TỔNG QUAN
TỔNG QUAN VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) và Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), Đái tháo đường là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose máu do thiếu hụt hoặc hoạt động không hiệu quả của insulin Tăng glucose máu mạn tính có thể gây tổn thương và rối loạn chức năng của nhiều cơ quan quan trọng như mắt, thận, tim và mạch máu, gây ra các biến chứng nghiêm trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ngày càng tăng nhanh do sự ảnh hưởng phức tạp của các yếu tố kinh tế xã hội, môi trường và di truyền Các yếu tố này góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh, đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả để giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng Việc hiểu rõ các yếu tố này là chìa khóa giúp nâng cao nhận thức và thúc đẩy các chiến lược giảm tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường trong cộng đồng.
Hình 1.1 Dự đoán gia tăng số bệnh nhân
Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (International Diabetes Federation – IDF), năm 2000 số người trưởng thành mắc bệnh đái tháo đường trên toàn thế giới là
151 triệu người Đến năm 2009, số người mắc đã lên tới 285 triệu người, tăng 88%
Dự báo toàn cầu về số người mắc đái tháo đường năm 2010 là 438 triệu người vào năm 2025, nhưng thực tế đến năm 2019, đã có 463 triệu người trong độ tuổi 20-79 mắc bệnh đái tháo đường, chiếmประมาณ 9.3% dân số trưởng thành, vượt xa dự đoán ban đầu Trong năm 2019, hơn 4 triệu người trong độ tuổi 20-79 tử vong do các nguyên nhân liên quan đến đái tháo đường, cho thấy tầm ảnh hưởng nghiêm trọng của bệnh này đến sức khỏe cộng đồng toàn cầu.
Năm 2019, chi phí toàn cầu cho bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) chiếm khoảng 12% chi phí y tế, tương đương 727 tỷ USD, trong đó dự đoán sẽ có 578 triệu người trưởng thành mắc bệnh vào năm 2030 và tăng lên 700 triệu người vào năm 2045 Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người trưởng thành là 5,42%, trong đó 63,6% chưa được chẩn đoán Theo cuộc điều tra Stepwise về các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện, tình hình mắc bệnh đái tháo đường còn tiềm ẩn nhiều thách thức cần được giải quyết.
Năm 2015, tỷ lệ Đái tháo đường toàn quốc ở nhóm tuổi từ 18-69 là 4,1%, trong đó tiền ĐTĐ chiếm 3,6%, và chỉ 31,1% người mắc ĐTĐ được chẩn đoán, trong khi 69,9% chưa được chẩn đoán Trong số những người được chẩn đoán, chỉ có 28,9% đang được quản lý tại cơ sở y tế, còn 71,1% vẫn chưa được kiểm soát Theo dữ liệu mới nhất từ Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), năm 2019 Việt Nam có tỷ lệ mắc ĐTĐ là 6% trong cộng đồng trưởng thành.
Theo Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2022) và hướng dẫn chẩn đoán, điều trị đái tháo đường type 2 của Bộ Y tế (2020), bệnh đái tháo đường được phân loại dựa trên các tiêu chí chính, giúp cải thiện công tác chẩn đoán và quản lý bệnh hiệu quả hơn.
- Đái tháo đường typ 1: do bệnh lý tự miễn phá hủy tế bào beta tụy, thường dẫn đến sự thiếu hụt insulin tuyệt đối
- Đái tháo đường typ 2: do việc khiếm khuyết tiết insulin tiến triển trên nền đề kháng insulin
Đái tháo đường thai kỳ là tình trạng rối loạn chuyển hóa đường được chẩn đoán trong ba tháng giữa hoặc ba tháng cuối của thai kỳ, khi người mẹ chưa được chẩn đoán mắc đái tháo đường trước khi mang thai Đây là một dạng đái tháo đường tạm thời xuất hiện trong thời kỳ mang thai và có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và thai nhi nếu không được kiểm soát tốt Việc phát hiện sớm đái tháo đường thai kỳ giúp giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm, đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh của thai nhi và bảo vệ sức khỏe của người mẹ.
Đái tháo đường chuyên biệt do các nguyên nhân khác như hội chứng đái tháo đường đơn gien, chẳng hạn đái tháo đường sơ sinh và đái tháo đường khởi phát ở người trẻ tuổi, cũng như các bệnh lý tụy ngoại tiết như xơ hóa nang tụy và viêm tụy Ngoài ra, đái tháo đường còn phát sinh do tác dụng phụ của thuốc hoặc hóa chất, như sử dụng glucocorticoid trong điều trị HIV/AIDS hoặc sau khi ghép tạng.
Hai yếu tố đặc trưng trong cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường typ 2 là rối loạn tiết insulin và đề kháng insulin kết hợp với nhau [2],[15], [52]:
Rối loạn tiết insulin do rối loạn bài tiết insulin của tế bào β đảo tụy, ảnh hưởng đến nhịp tiết, động học insulin và số lượng tế bào β tiết insulin có thể gây ra thiếu hụt insulin cần thiết để duy trì chuyển hóa glucose bình thường cho cơ thể Thiếu hụt insulin thường xảy ra sau giai đoạn tăng insulin máu nhằm phản ứng lại tình trạng kháng insulin Đề kháng insulin là hình thức kháng lại tác dụng của insulin, gồm giảm khả năng ức chế sản xuất glucose tại gan, giảm khả năng thu nạp glucose ở mô ngoại vi và giảm khả năng sử dụng glucose ở các cơ quan, góp phần vào sự phát triển các bệnh lý liên quan đến rối loạn chuyển hóa đường huyết.
Yếu tố di truyền cũng đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra tình trạng kháng insulin Ngoài ra, các yếu tố như béo phì, đặc biệt là béo bụng, tuổi cao và thiếu hoạt động thể lực cũng góp phần làm tăng nguy cơ kháng insulin, ảnh hưởng đến sức khỏe chuyển hóa của người bệnh [38].
1.1.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường
Theo Tổ chức Y tế thế giới và ADA 2020, bốn xét nghiệm chẩn đoán ĐTĐ được khuyến nghị thể hiện trong bảng sau [21], [60], [61]
Bảng 1.1 Xét nghiệm chẩn đoán ĐTĐ
Glucose máu lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) (Không nạp calo trong ít nhất 8 giờ)
(126 mg/dl) Glucose máu 2 giờ sau liệu pháp dung nạp glucose đường uống (oral glucose tolerance test: OGTT)
(200 mg/dl) HbA1c (thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế)
(48 mmol / mol) Glucose máu ngẫu nhiên
(BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp)
Các xét nghiệm chẩn đoán đái tháo đường không cần thiết phải giống nhau đối với từng người Chẩn đoán chính xác được xác định khi có ít nhất một trong bốn loại xét nghiệm kèm theo các dấu hiệu và triệu chứng phù hợp Trong trường hợp phát hiện giá trị xét nghiệm cao ở người không có triệu chứng, nên tiến hành làm lại xét nghiệm, tốt nhất là cùng loại, càng sớm càng tốt vào ngày hôm sau để đảm bảo chẩn đoán chính xác [60], [61].
Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, phương pháp chẩn đoán Tiểu đường đơn giản và hiệu quả nhất là đo lượng glucose huyết lúc đói hai lần, với mức ≥ 126 mg/dl (hoặc 7 mmol/l) Ngoài ra, nếu xét nghiệm HbA1c được thực hiện tại phòng xét nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc tế, việc đo HbA1c hai lần cũng có thể dùng để chẩn đoán bệnh ĐTĐ một cách chính xác.
1.1.6 Biến chứng đái tháo đường
Bệnh đái tháo đường gây ra rất nhiều biến chứng nguy hiểm bao gồm các biến chứng cấp tính và biến chứng mạn tính
* Hôn mê nhiễm toan ceton
Nhiễm toan ceton do đái tháo đường chủ yếu gặp ở bệnh nhân đái tháo đường type 1, nhưng cũng có thể xảy ra ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 trong các trường hợp đặc biệt như nhiễm trùng nặng hoặc chấn thương.
Khi nhu cầu về insulin tăng cao, tình trạng thiếu hụt insulin trầm trọng cùng với sự gia tăng của các hormone đối nghịch như cortisol, GH và glucagon dẫn đến mức glucose trong máu tăng cao, gây ra rối loạn chuyển hóa lipid và tăng sinh các thể ceton, dẫn đến tình trạng toan hóa các tổ chức Những biến chứng này còn gây mất nước và điện giải trong và ngoài tế bào, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe患者.
Nhiễm toan ceton diễn biến nhanh trong vòng vài giờ, gây ra các triệu chứng nổi bật như hơi thở có mùi ceton, khát nước, tiểu nhiều và thở sâu Một số bệnh nhân còn xuất hiện đau bụng, buồn nôn và nôn, đòi hỏi phải nhận biết sớm để tránh biến chứng nghiêm trọng.
* Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu
Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là biến chứng cấp tính xảy ra ở bệnh nhân đái tháo đường type 2, đặc biệt ở những người lớn tuổi 57 [36], [61]
Khi nồng độ glucose máu tăng cao ≥ 33,3mmol/L ( 6 g/L), áp lực thẩm thấu
ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2
Nguyên tắc điều trị đái tháo đường yêu cầu xây dựng kế hoạch toàn diện và cá nhân hóa phù hợp với từng bệnh nhân Việc phát hiện sớm và dự phòng các yếu tố nguy cơ giúp giảm thiểu các tai biến và biến cố nguy hiểm Quyết định điều trị cần dựa trên tình trạng sức khỏe tổng thể, các bệnh lý kèm theo, thói quen sinh hoạt và điều kiện kinh tế của người bệnh Để đạt hiệu quả tối ưu, việc điều trị đái tháo đường phải kết hợp giữa sử dụng thuốc đúng liều lượng và thay đổi lối sống lành mạnh.
Hướng dẫn xử trí tăng đường huyết năm 2012 của American Diabetes Association (ADA) và European Association for the Study of Diabetes (EASD) lần đầu tiên giới thiệu phương pháp tiếp cận lấy bệnh nhân làm trung tâm Trong phương pháp này, mục tiêu kiểm soát đường huyết phải phù hợp với từng bệnh nhân dựa trên các yếu tố như thái độ, nỗ lực của bệnh nhân, thời gian mắc bệnh, triển vọng sống, nguy cơ hạ đường huyết và biến chứng mạch máu Mức kiểm soát đường huyết cá nhân sẽ dao động từ mục tiêu HbA1c thấp nhất (7,5%-8,0%) đến cao nhất (6,0%-6,5%) tùy thuộc vào các yếu tố này.
Đến năm 2022, khái niệm cá nhân hóa điều trị bệnh đái tháo đường type 2 đã được nâng cao nhờ các dữ liệu mới và công cụ quản lý hiện đại Hiện nay, Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) đã tích hợp các biểu đồ hỗ trợ hướng dẫn quyết định điều trị, giúp cá nhân hóa phương pháp điều trị phù hợp với từng bệnh nhân.
Hình 1.2 Đặc điểm của bệnh nhân và bệnh được xác định tối ưu hóa mục tiêu
Mục tiêu cụ thể trong điều trị đái tháo đường type 2 theo hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2020 và Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) nhằm kiểm soát đường huyết tốt nhất, giảm thiểu các biến chứng lâu dài, như bệnh tim mạch, tổn thương thần kinh và thận Các hướng dẫn đề xuất thiết lập mức đường huyết mục tiêu phù hợp với từng bệnh nhân, dựa trên các yếu tố tuổi tác, tình trạng sức khỏe và khả năng tự quản lý Chương trình điều trị đái tháo đường type 2 nên tập trung vào lối sống lành mạnh, chế độ ăn cân đối, vận động thường xuyên và sử dụng thuốc điều trị khi cần thiết Đồng thời, việc theo dõi định kỳ các chỉ số đường huyết và xác định các yếu tố nguy cơ giúp nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.
2022) được cụ thể hóa bằng các chỉ số thể thể hiện trong bảng 1.2:
Bảng 1.2 Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ typ 2[4], [27]
MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ Chỉ số
Glucose huyết tương mao mạch lúc đói, trước ăn
80 – 130 mg/dl (4,4 – 7,2 mmol/l)* Đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2h
Kiểm soát huyết áp Huyết áp
HA