TỔNG QUAN
Danh mục thuốc đã sử dụng trong bệnh viện và một số phương pháp phân tích
1.1.1 Danh mục thuốc đã sử dụng trong bệnh viện
Theo WHO “Danh mục thuốc bệnh viện là danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện” [3]
Phân tích danh mục thuốc sử dụng có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá nhằm loại bỏ được những thuốc không an toàn và kém hiệu quả, từ đó giảm được số ngày điều trị đồng thời giảm tỉ lệ bệnh tật và tử vong; giảm số lượng và chi phí mua thuốc, sử dụng chi phí tiết kiệm được để mua các thuốc chất lượng tốt hơn, an toàn và hiệu quả hơn, giúp bệnh viện tập trung vào các hoạt động cung cấp thông tin thuốc và đào tạo liên tục cho cán bộ, nhân viên [4]
Danh mục thuốc sử dụng phải đảm bảo các nguyên tắc và tiêu chí như sau:
* Nguyên tắc xây dựng danh mục
- Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện;
- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật;
- Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
- Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị;
- Phù hợp với phạm vi chuyên môn bệnh viện;
- Thống nhất với danh mục thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành;
- Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước [5], [6]
1.1.2 Các văn bản pháp luật liên quan đến thuốc đã sử dụng trong bệnh viện
Trong những năm qua, Quốc hội ban hành (Luật dược 105/2016QH13, Luật đấu thầu 2013) và Chính Phủ ban hành (Nghị định 54/2017/NĐ-CP) Bộ Y tế đã có nhiều biện pháp cụ thể hóa bằng các thông tư nhằm cải thiện chất lượng quản lý, sử dụng DMT
* Các văn bản liên quan đến Tổ chức hoạt động của khoa Dược, HĐT&ĐT:
- Thông tư 22/2011/TT-BYT: Quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện, chức trách, nhiệm vụ của các chức danh trong khoa Dược bệnh viện đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý [7]
- Thông tư 21/2013/TT-BYT: Quy định tổ chức, hoạt động, chức năng và nhiệm vụ của HĐT&ĐT HĐT&ĐT đóng vai trò điều phối, xử lý các vấn đề sử dụng thuốc trong đó quan trọng nhất là xây dựng và quản lý DMT bệnh viện Trong nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc quy định ưu tiên thuốc sản xuất trong nước và tiêu chí lựa chọn thuốc ưu tiên ở dạng đơn chất [5]
* Các văn bản liên quan đến danh mục thuốc, danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế:
- Thông tư 05/2015/TT-BYT: Ban hành danh mục thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế Danh mục thuốc được sắp xếp thành 11 nhóm theo y lý y học cổ truyền và danh mục vị thuốc bao gồm 349 vị thuốc cây, con, khoáng vật làm thuốc được sắp xếp thành 30 nhóm theo y lý y học cổ truyền [8]
- Thông tư 03/2019/TT-BYT ngày 28/3/2019 Ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp [9]
- Thông tư 19/2018/TT-BYT về xây dựng danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế; làm cơ sở để Hội đồng thuốc và điều trị xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phê duyệt; làm cơ sở để xây dựng danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc đấu thầu tập trung, danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá và toàn bộ thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vị thuốc cổ truyền thiết yếu ban hành kèm theo Thông tư này [10]
- Thông tư 30/2018/TT-BYT về danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế Thông tư quy định về 1030 thuốc tân dược phân thành
27 nhóm tác dụng dược lý nằm trong phạm vi thanh toán quỹ BHYT [11]
* Các văn bản liên quan đến điều kiện, phương thức đấu thầu thuốc:
- Thông tư 15/2019/TT-BYT quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập với cụ thể hóa việc đấu thầu thuốc, vị thuốc và các cách thức đấu thầu, phân loại đấu thầu… nhằm minh bạch hóa và nâng cao hiệu quả của công tác đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập Thông tư quy định số lượng thuốc sử dụng nằm trong khoảng 80- 120% so với số lượng thuốc trúng thầu Đối với thuốc cấp cứu, thuốc giải độc, thuốc hiếm, thuốc kiểm soát đặc biệt, dịch truyền bảo đảm thực hiện 50-120% so với số lượng thuốc trúng thầu [12]
- Thông tư 15/2020/TT-BYT Ban hành danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc đấu thầu tập trung, danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá với nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11 tháng 07 năm
2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập [13]
- Thông tư 05/2021/TT-BQP ngày 12/01/2021 của Bộ Quốc phòng quy định một số nội dung về đấu thầu lựa chọn nhà thầu trong phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng
* Văn bản liên quan đến sử dụng thuốc:
- Thông tư 23/2011/TT-BYT về hướng dẫn sử dụng thuốc bao gồm các nội dung chính như thầy thuốc chỉ định thuốc hợp lý, không lạm dụng thuốc; bệnh nhân chỉ dùng đường tiêm khi không uống được hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị; khoa Dược tổ chức cấp phát thuốc bảo đảm chất lượng; quản lý, bảo quản thuốc tại khoa lâm sàng [15]
- Quyết định số 5631/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện [16]
1.1.3 Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc
Chi phí chăm sóc sức khỏe tăng nhanh và bất hợp lý có thể do chi phí cho thuốc chiếm tỉ trọng cao Để giải quyết các vấn đề về sử dụng thuốc tránh những bất cập, nhà quản lý cần điều tra, nghiên cứu tình hình sử dụng và cần có những biện pháp can thiệp kịp thời HĐT&ĐT có chức năng quản lý, tham mưu và tư vấn giám sát về các vấn đề liên quan đến DMT sử dụng tại bệnh viện Sau đây là một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc hiện nay HĐT&ĐT nên áp dụng thường xuyên
1.1.3.1 Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị
Phân tích nhóm điều trị là phương pháp dựa vào đánh giá số lượng và giá trị tiền thuốc sử dụng của các nhóm tác dụng dược lý Phương pháp này sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, phần trăm chi phí của từng thuốc, phân tích xác định những nhóm thuốc có chi phí cao, mối tương quan giữa các nhóm thuốc sử dụng trong điều trị và mô hình bệnh tật tại bệnh viện [5], [3] Phương pháp này xây dựng dựa trên phân tích ABC
- Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ và chi phí nhiều nhất;
- Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý;
- Xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc những thuốc có mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những trường hợp cụ thể;
- HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc trong liệu pháp thay thế
Từ đó tiến hành phân tích cụ thể các nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí - hiệu quả cao
*Phân loại kháng sinh theo AwaRe Đối với nhóm kháng sinh, năm 2019, WHO đã phát động một chiến dịch toàn cầu kêu gọi tất cả các nước trên thế giới sử dụng công cụ “AwaRe” để giám sát việc sử dụng kháng sinh, xác định mục tiêu và theo dõi tác động của các chính sách quản lý nhằm tối ưu hóa việc sử dụng kháng sinh và hạn chế tình trạng kháng thuốc [17] Theo đó, AWaRe phân loại thuốc kháng sinh thành ba nhóm quản lý: tiếp cận (Access), giám sát (Watch) và dự trữ (Reserve), để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng tối ưu và khả năng kháng kháng sinh của chúng
Thực trạng cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại các bệnh viện
1.2.1 Thực trạng phân tích danh mục thuốc đã sử dụng trên thế giới
Phân tích ABC, VEN và ma trận ABC/VEN được sử dụng khá phố biển trên thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển, nơi ngân sách dành cho y tế còn hạn hẹp Nghiên cứu của Devnani và cộng sự được tiến hành tại bệnh viện PGIMER ở Ấn Độ năm 2010 nhằm xác định các nhóm cần kiểm soát đặc biệt chỉ ra trong số 421 thuốc trong danh mục có 13,8% thuốc nhóm A; 21,9% thuốc nhóm B và 64,4% thuốc nhóm
C Trong 93 thuốc nhóm A là thuốc đắt tiền hoặc tối cần, những thuốc này cần được kiểm soát chặt chẽ hoặc cần được thay thế [23]
Kết quả phân tích ABC/VEN được thực hiện từ năm 2011-2014 tại Nga và nhóm nghiên cứu đã tiến hành can thiệp cho thấy: Năm 2011 thuốc nhóm V thấp, nhóm N cao, năm 2013 bệnh viện đã tiến hành các giải pháp can thiệp bằng các hoạt động đào tạo dựa trên bằng chứng về sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, kết quả năm 2014 chi phí tiền thuốc giảm so với năm 2013 và 40% ngân sách tiền thuốc năm 2014 là dùng cho thuốc nhóm V [24]
Theo nghiên cứu của Chaudhury RR và cộng sự năm 2005 tại Phần Lan nếu thay thế thuốc BDG bằng thuốc generic sẽ giảm 10% chi phí thuốc [25] Các thuốc BDG chiếm tỷ lệ ít ở các nước thu nhập thấp (chiếm 22,3%), tăng dần ở các nước thu nhập trung bình (chiếm 43,7%) và trên trung bình (chiếm 61,8%) [23] Như vậy nếu chuyển sang sử dụng thuốc generic có hiệu quả tương đương mà giá thành thấp hơn có thể tiết kiệm được một khoản kinh phí đáng kể
Theo nghiên cứu của ủy ban kiểm soát thuốc với các chuyên gia về quản lý danh mục thuốc tại một bệnh viện ở Nam Phi dựa trên ngân sách cho thuốc thấy rằng việc sử dụng thuốc hợp lý thể hiện việc thay thế các thuốc đắt tiền bằng các thuốc rẻ tiền hơn, loại bỏ các thuốc không thiết yếu ra khỏi danh mục, giới hạn một số thuốc bằng cách giữ ngân sách cố định Kết quả loại bỏ 65 thuốc ra khỏi danh mục, trong 15 nhóm thuốc nghiên cứu có 14 nhóm giảm ngân sách sử dụng sau can thiệp với chi phí tiết kiệm 20% ngân sách cho thuốc [26]
1.2.2 Thực trạng phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Việt Nam
1.2.2.1 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng của một số bệnh viện ở Việt Nam hiện nay Tại Việt Nam với sự can thiệp của HĐT&ĐT chất lượng danh mục thuốc đã được cải thiện, kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương tại 29 bệnh viện năm 2012 cho thấy 93% danh mục thuốc thường xuyên cập nhập, bổ sung hoặc loại bỏ [27] Các can thiệp để lựa chọn thuốc cũng được HĐT&ĐT của nhiều bệnh viện sử dụng để nhận diện bất hợp lý nhằm kiểm soát thuốc nhóm A, giảm bớt thuốc nhóm N, hạn chế sử dụng thuốc ngoài danh mục, thuốc không thiết yếu Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN để phân tích danh mục thuốc Điều đó giúp các bệnh viện thấy được những điểm bất hợp lý để có giải pháp can thiệp kịp thời nhằm cải thiện chất lượng danh mục thuốc
* Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
Kết quả nghiên cứu tại một số bệnh viện Quân y được tóm tắt trong bảng 1.3
Bảng 1.3 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý tại một số bệnh viện
TT Bệnh viện/ năm nghiên cứu
Nhóm hormon và tác động vào hệ nội tiết
%KM %GT %KM %GT %KM %GT
1 Phân viện 7 – Bệnh viện Quân y 7 năm
Kết quả nghiên cứu cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý của Phân viện 7, bệnh viện Quân y 4 và bệnh viện 354 cho thấy 3 nhóm thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất về giá trị sử dụng đó là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn; nhóm thuốc tim mạch và nhóm hormon và tác động vào hệ nội tiết Nhìn chung có sự mất cân bằng giữa các nhóm thuốc đặc biệt nhóm chống nhiễm khuẩn và nhóm thuốc tim mạch luôn chiếm tỷ trọng cao nhất về cả số KM và GTSD trong cơ cấu thuốc của các bệnh viện Nguyên nhân có thể là do việc sử dụng tràn lan, lạm dụng kháng sinh phổ rộng, điều trị bao vây dẫn đến gia tăng các tác dụng không mong muốn và tình trạng kháng kháng sinh Hiện nay, thuốc kháng sinh đang được lựa chọn như một giải pháp phổ biến
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm thuốc tim mạch có phần trăm KM và GT xếp thứ 2 chỉ sau nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn Theo WHO, bệnh tim mạch là một trong số những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới với tỷ lệ lên tới 31% tổng số ca tử vong Tại Việt Nam, trong năm 2016 có khoảng hơn 170.000 ca tử vong liên quan tới bệnh lý này [31]
* Cơ cấu thuốc hóa dược sử dụng theo thành phần: Đơn thành phần, đa thành phần
Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định phải ưu tiên sử dụng thuốc ở dạng đơn chất Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất [5]
Bảng 1.4 Kết quả sử dụng thuốc đơn thành phần, đa thành phần tại một số bệnh viện
TT Bệnh viện/ năm nghiên cứu
1 Phân viện 7 – Bệnh viện Quân y
2 Bệnh viện Quân y 4/Quân khu 4 năm 2018 [29]
Kết quả phân tích cơ cấu thuốc hóa dược đơn thành phần và đa thành phần tại các bệnh viện Quân y cho thấy thuốc đơn thành phần có số lượng và giá trị chiếm tỷ lệ cao trong DMT sử dụng Việc sử dụng thuốc đơn thành phần sẽ an toàn hơn so với sử dụng thuốc đa thành phần vì tương tác thuốc là hiện tượng xảy ra khi dùng đồng thời 2 hay nhiều thuốc với nhau Tỷ lệ tương tác thuốc tăng theo cấp số nhân với số lượng thuốc phối hợp [33]
* Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo thuốc biệt dược gốc và thuốc generic
Theo BHXH Việt Nam, tổng hợp chi phí sử dụng thuốc BDG trong KCB BHYT năm 2016 là 8.225,9 tỷ đồng bằng 26% tổng chi phí thuốc [34] Việc sử dụng các thuốc generic theo đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam" với các mục tiêu
14 chiến lược và các giải pháp hiệu quả được xem là một trong những phương án giúp tăng cường sử dụng thuốc generic, giúp giảm chi phí điều trị từ đó giảm gánh nặng tài chính cho nghành Y tế Vì vậy đánh giá tình hình sử dụng BDG cũng là một chỉ số giúp tìm hiểu vấn đề bất cập trong sử dụng thuốc tại các bệnh viện
Kết quả nghiên cứu thuốc sử dụng thuốc biệt dược gốc và thuốc generic tại một số bệnh viện Quân y được tóm tắt trong bảng 1.5
Bảng 1.5 Kết quả sử dụng thuốc biệt dược gốc và thuốc generic tại một số bệnh viện
TT Bệnh viện/năm nghiên cứu Thuốc biệt dược gốc Thuốc generic
1 Phân viện 7 – Bệnh viện Quân y 7 năm 2018 [28]
2 Bệnh viện Quân y 4/Quân khu
Tại bệnh viện Quân y 354 thuốc BDG có 107 thuốc chiếm 17,65% số khoản mục tương ứng 28% giá trị sử dụng Trong danh mục trúng thầu của bệnh viện có 17 thuốc generic nhóm 1 cùng hoạt chất, nồng độ, hàm lượng và đường dùng có thể thay thế thuốc BDG và tiết kiệm 1,5 tỷ VNĐ trong chi phí sử dụng thuốc [30]
* Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo nguồn gốc
Với mong muốn tăng tỷ lệ sử dụng thuốc nội tại các cơ sở y tế, đấu thầu mua thuốc generic thay thế BDG là chính sách của các nước thu nhập thấp như Việt Nam, tuy nhiên hiện nay thuốc sản xuất trong nước chưa đáp ứng nhu cầu điều trị, theo số liệu nghiên cứu năm 2013 tiền thuốc nhập khẩu chiếm 58,7% tổng giá trị thuốc tại Việt Nam [2] Tuy nhiên, chất lượng thuốc sản xuất trong nước, tương đương sinh học giữa thuốc generic và BDG và sự cân bằng chi phí - hiệu quả là điều mà các bệnh viện cần quan tâm khi lựa chọn thuốc vào danh mục thuốc bệnh viện
Bảng 1.6 Kết quả thuốc sử dụng theo nguồn gốc tại một số bệnh viện
TT Bệnh viện/ năm nghiên cứu Thuốc trong nước Thuốc nhập khẩu
2 Bệnh viện Quân y 4/Quân khu 4 năm 2018 [29]
Theo nghiên cứu tại bệnh viện Quân y 354, tỷ lệ thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước về số KM là 361/245, giá trị sử dụng thuốc nhập khẩu gấp 4 lần thuốc sản xuất trong nước
Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Quân y 4, số KM thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu là gần tương đương nhau Tuy nhiên thuốc nhập khẩu lại có giá trị sử dụng cao gấp 2,4 lần thuốc sản xuất trong nước
* Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo đường dùng
Một số vấn đề tồn tại trong việc sử dụng thuốc tại bệnh viện
1.3.1 Vấn đề sử dụng thuốc kháng sinh
Lạm dụng thuốc kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm đầu tiên trong sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả Báo cáo về tỉ lệ kháng kháng sinh tại Việt Nam đang ở mức đáng báo động đối với một số kháng sinh được dùng nhiều trong điều trị [35]
Theo số liệu của Cục khám chữa bệnh năm 2011 chi phí cho thuốc chống nhiễm khuẩn gần 6 nghìn tỉ chiếm 31% trên tổng chi phí sử dụng thuốc [36] Con số này phản ánh thực trạng chi phí cho việc dùng thuốc chống nhiễm khuẩn trong điều trị là một gánh nặng kinh tế đối với ngân sách quốc gia dành cho y tế
Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017, thuốc chống nhiễm khuẩn đường tiêm chiếm 14,13% số khoản mục và 14,97% giá trị sử dụng, trong đó nhóm kháng sinh β-lactam sử dụng nhiều nhất do nhóm này an toàn cho phụ nữ mang thai và cho con bú Trong lĩnh vực sản khoa việc sử dụng kháng sinh thường mang tính chất phòng ngừa như sử dụng kháng sinh dự phòng nhiễm trùng ở phụ nữ có nguy cơ cao (chuyển dạ sau vỡ ối), hoặc có nguy cơ thấp (chưa chuyển dạ) Tác giả đưa ra nguyên nhân của vấn đề này là do mô hình bệnh tật tập trung vào đối tượng mổ đẻ lấy thai nên nhu cầu dùng kháng sinh đường tiêm, tiêm truyền của bệnh viện khá cao [37]
1.3.2 Vấn đề sử dụng thuốc AN, BN
Việc áp dụng phân tích ABC/VEN được nghiên cứu áp dụng rộng rãi trong các bệnh viện đặc biệt sau khi Bộ Y tế ban hành thông tư 21 quy định về tổ chức hoạt động HĐT&ĐT trong bệnh viện, trong đó hướng dẫn chi tiết các phương pháp phân tích DMT
[5] Hiện nay, phân tích ABC đã được sử dụng rộng rãi hơn nhưng phương pháp VEN vẫn ít được sử dụng do mất nhiều thời gian, khó thực hiện hơn phương pháp ABC trong việc xếp loại các thuốc vào nhóm V,E,N và chưa có tiêu chí chính xác để xếp loại cụ thể
Nhóm thuốc AN hay nhóm BN là nhóm chi phí cao nhưng không cần thiết cho điều trị, tác dụng điều trị không rõ ràng, hay bị lạm dụng kê đơn trong các cơ sở y tế Tại bệnh viện Quân y 354 nhóm thuốc AN gồm 25 thuốc chiếm 4,2% về số khoản mục tương ứng 11,2% về giá trị Nhóm thuốc tim mạch trong nhóm AN chiếm giá trị lớn nhất 9 thuốc với giá trị tiêu thụ 4,267 tỷ đồng chiếm 43,3% giá trị trong thuốc AN, tiếp đến là nhóm giãn cơ và ức chế cholinesterase Các thuốc hiệu quả không rõ ràng có chi phi lớn là: Galantamin, Pentoxifylin, Human albumin, Acidamin, Cytidin-5- monophosphat disodium + Uridin… [30]
Tại phân viện 7 – bệnh viện Quân y 7 năm 2018 nhóm AN là nhóm chi phí cao nhưng không cần thiết cho điều trị có 5 thuốc chiếm 9,69% về tổng giá trị sử dụng tương
20 ứng với 575,8 triệu đồng Các thuốc đó là: Diệp hạ châu Caps, 3TP, Ceginkton, Kim tiền thảo 200, An thần [28]
Nguyên nhân chủ yếu được chỉ ra là do tâm lý người bệnh Việc sử dụng thuốc bổ trợ trong điều trị cũng là thực trạng chung của nhiều bệnh viện trong cả nước hiện nay Tuy nhiên các thuốc nhóm này hiện các kết quả ghi nhận có tác dụng điều trị không rõ ràng song lại chiếm tỷ lệ cao trong kinh phí mua sắm thuốc của bệnh viện [38]
1.3.3 Vấn đề sử dụng nhập khẩu
Việc ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước vừa giúp giảm chi phí điều trị đồng thời thúc đẩy phát triển ngành dược Thông tư 10 năm 2014 và thông tư 03 năm 2019 thay thế là căn cứ quan trọng đánh giá tính hợp lý trong sử dụng thuốc của các bệnh viện trong vấn đề ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước
Nghiên cứu bệnh viện 354 cho thấy tỷ lệ thuốc nhập khẩu chiếm 80% giá trị sử dụng Trong các thuốc nhập khẩu có 65 thuốc có trong Thông tư 10, 28 thuốc có thể thay thế bằng thuốc sản xuất trong nước đã trúng thầu tại bệnh viện Tác giả đề xuất cần hạn chế sử dụng thuốc nhập khẩu, tăng tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thay thế
28 thuốc nhập khẩu có trong thông tư 10 sử dụng năm 2016 bằng thuốc sản xuất trong nước có thể tiết kiệm 8,4 tỷ tiền thuốc [30]
Tại phân viện 7 – bệnh viện Quân y 7 năm 2018 tỷ lệ thuốc nhập khẩu chiếm 43,41% giá trị sử dụng Trong 118 thuốc nhập khẩu có 76 thuốc có thể thay thế bằng các thuốc sản xuất trong nước Tác giả cũng đưa ra đề xuất nên xem xét thay thế các thuốc nhập khẩu bằng thuốc sản xuất trong nước có hiệu quả điều trị tương đương, chỉ sử dụng các thuốc nhập khẩu khi chưa tìm được thuốc nội thay thế [28]
Nguyên nhân một phần là do các công ty trong nước chỉ mới sản xuất được các thuốc điều trị thông thường, dạng bào chế đơn giản, chưa sản xuất được các thuốc chuyên khoa có giá trị lớn Hơn nữa, hiện nay người dân và thầy thuốc ở các tuyến đang có thói quen dùng thuốc ngoại đắt tiền do thu nhập bình quân của người dân cũng tăng lên nhiều, nhu cầu và ý thức trong việc chăm sóc sức khỏe cũng tăng lên cao so với trước Theo thống kê của Bộ Y tế, bác sĩ chỉ kê khoảng 20-30% thuốc sản xuất trong nước trong tổng số thuốc kê đơn cho bệnh nhân Như vậy tạo nên gánh nặng chi phí thuốc nhập khẩu đối với bệnh nhân và ngân sách BHYT phải chi trả [39]
1.3.4 Vấn đề sử dụng thuốc biệt dược gốc Để giảm chi phí điều trị Bộ Y tế đề nghị các bệnh viện ưu tiên sử dụng thuốc generic thay thế biệt dược gốc, vì vậy đánh giá tình hình sử dụng biệt dược gốc cũng là một chỉ số giúp tìm hiểu vấn đề bất cập trong sử dụng thuốc tại các bệnh viện
Theo nghiên cứu tại bệnh viện 354 thuốc BDG có 107 thuốc chiếm 17,65% số khoản mục tương ứng 28% giá trị sử dụng Trong danh mục trúng thầu của bệnh viện có 17 thuốc generic nhóm 1 cùng hoạt chất, nồng độ, hàm lượng và đường dùng có thể thay thế thuốc BDG và tiết kiệm 1,5 tỷ trong chi phí sử dụng thuốc [30]
Theo tác giả Lại Thị Thùy Linh trong nghiên cứu của bệnh viện Hữu Nghị năm 2020-202, nguyên nhân chủ yếu của việc sử dụng biệt dược gốc là do các bác sĩ vẫn chưa tin tưởng sử dụng các thuốc generic dẫn đến tình trạng kê đơn thuốc biệt dược gốc theo thói quen [38].
Một vài nét về bệnh viện Quân y 5
1.4.1 Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện Quân y 5
Bệnh viện Quân y 5 trực thuộc Cục hậu cần/Quân khu 3 cùng với bệnh viện Quân y 7, bệnh viện Quân y 5 là một trong hai bệnh viện tuyến cuối của Quân khu 3 Tiền thân là Bệnh viện thực hành số 2 của Trường Quân y sĩ hợp nhất với Phân viện K32, K72 của Cục Quân y và Bệnh viện quân y 145, Cục Hậu cần Quân đoàn 1 Hiện nay, Bệnh viện Quân y 5 cùng với Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Tâm thần Ninh Bình, Viện Mắt và Bệnh viện đa khoa Ninh Bình là những bệnh viện lớn đóng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình [40]
Bệnh viện Quân y 5 là bệnh viện đa khoa hạng II có quy mô trên 400 giường với nhiệm vụ trọng tâm là chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang Quân khu, Quân đoàn 1 và các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn; tham gia khám, thu dung, cấp cứu, điều trị cho nhân dân các tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định [40] Hiện tại, bệnh viện có 25 khoa/ban bao gồm 19 khoa lâm sàng, cận lâm sàng và 6 ban với tổng số 268 cán bộ, nhân viên y tế Năm 2022, các khoa đã khám, thu dung, cấp cứu, điều trị bảo đảm an toàn tuyệt đối, không để xảy ra tai biến trong quá trình điều trị
Bảng 1.11 Lượt bệnh nhân đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện năm 2022
TT Đối tượng Số lượng
1 Bảo hiểm y tế Quốc phòng 11189 28,3
2 Bảo hiểm y tế Ninh Bình 28170 71,4
Tổng bệnh nhân đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện năm 2022 là 39.473 lượt người, Trong đó đối tượng bảo biểm y tế Ninh Bình cao nhất 28.170 lượt chiếm 71,4%; đối tượng bảo hiểm y tế Quốc phòng và dịch vụ y tế số lượt đến khám lần lượt là 11.189 lượt và 114 lượt chiếm 28,3% và 0,3%
Bảng 1.12 Lượt bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện năm 2022
TT Đối tượng Số lượng
1 Bảo hiểm y tế Quốc phòng 1901 20,8
2 Bảo hiểm y tế Ninh Bình 7049 77,3
Bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện thuộc 03 đối tượng chính: Bảo hiểm y tế Quốc phòng (quân nhân và thân nhân quân), bảo hiểm y tế tỉnh Ninh Bình và dịch vụ y tế Trong đó, đối tượng bảo hiểm y tế Ninh Bình chiếm đa số 77,3%
Bảng 1.13 Tiền thuốc sử dụng trong tổng chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế của Bệnh viện năm 2022
1 Tiền thuốc đã sử dụng 10.912,2 42,6 8.457,3 24,1
Tổng chi phí KCB BHYT 25.604,1 100,0 35.102,5 100,0
Hàng năm bệnh viện sử dụng một lượng thuốc lớn để đảm bảo công tác khám chữa bệnh Trong đó, với đối tượng ngoại trú có thẻ bảo hiểm y tế thì tiền thuốc đã sử dụng chiếm 42,6% tổng chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế năm 2022
1.4.2 Mô hình bệnh tật của viện
Mô hình bệnh tật (ICD) là hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế nhằm hỗ trợ ngành y tế thu thập số liệu bệnh tật và tử vong một cách thống nhất, phục vụ yêu cầu thống kê, phân tích dịch tễ, nghiên cứu khoa học và đề ra các chiến lược nhằm khống chế sự phát triển của dịch bệnh [41] Mô hình bệnh tật là cơ sở quan trọng cho HĐT&ĐT xây dựng phác đồ điều trị từ đó phối hợp, tham vấn cùng khoa dược trong lựa chọn và xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
Bảng 1.14 Mô hình bệnh tật tại Bệnh viện Quân y 5 năm 2022
STT Tên chương bệnh/bệnh MÃ ICD
1 Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa E00-E90 13.261 27,3
4 Bệnh hệ cơ, xương, khớp và mô liên kết M00-M99 4.018 8,3
6 Bệnh hệ sinh dục, tiết niệu N00-N99 2.255 4,6
7 Tổn thương, ngộ độc và hậu quả của một số nguyên nhân từ bên ngoài
9 Bệnh về mắt và phần phụ H00-H59 1.852 3,8
10 Bệnh tai và xương chũm H60-H95 1.391 2,9
12 Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh trùng A00-B99 1.031 2,1
Là bệnh viện đa khoa hạng II, bệnh viện Quân y 5 có mô hình bệnh tật đa dạng Tuy nhiên sự phân bố không đồng đều chủ yếu tập trung ở một số bệnh: Cao nhất các bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa chiếm 27,3%; kế tiếp là bệnh hệ tuần hoàn với tỷ lệ 19,1%; bệnh hệ tiêu hóa là 8,8%; bệnh hệ cơ, xương, khớp và mô liên kết chiếm 8,3%; bệnh hệ hô hấp là 8,0% Đây là 5 nhóm bệnh có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong mô hình bệnh tật tại bệnh viện Quân y 5 năm 2022 Trong khi đó các bệnh về nhiễm khuẩn và ký sinh trùng chiếm tỷ lệ thấp chỉ 2,1%.
Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2018 bệnh viện Quân y 5 chuyển sang cơ chế tự chủ về tài chính, đó là xu hướng của ngành y tế nên cần quản lý tốt ngân sách phục vụ cho các hoạt động đảm bảo sự tồn tại và phát triển của bệnh viện Do đó trong công tác khám chữa bệnh cần cân nhắc giữa hiệu quả điều trị và lợi ích kinh tế Việc phân tích, đánh giá danh mục thuốc sử dụng nhằm đảm bảo danh mục thuốc bệnh viện sát với nhu cầu, tối ưu hóa trong lựa chọn thuốc và nâng cao hiệu quả kinh tế, đó cũng là một trong những mục tiêu để giải quyết vấn đề tự chủ tài chính Để đạt được điều đó trước hết phải có một danh mục thuốc hợp lí, an toàn và hiệu quả, đây chính là tiền đề cơ bản, quan trọng ảnh hưởng đến công tác cung ứng thuốc và công tác khám chữa bệnh Bệnh viện cần thường xuyên rà soát, đánh giá danh mục thuốc sử dụng, xác định những vấn đề tồn tại, có những điều chỉnh phù hợp, kịp thời
Do đó việc nghiên cứu xác định những vấn đề tồn tại của danh mục thuốc bệnh viện đã sử dụng năm 2022, phân tích nguyên nhân của những tồn tại là rất cần thiết Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao chất lượng danh mục thuốc những năm tiếp theo, đáp ứng yêu cầu khám và điều trị của bệnh viện Quân y 5
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Quân y 5 năm 2022
- Phỏng vấn cán bộ y tế bệnh viện bao gồm đại diện: Thành viên HĐT&ĐT, bác sỹ lâm sàng, dược sỹ khoa dược
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2022 đến 31/12/2022
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Quân y 5 - Tòa nhà 120 đường Trương Hán Siêu, phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu STT Tên biến Giải thích biến số Phân loại biến PPTTSL
Mục tiêu 1: Phân tích cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Quân y 5 – Quân khu 3 năm 2022
1 Nhóm thuốc được sử dụng
Thuốc sử dụng theo nhóm căn cứ
TT 30/2018/TT-BYT và TT 05/2015/TT-BYT
- Thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền
2 Nhóm tác dụng của thuốc
Các thuốc được phân chia thành
27 nhóm TDDL dựa trên DMT hóa dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT được ban hành theo thông tư 30/2018/TT- BYT đối với thuốc hóa dược và
- Thuốc gây tê, gây mê, giãn cơ, giải giãn cơ
- Thuốc giảm đau chống viêm không steroid…
26 thông tư 05/2015/TT-BYT với các thuốc từ dược liệu
3 Thuốc kháng sinh theo phân nhóm kháng sinh
Thuốc kháng sinh được phân nhóm theo Thông tư 30/2018/TT- BYT [42]
Biến phân loại Beta-lactam Aminoglycosid Nitroimidazol…
4 Thuốc kháng sinh phân loại theo
Thuốc kháng sinh được phân nhóm theo AwaRe và tra cứu theo link của WHO [18]
5 Thành phần thuốc hoá dược
- Thuốc đơn thành phần là thuốc chỉ có một hoạt chất chính
- Thuốc đa thành phần là thuốc có từ 2 hoạt chất chính trở lên có tác dụng rõ ràng
Biến phân loại -Thuốc đơn thành phần -Thuốc đa thành phần
Thuốc sử dụng phân loại thuốc BDG, thuốc generic dựa trên công bố thuốc BDG của Cục Quản lý Dược
- Biệt dược gốc là các thuốc nằm trong DM công bố BDG của Cục Quản lý Dược
- Thuốc generic là thuốc còn lại
Căn cứ vào nước sản xuất thuốc -Thuốc SXTN: Thuốc do công ty dược phẩm trong nước và công ty liên doanh tại Việt Nam sản xuất -Thuốc NK: Thuốc do các công ty dược phẩm nước ngoài sản xuất, được nhập khẩu qua các công ty dược phẩm Việt Nam
- Thuốc sản xuất trong nước -Thuốc nhập khẩu
8 Đường dùng Đường dùng là đường sử dụng của thuốc được ghi trên nhãn của sản phẩm
Mục tiêu 2: Xác định một số vấn đề tồn tại và nguyên nhân trong danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Quân y 5 – Quân khu 3 năm 2022
1 Nguyên nhân trong vấn đề sử dụng thuốc kháng sinh
Câu trả lời của người đồng ý tham gia nghiên cứu được mã hóa
Biến phân loại Phỏng vấn sâu
2 Nguyên nhân trong vấn đề sử dụng nhóm thuốc AN,
Câu trả lời của người đồng ý tham gia nghiên cứu được mã hóa
Biến phân loại Phỏng vấn sâu
3 Nguyên nhân trong vấn đề sử dụng thuốc nhập khẩu
Câu trả lời của người đồng ý tham gia nghiên cứu được mã hóa
Biến phân loại Phỏng vấn sâu
4 Nguyên nhân trong vấn đề sử dụng thuốc
Câu trả lời của người đồng ý tham gia nghiên cứu được mã hóa
Biến phân loại Phỏng vấn sâu
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp (PP) mô tả cắt ngang
- PP mô tả cắt ngang: Sử dụng hồi cứu số liệu về số lượng các khoản mục, giá trị từng khoản mục trong DMT đã được sử dụng tại bệnh viện
- Kết hợp phương pháp định tính để xác định những nguyên nhân, tồn tại của DMT đã sử dụng thông qua phỏng vấn sâu các cán bộ y tế của bệnh viện, khoa Dược liên quan đến sử dụng thuốc tại Bệnh viện Quân y 5 từ 1/01/2022 đến 31/12/2022
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 5 -
Xác định một số vấn đề tồn tại và nguyên nhân trong danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Quân y 5 – Quân khu 3 năm 2022.
Phân tích cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Quân y 5 –
- Cơ cấu DMT sử dụng theo nhóm thuốc
- Cơ cấu DMT sử dụng theo nhóm tác dụng
- Cơ cấu DMT kháng sinh
- Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc, tên thuốc, thành phần, đường dùng
- Cơ cấu DMT sử dụng theo phân tích ma trận ABC/VEN
- Vấn đề tồn tại và nguyên nhân trong việc sử dụng thuốc kháng sinh
- Vấn đề tồn tại và nguyên nhân trong việc sử dụng nhóm thuốc AN, BN
- Vấn đề tồn tại và nguyên nhân trong việc sử dụng thuốc nhập khẩu
- Vấn đề tồn tại và nguyên nhân trong việc sử dụng thuốc biệt dược gốc
BÀN LUẬN – KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.3.1 Nguồn thu thập số liệu
- Tại Khoa Dược: Hồi cứu các báo cáo thống kê sử dụng thuốc năm 2022; báo cáo tồn cuối năm 2021; nhập, xuất, tồn cuối năm 2022 và danh mục thuốc trúng thầu năm
2022 của Bệnh viện Quân y 5 bằng các biểu mẫu thu thập
- Tại các khoa/phòng khác: Danh sách người bệnh bảo hiểm y tế khám chữa bệnh ngoại trú, nội trú đề nghị thanh toán lưu tại phòng Kế hoạch tổng hợp của bệnh viện
Phương pháp định tính xác định một số nguyên nhân trong danh mục thuốc đã sử dụng, sử dụng “Phỏng vấn sâu” theo câu hỏi gợi ý đã xây dựng để khám phá ý kiến, của bác sỹ, nhân viên y tế để làm sáng tỏ một số vấn đề phát hiện trong nghiên cứu định lượng [22]
2.2.3.2 Biểu mẫu thu thập số liệu
* Nghiên cứu định lượng Điền các thông tin cần thu thập được từ hồi cứu nguồn dữ liệu có sẵn vào mẫu thu thập số liệu (mẫu chi tiết đính kèm tại Phụ lục 1) để có được bộ số liệu hoàn chỉnh về các loại thuốc sử dụng tại bệnh viện với các tiêu chí cụ thể
Cách xây dựng bộ câu hỏi bán cấu trúc :
- Tham khảo tài liệu soạn thảo bộ câu hỏi bán cấu trúc [3]
- Căn cứ nội dung ở mục tiêu 1 để tìm hiểu xác định một số vấn đề tồn tại trong danh mục thuốc sử dụng;
- Điều tra thử bộ câu hỏi bằng cách tiến hành phỏng vấn dược sỹ khoa dược;
- Hoàn thiện, điều chỉnh bộ câu hỏi phù hợp với mục đích cần tìm hiểu
2.2.3.3 Phương pháp thu thập thông tin
* Thu thập thông tin từ khoa Dược
Biểu mẫu thu thập số liệu các biến số nghiên cứu (Phụ lục 1): Thu thập dữ liệu thuốc năm 2022 được xuất ra bảng bằng phần mềm Microsoft Excel Thu thập thông tin chi tiết liên quan đến toàn bộ các thuốc được sử dụng tại bệnh viện năm 2022, cụ thể
31 gồm các trường thông tin: Tên hoạt chất; tên thương mại; hàm lượng/nồng độ; đơn vị tính; đường dùng; nhóm thuốc được sử dụng; nhóm TDDL; nguồn gốc; thuốc đơn TP/đa TP; thuốc BDG/generic; đơn giá; số lượng sử dụng; thành tiền sử dụng;… Tiến hành mã hoá các trường thông tin này Dùng biểu mẫu tại phụ lục 1 để thu thập thông tin cho các thuốc
* Đối với thu thập số liệu thông qua phỏng vấn sâu
Thu thập số liệu bằng phỏng vấn theo bộ câu hỏi bán cấu trúc tại phụ lục 3,4: Bộ câu hỏi gửi cho người phỏng vấn gồm các câu hỏi và các tài liệu cần chuẩn bị trong thời gian từ 2-7 ngày trước khi tiến hành thu thập số liệu
- Toàn bộ thuốc hoá dược, thuốc dược liệu đã sử dụng năm 2022 (Bao gồm: 395 khoản mục thuốc hoá dược, 37 khoản mục thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền)
- Tiêu chuẩn loại trừ: Thuốc từ nguồn viện trợ, thuốc cho tặng, thuốc theo chương trình, vị thuốc cổ truyền
* Phỏng vấn bán cấu trúc Đối tượng phỏng vấn sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc: tiến hành phỏng vấn sâu lựa chọn một số cán bộ y tế có liên quan theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích – Phụ lục
+ Phỏng vấn 01 thành viên HĐT&ĐT
+ Phỏng vấn 04 bác sỹ bao gồm: 1 bác sĩ khoa ngoại, 1 bác sĩ khoa nội tim mạch, 1 bác sĩ khoa nội tiêu hóa và 1 bác sĩ khoa khám bệnh
+ Phỏng vấn 01 dược sỹ khoa dược
Cách tiến hành phỏng vấn: Phỏng vấn được thực hiện trong một không gian yên tĩnh và thoải mái (có 5 cuộc phỏng vấn được thực hiện tại phòng làm việc riêng, 1 cuộc phỏng vấn thực hiện tại khoa Dược) Thông tin về 6 cán bộ y tế đã phỏng vấn được ghi lại tại phụ lục 5
Chủ đề phỏng vấn bao gồm: tình hình chung về sử dụng thuốc tại bệnh viện; sử dụng thuốc kháng sinh; sử dụng thuốc nhóm AN, BN; sử dụng thuốc nhập khẩu và sử dụng thuốc biệt dược gốc Mỗi cuộc phỏng vấn được nghiên cứu viên nghiên cứu kỹ chủ đề,
32 nội dung phỏng vấn trước khi tiến hành phỏng vấn Thời gian phỏng vấn từ 10 đến 20 phút, nội dung các câu trả lời được ghi chép phục vụ phân tích dữ liệu
2.2.5 Phương pháp xử lý, phân tích và trình bày số liệu
2.2.5.1 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu sau khi thu thập, được kiểm tra dữ liệu còn thiếu, làm sạch số liệu (đối với một thuốc cùng hoạt chất, hàm lượng, đường dùng, nhà sản xuất… nhưng có nhiều lô khác nhau hay ở những lần nhập khác nhau được phân thành nhiều dòng thì loại bỏ số liệu thô bằng cách gộp các thuốc đó lại với nhau Loại bỏ các thuốc theo tiêu chuẩn loại trừ), sau đó mã hóa và được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, hiện thị dưới dạng các bảng số liệu Sau đó các số liệu được phân tích bằng các phương pháp phân tích số liệu Để đảm bảo chất lượng của số liệu sau khi nhập, số liệu sẽ được kiểm tra đối chiếu chéo so sánh số khoản, tổng tiền giữa file nhập số liệu và file gốc của bảng dữ liệu với nguồn thông tin từ phần mềm quản lý thuốc của bệnh viện
Bước 1: Dữ liệu nghiên cứu được cập nhật vào biểu mẫu thu thập số liệu (Phụ lục 1) được lấy từ phần mềm của Khoa Dược bệnh viện
Bước 2: Phân tích số liệu đã thu thập theo các chỉ số cần nghiên cứu:
- Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm thuốc:
2 = Nhóm thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền