TỔNG QUAN
Tổng quan về thuốc kháng sinh
Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác [2]
- Dựa vào tính nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh
- Dựa vào cơ chế tác dụng của kháng sinh
- Dựa vào cấu trúc hóa học
+ Dựa vào cấu trúc hóa học, kháng sinh được chia thành các nhóm như sau:
➢ Nhóm Beta – lactam có các phân nhóm:
• Các chất ức chế β-lactamse
➢ Các nhóm kháng sinh khác
- Cấu trúc hóa học của các kháng sinh nhóm cephalosporin đều là dẫn xuất của acid 7-aminocephalosporanic (viết tắt là A7AC) Các cephalosporin khác nhau được hình thành bằng phương pháp bán tổng hợp Sự thay đổi các nhóm thế sẽ dẫn đến thay đổi đặc tính và tác dụng sinh học của thuốc
- Các cephalosporin bán tổng hợp tiếp tục được chia thành 4 thế hệ Sự phân chia này không còn căn cứ trên cấu trúc hóa học mà chủ yếu dựa vào phổ kháng khuẩn của kháng sinh Xếp theo thứ tự từ thế hệ 1 đến thế hệ 4, hoạt tính trên vi khuẩn Gram-dương giảm dần và hoạt tính trên vi khuẩn Gram-âm tăng dần Phổ kháng khuẩn của một số cephalosporin trong từng thế hệ được trình bày trong Bảng I.3 Lưu ý thêm là tất cả các cephalosporin hầu như không có tác dụng trên enterococci, Listeria monocytogenes, Legionella spp., S aureus kháng methicilin, Xanthomonas maltophilia, và Acinetobacter spp
Bảng 1.1 Các thế hệ Cephalosporin và phổ kháng khuẩn
Thế hệ Tên thuốc Phổ kháng khuẩn
Có hoạt tính mạnh trên các chủng vi khuẩn Gram-dương nhưng hoạt tính tương đối yếu trên các chủng vi khuẩn Gram-âm Phần lớn cầu khuẩn Gram-dương nhạy cảm với cephalosporin thế hệ 1 (trừ enterococci, S epidermidis và S aureus kháng methicilin) Hầu hết các vi khuẩn kỵ khí trong khoang miệng nhạy cảm, nhưng với B fragilis thuốc không có hiệu quả Hoạt tính tốt trên các chủng
Moraxella catarrhalis, E coli, K pneumoniae, và P mirabilis
Cefaclor Cefprozil Cefuroxim Cefotetan Ceforanid
Hoạt tính mạnh hơn trên vi khuẩn Gram-âm so với thế hệ 1 (nhưng yếu hơn nhiều so với thế hệ 3) Một số thuốc như cefoxitin, cefotetan cũng có hoạt tính trên B fragilis
Thế hệ Tên thuốc Phổ kháng khuẩn
Cefpodoxim Ceftibuten Cefdinir Cefditoren Ceftizoxim Ceftriaxon Cefoperazon Ceftazidim
Hoạt tính kém hơn thế hệ 1 trên cầu khuẩn Gram-dương, nhưng có hoạt tính mạnh trên vi khuẩn họ Enterobacteriaceae (mặc dù hiện nay các chủng vi khuẩn thuộc họ này đang gia tăng kháng thuốc mạnh mẽ do khả năng tiết beta-lactamase) Một số các thuốc như ceftazidim và cefoperazon có hoạt tính trên P aeruginosa nhưng lại kém các thuốc khác trong cùng thế hệ 3 trên các cầu khuẩn Gram-dương
Cephalosporin thế hệ 4 Cefepim Phổ tác dụng rộng hơn so với thế hệ
3 và bền vững hơn với các beta- lactamase (nhưng không bền với
Klebsiella pneumoniae carbapenemase (KPC) nhóm A) Thuốc có hoạt tính trên cả các chủng Gram-dương, Gram-âm (bao gồm
1.1.3 Các nguyên tắc sử dụng kháng sinh
1.1.3.1 Lựa chọn kháng sinh và liều lượng
- Lựa chọn thuốc kháng sinh phụ thuộc hai yếu tố: người bệnh và vi khuẩn gây bệnh Yếu tố liên quan đến người bệnh cần xem xét bao gồm: lứa tuổi, tiền sử dị ứng thuốc, chức năng gan - thận, tình trạng suy giảm miễn dịch, mức độ nặng của bệnh, bệnh mắc kèm, cơ địa dị ứng… Nếu là phụ nữ: cần lưu ý đối tượng phụ nữ có thai, đang cho con bú để cân nhắc lợi ích/nguy cơ Về vi khuẩn: loại vi khuẩn, độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn Cần cập nhật tình hình kháng kháng sinh để có lựa chọn phù hợp Cần lưu ý các biện pháp phối hợp
6 để làm giảm mật độ vi khuẩn và tăng nồng độ kháng sinh tại ổ nhiễm khuẩn như làm sạch ổ mủ, dẫn lưu, loại bỏ tổ chức hoại tử khi cần
- Chính sách kê đơn kháng sinh nhằm giảm tỷ lệ phát sinh vi khuẩn kháng thuốc và đạt được tính kinh tế hợp lý trong điều trị Với những kháng sinh mới, phổ rộng, chỉ định sẽ phải hạn chế cho những trường hợp có bằng chứng là các kháng sinh đang dùng đã bị kháng
- Liều dùng của kháng sinh phụ thuộc nhiều yếu tố: tuổi người bệnh, cân nặng, chức năng gan - thận, mức độ nặng của bệnh Do đặc điểm khác biệt về dược động học, liều lượng cho trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh và nhũ nhi có hướng dẫn riêng theo từng chuyên luận Liều lượng trong các tài liệu hướng dẫn chỉ là gợi ý ban đầu Không có liều chuẩn cho các trường hợp nhiễm khuẩn nặng Kê đơn không đủ liều sẽ dẫn đến thất bại điều trị và tăng tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc Ngược lại, với những kháng sinh có độc tính cao, phạm vi điều trị hẹp (ví dụ: các aminoglycosid, polypeptide), phải bảo đảm nồng độ thuốc trong máu theo khuyến cáo để tránh độc tính, do vậy, việc giám sát nồng độ thuốc trong máu nên được triển khai [2]
1.1.3.2 Sử dụng kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm
- Điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm khi chưa có bằng chứng về vi khuẩn học do không có điều kiện nuôi cấy vi khuẩn (do không có Labo vi sinh, không thể lấy được bệnh phẩm), hoặc khi đã nuôi cấy mà không phát hiện được nhưng có bằng chứng lâm sàng rõ rệt về nhiễm khuẩn
- Phác đồ sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm là lựa chọn kháng sinh có phổ hẹp nhất gần với hầu hết các tác nhân gây bệnh hoặc với các vi khuẩn nguy hiểm có thể gặp trong từng loại nhiễm khuẩn
- Kháng sinh phải có khả năng đến được vị trí nhiễm khuẩn với nồng độ hiệu quả nhưng không gây độc
- Trước khi bắt đầu điều trị, cố gắng lấy mẫu bệnh phẩm để phân lập vi khuẩn trong những trường hợp có thể để điều chỉnh lại kháng sinh phù hợp hơn
- Nên áp dụng mọi biện pháp phát hiện nhanh vi khuẩn khi có thể để có được cơ sở đúng đắn trong lựa chọn kháng sinh ngay từ đầu
- Nếu không có bằng chứng về vi khuẩn sau 48 giờ điều trị, cần đánh giá lại lâm sàng trước khi quyết định tiếp tục sử dụng kháng sinh
- Cần thường xuyên cập nhật tình hình dịch tễ và độ nhạy cảm của vi khuẩn tại địa phương để lựa chọn được kháng sinh phù [2]
1.1.3.3 Sử dụng kháng sinh khi có bằng chứng vi khuẩn học
- Nếu có bằng chứng rõ ràng về vi khuẩn và kết quả của kháng sinh đồ, kháng sinh được lựa chọn là kháng sinh có hiệu quả cao nhất với độc tính thấp nhất và có phổ tác dụng hẹp nhất gần với các tác nhân gây bệnh được phát hiện
- Ưu tiên sử dụng kháng sinh đơn độc
- Phối hợp kháng sinh chỉ cần thiết nếu:
+ Chứng minh có nhiễm đồng thời nhiều loại vi khuẩn nên cần phối hợp mới đủ phổ tác dụng (đặc biệt những trường hợp nghi ngờ có vi khuẩn kỵ khí hoặc vi khuẩn nội bào)
+ Hoặc khi gặp vi khuẩn kháng thuốc mạnh, cần phối hợp để tăng thêm tác dụng
+ Hoặc khi điều trị kéo dài, cần phối hợp để giảm nguy cơ kháng thuốc (ví dụ: điều trị lao, HIV…) [2]
1.1.3.4 Lựa chọn đường đưa thuốc
Thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh trong những năm gần đây 20 1 Trên thế giới
Vấn đề sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả đang trở thành vấn đề được cả thế giới quan tâm, đặc biệt là sử dụng kháng sinh Đây là một trong những nhóm thuốc có giá trị chiếm tỷ trọng cao nhất trong các nhóm thuốc được sử dụng trong bệnh viện Kháng sinh luôn được coi là một trong các nhóm thuốc dễ bị lạm dụng nhất với việc sử dụng bất hợp lý ở tất cả các khu vực, nhất là ở các nước đang phát triển
Hiện nay, các kháng sinh thế hệ đầu được sử dụng ngày càng hạn chế trong điều trị chủ yếu là do vấn đề kháng kháng sinh dẫn đến làm giảm hoặc mất tác dụng Các kháng sinh thế hệ mới hơn thông thường lại có giá thành đắt hơn và đang được sử dụng ngày càng rộng rãi Thậm chí những kháng sinh dự trữ cuối cùng cũng đang dần mất hiệu lực điều trị trước vi khuẩn Các báo cáo gần đây cho thấy tình trạng đề kháng với các kháng sinh nhóm carbapenem, một trong những kháng sinh dự trữ cuối cùng ngày càng trở nên phổ biến ở
Châu Á và Châu Âu [31] Việc quản lý sử dụng kháng sinh có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị trên lâm sàng và cả tính kinh tế Ở rất nhiều nước, kháng sinh là nhóm thuốc điều trị được kê đơn thường xuyên nhất chiếm tới 30-50% các đơn thuốc được kê Bằng chứng cho thấy là các nước có mức sử dụng kháng sinh cao nhất cũng là các nước có tình trạng kháng kháng sinh trầm trọng nhất
1.2.2 Thực trạng sử dụng kháng sinh nhóm cephalosporin tại một số bệnh viện ở Việt Nam
1.2.2.1 Thực trạng chỉ định kháng sinh nhóm cephalosporin
Tại Việt Nam, hầu hết các cơ sở khám, chữa bệnh đang phải đối mặt với tốc độ lan rộng các vi khuẩn kháng với nhiều loại kháng sinh Mức độ và tốc độ kháng thuốc ngày càng gia tăng, đang ở mức báo động Gánh nặng do kháng thuốc ngày càng tăng do chi phí điều trị tăng lên, ngày điều trị kéo dài, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh, cộng đồng và sự phát triển chung của xã hội
Tại hội thảo thách thức mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh truyền nhiễm, do Hội truyền nhiễm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 26/12/2019 Bác sĩ Lê Quốc Hùng - Trưởng khoa bệnh nhiệt đới - Bệnh viện Chợ Rẫy báo cáo:
Theo thống kê có tới hơn 50% kháng sinh sử dụng trong các bệnh viện hiện nay không hợp lý Có nhiều trường hợp sử dụng kháng sinh không cần thiết trên bệnh nhân không bị nhiễm khuẩn, chỉ nghi là xài hoặc xài theo kiểu dự phòng
Tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn diễn ra khá phổ biến trong các cơ sở y tế Tỷ lệ có đơn thuốc là kháng sinh tại các trung tâm Y tế là 71,2%, có nơi lên đến 95% [10]
Theo nghiên cứu "Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh tại bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên" của Hoàng Thị Kim Dung cho thấy: Kháng sinh được sử dụng với số lượng nhỏ (1,9%) nhưng chiếm tỷ lệ giá trị lớn (35,4%) Nhóm kháng sinh beta lactam được sử dụng nhiều nhất, chiếm 96,72% giá trị sử dụng của kháng sinh [12] Nghiên cứu của Hoàng Thị Mai về phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh trong nội trú tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba năm 2016 cho thấy nhóm kháng sinh cephalosporin chiếm 84,1% về giá trị và 56% số khoản mục, trong đó chủ yếu là các cephalosporin thế hệ 3.[14]
Tỷ lệ kháng sinh đường tiêm (67,6%) cao gấp đôi so với kháng sinh đường uống trong tổng số kháng sinh được kê đơn Thời gian bệnh nhân được sử dụng kháng sinh trong điều trị nội trú trung bình là 7,05 ngày [12]
Cũng theo nghiên cứu của Lê Thị Thanh Giang tại BV Phụ Sản Thanh Hóa năm 2016, giá trị nhóm thuốc kháng sinh chiếm tỷ lệ sử dụng 64% Tỷ lệ bệnh án có kê kháng sinh là 93,3% Trong đó sử dụng một kháng sinh chiếm tỷ lệ 51,7%, phối hợp 2 kháng sinh chiếm tỷ lệ 38.1% Thuốc sản xuất trong nước với giá trị 53,9% sử dụng nhiều hơn thuốc nhập khẩu [9]
Trong năm 2016 nghiên cứu về giá trị sử dụng của kháng sinh tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên cho thấy kháng sinh chiếm giá trị cao nhất GTSD thuốc tại bệnh viện với tỷ lệ 34.25% [26]
Một nghiên cứu khác tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba năm 2016 cũng cho thấy cơ cấu thuốc sử dụng tập trung phần lớn vào nhóm thuốc kháng sinh, chiếm đến 61.5% về giá trị [16]
* Thời gian điều trị bằng kháng sinh
Với nhiễm khuẩn nhẹ, đợt điều trị thường được kéo dài khoảng 7-10 ngày, nhưng với nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn ở những tổ chức mà kháng
22 sinh khó thâm nhập như: màng tim, màng não, xương thì đợt điều trị phải kéo dài hơn; riêng với bệnh lao, phác đồ điều trị ít nhất cũng phải 8 tháng
Theo nghiên cứu tại bệnh viện sản nhi Nghệ An năm 2016, thời gian điều trị kháng sinh trung bình là 7,11 ngày Trong đó thời gian điều trị kháng sinh dưới 7 ngày chiếm tỷ lệ cao [19] Theo một nghiên cứu khác tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam của Văn Ngọc Sơn, thời gian trung bình điều trị kháng sinh là 6,28 ngày [5] Thời gian sử dụng kháng sinh tại một số bệnh viện trong nước như: Bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên (7,05 ngày) [14], Bệnh viện Đà Nẵng (7,8 ngày) [20], Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí (6,98 ngày)[13]
* Sử dụng thuốc Generic và kháng sinh sản xuất trong nước
Nghiên cứu của Hoàng Thị Kim Dung tại Bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên năm 2014 cho thấy kháng sinh sản xuất trong nước chiếm tới 69,5% về số lượng (tính theo đơn vị sử dụng nhỏ nhất (viên, ống) nhưng chỉ chiếm 19,5% về GTSD
Kháng sinh thuộc nhóm generic sử dụng nội trú tại bệnh viện sản nhi Nghệ
Vài nét về Bệnh viện quận Tân Phú
Bệnh viện quận Tân Phú là Bệnh viện đa khoa hạng II Có chức năng nhiệm vụ:
1 Cấp cứu-Khám bệnh-Chữa bệnh;
2 Đào tạo cán bộ Y tế;
3 Nghiên cứu khoa học về y học;
4 Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật;
7 Quản lý kinh tế Y tế
- Mô hình tổ chức của Bệnh viện quận Tân Phú:
Bệnh viện quận Tân Phú gồm có: Ban giám đốc, 06 phòng chức năng,
16 khoa lâm sàng và cận lâm sàng
Hình ảnh: Sơ đồ tổ chức Bệnh viện quận Tân Phú
1.3.2 Mô hình bệnh tật của Bệnh viện quận Tân Phú năm 2022
Bảng 1.8 Mô hình bệnh tật của Bệnh viện quận Tân Phú năm 2022
TT Tên bệnh/ nhóm bệnh
Tại khoa khám bệnh Điều trị nội trú
Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật
, cơ quan tạo máu và cơ chế miễn dịch
TT Tên bệnh/ nhóm bệnh
Tại khoa khám bệnh Điều trị nội trú
Bệnh nội tiết, dinh dưỡng chuyển hóa
Rối loạn tâm thần và hành vi
Bệnh của hệ thống thần kinh
Bệnh của mắt và phần phụ
Bệnh của tai và xương chũm
Bệnh của hệ tuần hoàn
Bệnh của hệ hô hấp
TT Tên bệnh/ nhóm bệnh
Tại khoa khám bệnh Điều trị nội trú
Bệnh của hệ tiêu hóa
Bệnh của da và tổ chức dưới da
Bệnh của hệ thống cơ, xương và mô liên kết
Bệnh của hệ tiết niệu sinh dục
Chửa, đẻ và sau đẻ
Một số bệnh trong thời kì chu sinh
TT Tên bệnh/ nhóm bệnh
Tại khoa khám bệnh Điều trị nội trú
10 ngày, chiếm 28%;
>3 ngày – 5 ngày, chiếm tỉ lệ (16%)
Số ngày điều trị lớn nhất trong nghiên cứu là 21 ngày và số ngày điều trị nhỏ nhất là 4 ngày
Số ngày điều trị trong khoảng 9-11 ngày; đây cũng là thời gian điều trị phù hợp với Hướng dẫn sử dụng kháng sinh (từ 5-10 ngày)
Mặc dù vậy cũng có những bệnh nhân có thời gian điều trị kéo dài hơn so với hướng dẫn: 13, 14, 15 ngày.
Bệnh án có phối hợp kháng sinh
Bảng 3.5 Tỷ lệ bệnh án có phối hợp kháng sinh
STT Mã bệnh theo ICD
Số lượng bệnh án chỉ định 1 KS
Số lượng bệnh án chỉ định từ 2 KS trở lên
Kết quả phân tích cho thấy, chỉ định phối hợp từ 2 kháng sinh trở lên chiếm tỷ lệ (62%), tỷ lệ bệnh án chỉ định 1 kháng sinh là 38%
Các kiểu chỉ định phối hợp từ 2 kháng sinh được thể hiện trong bảng sau Bảng 3.6 Các kiểu phối hợp kháng sinh
Dạng phối hợp Hoạt chất KS Tần suất Tỷ lệ (%) nb
Dạng phối hợp Hoạt chất KS Tần suất Tỷ lệ (%) nb
Ceftazidim + Moxifloxacin 10 Ceftazidim + Levofloxacin 5 Levofloxacin + Ceftriaxon 1 Ceftriaxon + Moxifloxacin 1 Cephalosporin + aminoglycosid
Kiểu phối hợp kháng sinh nhóm cephalospoprin và nhóm quinolon là kiểu phối hợp thường gặp nhất (38.71%), trong đó nhóm phối hợp chiếm nhiều nhất là Ceftazidim và Moxifloxacin; tiếp đó là phối hợp carbapenem và kháng sinh nhóm quinolon (8.06%) và carbapenem với polymicin (7.81%)
Kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận 1 trường hợp phối hợp 3 kháng sinh Carbapenem + Polymyxin+ Aminoglycosid cho mã bệnh J44.
Bệnh án có thay đổi liệu pháp điều trị
Bảng 3.7 Bệnh án có thay đổi liệu pháp điều trị
SL bệnh án thay đổi chỉ định kháng sinh
Số lượng bệnh án thay đổi KS đường uống
Số lượng bệnh án chuyển KS từ đường uống sang đường tiêm/truyền
Số lượng bệnh án chuyển KS từ đường tiêm/truyền sang đường uống
Số lượng bệnh án chuyển KS từ đường tiêm/truyền sang đường tiêm/truyền
Trong phạm vi nghiên cứu 100 hồ sơ bệnh án, có 25 HSBA thay đổi liệu pháp điều trị về chỉ định kháng sinh, không có bệnh nào thay đổi kháng sinh đường uống hay chuyển kháng sinh từ đường uống sang đường truyền và cũng không có bệnh án chuyển từ đường tiêm/ truyền sang đường uống có 25 HSBA chuyển kháng sinh từ đường tiêm/truyền sang đường tiêm truyền.
Bệnh án chỉ định liều dùng hợp lý
41 Để đánh giá sự phù hợp về liều dùng của các kháng sinh được chỉ định trong các bệnh án nghiên cứu J20, J96 căn cứ phác đồ điều trị của bệnh viện J44 thì dựa vào Quyết định 708 Trường hợp J45 cả phác đồ bệnh viện và quyết định 708 chưa có hướng dẫn cụ thể sẽ căn cứ vào dược thư quốc gia; J18 phác đồ bệnh viện không có hướng dẫn liều cụ thể, căn cứ dược thư quốc gia
Bảng 3 8 Tỷ lệ bệnh án phù hợp về liều dùng
1 LD phù hợp với phác đồ bệnh viện
3 LD phù hợp với dược thư quốc gia
Trong 100 bệnh án có chỉ định sử dụng kháng sinh, có 24 bệnh án mã J18;
18 bệnh án mã J45 chỉ định liều phù hợp với dược thư quốc gia; đạt tỷ lệ 72,73% và 81,81%
06 bệnh án mã J20 liều dùng phù hợp như trong phác đồ bệnh viện, đạt tỷ lệ 66,67%; 04 Bệnh án mã J44 có liều theo hướng dẫn Quyết định 708, đạt tỷ lệ 11,43%
Có 03 HSBA mã bệnh J20; 31HSBA mã bệnh J44 có liều dùng không phù hợp với phác đồ bệnh viện hay hướng dẫn quyết định 708, tỷ lệ là 33,33% và
88,57% Không phù hợp liều dùng khuyến cáo trong ngày (Liều dùng của Ceftazidim cao hơn liều khuyến cáo)
09 HSBA J18 và 04 HSBA J45 không phù hợp với liều hướng dẫn của dược thư quốc gia (Liều dùng Ceftazidim cao hơn liều khuyến cáo đối với Người bệnh trên 70 tuổi: tối đa 3g/ngày) Có tỷ lệ 27,27% và 18,18%
Bệnh án thực hiện đánh số thứ tự ngày dùng thuốc
Bảng 3.9 Cơ cấu kháng sinh đánh số thứ tự ngày dùng
STT Đánh số thứ tự ngày dùng Số lượng Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ 100% Hồ sơ bệnh án có sử dụng kháng sinh đánh số thứ tự ngày dùng tuân thủ đúng theo quy định của Thông tư 23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng thuốc trong cơ sở y tế có giường bệnh do Bộ Y tế ban hành.
Bệnh án có tương tác thuốc
Bảng 3.10 Tỷ lệ bệnh án có tương tác kháng sinh và kháng sinh
STT Tương tác Số lượng bệnh án
Dựa vào phần mềm và tài liệu sẵn có để tra tương tác kháng sinh-kháng sinh, kết quả là 4% tỷ lệ bệnh án có tương tác ở mức độ cảnh báo trung bình Cặp tương tác là Ceftazidime + Amikacin trong các mã bệnh J18, J44, J45
Phân tích chi phí điều trị thuốc kháng sinh nhóm cephalosporin
3.2.1 Chi phí sử dụng kháng sinh trong tổng số chi phí thuốc
Bảng 3.11 Cơ cấu chi phí sử dụng kháng sinh trong tổng số chi phí thuốc
Qua nghiên cứu trong 100 hồ sơ bệnh án được tỷ lệ khoản mục kháng sinh sử dụng chiếm 11.2% trong tổng số thuốc điều trị cho bệnh nhân (thuốc khác là 88.8%) Tuy nhiên giá trị thuốc kháng sinh lại chiếm 73.83% (354.266.220 đồng) gần gấp 3 lần mà giá trị của các thuốc kháng chiếm 26.17% (125.591.536 đồng)
3.2.2 Chi phí kháng sinh sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ
Bảng 3.12 Chi phí Kháng sinh theo nguồn gốc sản xuất
STT Nguồn gốc sản xuất
Khoản mục Giá trị (VNĐ)
Số lượng Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%)
Thuốc kháng sinh được nghiên cứu trong 100 Hồ sơ bệnh án, có sử dụng
14 thuốc kháng sinh, với 2 nguồn gốc xuất xứ đó là nhập khẩu và sản xuất tại Việt Nam thì cơ cấu kháng sinh sử dụng tại Khoa nội nhiễm bệnh viện quận
Tân Phú trong điều trị bệnh đường hô hấp tập trung chủ yếu vào thuốc nhập khẩu: chiếm tỷ lệ 64,29% khoản mục và chiếm tỷ lệ 72,43% giá trị; thuốc được sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ 35,71% khoản mục và chiếm tỷ lệ 27,57% giá trị Số thuốc sản xuất có nguồn gốc nước ngoài gấp đôi thuốc sản xuất trong nước
Nhưng giá trị thuốc sản xuất có nguồn gốc nước ngoài cao hơn gấp 3 lần giá trị thuốc sản xuất trong nước
3.2.3 Chi phí kháng sinh sử dụng theo tên thuốc
Bảng 3.13 Chi phí kháng sinh theo thuốc biệt dược gốc và generic
Thuốc biệt dược gốc và generic
Khoản mục Giá trị (VNĐ)
Số lượng Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%)
Kết quả thống kê loại thuốc kháng sinh sử dụng trong 100 hồ sơ bệnh án, về khoản số mục thuốc kháng sinh là biệt dược gốc chiếm tỷ lệ 21,42% và thuốc kháng sinh theo tên generic chiếm 78,58% Giá trị thuốc biệt dược gốc chiếm 6,96% và generic chiếm 93,04% trong tổng giá trị tiền
Ba loại thuốc biệt dược gốc có chi phí sử dụng lần lượt là Ciprobay 200: 419.840 đồng; Ciprobay 400: 4.408.000 đồng; Avelox:19.845.000 đồng Điều này cho thấy sự chú trọng của các bác sỹ trong cân đối thuốc biệt dược gốc- thuốc generic và vai trò điều tiết của Hội đồng thuốc và điều trị
3.2 4 Chi phí kháng sinh theo tiêu chí kỹ thuật
Bảng 3.14 Chi phí kháng sinh chỉ định theo tiêu chí kỹ thuật
KM Tỷ lệ (%) Giá Trị
Trong phạm vi nghiên cứu 100 hồ sơ bệnh án cơ cấu về tiêu chí kỹ thuật của nhóm kháng sinh, về khoản mục tỷ lệ nhóm 1 chiếm tỷ lệ 45,45%; nhóm 2 chiếm tỷ lệ 36,36%; nhóm 3 có tỷ lệ 18,18%, không có nhóm 4 và 5
Giá trị của nhóm 1 chiếm tỷ lệ cao nhất lầ 73,65%, kế đến là nhóm 3 có tỷ lệ 15,86% và nhóm 2 có tỷ lệ 10,49%
3.2.5 Chi phí kháng sinh nhóm cephalosporin
Bảng 3.15 Chi phí kháng sinh cephalosporin sử dụng
STT Nhóm kháng sinh Số KM Giá trị
(VNĐ) Tỷ lệ giá trị (%)
STT Nhóm kháng sinh Số KM Giá trị
(VNĐ) Tỷ lệ giá trị (%)
Trong 100 HSBA được nghiên cứu các nhóm kháng sinh được chỉ định:
Về số khoản mục nhóm cephalosporin thế hệ 3 chiếm 21,43%, nhóm Quinolon chiếm 35,71% có khoản mục cao nhất
Về giá trị sử dụng % nhóm Quinolon chiếm 37,10% cao nhất, kế đến là nhóm cephalosporin thế hệ 3 chiếm 34,94 %, lần lượt polymyxin (13,93%), carbapenem (7,36%), cephalosporin thế hệ 2 (3,83%); penicillin (2,55%), cuối cùng là nhóm Aminoglycosid (0,29%)
3.2.6 Chi phí sử dụng kháng sinh theo mã bệnh
Bảng 3.16 Chi phí sử dụng kháng sinh theo mã bệnh
STT Mã bệnh theo ICD
Chi phí kháng sinh trung bình (VNĐ)
Chi phí kháng sinh thấp nhất (VNĐ)
Chi phí kháng sinh cao nhất (VNĐ)
Chi phí kháng sinh trung bình
Mã bệnh J18 (Viêm phổi), J44 (Các bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khác) có chi phí trung bình cao nhất (10.783.170 đồng và 10.558.620 đồng) Bệnh án có chi phí sử dụng kháng sinh cao nhất là bệnh án có mã bệnh J44 (20.802.240 đồng) và mã bệnh J18 (20.831.340 đồng)
Mã bệnh J44 có chi phí trung bình thấp nhất (315.000 đồng) Chi phí trung bình các bệnh án là 6.316.158 đồng
* Chi phí sử dụng kháng sinh liên quan đến các phác đồ thay đổi liệu pháp điều trị
Bảng 3.17 Chi phí sử dụng kháng sinh liên quan đến các phác đồ thay đổi liệu pháp điều trị
SL bệnh án thay đổi chỉ định kháng sinh
Trong phạm vi nghiên cứu 100 HSBA có 25 bệnh án thay đổi chỉ định kháng sinh, chi phí kháng sinh trung bình sử dụng thay đổi chỉ định của các mã bệnh J18 (Viêm phổi) là 5.495.280 đồng; J44 (Các bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khác) là 18.377.064 có chi phí trung bình cao nhất; J45 (Hen phế quản) là 6.402.600 đồng
Chi phí trung bình các bệnh án có thay đổi chỉ định là 10.091.648 đồng Chi phí trung bình thấp nhất J45 là 130.200 đồng; chi phí trung bình cao nhất J44 là 34.287.408 đồng
3.2.7 Số DDD và chi phí/DDD của mỗi kháng sinh đã sử dụng
Bảng 3 18 Chi phí /DDD của mỗi kháng sinh đã sử dụng
Khi sử dụng các kháng sinh khác nhau thì chi phí cho một ngày điều trị tính cho DDD là khác nhau: tại bệnh viện chi phí DDD ta thấy kháng sinh Colistin* là cao nhất là 2.277.000 mặc dù số bệnh nhân sử dụng rất ít Kháng sinh Ceftazidim là kháng sinh sử dụng nhiều nhất song chi phí cho DDD là 210.000 Ít nhất là kháng sinh Amikacin DDD với chi phí là 52.080 /ngày điều trị
Trong nhóm cephalossporin cao nhất là kháng sinh Cefoxitin chi phí là 740.016; kế đến kháng sinh Cefoperazon + sulbactam có chi phí 306.000; Ceftriaxon là kháng sinh có chi phí liều DDD thấp nhất (61.800 đồng) trong nhóm này