trong tổng nhóm cephalosporin Nhóm quinolon chỉ chiếm 3,76% tổng số sử dụng, còn lại các nhóm kháng sinh khác có tỷ lệ thấp Tại TTYT huyện Đăk Mil, cơ sở khám chữa bệnh nội, ngoại trú tiếp nhận bệnh nhân từ địa phương và các huyện lân cận, thực hiện 2.232 dịch vụ kỹ thuật trong đó có 344 dịch vụ vượt tuyến, việc sử dụng kháng sinh khá hợp lý nhưng cần kiểm soát chặt chẽ việc dùng cephalosporin thế hệ thứ 3 để tránh lạm dụng, đảm bảo sử dụng thuốc đúng nguyên tắc kháng sinh học.
Nhóm thuốc đường tiêu hoá xếp thứ 2 về số khấu hao mở rộng (SKM) và giá trị sử dụng (GTSD), với 31 SKM (chiếm 9,87%) và GTSD đạt 1.405.896.193 đồng (chiếm 9,77%) Tỷ lệ này cao hơn so với TTYT huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm 2019 (6,57% SKM và 7,75% GTSD), và huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam năm 2019 (9,1% SKM và 9,49% GTSD), nhưng thấp hơn so với TTYT huyện Đức Huệ, tỉnh Long An năm 2019 (13,70% SKM và 12,69% GTSD) Tỷ lệ sử dụng nhóm thuốc đường tiêu hoá phù hợp với mục tiêu hợp lý về sử dụng thuốc và đáp ứng nhu cầu y tế tại địa phương.
Nhóm thuốc khoáng chất và vitamin chiếm 14 loại thuốc, đạt 4,46% Số lượng Khả dụng Mua (SKM) và 1.385.617.260 đồng, chiếm 9,62% Giá trị Sử dụng Dược phẩm (GTSD) So sánh năm 2019, tỷ lệ này cao hơn so với TTYT huyện Kim Bảng, Hà Nam (3,5% SKM và 6,2% GTSD), và TTYT huyện Yên Khánh, Ninh Bình (4,1% SKM và 8,58% GTSD), trong khi thấp hơn về SKM nhưng cao hơn về GTSD so với TTYT huyện Đức Huệ, Long An (4,81% SKM và 5,57% GTSD) Khu vực Tây Nguyên, nơi tập trung đông các dân tộc có mức sống thấp, đặc biệt quan tâm đến việc bổ sung khoáng chất và vitamin cho nhóm đối tượng này phù hợp với Mục tiêu phát triển bền vững (MHBT) Các nhóm thuốc còn lại có tỷ lệ SKM và GTSD khá thấp, phản ánh sự ưu tiên tập trung vào các nhóm thuốc thiết yếu này.
4.1.3 Về cơ cấu thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ
Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, tỷ lệ thuốc nội trong danh mục thuốc (DMT) của các bệnh viện chiếm khoảng 70% Việc sử dụng thuốc nội không chỉ giúp giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân mà còn thúc đẩy phát triển ngành sản xuất dược phẩm trong nước Điều này góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo an toàn trong công tác khám chữa bệnh.
Tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn 2021-2022, thuốc sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ 93,31% với tổng giá trị 12.325.105.904 đồng, chiếm 85,61% giá trị sử dụng chung (GTSD) Trong khi đó, thuốc nhập khẩu chỉ chiếm 6,69% với tổng giá trị 2.072.117.196 đồng, tương ứng 14,39% GTSD Tỷ lệ sử dụng thuốc trong nước tại TTYT huyện Đắk Mil cao hơn so với một số địa phương khác như huyện Đức Huệ tỉnh Long An (88,89% năm 2019), huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam (68,57% năm 2019), và huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình (72,73% năm 2019), cho thấy mức độ tự chủ trong việc sử dụng thuốc nội địa tại Đắk Nông cao hơn các khu vực khác.
Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại TTYT năm 2021-2022 theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN
Phân tích ABC, VEN và ma trận ABC/VEN là những phương pháp quản lý thuốc hiệu quả, giúp tối ưu hóa việc lựa chọn, mua sắm và sử dụng thuốc hợp lý trong các cơ sở y tế Các công cụ này còn hỗ trợ nhận diện các vấn đề còn tồn tại trong việc sử dụng thuốc, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị Việc áp dụng phương pháp phân tích ABC/VEN giúp xác định các loại thuốc cần ưu tiên trong quá trình mua sắm và cấp phát thuốc, đảm bảo an toàn và tiết kiệm nguồn lực y tế.
Theo quy định tại Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013, thông thường các thuốc của nhóm A chiếm 10 - 20% tổng sản phẩm, nhóm B chiếm
10 - 20%, nhóm C chiếm 60-80% Qua kết quả phân tích ABC cho thấy cơ cấu mua sắm và sử dụng thuốc tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông năm 2021-
Năm 2022, việc sử dụng thuốc nhóm A và B chưa phù hợp theo khuyến cáo của Bộ Y tế, khi thuốc nhóm A chiếm 25,80% số kê đơn, vượt mức tối thiểu khuyến cáo là 5,80%, còn thuốc nhóm B chiếm 26,11%, cao hơn mức khuyến cáo tối thiểu là 6,11%.
Trong năm 2019, tỷ lệ nhóm A của Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông đạt 19,26% SKM, cao hơn so với TTYT huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, với tỷ lệ 19,26% Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn so với TTYT huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, với mức 23,81% SKM, và cũng thấp hơn so với TTYT huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, đạt 27,27% SKM.
Tỷ lệ nhóm B của Trung tâm Y tế huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, cao hơn so với các trung tâm y tế khác như huyện Đức Huệ, Long An (24,07% SKM, năm 2019), huyện Kim Bảng, Hà Nam (22,38% SKM, năm 2019) và huyện Yên Khánh, Ninh Bình (22,97% SKM, năm 2019) Điều này cho thấy, tỷ lệ sử dụng thuốc nhóm A và B tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Mil trong giai đoạn 2021-2022 chưa phù hợp với khuyến cáo của Bộ Y tế, do các thuốc hạng A, B còn được sử dụng khá phân tán theo tỷ lệ SKM.
Trong phân tích ABC, thuốc hạng A chiếm 75-80% tổng giá trị chi phí thuốc nhưng chỉ chiếm 10-20% số lượng mặt hàng, nhấn mạnh tầm quan trọng của nhóm này trong điều trị Các thuốc nhóm A cần được phân tích chi tiết theo nhóm tác dụng dược lý để có chính sách quản lý chặt chẽ, tập trung vào việc kiểm soát chi phí và dự trữ hợp lý Trong đó, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ trọng cao nhất (24,02%), tiếp theo là nhóm khoáng chất và vitamin (11,48%), phản ánh vai trò thiết yếu trong điều trị chính của trung tâm Tuy nhiên, vẫn cần có các biện pháp tăng cường quản lý, giám sát việc sử dụng hai nhóm thuốc này để đảm bảo tính hợp lý, đặc biệt là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn.
Nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu chiếm 8 thuốc nhóm A, tỷ lệ 28,40% trong tổng số thuốc nhóm A, trong khi tỷ lệ này đối với SKM là 25,83% và GTSD là 25,83% Theo hướng dẫn của Thông tư 21/2013/TT-BYT, thuốc nhóm A thường chiếm 10-20% SKM và 70-80% GTSD, tập trung vào các thuốc có tác dụng điều trị chính hơn là các thuốc hỗ trợ hoặc điều trị triệu chứng Do đó, việc đưa thuốc đông y, thuốc từ dược liệu, vitamin và khoáng chất vào nhóm A không phù hợp, đặt ra câu hỏi về khả năng lạm dụng các thuốc không thực sự cần thiết Để làm rõ vấn đề này, các chuyên gia đã thực hiện phân tích ma trận ABC/VEN, tập trung vào nhóm AN và BN để đánh giá chính xác hơn về ưu tiên sử dụng và phân bổ thuốc.
Phân tích thuốc nhóm A tại Trung tâm Y tế cho thấy có 02 cặp thuốc có cùng hoạt chất, nồng độ và hàm lượng nhưng khác nhau về đường dùng theo các tiêu chí kỹ thuật của Thông tư 15/2019/TT-BYT Sự chênh lệch giá trị sử dụng giữa các loại thuốc này khá lớn, và thay vì dùng song song cả hai, có thể lựa chọn một loại thuốc thuộc nhóm TCKT thấp hơn (chuyển từ nhóm 1 sang nhóm 2, hoặc nhóm 2 sang nhóm 4) để giảm chi phí đáng kể, giúp Trung tâm tiết kiệm khoảng 104.611.464 đồng.
Một trong những nguyên nhân chính gây lãng phí trong sử dụng thuốc là do thói quen của bác sĩ cho rằng thuốc đắt tiền sẽ mang lại hiệu quả điều trị tốt hơn, dẫn đến việc ưu tiên sử dụng các thuốc này Thuốc đắt tiền với lượng sử dụng lớn thường rơi vào hạng A, trong khi các thuốc cùng hoạt chất, hàm lượng, đường dùng nhưng có giá thành rẻ và lượng sử dụng ít hơn lại chủ yếu nằm trong hạng C, điều này chưa thực sự hợp lý Do đó, công tác tuyên truyền, khuyến khích bác sĩ sử dụng các thuốc có hiệu quả điều trị tương đương nhưng với chi phí thấp hơn là rất cần thiết Hội đồng thuốc và điều trị cần tăng cường hoạt động của bộ phận dược lâm sàng nhằm thúc đẩy việc tối ưu hóa chi phí điều trị, góp phần tiết kiệm ngân sách nhà nước và giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân.
4.2.2 Phân tích VEN và phân tích ma trận ABC/VEN
Phân tích VEN cho thấy thuốc nhóm V (thuốc sống còn, thuốc cấp cứu) chiếm tỷ lệ 24,20% về số lượng tồn kho và 15,60% về giá trị dự trữ Thuốc nhóm E (thuốc thiết yếu) chiếm ưu thế với 53,18% về số lượng tồn kho và 54,36% về giá trị dự trữ, phản ánh vai trò quan trọng của nhóm này trong hệ thống cung ứng thuốc Trong khi đó, thuốc nhóm N (thuốc không thiết yếu) chiếm 22,61% về số lượng tồn kho và 30,04% về giá trị dự trữ, cho thấy mức độ phân bổ tập trung vào các loại thuốc thiết yếu và cấp cứu trong quản lý kho thuốc.
Trong giai đoạn 2021-2022, kết quả thuốc nhóm N của Trung tâm Y tế huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông đạt tỷ lệ số ca mắc cao hơn so với Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm 2019 (14,83%), cũng cao hơn so với Trung tâm Y tế huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam năm 2019 (15,71%) Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn so với Trung tâm Y tế huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
Năm 2019, tỷ lệ thuốc không thiết yếu (N) tại trung tâm chiếm tới 23,70%, với hơn 95 khoản mục chủ yếu thuộc nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu, vitamin và khoáng chất, cho thấy sự chưa phù hợp trong lựa chọn và sử dụng thuốc Tuy nhiên, kết quả phân tích VEN của Trung tâm Y tế huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông dựa trên dữ liệu do học viên thực hiện, chưa có sự tham gia của Hội đồng Tư vấn và Đào tạo, do đó có thể chưa phản ánh đầy đủ và chính xác về cơ cấu nhóm thuốc theo phân loại VEN.
Trong phân tích ma trận ABC/VEN, nhóm thuốc AN gồm 32 thuốc chiếm 10,19% sản phẩm khả dụng và 29,75% giá trị sử dụng, trong khi nhóm BN gồm 35 thuốc chiếm 11,15% sản phẩm khả dụng và 6,35% giá trị sử dụng Hai nhóm thuốc này đóng vai trò quan trọng và cần được đặc biệt quan tâm, vì chúng chiếm phần lớn tỷ lệ trong danh mục thuốc Do đó, 67 khoản mục này cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và đề xuất các giải pháp quản lý đặc biệt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc trong cơ sở y tế.
So sánh với các Trung tâm y tế (TTYT) khác về nhóm thuốc Anh (AN), TTYT huyện Đăk Mil có tỷ lệ gửi sát cao hơn so với TTYT huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam năm 2019 (19,87%), TTYT huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2019 (12,6%), nhưng thấp hơn TTYT huyện Đức Huệ tỉnh Long An năm 2019 (31,02%) Ngoài ra, tỷ lệ kiểm soát số lượng thuốc (SKM) tại TTYT Đăk Mil cũng cao hơn tất cả 3 TTYT còn lại lần lượt là 5,24%, 4,78% và 8,52%, cho thấy hiệu quả quản lý thuốc của đơn vị này có phần nổi bật.
Phân tích sâu 32 thuốc nhóm An tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, trong năm 2021-2022 cho thấy có 9 thuốc là thuốc hóa dược, chủ yếu thuộc nhóm vitamin và khoáng chất, trong khi đó, 23 thuốc là thuốc đông y, thuốc từ dược liệu, trong đó thuốc Hoạt huyết Thông mạch K/H đứng đầu với tỷ lệ 7,74% trên tổng số thuốc nhóm An Tiếp theo là thuốc Phong thấp Trung ương 1 với tỷ lệ 7,70%, xếp thứ ba là thuốc Hoạt huyết Dưỡng não TP chiếm 6,28% Đối với nhóm thuốc bổ (BN), có 17 thuốc hóa dược và 18 thuốc đông y, gồm các thuốc như Kẽm gluconate, Alphachymotrypsin, thuốc dùng ngoài, Tỷ viêm nang, Nhân sâm tam thất, thể hiện sự đa dạng trong phương pháp điều trị và sử dụng thuốc tại địa phương.
So sánh với các TTYT khác, TTYT huyện Đăk Mil có tỷ lệ sử dụng và giá trị sử dụng của nhóm thuốc BN cao hơn so với TTYT huyện Đức Huệ, Long An (2019: 6,30% SKM; 4,82% GTSD), Yên Khánh, Ninh Bình (2019: 3,35% SKM; 2,34% GTSD), và Kim Bảng, Hà Nam (2019: 5,24% SKM; 3,85% GTSD) Các nhóm thuốc này có giá trị tiêu thụ lớn nhưng hiệu quả điều trị chưa rõ ràng, việc sử dụng các nhóm thuốc không thiết yếu với tỷ lệ như vậy chưa phù hợp TTYT cần xem xét loại bỏ hoặc giảm số lượng thuốc nhóm AN, BN trong danh mục thuốc để tránh lãng phí ngân sách, đồng thời quản lý chặt chẽ việc sử dụng nhằm phù hợp với chế độ thanh toán của quỹ BHYT.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại TTYT huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông năm 2021-2022