1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chử trung nghĩa phân tích tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại bệnh viện sức khỏe tâm thần thái nguyên luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

104 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chử trung nghĩa phân tích tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại bệnh viện sức khỏe tâm thần Thái Nguyên
Tác giả Chử Trung Nghĩa
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thu Hằng
Trường học Trường Đại học Dược Hà Nội
Chuyên ngành Dược lý - Dược lâm sàng
Thể loại Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN (14)
    • 1.1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ ĐIỀU TRỊ (14)
      • 1.1.1. Bệnh tâm thần phân liệt (14)
      • 1.1.2. Điều trị tâm thần phân liệt (20)
    • 1.2. CÁC HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ (25)
      • 1.2.1. Các hướng dẫn trên thế giới (25)
      • 1.2.2. Hướng dẫn điều trị trong nước (30)
    • 1.3. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN (32)
      • 1.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới (32)
      • 1.3.2. Các nghiên cứu trong nước (33)
    • 1.4. TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN THÁI NGUYÊN 24 Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU 1 (36)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (36)
      • 2.1.2. Phương pháp nghiên cứu (36)
      • 2.1.3. Chỉ tiêu nghiên cứu (37)
    • 2.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU 2 (38)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (38)
      • 2.2.2. Phương pháp nghiên cứu (38)
      • 2.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu (39)
    • 2.3. CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ ÁP DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU (40)
      • 2.3.1. Tiêu chuẩn đánh giá về lựa chọn thuốc ban đầu (40)
      • 2.3.2. Tiêu chuẩn đánh giá về liều dùng (40)
      • 2.3.3. Tiêu chuẩn đánh giá về sự thay đổi thuốc trong quá trình điều trị (41)
      • 2.3.4. Tiêu chuẩn đánh giá việc lựa chọn thuốc phối hợp (41)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (42)
    • 3.1. KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN THÁI NGUYÊN (42)
      • 3.1.1. Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu (42)
      • 3.1.2. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu (44)
      • 3.1.3. Đặc điểm sử dụng thuốc trên bệnh nhân nghiên cứu (45)
    • 3.2. PHÂN TÍCH VIỆC SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG LOẠN THẦN TRONG ĐIỀU TRỊ TÂM THẦN PHÂN LIỆT CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN THÁI NGUYÊN (51)
      • 3.2.1. Thực trạng sử dụng thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân tâm thần phân liệt (51)
      • 3.2.2. Phân tích các tương tác trong việc phối hợp thuốc (59)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (65)
    • 4.1. KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN THÁI NGUYÊN (65)
      • 4.1.1. Về đặc điểm chung bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu (65)
      • 4.1.2. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu (66)
      • 4.1.3. Đặc điểm sử dụng thuốc trên bệnh nhân nghiên cứu (67)
      • 4.2.1. Thực trạng sử dụng thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân tâm thần phân liệt (71)
      • 4.2.2. Phân tích các tương tác trong việc phối hợp thuốc (74)
    • 4.3. ĐIỂM MẠNH VÀ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU (76)
      • 4.3.1. Điểm mạnh (76)
      • 4.3.2. Hạn chế (76)

Nội dung

TỔNG QUAN

TỔNG QUAN VỀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ ĐIỀU TRỊ

1.1.1 Bệnh tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt (TTPL) là bệnh loạn thần nặng tiến triển và có xu hướng mạn tính, gây tách biệt dần người bệnh khỏi cuộc sống bên ngoài Người mắc bệnh dần thu mình vào thế giới nội tâm, cảm xúc trở nên khô cứng và xa cách Bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng làm việc và học tập, khiến các chức năng này suy giảm rõ rệt Ngoài ra, người bệnh thường xuất hiện các hành vi và ý nghĩ kỳ dị, khó hiểu, gây nhiều khó khăn cho quá trình điều trị và chăm sóc.

Trên thế giới bệnh TTPL khá phổ biến, tỷ lệ mắc từ 0.3-1% dân số Bệnh thường bắt đầu ở tuổi 15-35 (50% trước tuổi 25),hiếm gặp trước tuổi 10 và sau tuổi

40 Tỷ lệ này giống nhau ở các quốc gia, không phụ thuộc vào vị trí địa lý, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội Tỷ lệ bệnh giống nhau ở nam và nữ, tuổi mắc bệnh ở nam sớm hơn ở nữ [26] [10] Ở Việt Nam Tỷ lệ TTPL 0,52-0,61%, mới mắc 0,29-0,56% dân số Xác suất mắc TTPL 1,26-1,43% Tỷ lệ bệnh nhân nam/nữ 0,77-2,3 Ở tuổi 15-54, nam 45,04%, nữ 36,64% Tuổi trên 55, nam 6,78%, nữ 10,69% 85-95% bệnh khởi phát ở tuổi 15-44 Nam phát bệnh ở tuổi trung bình 20-25, nữ phát bệnh tuổi trung bình 25-30 Số Bệnh nhân hay tái phát và tiến triển bán và mạn tính chiếm 91-97% [15]

Theo ICD-10 các thể TTPL được phân loại như sau [53]:

Tâm thần phân liệt thể Paranoid (F20.0) là dạng bệnh phổ biến nhất trên toàn thế giới, thường xuất hiện với các hoang tưởng tương đối ổn định kèm theo ảo giác, đặc biệt là ảo giác thính giác Bệnh thường đi kèm với rối loạn tri giác mà ít ảnh hưởng đến cảm xúc, ý chí, ngôn ngữ và các triệu chứng căng trương lực cơ.

* Tâm thần phân liệt thể thanh xuân (F20.1)

Trong thể này, các biến đổi cảm xúc nổi bật rõ rệt, kèm theo những hoang tưởng và ảo giác thoáng qua, rời rạc, gây ảnh hưởng đến hành vi Ngoài ra, bệnh nhân thường biểu hiện tác phong vô trách nhiệm, thiếu suy nghĩ trước sau, gây khó khăn cho công tác điều trị và chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Tính điệu bộ của người mắc bệnh TTPL thường thể hiện qua cảm xúc hời hợt, không phù hợp, kèm theo cười khúc khích hoặc tự mãn, mỉm cười một mình hoặc hành xử kiểu cách, cau có, và biểu hiện chơi khăm Họ thường than phiền về các triệu chứng nghiêm trọng, lặp lại các câu nói và có tư duy lộn xộn, lời nói dài dòng, rời rạc Người mắc bệnh này có xu hướng sống cô đơn, hành vi thiếu mục đích và cảm xúc rõ ràng Thể bệnh TTPL thường bắt đầu trong độ tuổi từ 15 đến 25, với xu hướng dự báo xấu do các triệu chứng âm tính tiến triển nhanh, đặc biệt là cảm xúc bị cùn mòn và mất ý chí.

* Tâm thần phân liệt thể căng trương lực (F20.2)

Các rối loạn tâm lý vận động là nét chủ yếu và chiếm ưu thế trong các bệnh lý tâm thần, với các cực của rối loạn có thể xen kẽ như tăng động và sững sờ, hoặc vâng lời tự động và phủ định Những dáng điệu và tư thế không tự nhiên thường duy trì trong thời gian dài, thể hiện đặc điểm của các rối loạn vận động Trong quá trình bệnh, các giai đoạn kích động dữ dội có thể là đặc trưng rõ rệt của các rối loạn tâm thần vận động, đòi hỏi sự chú ý và chẩn đoán chính xác.

* Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3)

Thể này bao gồm các trạng thái đáp ứng tiêu chuẩn chung cho chẩn đoán bệnh TTPL nhưng không phù hợp với các thể đã mô tả như F20.0 – F20.2 hoặc biểu hiện đồng thời nhiều thể mà không rõ đặc trưng của dạng nào chiếm ưu thế Nó chỉ được dùng cho các trạng thái loạn thần, trừ các trường hợp TTPL di chứng (F20.5) và trầm cảm sau phân liệt (F20.4), khi đã cố gắng phân loại vào các thể phân liệt khác nhưng không thành công.

* Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt (F20.4)

Giai đoạn trầm cảm kéo dài có thể xuất hiện như hậu quả của bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) Trong giai đoạn này, một số triệu chứng phân liệt vẫn còn tồn tại nhưng không còn chiếm ưu thế trong toàn bộ hình ảnh lâm sàng Các triệu chứng phân liệt kéo dài có thể biểu hiện dưới dạng “dương tính” hoặc “âm tính,” ảnh hưởng đến quá trình điều trị và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Triệu chứng âm tính thường gặp hơn trong các hội chứng trầm cảm nhẹ đến vừa phải, nhưng hội chứng này không mở rộng đến mức đáp ứng tiêu chuẩn của một giai đoạn trầm cảm trong rối loạn cảm xúc.

* Tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5)

Trong quá trình tiến triển của bệnh TTPL, giai đoạn mạn tính thường xuất hiện, đặc trưng bởi các triệu chứng dương tính dần mờ nhạt và giảm ảnh hưởng đến cảm xúc cũng như hành vi của bệnh nhân.

Triệu chứng âm tính nổi bật lên như cảm xúc cùn mòn, ngôn ngữ nghèo nàn, kém chăm sóc bản thân và hoạt động xã hội

* Tâm thần phân liệt thể đơn thuần (F20.6)

Trạng thái không thường gặp của TTPL thường phát triển âm thầm với tác phong kỳ dị, dần dần mất khả năng đáp ứng các yêu cầu xã hội và suy giảm trong các hoạt động hàng ngày Các triệu chứng hoang tưởng, ảo giác không rõ ràng và các biểu hiện loạn thần không rõ ràng, thường liên quan đến các thể trạng như thanh xuân, Paranoid và căng trương lực của bệnh TTPL Ngoài ra, còn xuất hiện các nét đặc trưng âm tính như cảm xúc cùn mòn, ý chí giảm sút, dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng nghèo nàn, người bệnh trở nên sống lang thang, thu mình lại, ăn không ngon, sống không mục đích.

* Các thể tâm thần phân liệt khác (F20.8)

Bao gồm: TTPL thể loạn cảm giác bản thể, rối loạn dạng phân liệt không xếp cách khác

Loại trừ: Rối loạn giống phân liệt cấp (F23.2), TTPL chu kỳ (F25.2), TTPL tiềm tàng (F23.2)

Cơ chế bệnh sinh của TTPL còn rất phức tạp và chưa được hiểu rõ hoàn toàn Nguyên nhân gây ra bệnh TTPL vẫn chưa được xác định rõ ràng, khiến cho việc chẩn đoán và điều trị gặp nhiều khó khăn TTPL được xếp vào nhóm bệnh nội sinh, trong đó vai trò của các yếu tố như di truyền, miễn dịch và nhiễm độc đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển bệnh.

Có nhiều giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của TTPL như sau:

* Giả thuyết về chất dẫn truyền thần kinh

Nhiều nghiên cứu gần đây cho rằng rối loạn chuyển hóa dopamine đóng vai trò chính trong sinh bệnh bệnh tim thần kinh phong thấp (TTPL) Tăng hoạt động dopamine trong não được xem là yếu tố gây ra bệnh TTPL, với giả thuyết rằng nguyên nhân chính có thể liên quan đến thụ thể D2 Các bằng chứng khoa học đã chỉ ra rằng sự rối loạn trong hoạt động của dopamine và thụ thể D2 có thể là yếu tố cốt lõi dẫn đến sự phát triển của bệnh TTPL.

Có nhiều tranh luận về vai trò của các thụ thể dopamine trong nguyên nhân gây bệnh tự kỷ trì hoãn, đặc biệt là do các thuốc chống loạn thần không điển hình như Clozapine có hiệu quả điều trị tốt hơn Những thuốc này ưu tiên ức chế thụ thể D4 so với thụ thể dopamine D2, cho thấy sự quan trọng của thụ thể D4 trong cơ chế bệnh lý.

Một giả thuyết quan trọng cho rằng, bệnh thần kinh Tourette (TTPL) không chỉ liên quan đến rối loạn chuyển hóa dopamine mà còn có thể liên quan đến rối loạn chức năng dẫn truyền của các chất truyền tin như glutamate, serotonin, acetylcholine và axit gamma-aminobutyric.

* Giả thuyết về di truyền

CÁC HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ

1.2.1 Các hướng dẫn trên thế giới

Trên thế giới có nhiều hướng dẫn thực hành lâm sàng để điều trị bệnh tâm thần phân liệt (TTPL), như của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ [20], của Úc và New Zealand [50], hướng dẫn điều trị và quản lý bệnh tâm thần của Viện Sức khỏe và Chăm sóc Quốc gia Anh [33], cũng như hướng dẫn điều trị TTPL của Bộ Y tế Singapore [51].

Dưới đây là những điểm chính về 15 hành lâm sàng trong quản lý bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) của Ấn Độ dựa trên các hướng dẫn mới nhất [25] Các hướng dẫn này nhấn mạnh vai trò quan trọng của liệu pháp hóa dược, đặc biệt trong điều trị các triệu chứng dương tính của bệnh Ngoài ra, việc phối hợp nhiều phương pháp điều trị như tâm lý, lao động và tái thích ứng xã hội là rất cần thiết, đặc biệt để kiểm soát các triệu chứng âm tính, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị toàn diện cho bệnh nhân.

Các hướng dẫn đều nhấn mạnh ưu tiên sử dụng đơn trị liệu chống loạn thần, hạn chế phối hợp thuốc, và theo dõi thường xuyên để phát hiện kịp thời TDKMM Không nên phối hợp nhiều thuốc chống loạn thần trừ khi trong giai đoạn chuyển tiếp, vì phối hợp tăng nguy cơ TDKMM, dẫn đến tăng tỷ lệ nhập viện, thời gian nằm viện, chi phí điều trị cao hơn và tăng nguy cơ tử vong Theo hướng dẫn của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, đánh giá ban đầu toàn diện giúp xây dựng kế hoạch điều trị phù hợp và cung cấp thông tin chẩn đoán chính xác; việc này bao gồm hỏi bệnh nhân hoặc người nhà cũng như thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng.

Hướng dẫn điều trị tâm thần phân liệt (TTPL) của Bộ Y tế Singapore được xây dựng dựa trên hướng dẫn điều trị tâm thần phân liệt của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ và tham khảo hơn 100 tài liệu chuyên môn Theo đó, bệnh nhân TTPL cần sử dụng thuốc chống loạn thần theo các bước được trình bày trong bảng 1.1, đảm bảo quá trình điều trị hiệu quả và an toàn.

Bảng 1.1 Hướng dẫn điều trị TTPL của Bộ y tế Singapore

Các bước Hướng dẫn cụ thể

Sử dụng một thuốc chống loạn thần điển hình hoặc không điển hình (trừ Clozapin), nếu không đáp ứng hoặc TDKKM không thể chấp nhận được chuyển sang bước 2

Sử dụng một thuốc chống loạn thần ĐH hoặc KĐH khác bước 1 (trừ Clozapin), nếu không đáp ứng hoặc TDKKM không thể chấp nhận được chuyển sang bước 3

Bước 3 Thay thế thuốc bằng Clozapin, nếu không đáp ứng chuyển qua bước 4

Bước 4 Dùng Clozapin+Chống loạn thần ĐH hoặc KĐH hoặc sốc điện, nếu không đáp ứng chuyển qua bước 5

Dùng liệu pháp kết hợp là phương pháp điều trị hiệu quả trong các trường hợp rối loạn tâm thần nặng, ví dụ như phối hợp các thuốc chống loạn thần như ĐH kết hợp KĐH hoặc KĐH kết hợp KĐH Ngoài ra, có thể kết hợp thuốc chống loạn thần với các biện pháp khác như sốc điện hoặc thuốc điều chỉnh khí sắc để nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu các tác dụng phụ không mong muốn.

Các hướng dẫn thực hành lâm sàng trong điều trị tâm thần phân liệt (TTPL) trên thế giới, như của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, Australian và New Zealand, cũng như Bộ Y tế Singapore, đều nhấn mạnh việc điều trị bằng liệu pháp hóa dược dựa theo từng giai đoạn của bệnh Điều này đảm bảo phương pháp điều trị phù hợp và tối ưu hóa hiệu quả cho bệnh nhân TTPL.

1.2.1.1 Điều trị giai đoạn cấp tính

Nắm rõ mục tiêu điều trị và đánh giá tình trạng cấp tính của bệnh nhân là bước quan trọng trước khi sử dụng thuốc chống loạn thần Theo hướng dẫn thực hành lâm sàng của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, trong điều trị giai đoạn cấp tính của bệnh tâm thần phân liệt, ưu tiên sử dụng các thuốc chống loạn thần không điển hình (trừ clozapin) Trong trường hợp không phù hợp hoặc không hiệu quả, các thuốc chống loạn thần trong nhóm khác hoặc chống loạn thần điển hình theo bảng 1.2 là các lựa chọn thay thế.

Bảng 1.2 Lựa chọn thuốc chống loạn thần trong giai đoạn cấp tính

Lựa chọn ưu tiên 1 Nhóm 2

Nếu do tác dụng phụ quá mức Chọn thuốc khác trong nhóm 1 hoặc 2

Nếu không hiệu quả Chọn thuốc khác trong nhóm 1 hoặc 2 hoặc 3

Nếu do tác dụng phụ quá mức Chọn thuốc khác trong nhóm 1 hoặc 2

Chọn thuốc khác trong nhóm 1 hoặc 2 hoặc 3 kết hợp liệu pháp sốc điện trong trường hợp bệnh nhân nặng, hoặc dùng clozapin thất bại

Nhóm 1: Thuốc chống loạn thần điển hình như chlorpromazin, haloperidol, Levomepromazil

Nhóm 2: Risperidon, olanzapin, quetiapin, ziprasidon, aripiprazol

Trong giai đoạn cấp tính, bệnh nhân tái phát hoặc điều trị lần đầu nên được chỉ định sử dụng thuốc đường uống theo hướng dẫn điều trị của Australian và New Zealand, trong đó thuốc chống loạn thần không điển hình uống được xem là lựa chọn ưu tiên hơn so với thuốc tiêm Tuy nhiên, nếu không thể sử dụng đường uống, có thể sử dụng thuốc chống loạn thần dạng tiêm bắp như haloperidol, ziprasidon hoặc olanzapin, cùng với việc bổ sung benzodiazepin tiêm để kiểm soát triệu chứng hiệu quả.

Xác định liều tối ưu thuốc chống loạn thần trong giai đoạn cấp tính là một quá trình phức tạp, đòi hỏi thời gian để đạt được hiệu quả mong muốn Bệnh nhân thường mất từ 2 đến 4 tuần để có phản ứng ban đầu, trong khi đó, quá trình đạt được đáp ứng đầy đủ hoặc tối ưu có thể kéo dài từ 6 tháng hoặc hơn Việc lựa chọn liều phù hợp phải đảm bảo hiệu quả điều trị mà không gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, nhằm duy trì sự tuân thủ điều trị lâu dài của bệnh nhân.

Theo nghiên cứu PORT, bệnh nhân tái phát cần dùng liều thuốc chống loạn thần điển hình từ 300 – 1000 mg chlorpromazin mỗi ngày để đạt hiệu quả điều trị Trong khi đó, liều hàng ngày của thuốc không điển hình phù hợp cho các triệu chứng cấp tính là aripiprazol 10 mg Việc lựa chọn liều thuốc phù hợp dựa trên loại thuốc và tình trạng bệnh nhân là yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị tối ưu.

- 30 mg, olanzapine 10 - 20 mg, paliperidon 3 -15mg, quetiapin 300 - 750mg, risperidon 2 - 8mg, và ziprasidon 80 - 160mg Điều trị phải là ít nhất 2 tuần, với trên

Trong quá trình điều trị, bệnh nhân cần theo dõi trong 6 tuần để đánh giá đáp ứng tối ưu Đối với những bệnh nhân lần đầu điều trị, liều chlorpromazin được khuyến cáo là 300-500 mg/ngày, trong khi liều risperidon và olanzapin giảm đi một nửa so với bệnh nhân đang trong giai đoạn cấp tính tái phát Việc điều chỉnh liều phù hợp là yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ.

1.2.1.2 Điều trị giai đoạn ổn định

Trong giai đoạn ổn định của điều trị, việc sử dụng thuốc nhằm giảm thiểu nguy cơ tái phát bệnh, đồng thời theo dõi và hạn chế các tác dụng phụ của thuốc Thuốc chống loạn thần được tiếp tục sử dụng trong giai đoạn cấp tính, và nếu bệnh nhân gặp phản ứng phụ nghiêm trọng, có thể xem xét đổi sang thuốc khác trong cùng nhóm hoặc sử dụng thuốc tiêm tác dụng kéo dài để đảm bảo hiệu quả điều trị và tuân thủ của bệnh nhân.

Theo hướng dẫn của Bộ y tế Singapore, trong điều trị duy trì bệnh tâm thần phân liệt, nên giảm liều thuốc chống loạn thần xuống mức thấp nhất có hiệu quả nhưng không thấp hơn một nửa liều trong giai đoạn cấp tính Mặc dù liều cao hơn thường có hiệu quả hơn trong việc phòng ngừa tái phát, nhưng lại gây ra nhiều tác dụng phụ hơn so với liều thấp Do đó, bác sĩ lâm sàng cần cố gắng sử dụng liều tối thiểu để giảm thiểu tác dụng không mong muốn của thuốc trong khi vẫn duy trì hiệu quả điều trị.

1.2.1.3 Điều trị TTPL kháng trị

Hướng dẫn của Hoa Kỳ, Australia và New Zealand đều thống nhất định nghĩa bệnh nhân là TTPL kháng trị khi không có đáp ứng hoặc chỉ đáp ứng một phần với hai lần điều trị chống loạn thần tối đa 6 tuần mỗi liệu trình với liều đầy đủ Ngoài ra, việc đánh giá sự tuân thủ của bệnh nhân cũng rất quan trọng trong xác định tình trạng kháng trị.

Clozapin là thuốc có hiệu quả cao cho những người không đáp ứng với các loại thuốc chống loạn thần khác, do đó việc xác định sớm tình trạng kháng thuốc trong vòng 6 tháng đầu tiên là rất quan trọng Khi phát hiện bệnh nhân không tiến triển tốt, cần ngay lập tức chuyển sang điều trị bằng Clozapin để cải thiện hiệu quả điều trị và giảm các biến chứng Việc sử dụng Clozapin đúng chỉ định và theo dõi chặt chẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN

1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Theo Sadock B J và cộng sự (2007), tỷ lệ tái phát là khoảng 40% trong 2 năm dùng thuốc và 80% trong 2 năm ngừng thuốc [40]

Theo khảo sát của Anna Ceraso (2022), việc duy trì thuốc chống loạn thần ở người bị tâm thần phân liệt không chỉ giúp ngăn ngừa tái phát, với tỷ lệ tái phát sau 1 năm là 24% ở những người sử dụng thuốc so với 61% không sử dụng, mà còn giảm tỷ lệ nhập viện từ 18% xuống còn 7% Bên cạnh đó, bệnh nhân còn nhận được lợi ích về chất lượng cuộc sống, chức năng và sự thuyên giảm lâu dài.

Theo Sadock B J và cộng sự (2007), khoảng 5% bệnh nhân dùng thuốc chống loạn thần điển hình sau 1 năm phát triển triệu chứng loạn vận động muộn, và tỷ lệ này tăng lên đến 25% sau 5 năm điều trị Đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt, sau 4-6 tuần điều trị bằng thuốc chống loạn thần đủ liều mà các triệu chứng không giảm, cần xem xét điều chỉnh phương pháp điều trị.

Trong điều trị bệnh tâm thần, đáp ứng kém thường xảy ra khi sau 22 tuần, cần xem xét việc thay đổi thuốc Tác giả khuyên nên thay thuốc chống loạn thần điển hình bằng các loại thuốc chống loạn thần không điển hình như Risperidon, Olanzapin, Quetiapin, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị Ngoài ra, sử dụng sốc điện cũng là một phương pháp hiệu quả trong những trường hợp đáp ứng kém, giúp cải thiện triệu chứng rõ rệt hơn Trong số các thuốc chống loạn thần không điển hình, Clozapin vẫn được xem là thuốc có hiệu quả tốt nhất đối với những bệnh nhân không đáp ứng với các loại thuốc khác.

Nghiên cứu của Meltzer H Y và cộng sự (2003) cho thấy, trong hai năm theo dõi, bệnh nhân điều trị bằng Clozapin có xu hướng tự tử ít hơn so với những người dùng Olanzapin, với tỷ lệ ý định tự tử lần lượt là 34 so với 55 bệnh nhân Ngoài ra, số bệnh nhân cần nhập viện để can thiệp nhằm ngăn ngừa tự tử cũng thấp hơn trong nhóm dùng Clozapin (82 so với 107 bệnh nhân), cùng với việc cần can thiệp cấp cứu ít hơn (118 so với 155 bệnh nhân) Các kết quả này cho thấy Clozapin có khả năng giảm nguy cơ tự tử ở bệnh nhân tâm thần phân liệt hoặc rối loạn cảm xúc.

Theo nghiên cứu của Leucht, S (2009), trong tổng số 150 nghiên cứu với 21.533 bệnh nhân tham gia, thuốc chống loạn thần không điển hình ít gây tác dụng phụ ngoại tháp hơn so với thuốc chống loạn thần điển hình Do đó, việc sử dụng thuốc chống loạn thần không điển hình giúp giảm nguy cơ tác dụng phụ ngoại tháp, khi cần thiết, bệnh nhân ít cần phải dùng kèm thuốc kháng cholinergic để kiểm soát các tác dụng phụ này.

Fleischhacker (2005) cho rằng liệu pháp phối hợp thuốc chống loạn thần vẫn còn nhiều tranh cãi về hiệu quả điều trị và độ an toàn trong quá trình điều trị bệnh nhân tâm thần phân liệt Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc kết hợp nhiều loại thuốc có thể mang lại lợi ích nhất định, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ tác dụng phụ và phản ứng không mong muốn Do đó, việc sử dụng thuốc phối hợp cần được thận trọng và theo dõi chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả điều trị tối ưu cho bệnh nhân.

Theo nghiên cứu của Sun và cộng sự (2013), có tổng cộng 43 tương tác thuốc xảy ra giữa các thuốc chống loạn thần trong điều trị tâm thần phân liệt, cùng với 948 tương tác giữa thuốc chống loạn thần và các thuốc khác Tỷ lệ gặp tương tác thuốc ở các thuốc chống loạn thần điển hình là 41,2%, cao hơn so với 29,2% ở các thuốc chống loạn thần không điển hình, cho thấy thuốc chống loạn thần điển hình có khả năng gây ra các tương tác bất lợi cao hơn.

1.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu về thuốc chống loạn thần điều trị TTPL trong nước còn rất ít và hạn chế

Theo phân tích của Thái Huyền Trang (2020) về thực trang sử dụng thuốc chống loạn thần tại bệnh viện Tâm Thần Nghệ An với 72 bệnh án, 134 đơn thuốc và

8 thuốc chống loạn thần được sử dụng, nhóm thuốc chống loạn thần không điển

Trong nghiên cứu này, 23 hình ảnh được sử dụng trong 84,7% các trường hợp, chủ yếu để chống loạn thần điển hình với tỷ lệ 75,0% Đơn trị liệu chiếm khoảng 29,1% trong tổng số 134 đơn thuốc, cho thấy xu hướng điều trị linh hoạt và đa dạng Các cặp phối hợp thuốc phổ biến nhất là Levomepromazin kết hợp Risperidol, chiếm 13,4%, phản ánh chiến lược điều trị đa dạng để nâng cao hiệu quả Tuy nhiên, 41,7% trong số các đơn thuốc có tương tác thuốc, cho thấy cần thận trọng trong việc phối hợp các loại thuốc để giảm thiểu rủi ro tương tác không mong muốn.

Theo khảo sát của Nguyễn Thị Phương Hạnh (2022), tình hình sử dụng thuốc an thần kinh trong điều trị tâm thần phân liệt tại Bệnh viện Tâm thần Phú Thọ cho thấy việc sử dụng thuốc đúng cách đóng vai trò quan trọng trong quá trình ổn định tâm thần của bệnh nhân Nghiên cứu nhấn mạnh rằng việc tuân thủ phác đồ điều trị và theo dõi chặt chẽ giúp giảm thiểu tác dụng phụ và nâng cao hiệu quả điều trị Đồng thời, việc nâng cao nhận thức về thuốc an thần kinh trong cộng đồng cũng góp phần giảm thiểu kỳ thị và thúc đẩy hỗ trợ tích cực cho người bệnh Các kết quả này cung cấp thông tin hữu ích cho các bác sĩ, nhà quản lý y tế trong việc tối ưu hóa phương pháp điều trị và chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt.

Trong nghiên cứu này, có tổng cộng 193 bệnh án và 393 đơn thuốc được phân tích Thuốc chống loạn thần không điển hình chiếm đến 99,5% trong khi thuốc chống loạn thần điển hình chỉ chiếm 4,7%, thể hiện xu hướng ưu tiên sử dụng các dòng thuốc không điển hình Olanzapin là thuốc được sử dụng phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 64,6%, và đơn trị liệu đạt tỷ lệ 47,6% trong tổng số các đơn thuốc Cặp phối hợp thuốc phổ biến nhất là Olanzapin + Risperidol, chiếm 28,2%, trong đó có đến 52,4% số đơn thuốc có tương tác thuốc, đặt ra những thách thức về an toàn và hiệu quả trong điều trị sử dụng các thuốc chống loạn thần.

Dựa trên khảo sát của Phan Thu Trang tại Bệnh viện Tâm Thần Trung Ương năm 2006, đã ghi nhận 384 bệnh nhân sử dụng 8 loại thuốc chống loạn thần qua tổng cộng 930 đơn thuốc Trong đó, các thuốc chống loạn thần điển hình như Haloperidol (chiểm 84,38%) và Levomepromazin (chiếm 70,57%) được sử dụng phổ biến hơn so với các loại chống loạn thần không điển hình như Olanzapin (chiếm 21,61%) Khoảng 67,8% các đơn thuốc kết hợp nhiều loại thuốc chống loạn thần Các tác dụng phụ thường gặp nhất gồm bồn chồn không yên (13,02%), loạn động cấp tính (8,59%) và Parkinsonism (7,29%), ảnh hưởng đáng kể đến quá trình điều trị của bệnh nhân.

Dựa trên nghiên cứu của Phùng Thanh Hải (2019) tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I - Hà Nội, 61 bệnh nhân mắc tâm thần phân liệt đáp ứng kém với điều trị chống loạn thần điển hình trong 4 tuần đầu tiên đã được tiến hành điều trị bằng Clozapine trong 4 tuần tiếp theo.

61 bệnh nhân dùng Clozapin TDKMM hay gặp là ngủ nhiều 39,34%, ăn ngon miệng và tăng cân 36,06%, tăng tiết nước bọt 32,78% và nhịp tim nhanh 31,15%

Nghiên cứu của Ngô Thị Mỹ Bình về thực trạng sử dụng thuốc điều trị bệnh TTPL trong cộng đồng tại thành phố Thái Nguyên năm 2014 đã xác định có 268 bệnh nhân được quản lý điều trị, trung bình 101/100.000 dân (0,1%) với nữ chiếm 33,6%, độ tuổi trung bình là 45,6±12,4 năm, nhóm trên 50 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất Trong số các loại thuốc chống loạn thần được cấp phát, có 5 loại, trong đó Chlorpromazin chiếm tỉ lệ lớn nhất với 82,5% (221/268), còn Olanzapin là loại không điển hình phổ biến với 6 bệnh nhân.

Trong nghiên cứu, thuốc Chlorpromazin chiếm tỷ lệ 2,2% (24/268) và Clozapin là 1,4% (4/268) Đơn trị liệu tại cộng đồng chiếm đến 91,8% (246/268), cho thấy xu hướng điều trị chủ yếu bằng thuốc đơn Các tác dụng phụ phổ biến nhất là đau đầu với tỷ lệ 47,4% (127/268), tiếp theo là cảm giác bồn chồn, không yên, chiếm 23,1% (62/268), chủ yếu liên quan đến Chlorpromazin Mức độ tuân thủ điều trị đạt khoảng 50,4% (135/268) của bệnh nhân, phản ánh tầm quan trọng của việc duy trì phác đồ điều trị để đảm bảo hiệu quả.

TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN THÁI NGUYÊN 24 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bệnh viện Sức Khỏe Tâm Thần Thái Nguyên, thành lập ngày 24 tháng 7 năm 1992, ban đầu là đơn vị sự nghiệp y tế thuộc Sở Y tế Bắc Thái với quy mô 50 giường bệnh điều trị nội trú.

Bệnh viện đã phát triển từ quy mô điều trị với 50 giường bệnh lên đến 150 giường, đảm bảo đầy đủ các khoa phòng chức năng và từng bước hiện đại hóa Chuyên môn của bệnh viện chính là điều trị các bệnh về tâm thần như tâm thần phân liệt, loạn thần do rượu, động kinh, trầm cảm và loạn thần cấp, đáp ứng nhu cầu chăm sóc và điều trị toàn diện cho người bệnh.

Trong những năm qua, Bệnh viện đã không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người bệnh Bệnh viện thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn, các thông tư liên quan đến sử dụng thuốc và chăm sóc toàn diện người bệnh Hằng năm, bệnh viện khám cho khoảng 2.100 lượt bệnh nhân và điều trị nội trú cho khoảng 1.850 bệnh nhân, trong đó có khoảng 430 bệnh nhân mắc tâm thần phân liệt Ngoài ra, có hơn 2.700 trường hợp tâm thần phân liệt được quản lý tại cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU 1

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu gồm hồ sơ bệnh án của bệnh nhân tâm thần phân liệt được điều trị tại bệnh viện Sức Khỏe Tâm Thần Thái Nguyên từ ngày 01/01/2022 đến 31/12/2022

Bệnh án của bệnh nhân có mã chẩn đoán xác định là TTPL (F20) theo tiêu chuẩn của ICD-10

* Bệnh án có ghi là bệnh nhân bỏ điều trị, không tuân thủ điều trị

* Bệnh án của bệnh nhân đã lấy lần 1( Bệnh nhân vào viện nhiều lần trong khoảng thời gian từ 01/01/2022 đến 31/12/2022 thì lấy bệnh án lần đầu )

* Bệnh án của bệnh nhân nghiện, mang thai

* Bệnh án có thay đổi mã chẩn đoán khác ( F20 ) trong qua trình điều trị

* Trích xuất dữ liệu bệnh án tại phần mềm Hồ sơ y tế điện tử tại phòng Kế hoạch tổng hợp

Trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/12/2022, phòng Kế hoạch tổng hợp của Bệnh viện Sức Khỏe Tâm Thần Thái Nguyên tiến hành tìm kiếm và lựa chọn các bệnh án phù hợp với các tiêu chuẩn đề ra Quá trình này đảm bảo các bệnh án không thuộc các tiêu chuẩn loại trừ theo quy định Việc lựa chọn được thực hiện một cách cẩn thận nhằm đảm bảo tính chính xác và phù hợp của dữ liệu, góp phần nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu và quản lý bệnh viện.

* Thu thập thông tin vào "Phiếu thu thập thông tin bệnh nhân"

Lấy mẫu toàn bộ các bệnh án được chẩn đoán xác định là TTPL, đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ như trên

Nghiên cứu hồi cứu mô tả, không can thiệp, thu thập kết quả dựa trên bệnh án nội trú

Phiếu thu thập thông tin bệnh nhân ( Phụ lục 1 )

2.1.2.5 Xử lý và phân tích số liệu

Thu thập và xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 và SPSS 20.0

2.1.3.1 Đặc điểm bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

2.1.3.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

* Phân nhóm bệnh theo ICD 10

* Các bệnh lý mắc kèm

* Thời gian nằm viện của bệnh nhân

2.1.3.3 Đặc điểm sử dụng thuốc trên bệnh nhân nghiên cứu

* Tiền sử sử dụng thuốc chống loạn thần

* Tỷ lệ các thuốc chống loạn thần sử dụng trong điều trị TTPL

* Tỷ lệ đơn trị liệu điều trị bằng thuốc chống loạn thần

* Tỷ lệ phối hợp các thuốc chống loạn thần

* Tỷ lệ các phác đồ chống loạn thần trong điều trị

* Tỷ lệ các thuốc hỗ trợ điều trị

* Tỷ lệ các thuốc điều trị bệnh mắc kèm

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU 2

Các đơn thuốc, TDKMM, liệu pháp điều trị trong các bệnh án thu được ở mục tiêu 1

Dựa trên thông tin trong bệnh án ở Mục tiêu 1, chúng tôi đánh giá tính phù hợp của các phương pháp điều trị theo các tiêu chuẩn đánh giá hiện hành, nhằm xác định rõ các tác dụng của KMM cũng như các liệu pháp phối hợp điều trị hiệu quả nhất Quá trình này giúp đảm bảo các điều trị được cá nhân hóa, phù hợp với tình trạng bệnh nhân, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và tối ưu hóa kết quả chăm sóc sức khỏe.

* Từ các thông tin sử dụng thuốc trong bệnh án ở Mục tiêu 1, xác định và phân loại các phối hợp thuốc:

- Nhập đơn thuốc vào Drugs.com để tra tương tác thuốc

- Phân loại tương tác thuốc: mức độ, hậu quả, khuyến cáo

Để đảm bảo an toàn trong quản lý thuốc, cần rà soát lại thông tin tương tác thuốc bằng cách kiểm tra các cặp tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng trên tờ hướng dẫn sử dụng, trong ấn phẩm Stockley's Drug Interactions, và trong Dược thư quốc gia Việc này giúp phát hiện các tương tác có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả điều trị hoặc an toàn của người bệnh Tích hợp dữ liệu từ các nguồn uy tín như hướng dẫn sử dụng thuốc, Stockley's và Dược thư quốc gia là bước quan trọng để cập nhật và xác định các tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc y tế.

Toàn bộ các đơn thuốc, TDKMM, liệu pháp điều trị lấy được trong bệnh án trong mẫu nghiên cứu của Mục tiêu 1

Hồi cứu các đơn thuốc, TDKMM, liệu pháp điều trị trong bệnh án đã thu thập được từ mục tiêu 1

Các tài liệu xác định nguy cơ tương tác thuốc bao gồm tờ hướng dẫn sử dụng thuốc, sách tham khảo “Stockley’s Drug Interaction”, Dược thư Quốc gia 2018 và các trang web tra cứu trực tuyến như Drugs.com, giúp đảm bảo an toàn khi sử dụng thuốc bằng cách cung cấp thông tin chính xác về tương tác thuốc.

2.2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu

Thu thập và xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 và SPSS 20.0

2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.3.1 Thực trạng sử dụng thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

* Tính phù hợp của lựa chọn thuốc ban đầu

* Tính phù hợp của liều dùng

* Sự thay đổi thuốc trong quá trình điều trị

* Phân tích tính phù hợp của phối hợp các thuốc chống loạn thần

* Tác dụng không mong muốn do thuốc chống loạn thần

* Các liệu pháp điều trị phối hợp

2.2.3.2 Phân tích các tương tác trong việc phối hợp thuốc

* Tỷ lệ bệnh án/đơn thuốc có tương tác trong quá trình điều trị

* Mức độ nặng của các cặp tương tác thuốc

* Số tương tác thuốc trong đơn theo mức độ của tương tác thuốc

* Tương tác của thuốc hỗ trợ điều trị và thuốc chống loạn thần

* Các cặp tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng và hậu quả của tương tác

CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ ÁP DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU

2.3.1 Tiêu chuẩn đánh giá về lựa chọn thuốc ban đầu

Tiêu chuẩn này đánh giá theo hướng dẫn điều trị của Singapore

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn đánh giá về lựa chọn thuốc ban đầu Đánh giá Tiêu chuẩn

Lựa chọn đơn trị liệu thuốc chống loạn thần phù hợp cho bệnh nhân mới chẩn đoán hoặc những người tái phát nhưng chưa từng sử dụng phối hợp thuốc chống loạn thần trước đây Việc bắt đầu với liệu pháp đơn thuốc giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ không mong muốn Chọn thuốc phù hợp dựa trên từng đặc điểm của bệnh nhân và theo các hướng dẫn y học hiện hành để đảm bảo quá trình phục hồi an toàn và hiệu quả.

Trong quá trình điều trị bệnh nhân tái phát, việc lựa chọn phối hợp hai thuốc chống loạn thần là một chiến lược quan trọng, đặc biệt ở những trường hợp đã từng sử dụng phối hợp thuốc chống loạn thần trước đây nhưng không đáp ứng đầy đủ Việc đánh giá lịch sử điều trị trước đó giúp xác định những thuốc phù hợp nhằm tăng hiệu quả kiểm soát triệu chứng và giảm thiểu tác dụng phụ Chọn lọc các thuốc thích hợp dựa trên phản ứng của bệnh nhân trước đó sẽ nâng cao khả năng thành công trong điều trị tái phát Radically, việc phối hợp hai thuốc chống loạn thần cần thiết phải được thực hiện cẩn thận, cân nhắc các tương tác thuốc để đảm bảo an toàn và tối ưu hiệu quả điều trị.

2 thuốc chống loạn thần điển hình

Khi điều trị cho bệnh nhân mới hoặc những người tái phát chưa từng được sử dụng phối hợp thuốc chống loạn thần trước đây, việc lựa chọn phương pháp phối hợp thuốc phù hợp là rất quan trọng Lựa chọn này giúp tối ưu hiệu quả điều trị, giảm thiểu tác dụng phụ và nâng cao khả năng kiểm soát triệu chứng bệnh Chuyên gia cần xem xét kỹ lưỡng các yếu tố về tình trạng bệnh, phản ứng của bệnh nhân với các loại thuốc trước đó để đưa ra quyết định phù hợp Phối hợp thuốc chống loạn thần đúng cách sẽ hỗ trợ quá trình hồi phục nhanh chóng và đảm bảo sự an toàn cho người bệnh.

- Lựa chọn phối hợp 2 thuốc chống loạn thần điển hình đối với bệnh nhân tái phát đã từng sử dụng phối hợp thuốc chống loạn thần trước đây

- Lựa chọn phối hợp từ 3 thuốc chống loạn thần trở lên.

2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá về liều dùng Đánh giá theo tờ hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn điều trị Bộ Y Tế và của Singapore

Bảng 2.2 Tiêu chuẩn đánh giá về liều dùng Đối tượng

BN Đánh giá Tiêu chuẩn

- Liều sử dụng các chống loạn thần không vượt qua so với tờ hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn của Bộ Y Tế và của Singapore

- Liều sử dụng các chống loạn thần vượt qua so với tờ hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn của Bộ Y Tế và của Singapore

2.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá về sự thay đổi thuốc trong quá trình điều trị

Sau khi thay đổi thuốc, thay đổi phác đồ đánh giá sự thay đổi này phù hợp với hướng dẫn điều trị của Singapore hay không

Bảng 2.3 Tiêu chuẩn đánh giá việc thay đổi thuốc Đánh giá

Trong điều trị bệnh loạn thần, việc thay đổi lựa chọn đơn trị liệu thuốc chống loạn thần cho bệnh nhân mới hoặc những bệnh nhân tái phát nhưng chưa từng sử dụng phối hợp thuốc trước đây là một bước quan trọng Việc này giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị, giảm thiểu tác dụng phụ không mong muốn và phù hợp với từng trạng thái bệnh nhân Chọn lựa đúng loại thuốc đặc hiệu và điều chỉnh liều lượng phù hợp sẽ nâng cao khả năng kiểm soát triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Việc thay đổi lựa chọn phối hợp hai thuốc chống loạn thần cho bệnh nhân tái phát cần được cân nhắc kỹ lưỡng, đặc biệt là đối với những bệnh nhân đã từng sử dụng thuốc chống loạn thần kết hợp trước đây Hiện tại, không khuyến khích phối hợp hai thuốc chống loạn thần điển hình để tránh các tác dụng phụ không mong muốn và tăng hiệu quả điều trị Chọn lựa phương pháp điều trị phù hợp nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả tối đa cho bệnh nhân là ưu tiên hàng đầu trong quản lý bệnh tâm thần.

- Thay đổi lựa chọn phối hợp 2 thuốc chống loạn thần điển hình

- Thay đổi lựa chọn phối hợp từ 3 thuốc chống loạn thần trở lên.

2.3.4 Tiêu chuẩn đánh giá việc lựa chọn thuốc phối hợp

Tiêu chuẩn này đánh giá việc phối hợp thuốc có phù hợp với hướng dẫn điều trị của Singapore hay không

Bảng 2.4 Tiêu chuẩn đánh giá việc lựa chọn thuốc phối hợp Đánh giá Tiêu chuẩn

Phù hợp Chống loạn thần điển hình+chống loạn thần không điển hình, chống loạn thần không điển hình+chống loạn thần không điển hình

Không phù hợp Chống loạn thần điển hình+Chống loạn thần điển hình, phối hợp từ 3 chống loạn thần trở lên

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN THÁI NGUYÊN

3.1.1 Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu Đặc điểm chung Số BN Tỷ lệ %

32 Đặc điểm chung Số BN Tỷ lệ %

Tình trạng hôn nhân Đã kết hôn 177 48,4 Độc thân 188 51,5

Số lượng bệnh nhân nam nhiều hơn bệnh nhân nữ, cụ thể là bệnh nhân nam chiếm 57,8%, bệnh nhân nữ là 42,2%, tỷ lệ nam/nữ 1,37

Trong nghiên cứu, độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 45,5 ± 11,7, với độ tuổi lớn nhất là 73 và nhỏ nhất là 18 Phần lớn bệnh nhân tập trung ở nhóm trên 40 tuổi chiếm tỷ lệ 63,2%, trong khi nhóm từ 31-40 tuổi chiếm 27,6% và nhóm 18-30 tuổi là 9,0% Đặc biệt, không có bệnh nhân nào dưới 18 tuổi, cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tập trung chủ yếu ở nhóm trưởng thành trên 40 tuổi.

Tuổi khởi phát trung bình là 23,5, chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi 18-30, chiếm đến 71,7% Trong đó, nhóm tuổi dưới 18 và từ 31-40 chiếm tỷ lệ lần lượt là 14,7% và 12,6% Các trường hợp khởi phát muộn trên 40 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất, chỉ 0,8%.

Về thời gian mắc bệnh 15 năm 72,6%, từ 11-15 năm là 16,9% và 5-10 năm là 10,4%

Về nơi cư trú, đa số bệnh nhân ở nông thôn chiếm tỉ lệ cao 66,0%, số còn lại sống ở thành phố chiếm 34,0%

Trong công tác nghề nghiệp, đa số bệnh nhân là nông dân, chiếm tỷ lệ cao nhất lên đến 79,1%, tiếp theo là lao động tự do với tỷ lệ 16,9% Các nhóm nghề nghiệp khác như công nhân và người về hưu chiếm lần lượt 2,4% và 1,0%, trong khi số học sinh mắc bệnh rất thấp, chỉ 0,2%.

Về tình trạng hôn nhân, số bệnh nhân đã kết hôn và độc thân gần tương đương nhau là 48,4% và 51,5%

Về yếu tố gia đình, 17,5% bệnh nhân có người nhà mắc các bệnh lý liên quan tới tâm thần

3.1.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

3.1.2.1 Phân nhóm bệnh theo ICD 10

Mẫu nghiên cứu có 365 bệnh án, kết quả thể bệnh TTPL theo ICD 10 theo bảng 3.2.:

Bảng 3.2 Phân nhóm bệnh theo ICD 10

STT Phân Loại Mã bệnh

Theo dữ liệu, thể paranoid (F20.0) chiếm tỉ lệ cao nhất với 65,4% trong các loại rối loạn tâm thần phân liệt của TTPL, tiếp theo là thể dạng chứng (F20.5) chiếm 24,9%, thể không biệt định (F20.3) chiếm 8,7% Các thể đơn thuần (F20.6) chỉ chiếm 0,5%, trong khi thể thanh xuân (F20.1) có tỉ lệ thấp nhất với 0,2% Các loại rối loạn này phản ánh sự phân bố đa dạng của các dạng rối loạn tâm thần phân liệt trong cộng đồng.

3.1.2.2 Các bệnh lý mắc kèm

Ngoài mắc bệnh TTPL, nhiều bệnh nhân còn gặp phải các bệnh lý khác trong quá trình điều trị hoặc trước khi bắt đầu điều trị Kết quả các bệnh kèm theo được tổng hợp trong bảng 3.3, thể hiện rõ mức độ phối hợp bệnh lý của bệnh nhân và ảnh hưởng đến quá trình điều trị Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chẩn đoán toàn diện để lên kế hoạch điều trị phù hợp, nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu các biến cố không mong muốn.

Bảng 3.3 Các bệnh lý mắc kèm

Bệnh mắc kèm Số BN Tỷ lệ % (N65)

Có 38 bệnh nhân có bệnh mắc kèm, trong đó, có 14 bệnh nhân mắc tăng huyết áp, 24 bệnh nhân viêm đường hô hấp

Bảng 3.4 Tiền sử điều trị

Tiền sử Số BN Tỷ lệ% (N65) Điều trị 1 lần 0 0 Điều trị 2 lần 15 4,1 Điều trị 3 lần 31 8,4 Điều trị trên 3 lần 319 87,3

Tất cả các bệnh nhân đều là các trường hợp tái phát, không có bệnh nhân điều trị lần đầu Trong tổng số, có đến 87,3% bệnh nhân đã điều trị trên 3 lần, cho thấy tỷ lệ tái phát cao Tiếp theo, 8,4% bệnh nhân đã điều trị đúng 3 lần, trong khi chỉ có 4,1% bệnh nhân điều trị 2 lần, phản ánh mức độ khó kiểm soát bệnh trong cộng đồng.

3.1.2.4 Thời gian nằm viện của bệnh nhân

Hình 3.1 Thời gian nằm viện của bệnh nhân

Trong số các bệnh nhân điều trị, phần lớn phải nằm viện từ 4-8 tuần, chiếm 73,9% Thời gian nằm viện từ 2-4 tuần chiếm 15,8%, trong khi từ 8-12 tuần chiếm 7,9% Có 8 bệnh nhân phải nằm viện trên 12 tuần, chiếm 2,1%, với bệnh nhân nằm lâu nhất là 117 ngày.

3.1.3 Đặc điểm sử dụng thuốc trên bệnh nhân nghiên cứu

3.1.3.1 Tiền sử sử dụng thuốc chống loạn thần

Bảng 3.5 Tiền sử sử dụng thuốc chống loạn thần

Tiền sử sử dụng thuốc Số BN Tỷ lệ % (N65)

Chưa sử dụng 0 0 Đã sử dụng 365 100

100% bệnh nhân đã có sổ điều trị ngoại trú và đã sử dụng thuốc chống loạn thần, các bệnh nhân nhập viện đều là các bệnh nhân tái phát

3.1.3.2 Tỷ lệ các thuốc chống loạn thần sử dụng trong điều trị TTPL

Hình 3.2 Tỷ lệ các thuốc chống loạn thần sử dụng trong điều trị TTPL

Nhóm thuốc chống loạn thần điển hình có 3 thuốc được sử dụng, trong đó sử dụng nhiều nhất là Levomepromazin (số lần xuất hiện trong bệnh án) chiếm 91,2%,

Trong lĩnh vực điều trị loạn thần, nhóm thuốc chống loạn thần không điển hình được sử dụng phổ biến hơn so với nhóm điển hình Trong số các loại thuốc này, Clozapin chiếm tỷ lệ sử dụng cao nhất với 23,0%, tiếp theo là Olanzapin với 19,1% Trong khi đó, Risperidon và Amisulprid có tỷ lệ sử dụng thấp nhất, mỗi loại chiếm khoảng 6,3%.

Amisulprid(viên 50mg) Risperidon(viên 2mg) Olanzapin(viên 10mg) Clozapin(viên 25mg) Levomepromazin(viên 25mg) Chlorpromazin(ống tiêm 25mg) Haloperidol(ống tiêm 5mg, viên 1,5mg)

T huốc chống loạn thần không đi ển hì nh T huốc chống loạn thần đi ển hì nh

C ác thu ốc chố ng loạn t hầ n

3.1.3.3 Tỷ lệ đơn trị liệu bằng thuốc chống loạn thần

Bảng 3.6 Tỷ lệ đơn trị liệu bằng thuốc chống loạn thần

Hoạt chất Số lượng Tỷ lệ %

Thuốc chống loạn thần điển hình 244 38,2

Thuốc chống loạn thần không điển hình 45 7,0

Trong tổng số 639 đơn thuốc, có 289 đơn sử dụng chống loạn thần như một phương pháp điều trị đơn trị liệu Trong số này, 244 đơn thuốc sử dụng các loại chống loạn thần điển hình, chiếm phần lớn, còn lại 45 đơn dùng các loại chống loạn thần không điển hình Điều này cho thấy xu hướng sử dụng các loại thuốc chống loạn thần trong việc điều trị rối loạn tâm thần tại cơ sở y tế.

Trong các thuốc chống loạn thần điển hình, Levomepromazin được sử dụng đơn trị nhiều nhất chiếm 28,0%, tiếp đến là Haloperidol chiếm 9,8%, thấp nhất là Chlorpromazin chiếm 0,3%

Trong các thuốc chống loạn thần không điển hình, dùng nhiều nhất đơn trị liệu là Olanzapin chiếm 5,5%, Clozapin và Risperidon đều chiếm tỉ lệ rất thấp 0,6% với

4 đơn, Amisulprid thấp nhất với 0,3%

3.1.3.4 Tỷ lệ phối hợp các thuốc chống loạn thần

Trong mẫu nghiên cứu, có những bệnh án thay thuốc và không thay thuốc trong suốt quá trình điều trị Đối với các bệnh án có thay thuốc, mỗi lần điều chỉnh thuốc đều tạo ra một phối hợp mới và thành đơn mới, phản ánh quá trình cá nhân hóa điều trị Các phối hợp thuốc chống loạn thần đã được tổng hợp và trình bày trong Bảng 3.7, giúp xác định rõ các chiến lược điều trị hiệu quả cho bệnh nhân.

Bảng 3.7 Tỷ lệ phối hợp các thuốc chống loạn thần

Phối hợp thuốc Số lượng Tỷ lệ %

Phối hợp 2 thuốc chống loạn thần 286 44,7

Phối hợp 3 thuốc chống loạn thần 64 10,1

Trong các đơn thuốc, có 9 cặp phối hợp thuốc chống loạn thần chiếm 44,7% tổng số đơn, thể hiện mức độ phổ biến của việc kết hợp thuốc trong điều trị Cặp phối hợp phổ biến nhất là Haloperidol-Levomepromazin, chiếm 20,9%, cho thấy đây là sự lựa chọn hàng đầu của các bác sĩ Tiếp theo là cặp Levomepromazin-Clozapin với tỷ lệ 9,3%, phản ánh xu hướng sử dụng các kết hợp thuốc này trong điều trị các bệnh lý tâm thần Trong khi đó, cặp Haloperidol-Clozapin có tỷ lệ rất thấp, chỉ 0,4%, cho thấy ít được sử dụng trong thực hành lâm sàng.

Trong tổng số đơn, 10,1% liên quan đến việc phối hợp 3 thuốc chống loạn thần, với các loại phối hợp phổ biến nhất gồm Haloperidol-Levomepromazin-Clozapin chiếm 5,3% Trong khi đó, phối hợp ít được sử dụng nhất là Levomepromazin-Olanzapin-Amisulprid, với chỉ 1 đơn, chiếm 0,2%.

3.1.3.5 Tỷ lệ các phác đồ điều trị bằng thuốc chống loạn thần

Bảng 3.8 Tỷ lệ các phác đồ điều trị bằng thuốc chống loạn thần

Các phác đồ chống loạn thần Số lượng Tỉ lệ %

(Nc9) Tổng Đơn trị liệu 1ĐH 244 38,2

Phác đồ 2 thuốc chống loạn thần

Phác đồ 3 thuốc chống loạn thần

Trong các phác đồ điều trị, phác đồ dùng thuốc chống loạn thần đơn trị liệu chiếm tỷ lệ gần như bằng nhau với 45,2%, trong khi đó phác đồ kết hợp hai thuốc chống loạn thần chiếm 44,7% Phác đồ gồm ba thuốc chống loạn thần có tỷ lệ thấp hơn đáng kể, chiếm 10,1%.

3.1.3.6 Tỷ lệ các thuốc hỗ trợ điều trị

Bảng 3.9 Tỷ lệ các thuốc hỗ trợ điều trị

Số lần kê đơn Tỉ lệ%

(N65) Nhóm thuốc bình thần-giải lo âu

Nuôi dưỡng tế bào thần kinh

Vitamin 3B 115mg +100mg +50mcg Viên 136 37,2

Thuốc hỗ trợ gan-thuốc tăng cường chức năng nhận thức

Actiso, rau đắng đất, bìm bìm biếc

Trong các nhóm hỗ trợ điều trị rối loạn tâm thần phân liệt, thuốc an thần-giải lo âu được sử dụng phổ biến nhất, trong đó Diazepam viên chiếm 92,0% và Diazepam tiêm chiếm 19,1% Nhóm thuốc hỗ trợ tiếp theo gồm các loại thuốc giúp tăng cường chức năng gan và nhận thức, trong đó Silymarin chiếm 62,1%, còn Actiso, rau đắng đất, bìm bìm biếc chiếm 40,5%, thể hiện sự quan tâm đáng kể đến việc hỗ trợ sức khỏe toàn diện cho bệnh nhân.

Nhóm thuốc được sử dụng ít nhất là thuốc chống trầm cảm, có 2 thuốc Amitriptylin chiểm 1,3% và Mirtazapin chiếm 0,5%

3.1.3.7 Tỷ lệ các thuốc điều trị bệnh mắc kèm

Bảng 3.10 Tỷ lệ các thuốc điều trị bệnh mắc kèm

Hoạt chất Hàm lượng Dạng dùng

Số lần kê đơn Tỷ lệ (%)

Trong quá trình điều trị, việc sử dụng thuốc đi kèm rất quan trọng để xử lý các bệnh mắc kèm, đảm bảo hiệu quả điều trị Kháng sinh cefixim là loại thuốc phổ biến nhất, chiếm 6,5% trong các ca điều trị viêm đường hô hấp Ngoài ra, thuốc Amlodipin cũng được sử dụng nhiều nhằm kiểm soát bệnh tăng huyết áp, với tỷ lệ sử dụng đạt 3,8%.

PHÂN TÍCH VIỆC SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG LOẠN THẦN TRONG ĐIỀU TRỊ TÂM THẦN PHÂN LIỆT CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN THÁI NGUYÊN

3.2.1 Thực trạng sử dụng thuốc chống loạn thần trên bệnh nhân tâm thần phân liệt

3.2.1.1 Tính phù hợp của lựa chọn thuốc ban đầu

* Tiền sử dùng đơn trị liệu và phối hợp thuốc của bệnh nhân

Bảng 3.11 Tiền sử dùng đơn trị liệu và phối hợp thuốc của bệnh nhân

Phác đồ Số BN Tỷ lệ%(N65) Đơn trị liệu 38 10,4

Trong tổng số 365 bệnh nhân, không ghi nhận ca bệnh mới nào, chủ yếu là các bệnh nhân tái phát đã điều trị nhiều lần trước đó Đối với những bệnh nhân đã sử dụng thuốc phối hợp, chỉ tập trung khảo sát lần phối hợp gần nhất để đánh giá hiệu quả điều trị.

Trong số các bệnh nhân điều trị, có 38 bệnh nhân (chiếm 10,4%) đã từng sử dụng đơn trị liệu trong các lần điều trị trước Ngược lại, phần lớn các bệnh nhân (89,6%) với tổng cộng 327 người đã sử dụng phương pháp phối hợp thuốc trong lần điều trị gần nhất, cho thấy xu hướng chuyển đổi sang điều trị đa dạng hơn để đạt hiệu quả cao hơn.

* Tính phù hợp của lựa chọn thuốc ban đầu

Tiêu chí này đánh giá theo hướng dẫn điều trị của Bộ y tế của Singapore, kết quả trong bảng 3.12.:

Bảng 3.12 Tính phù hợp của lựa chọn thuốc ban đầu Đánh giá Lựa chọn thuốc của các lần điều trị trước

Lựa chọn thuốc ban đầu

BN đã điều trị nhiều lần n Tỷ lệ%

Phù hợp Đơn trị liệu Đơn trị liệu 30

Không phù hợp Đơn trị liệu Phối hợp 8

Phối hợp Đơn trị liệu 205

Phối hợp Phối hợp 3 thuốc 2

Trong nghiên cứu, 26,8% bệnh nhân (98 người) được lựa chọn thuốc ban đầu phù hợp theo hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế Singapore, trong khi phần lớn còn lại, 73,2% (267 người), không phù hợp với hướng dẫn này.

3.2.1.2 Tính phù hợp của liều dùng

Các tiêu chí đánh giá được dựa trên hướng dẫn sử dụng và hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế cũng như Singapore Qua quá trình khảo sát và xét nghiệm cận lâm sàng, không phát hiện bệnh nhân mắc suy gan hoặc suy thận, do đó tiêu chí này chỉ áp dụng cho các bệnh nhân có chức năng gan và thận bình thường.

Bảng 3.13 Tính phù hợp của liều dùng Đánh giá BN n Tỷ lệ% (N65)

Trong 365 bệnh án trong mẫu nghiên cứu, các thuốc chống loạn thần được sử dụng đều phù hợp với tiêu chuẩn đã đề ra

3.2.1.3 Sự thay đổi thuốc trong quá trình điều trị Điều trị TTPL khá phức tạp, liên tục có sự thay đổi thuốc để bệnh nhân đáp ứng điều trị đánh sát sự thay đổi thuốc, chúng tôi tiến hành khảo sát trên các tiêu chí sau: bệnh nhân có thay thuốc hay không, số lần thay thuốc trong một bệnh án, thuốc thay đổi và thời điểm thay đổi

* Tỷ lệ thay đổi thuốc

Trong quá trình điều trị, bệnh nhân có cần thay thuốc hay không, và nếu có, nên giữ nguyên hay thay đổi phác đồ điều trị phù hợp với tình trạng sức khỏe của họ Sự điều chỉnh này được thể hiện rõ trong hình 3.3, giúp xác định các bước cần thiết nhằm tối ưu hóa quá trình điều trị Việc quyết định thay đổi thuốc cần dựa trên các tiêu chí lâm sàng và hướng dẫn y học hiện hành để đảm bảo hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân.

Hình 3.3 Tỷ lệ thay đổi thuốc

Trong tổng số bệnh án, có đến 47,1% không thay đổi thuốc trong quá trình điều trị, trong khi đó 52,9% bệnh án phải thay thuốc Trong số các bệnh án thay thuốc, có 37,8% bệnh án đã được điều chỉnh phác đồ điều trị phù hợp, còn 15,1% bệnh án có thay thuốc nhưng vẫn giữ nguyên phác đồ ban đầu Các dữ liệu này giúp đánh giá tỷ lệ điều chỉnh thuốc và phác đồ điều trị trong quá trình quản lý bệnh nhân, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc y tế.

* Tỷ lệ thay đổi thuốc trong bệnh án

Trong các bệnh án, tỷ lệ thay đổi thuốc được thể hiện rõ ràng qua hình 3.4 Những bệnh án có sự điều chỉnh thuốc chỉ cần đổi thuốc một lần, trong khi đó, nhiều bệnh án yêu cầu đổi thuốc đến hai lần Thoạt nhìn, tỷ lệ số lần thay đổi thuốc phản ánh mức độ ổn định của quá trình điều trị và khả năng thích nghi của bệnh nhân với phác đồ điều trị Việc theo dõi số lần thay đổi thuốc giúp cải thiện chất lượng chăm sóc và tối ưu hóa quá trình điều trị cho bệnh nhân.

Thay đổi giữ nguyên phác đồ

Thay đổi chuyển phác đồ

Hình 3.4 Tỷ lệ thay đổi thuốc trong bệnh án

Có 47,1% bệnh án không có sự thay đổi thuốc, 38,9% bệnh án có thay thuốc 1 lần Tỷ lệ bệnh án có thay thuốc 2 lần nhất chiếm 14,0%

* Các thay đổi thuốc nhưng giữ nguyên phác đồ

Trong các bệnh án có thay đổi thuốc nhưng vẫn giữ nguyên phác đồ đơn trị liệu hoặc phối hợp 2-3 thuốc chống loạn thần, tỷ lệ các thuốc được thay thế hiện được thể hiện rõ trong bảng 3.14 Sự điều chỉnh này nhằm tối ưu hóa quá trình điều trị và nâng cao hiệu quả kiểm soát triệu chứng cho bệnh nhân Việc thay thế thuốc cần dựa trên các tiêu chí chặt chẽ để đảm bảo an toàn và phù hợp với từng tình trạng lâm sàng cụ thể.

Bảng 3.14 Các thay đổi thuốc nhưng giữ nguyên phác đồ

Thuốc ban đầu Thuốc thay thế Số BN Tỷ lệ %

Không thay đổi Thay đổi 1 lần Thay đổi 2 lần

Có 11 cặp thuốc thay thế trong đó, được thay nhiều nhất là chuyển từ Haloperidol sang Levomepromazin chiếm 8,7%, tiếp theo là chuyển từ Haloperidol sang Clozapin chiếm 4,1%, tiếp theo là Chlorpromazin sang Levomepromazin chiếm 3,3% Thấp nhất là chuyển từ Risperidon sang Clozapin chỉ chiếm có 0,2%

* Thời điểm thay đổi thuốc

Với những bệnh án có sự thay đổi thuốc, thì thời điểm thay thuốc được tổng hợp ở bảng 3.15.:

Bảng 3.15 Thời điểm thay đổi thuốc

Thời điểm thay đổi Lần 1 Lần 2 n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %

Có 193 bệnh án có sự thay đổi thuốc, thì có 142 bệnh án thay thuốc 1 lần và 51 bệnh án thay thuốc 2 lần

Trong lần thay thuốc đầu tiên, đa số các bệnh án (62,2%) được thay thuốc ngay trong tuần đầu tiên, cho thấy sự điều chỉnh điều trị nhanh chóng sau khi bắt đầu Tiếp theo, 17,1% bệnh án thay thuốc vào tuần thứ hai, phản ánh quá trình tối ưu hóa liệu trình điều trị trong giai đoạn đầu Đến tuần thứ ba, tỷ lệ thay thuốc là 13,4%, trong khi số bệnh án thay thuốc ở tuần thứ tư chiếm 7,3%, cho thấy xu hướng giảm dần của việc điều chỉnh thuốc theo thời gian.

Trong các bệnh án thay thuốc ở lần thứ hai, có 39,2% bệnh án thay thuốc trong tuần đầu tiên, 31,4% thay thuốc ở tuần thứ hai, 17,6% thay thuốc vào tuần thứ ba, và còn lại 11,8% thay thuốc ở tuần thứ tư.

* Đánh giá tính phù hợp của sự thay đổi thuốc

Tiêu chí này đánh giá theo hướng dẫn điều trị của Singapore Theo khảo sát có

193 bệnh án có sự thay đổi thuốc, trong đó có bệnh án thay 1 lần và thay 2 lần, tính phù hợp của sự thay đổi được trình bầy trong bảng 3.16.:

Bảng 3.16 Đánh giá tính phù hợp của sự thay đổi thuốc Đánh giá

Lựa chọn n Tỷ lệ % Lựa chọn n Tỷ lệ %

Phù hợp 1ĐH+1KĐH 45 45(23,3) 1ĐH+1KĐH 14 14(27,5)

37(72,5) Phối hợp 3 thuốc 57 Phối hợp 3 thuốc 5

Trong lần thay đổi thuốc thứ nhất, có 148 lần thay đổi thuốc không phù hợp chiếm 76,7%, 45 lần thay đổi thuốc phù hợp chiếm 23,3%

Trong lần thay đổi thuốc thứ 2, có 37 lần thay đổi thuốc không phù hợp chiếm 72,5%, 14 lần thay thuốc phù hợp chiếm 27,5%

3.2.1.4 Phân tích tính phù hợp của phối hợp các thuốc chống loạn thần

Trong 639 đơn thuốc có 350 phối hợp thuốc Tỷ lệ tính phù hợp của các đơn thuốc được được đánh giá theo hướng dẫn điều trị của Singapore trong bảng 3.17.:

Bảng 3.17 Tính phù hợp của phối hợp các thuốc chống loạn thần Đánh giá Phối hợp n Tỷ lê% (N50)

Số đơn thuốc không phù hợp là 239 đơn chiếm 68,3% trong tổng 350 đơn phối hợp thuốc, số đơn phù hợp có 111 chiếm 41,7% trong tổng 350 đơn phối hợp thuốc

3.2.1.5 Tác dụng không mong muốn do thuốc chống loạn thần

* Tỷ lệ các bệnh nhân được theo dõi ADR

Bảng 3.18 Tỷ lệ các bệnh nhân được theo dõi ADR

ADR BN Tỷ lệ% (N65) Được theo dõi 365 100 Điện tim 171 46,8

Xét nghiệm công thức máu 37 10,1

Trong quá trình theo dõi, có 100% các bệnh nhân được giám sát ADR Trong số đó, 171 bệnh nhân (chiếm 46,8%) đã thực hiện điện tim trong quá trình điều trị Tiếp theo là xét nghiệm sinh hóa, với 52 bệnh nhân (chiếm 14,2%), và xét nghiệm công thức máu được thực hiện nhiều nhất với 37 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 10,1%.

* Tỷ lệ các bệnh nhân được báo cáo ADR

Số bệnh nhân có ghi nhận ADR là 131/365 chiếm 35,9% Tỷ lệ các bệnh nhân được báo cáo ADR như sau

Hình 3.5 Tỷ lệ các bệnh nhân được báo cáo ADR

Số bệnh nhân được báo cáo ADR là 105 chiếm 80,2%, số bệnh nhân không được báo cáo ADR là 26 chiếm 19,8%

Có báo cáo Không báo cáo

* Các ADR thường được báo cáo liên quan đến thuốc đến thuốc chống loạn thần

Hình 3.6 Các ADR thường được báo cáo

Trong số 105 bệnh nhân báo cáo phản ứng phụ (ADR), các triệu chứng phổ biến nhất là cứng hàm và chảy dãi, chiếm tỷ lệ 34,3% Tiếp theo là tình trạng bồn chồn với tỷ lệ 32,4%, trong khi táo bón chiếm 14,3% Hội chứng Parkinson được ghi nhận ở 10,5% số bệnh nhân, còn các phản ứng ít gặp hơn như bí tiểu chiếm tỷ lệ 8,5%.

* Tỷ lệ bệnh nhân được xử trí ADR

26 bệnh nhân không báo cáo ADR nên không rõ phương án xử trí, do vậy chỉ khảo sát 105 bệnh nhân có báo cáo ADR

Bảng 3.19 Tỷ lệ bệnh nhân được xử trí ADR

Xử trí BN Tỷ lệ% (N5)

Trong 3 cách xử trí ADR, giảm liều thuốc chống loạn thần cho bệnh nhân được áp dụng nhiều nhất chiếm 89,5%, dùng thuốc điều trị ADR cụ thể là Trihexyphenidyl chiếm 34,3%, thấp nhất là ngừng thuốc chiếm 10,4%

Cứng hàm, chảy dãi Bồn chồn Táo bón Hội chứng

3.2.1.6 Các liệu pháp điều trị phối hợp

Ngoài liệu pháp hóa dược được sử dụng, thì các bệnh nhân còn được dùng liệu pháp phối hợp khác, kết quả trong bảng 3.20.:

Bảng 3.20 Các liệu pháp điều trị phối hợp

Các liệu pháp điều trị phối hợp Số BN Tỉ lệ %(N65)

Liệu pháp tâm lý-Xã hội 365 100

100% bệnh nhân được dùng liệu pháp tâm lý để hỗ trợ điều trị cho liệu pháp hóa dược

3.2.2 Phân tích các tương tác trong việc phối hợp thuốc

3.2.2.1 Tỷ lệ bệnh án/đơn thuốc có tương tác trong quá trình điều trị

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 16/08/2023, 18:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm