ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Từ tháng 3 năm 2021 đến hết tháng 7 năm 2021, bệnh nhân đã được phẫu thuật các bệnh về đường tiêu hóa tại khoa Phẫu thuật tiêu hóa, Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Sau phẫu thuật, bệnh nhân tiếp tục được điều trị theo quy trình chuẩn tại khoa để đảm bảo quá trình hồi phục hiệu quả Chương trình điều trị sau mổ tại Bệnh viện Xanh Pôn cam kết tối ưu hóa kết quả điều trị và nâng cao sức khỏe của bệnh nhân Khoa Phẫu thuật tiêu hóa của bệnh viện luôn chú trọng vào các phương pháp phẫu thuật tiên tiến và chăm sóc hậu phẫu chu đáo nhằm mang lại chất lượng dịch vụ tốt nhất cho người bệnh.
- Bệnh nhân được thăm khám và chăm sóc vết mổ hàng ngày
Bệnh nhân sau phẫu thuật tiêu hóa được chăm sóc và theo dõi tại khoa Phẫu thuật Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Quá trình điều trị bắt đầu ngay từ ngày đầu sau phẫu thuật và kéo dài đến khi bệnh nhân xuất viện, đảm bảo quá trình hồi phục an toàn và nhanh chóng.
Bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật liên quan đến các cơ quan tiêu hóa tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Sau đó, người bệnh tái nhập viện trong vòng 30 ngày kể từ lần phẫu thuật tiêu hóa trước đó do nhiễm khuẩn vết mổ Họ đã được điều trị tại khoa Phẫu thuật tiêu hóa để xử lý các nhiễm trùng sau phẫu thuật, đảm bảo phục hồi chẩn đoán chính xác và nâng cao hiệu quả điều trị.
- Bệnh nhân đồng ý tham gia vào nghiên cứu,
- Bệnh nhân đã được phẫu thuật từ nơi khác chuyển đến
- Bệnh nhân chuyển viện trong thời gian nằm điều trị
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả tiến cứu
Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
Trong nghiên cứu này, cỡ mẫu được xác định dựa trên phương pháp chọn mẫu thuận tiện, bao gồm toàn bộ bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa đủ tiêu chuẩn lựa chọn trong khoảng thời gian từ ngày 01/3/2021 đến ngày 31/7/2021.
Trong thời gian nghiên cứu, tất cả các bệnh nhân sau phẫu thuật tiêu hóa đủ điều kiện sẽ được lựa chọn tham gia và theo dõi cho đến khi xuất viện Các thông tin về tình trạng vết mổ của bệnh nhân sẽ được ghi nhận và tổng hợp vào bệnh án nghiên cứu để thu thập dữ liệu chính xác cho phân tích nghiên cứu.
Mỗi bệnh nhân sẽ được điều tra viên quan sát quá trình thay băng theo bảng kiểm một lần trong thời gian nằm viện đối với các bệnh nhân có vết thương sạch, không nhiễm virus viêm gan mạn tính (NKVM) Đối với các bệnh nhân có viêm gan mạn tính nhiễm virus (NKVM), việc quan sát quá trình thay băng sẽ được thực hiện lần thứ hai để đảm bảo an toàn và kiểm soát nhiễm khuẩn tốt hơn.
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 3/2021 đến hết tháng 7/2021 có 578 người bệnh đủ tiêu chuẩn lựa chọn được đưa vào nghiên cứu.
Chỉ số và biến số nghiên cứu
Biến số/chỉ số Loại biến Nguồn và công cụ Mục tiêu 1: Mô tả diễn biến vết mổ sau phẫu thuật
Tình trạng vết mổ ngày thứ 2 sau phẫu thuật Định tính Bệnh án và quan sát
Tình trạng vết mổ ngày thứ 4 sau phẫu thuật Định tính Bệnh án và quan sát
Tình trạng vết mổ ngày đầu xuất hiện các biểu hiện nhiễm khuẩn vết mổ nông Định tính Bệnh án và quan sát
Tình trạng vết mổ ngày đầu xuất hiện các biểu hiện nhiễm khuẩn vết mổ sâu Định tính Bệnh án và quan sát
Tình trạng vết mổ khi ra viện Định tính Bệnh án và quan sát
Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chung Định tính Bệnh án và quan sát Phân bố các loại nhiễm khuẩn vết mổ Định lượng Bệnh ánvà quan sát
Biến số/chỉ số Loại biến
Phân bố các mức độ nhiễm khuẩn Định lượng Quan sátvà quan sát
Phân bố nhiễm khuẩn theo đặc điểm người bệnh Định lượng Bệnh án
Phân bố theo BMI Định tính Cân đo
Mục tiêu 2 : Yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ
Yếu tố liên quan đến chăm sóc:
- Thay băng, chăm sóc ống dẫn lưu theo đúng quy trình vô khuẩn
+ Điều dưỡng rửa tay/sát khuẩn tay nhanh
+ Thông báo cho NB biết việc mình sẽ làm
+ Đặt NB tư thế thích hợp, bộc lộ VT
+ Trải tấm lót dưới vết mổ, đặt túi nilon vàng đựng băng, gạc bẩn, sát khuẩn tay nhanh
+ Tháo bỏ băng cũ bằng gạc hoặc găng sạch
+ Quan sát, đánh giá tình trạng vết thương (nhận định tình trạng VT & hướng xử lý vết thương)
+ Sát khuẩn tay nhanh Định tính Quan sát
Biến số/chỉ số Loại biến
+ Kiểm tra, sắp xếp dụng cụ đảm bảo thuận tiện khi tiến hành thủ thuật
* Đối với vết thương sạch:
+ Sát khuẩn cồn xung quanh vết thương để làm sạch vết băng dính
Để vệ sinh vết thương hiệu quả, sử dụng dung dịch NaCl 0.9% để rửa theo trình tự Trước tiên, rửa từ mép vết thương ra ngoài, sau đó làm sạch từ trên xuống dưới và từ phía đối diện trước sang phía cùng bên sau Sau khi rửa sạch, cần thấm khô vết thương để tránh nhiễm khuẩn.
+ Sát khuẩn vết thương bằng dd Betadin
(Povidin) theo trình tự như dung dịch
* Đối với vết thương nhiễm khuẩn:
+ Sát khuẩn cồn xung quanh vết thương để làm sạch vết băng dính
+ Nặn, thấm hết dịch mủ trong vết mổ
+ Dùng dung dịch Oxy già sát khuẩn bên trong vết mổ sau đó thấm khô
+ Cắt lọc giả mạc nếu có
+ Dùng dung dịch NaCl 0.9% rửa theo trình tự: từ mép vết thương ra ngoài, từ trên xuống dưới, từ phía đối diện trước, phía cùng bên sau Thấm khô
Biến số/chỉ số Loại biến
+ Sát khuẩn vết thương bằng dd Betadin
(Povidin) theo trình tự như dung dịch
* Đối với vết thương có dẫn lưu
+ Thay bằn vết mổ trước
+ Sát khuẩn chân dẫn lưu
+ Sát khuẩn ống dẫn lưu từ chân ống dẫn lưu ra ngoài ồng từ 5-10 cm
+ Đặt gạc vô khuẩn che vết mổ, đặt gạc chân dẫn lưu rồi băng lại
+ Giúp người bệnh ở tư thế thoải mái, dặn dò NB những điều cần thiết, cảm ơn
+ Thu dọn dụng cụ
+ Rửa tay/sát khuẩn tay
Hướng dẫn người bệnh và người nhà cách theo dõi vết mổ để phát hiện dấu hiệu bất thường sớm như đau tăng lên, chảy mủ, dịch, sưng tấy hay nóng quanh vùng vết mổ Nếu phát hiện các triệu chứng này, cần thông báo ngay cho nhân viên y tế để được xử lý kịp thời, đảm bảo quá trình hồi phục diễn ra an toàn và hiệu quả Việc chủ động quan sát và thông báo sớm giúp phòng ngừa biến chứng và giảm nguy cơ nhiễm trùng sau phẫu thuật.
ASA Định tính Thang điểm ASA
Biến số/chỉ số Loại biến
Chỉ số SENIC Định tính Thang điểm
Hình thức phẫu thuật Định tính Bệnh án
Phân loại phẫu thuật Định tính Bệnh án
Cơ quan phẫu thuật Định tính Bệnh án
Biến số/chỉ số Loại biến
PT dạ dày - tá tràng
PT ruột thừa và biến chứng ruột thừa
PT manh tràng, đại tràng
PT liên quan đến từ 2 tạng trở lên
Thời gian PT (phút) Định lượng Bệnh án
Sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật Định lượng Bệnh án
Bệnh kèm theo Định tính Phỏng vấn
Tiền sử phẫu thuật Định tính Phỏng vấn
Phương pháp phân tích số liệu
Dữ liệu được phân tích bởi phần mềm thống kê /SPSS 20.0 Mức alpha cho ý nghĩa ở mức 0,05), cho thấy mức độ khác biệt không đáng kể trong phân tích dữ liệu. -Cải thiện bài viết y khoa của bạn với [Draft Alpha](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha) - tạo nội dung chuẩn SEO nhanh chóng và chính xác!
Bảng 3.16 Liên quan giữa giới tính của người bệnh với NKVM
Nhận xét: Nam có tỷ lệ NKVM cao hơn nữ (2,3% so với 1,1%) Nguy cơ nam mắc NKVM cao hơn nữ 1,7 lần Sự khác nhau chưa có ý nghĩa thống kê (P
Bảng 3.17 Liên quan giữa chỉ số khối cơ thể với NKVM
Xu hướng ít cân hơn tỷ lệ nhập viện vì viêm phổi một chiều tăng cao, với tỷ lệ từ 1,3% lên 1,7% và 4% Nguy cơ nhập viện vì viêm phổi nhóm gày mất cân bằng cao gấp 2,46 lần so với nhóm cân bình thường và gấp 3 lần so với nhóm béo phì Tuy nhiên, sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê rõ ràng (P < 0,05).
Bảng 3.18 Liên quan giữa chỉ số đường huyết với NKVM Đường huyết
Đường huyết cao có mối liên hệ mạnh và ý nghĩa thống kê với tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ, trong đó nhóm đường huyết từ 8 mmol/l trở lên có tỷ lệ nhiễm khuẩn lên đến 5,7%, so với 1,2% ở nhóm đường huyết dưới 8 mmol/l Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ do đường huyết cao ≥ 8 mmol/L cao gấp 5 lần so với nhóm có trị số đường huyết thấp hơn, với OR=5,07 (P=0,006).
Bảng 3.19 Liên quan giữa loại ASA với NKVM
Người bệnh có phân loại tình trạng sức khỏe trước phẫu thuật theo thang điểm ASA ≥ III có nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ cao hơn so với nhóm có phân loại ASA < III, với tỷ lệ lần lượt là 7,4% so với 1,1% Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ của nhóm ASA ≥ III cao gấp gần 7 lần so với nhóm ASA < III, và sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ rệt (P = 0,001).
Bảng 3.20 Liên quan giữa chỉ số SENIC với NKVM
Nhóm có chỉ số SENIC từ 2 điểm trở lên có tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn vết mổ cao hơn nhiều so với nhóm có điểm 1 (3,7% so với 0,3%, P < 0,001) Các bệnh nhân có chỉ số SENIC từ 2 đến 4 điểm có nguy cơ bị nhiễm khuẩn vết mổ cao gấp khoảng 6 lần so với nhóm có điểm 1, cho thấy sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê rõ ràng Điều này khẳng định vai trò của chỉ số SENIC trong dự đoán nguy cơ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật.
Bảng 3.21 Liên quan giữa tiền sử phẫu thuật với NKVM
Không có tiền sử phẫu thuật
Có tiền sử phẫu thuật tiêu hóa
Có tiền sử phẫu thuật khác
Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ giữa nhóm bệnh nhân không có tiền sử phẫu thuật và nhóm có tiền sử phẫu thuật tiêu hóa, với tỷ lệ lần lượt là 1.8% và 1.6% Điều này cho thấy tiền sử phẫu thuật tiêu hóa không làm tăng nguy cơ nhiễm trùng sau phẫu thuật Các nghiên cứu này giúp làm rõ mối liên hệ giữa tiền sử phẫu thuật và nguy cơ nhiễm trùng vết mổ, hỗ trợ các bác sĩ trong việc chuẩn bị và quản lý bệnh nhân sau phẫu thuật.
Bảng 3.22 Liên quan giữa hình thức phẫu thuật với NKVM
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Phẫu thuật tiêu hóa của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn từ ngày 01/03/2021 đến 31/07/2021 nhằm khảo sát tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) ở bệnh nhân sau phẫu thuật tiêu hóa và xác định các yếu tố liên quan Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn là bệnh viện hạng I của thủ đô, là trung tâm đầu ngành về ngoại khoa và gây mê hồi sức, đảm bảo chất lượng điều trị cao cho người bệnh.
4.1.1 Đặc điểm về độ tuổi ở người bệnh trong nghiên cứu
Trong tổng số bệnh nhân tiêu hóa đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, tuổi trung bình là 52 ± 19 tuổi, với độ tuổi thấp nhất là 12 và cao nhất là 99 Nhóm bệnh nhân từ 19 đến dưới 39 tuổi chiếm khoảng 27%, trong khi nhóm từ 40 đến 59 tuổi chiếm khoảng 32%, cho thấy không có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm tuổi này.
60 tuổi trở lên chiếm số lượng nhiều nhất trong số bệnh nhân nghiên cứu (38%) và nhóm người bệnh có độ tuổi ≤ 18 chiếm tỷ lệ ít nhất (3%)
Nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Tân (2016) cho thấy độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 56.06 ± 16.14 tuổi, với người nhỏ nhất là 10 tuổi và cao tuổi nhất là 93 tuổi Trong số các bệnh nhân, nhóm tuổi ≤ 18 chiếm tỷ lệ rất nhỏ chỉ 0.9%, nhóm 19 – 39 tuổi chiếm 14.8%, nhóm 40 – 59 tuổi chiếm 41.9%, và nhóm từ 60 tuổi trở lên chiếm 42.4%.
Nghiên cứu cho thấy độ tuổi trung bình của người bệnh là 48 ± 22.45 tuổi, tương đồng với kết quả của Nguyễn Thị Bích Ngọc (2020) về tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật ống tiêu hóa tại Bệnh viện Thanh Nhàn Các nhóm tuổi chính trong nghiên cứu này gồm: từ 19 đến dưới 39 tuổi chiếm 25%, từ 40 đến 59 tuổi chiếm 26%, và trên 60 tuổi chiếm 38%, trong khi nhóm tuổi ≤ 18 chiếm tỷ lệ thấp nhất là 11% [25] Các dữ liệu này phản ánh rõ ràng về phân bố độ tuổi của người bệnh phẫu thuật, góp phần vào việc đánh giá các yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ.
Kết quả này phù hợp với vai trò của Bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện tuyến trung ương, đảm nhiệm việc thu dung bệnh nhân khu vực Hà Nội và các bệnh nhân nặng chuyển tuyến từ các tỉnh phía Bắc Trong khi đó, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn và Bệnh viện Thanh Nhàn, đều là bệnh viện đa khoa hạng I của thành phố Hà Nội, chịu trách nhiệm thu dung người bệnh tuyến cuối của thủ đô và các tỉnh lân cận Đặc điểm chung của các bệnh viện hạng I là bệnh nhân có độ tuổi tương đối cao, trong đó tỷ lệ bệnh nhân cao tuổi chiếm khoảng 38%, điều này ảnh hưởng đáng kể đến quá trình phẫu thuật và phòng ngừa các biến chứng như NKVM Người cao tuổi thường có sức đề kháng yếu, khả năng hồi phục chậm hơn so với người trẻ tuổi và thường đi kèm các bệnh lý liên quan đến tuổi già, đòi hỏi các biện pháp chăm sóc đặc biệt để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.
4.1.2 Đặc điểm giới tính ở người bệnh nghiên cứu
Một đặc điểm khác ở bệnh nhân nghiên cứu đó là tỉ lệ bệnh nhân nam giới (53.5%) cao hơn so với bệnh nhân nữ (46.5%)
Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nam và nữ tương tự như các nghiên cứu trước đó Cụ thể, theo tác giả Phạm Văn Tân (2016), tỷ lệ bệnh nhân nam đạt 55.7%, nữ là 44.3%, trong khi nghiên cứu của tác giả Lê Anh Tuân (2017) tại Bệnh viện tỉnh Sơn La ghi nhận tỷ lệ nam là 54.24%, nữ là 45.76%.
Theo nghiên cứu của tác giả Trần Thế Duy (2017) tại 4 khoa ngoại của Bệnh viện tỉnh Cà Mau, tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm 62,6%, cao hơn so với bệnh nhân nữ với tỷ lệ 37,4%.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không khớp với dữ liệu của Bùi Thị Tú Quyên, khi tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm đến 73.3%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ bệnh nhân nam là 26.7%, cho thấy sự khác biệt đáng kể trong nhóm bệnh nhân theo giới.
Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Tú Quyên tập trung vào nhóm bệnh nhân tại khoa ngoại và ngoại sản, dẫn đến tỷ lệ nữ giới chiếm đa số trong các khoa này Trong khi đó, các nghiên cứu của Phạm Văn Tân và Lê Anh Tuân tập trung vào nhóm bệnh nhân phẫu thuật đường tiêu hóa, với tỷ lệ nam và nữ giới gần như bằng nhau Điều này cho thấy xu hướng người bệnh nam giới có nhu cầu phẫu thuật đường tiêu hóa cao hơn so với nữ giới, phản ánh sự khác biệt về đặc điểm bệnh lý và tỷ lệ phẫu thuật theo giới tính.
4.1.3 Đặc điểm nơi ở của người bệnh trong nghiên cứu
Bảng 3.2 cho thấy người bệnh thường trú tại các quận nội thành Hà Nội chiếm tới 54%, trong khi đó, người bệnh ở các huyện ngoại thành và các tỉnh khác chiếm 46% Điều này phản ánh đặc điểm địa lý của bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, nằm tại trung tâm thủ đô, khiến lượng bệnh nhân nội thành chiếm tỷ lệ cao hơn Tuy nhiên, số liệu cũng cho thấy người bệnh từ ngoại thành và các tỉnh khác đóng vai trò khá lớn, thể hiện rằng trình độ chuyên môn của bệnh viện được đánh giá cao, thu hút người dân từ xa đến khám, điều trị và chăm sóc sức khỏe.
4.1.4 Chỉ số khối cơ thể BMI ở người bệnh nghiên cứu
Trong nghiên cứu, tỷ lệ người bệnh có trạng thái gầy chiếm 8,7%, thấp hơn so với người bệnh béo phì và thừa cân, chiếm lần lượt 15,7% và 23,5% Ngược lại, hơn một nửa số người bệnh (52,1%) có cân nặng bình thường, cho thấy tỷ lệ bệnh nhân mắc các vấn đề về cân nặng khá đa dạng.
Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ bệnh nhân gầy là 3.8%, bệnh nhân béo phì chiếm 41.4%, trong khi đó bệnh nhân có cân nặng bình thường chiếm 54.8%, khác biệt rõ so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Hoa (2019) Theo nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2014), tỷ lệ bệnh nhân có cân nặng bình thường là 70.5%, cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các nghiên cứu về phân bố cân nặng của bệnh nhân.
Nhiều bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi mắc các bệnh lý về đường tiêu hóa, trong đó có một số trường hợp mắc bệnh nặng hoặc kéo dài Những bệnh nhân này đã được điều trị nội khoa trước đó, điều này có thể ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng dinh dưỡng của họ.
4.1.5 Đặc điểm tiền sử phẫu thuật ở người bệnh nghiên cứu Đa số người bệnh đây là lần phẫu thuật đầu tiên (75.1%), một số người bệnh đã có tiền sử phẫu thuật đường tiêu hóa trước đó (20.1%), chỉ có một số ít người bệnh (4.8%) đã có tiền sử phẫu thuật khác
Nghiên cứu của Phạm Văn Tân (2016) cho thấy 75,3% người bệnh không có tiền sử phẫu thuật, trong khi đó 19,7% đã từng phẫu thuật tiêu hóa và 5% có tiền sử phẫu thuật khác, cho thấy xu hướng một số người bệnh đã từng phẫu thuật tiêu hóa có nguy cơ cần phải thực hiện lại các ca phẫu thuật về đường tiêu hóa Do đó, cần sự quan tâm đặc biệt từ đội ngũ nhân viên y tế trong việc chăm sóc, giải thích hậu phẫu và hướng dẫn người bệnh tái khám định kỳ để đảm bảo điều trị kịp thời khi có các biểu hiện bất thường về đường tiêu hóa.
4.1.6 Đặc điểm về chỉ số nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ ASA và SENIC ở người bệnh nghiên cứu
Giới, trình độ và thâm niên của điều dưỡng thực hiện chăm sóc vết mổ trong nghiên cứu
Bảng 4.11 cho thấy nữ điều dưỡng chiếm phần lớn so với nam giới, với tỷ lệ lần lượt là 73.4% và 26.6% Đa số điều dưỡng có trình độ đại học và sau đại học chiếm tới 96%, trong khi số ít có trình độ trung cấp Phần lớn điều dưỡng đã có thâm niên trên 3 năm trong chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật hoặc mắc các bệnh ngoại khoa, chiếm tỷ lệ 96.2% Trong đó, một số điều dưỡng trẻ tuổi có thâm niên dưới 3 năm chỉ chiếm 3.8%.
Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Huyền Trâm (2017) cho thấy tỷ lệ điều dưỡng nữ giới chiếm 71%, trong khi nam giới chiếm 29% Trong đó, điều dưỡng trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ lớn nhất với 52.3%, vượt xa so với điều dưỡng cao đẳng (32.3%) và đại học (15.4%) Ngoài ra, phần lớn điều dưỡng có thâm niên dưới 1 năm chiếm 78.5%, trong khi nhóm có thâm niên trên 1 năm chỉ chiếm 21.5%.
Hiện nay, nhân lực điều dưỡng tại các bệnh viện chủ yếu là nữ giới, trong khi số lượng nam giới tăng lên nhưng không đáng kể Từ năm 2015, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 2992/QĐ-BYT nhằm phê duyệt kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2015 – 2020, thúc đẩy việc chuẩn hóa trình độ đào tạo của điều dưỡng Trong những năm gần đây, đa số điều dưỡng đã đạt chuẩn cấp bằng theo quy định, chỉ còn một số ít điều dưỡng cao tuổi không bắt buộc phải chuẩn hóa trình độ Chính vì vậy, tỷ lệ bằng cấp của điều dưỡng trong nghiên cứu có sự khác biệt lớn so với các nghiên cứu trước đây của tác giả.
Tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ của người bệnh sau phẫu thuật tiêu hóa
Sau phẫu thuật, đa số bệnh nhân (chiếm 98.6%) duy trì thân nhiệt ổn định, không sốt, trong khi chỉ có 1.4% có biểu hiện sốt trên 38°C Vết mổ hầu hết diễn tiến bình thường, khô ráo, sạch sẽ (98.8%), còn một số ít có biểu hiện sưng, nóng, đỏ hoặc chảy mủ, dịch tại vết mổ hoặc từ dẫn lưu chân (1.2%).
Theo nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Tú Quyên (2012), tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật ngoại khoa và sản khoa là khoảng 6,3%, trong đó các bệnh nhân có triệu chứng sưng, nóng, đỏ, đau tại vị trí vết mổ chiếm phần lớn Đây là các biểu hiện phổ biến của nhiễm trùng vết mổ sau phẫu thuật, ảnh hưởng đến quá trình hồi phục của người bệnh Việc kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ và chăm sóc vệ sinh đúng cách đóng vai trò quan trọng trong giảm thiểu các biến chứng này.
Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Tân (2016), tỷ lệ người bệnh có biểu hiện sốt là 5.8%, cho thấy tình trạng sốt thường gặp sau phẫu thuật Bên cạnh đó, khoảng 5.33% bệnh nhân phản ánh triệu chứng sưng, nóng đỏ hoặc chảy mủ, dịch tại vết mổ hoặc từ ống dẫn lưu chân, đề cập đến các dấu hiệu nhiễm trùng sau phẫu thuật cần được chú ý và xử lý kịp thời.
Nghiên cứu của Bùi Thị Tú Quyên tập trung vào nhóm bệnh nhân sau phẫu thuật ngoại khoa và sản khoa, trong khi Phạm Văn Tân tập trung vào nhóm bệnh nhân sau phẫu thuật tiêu hóa, tương tự nghiên cứu của chúng tôi Bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện hạng đặc biệt, tiếp nhận bệnh nhân nặng từ các bệnh viện khu vực miền Bắc, dẫn đến tỷ lệ biểu hiện bất thường của vết mổ có sự khác biệt so với các nơi khác Ngoài ra, việc nhiều bệnh nhân sử dụng kháng sinh trước phẫu thuật cũng góp phần làm giảm triệu chứng tại chỗ của vết mổ.
4.3.2 Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật tiêu hóa
Trong tổng số 578 bệnh nhân được phẫu thuật, có 10 trường hợp mắc NKVM, chiếm tỷ lệ 1.7% Nghiên cứu cho thấy, loại phẫu thuật sạch – nhiễm có xu hướng có tỷ lệ mắc NKVM cao hơn so với phẫu thuật sạch, với tỷ lệ lần lượt là 1.8% và 1.5%.
Nghiên cứu của Lê Hồng Dương (2012) về tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ hậu phẫu tại Bệnh viện Giao thông vận tải Trung ương cho thấy tỷ lệ này là 8.3%, trong đó các bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa có nguy cơ nhiễm khuẩn từ 5.4% đến 9.7% tùy theo vị trí phẫu thuật Các nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng và Dương Văn Hoanh (2012) ghi nhận tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ hậu phẫu khoảng 5.7%, trong khi Phạm Văn Tân (2016) báo cáo tỷ lệ này là 3.6% Đặc biệt, nghiên cứu của Đinh Vạn Trung (2016) cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn là 2.2%, còn Nguyễn Thị Hồng Nguyên (2019) ghi nhận tỷ lệ 2.4%, thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu quốc tế của các tác giả như [42], [48], [49], [51], góp phần nâng cao nhận thức về tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ hậu phẫu tại các bệnh viện Việt Nam.
Hiện nay, Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn đặt trọng tâm vào công tác kiểm soát nhiễm khuẩn nói chung và kiểm soát nhiễm khuẩn vết mổ nói riêng, góp phần giảm tỷ lệ NKBV so với các nghiên cứu trước đó Sự phát triển của y học cùng với sự quan tâm và nỗ lực từ các cấp, các đơn vị y tế trong phòng ngừa NKBV đã thúc đẩy xu hướng giảm đáng kể các trường hợp nhiễm khuẩn hậu phẫu Nhờ đó, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ tại bệnh viện ngày càng được kiểm soát chặt chẽ hơn, nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
Kết quả chăm sóc sau phẫu thuật tiêu hóa và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.12 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng chuẩn bị chăm sóc vết mổ đúng 9 bước trong quy trình đạt 58%, cho thấy còn nhiều điểm cần cải thiện Tuy nhiên, vẫn còn 19,4% nhân viên y tế chưa thực hiện đúng quy trình rửa tay/sát khuẩn tay nhanh trước khi bắt đầu chăm sóc vết mổ, làm giảm hiệu quả vệ sinh phòng tránh nhiễm khuẩn Ngoài ra, có 15,1% điều dưỡng chưa sát khuẩn tay nhanh đúng quy định trước khi chuẩn bị dụng cụ vô khuẩn, ảnh hưởng đến an toàn vô khuẩn trong quy trình phẫu thuật.
Theo Bảng 3.13, chỉ có 43,3% bệnh nhân được thực hiện đầy đủ 3 bước trong quy trình chăm sóc vết thương sạch Khoảng 30,3% các vết mổ sau khi quan sát không còn dính băng nên điều dưỡng không sát khuẩn cồn để làm sạch băng dính, dẫn đến việc vệ sinh chưa đạt yêu cầu Ngoài ra, 12% vết thương sau khi sát khuẩn bằng dung dịch Betadin không đúng tiêu chuẩn, ảnh hưởng đến hiệu quả chăm sóc và phòng ngừa nhiễm trùng.
Trong số 10 bệnh nhân mắc nhiễm khuẩn vết mổ, có tới 100% chưa thực hiện đủ 5 bước theo quy trình chuẩn Chỉ có 3/10 ca sử dụng dung dịch Oxy già để sát khuẩn bên trong vết mổ rồi thấm khô, trong khi 7/10 ca được sát khuẩn cồn xung quanh vết thương để làm sạch vết băng dính Ngoài ra, có 8/10 bệnh nhân được nặn và thấm hết dịch mủ trong vết mổ, cho thấy còn nhiều điểm cần cải thiện trong quy trình chăm sóc sau phẫu thuật để giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn.
Trong nghiên cứu với 578 bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa, có 287 người được đặt dẫn lưu sau phẫu thuật, trong đó 100% bệnh nhân nhận chăm sóc dẫn lưu đúng quy trình Khoảng 76,7% bệnh nhân được sát khuẩn ống dẫn lưu từ chân ống dẫn lưu ra ngoài ống, cách từ 5-10 cm, đảm bảo vệ sinh an toàn Ngoài ra, 79,1% người bệnh thực hiện sát khuẩn chân dẫn lưu đúng quy định, góp phần giảm nguy cơ nhiễm khuẩn hậu phẫu.
Nghiên cứu của Huỳnh Huyền Trâm (2017) cho thấy có đến 69% điều dưỡng chuẩn bị tốt phương tiện và dụng cụ, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc Tuy nhiên, tỷ lệ điều dưỡng thực hành đầy đủ các bước khi thay băng còn thấp, chỉ đạt 46%, cho thấy cần tăng cường đào tạo và hướng dẫn thực hành đúng quy trình.
Chúng tôi ghi nhận rằng, khi điều dưỡng di chuyển xe để thay băng sát giường bệnh, việc trải tấm lót dưới vết mổ và đặt túi nilon đựng băng, gạc bẩn là không cần thiết vì vết mổ sạch không cần dội trực tiếp dung dịch rửa hoặc sát khuẩn Tuy nhiên, toàn bộ nhân viên y tế đều tuân thủ quy trình vệ sinh tay, nhưng chưa thực hiện đúng, đủ quy trình 6 bước với ít nhất 5 lần mỗi bước Trong khi đó, vật tư tiêu hao y tế đã có nhiều thay đổi, ví dụ băng dính không để lại keo hoặc vết dán, khiến điều dưỡng ít sử dụng cồn để làm sạch vết băng khi thay Đối với vết mổ nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm khuẩn khoang tạng, việc cắt lọc giả mạc hoặc nặn mủ thường không có chỉ định của bác sĩ, đồng thời các vật tư hỗ trợ trong chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn ngày càng thay thế các bước quy trình truyền thống Trong số 578 bệnh nhân phẫu thuật, có 287 người đặt dẫn lưu, tuy nhiên, cán bộ điều dưỡng chưa thực hiện sát khuẩn đúng quy định, như sát khuẩn quanh chân dẫn lưu hoặc ống dẫn lưu từ chân ra ngoài với khoảng cách dưới 5cm.
4.4.2 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) ở bệnh nhân sau phẫu thuật tiêu hóa Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả nhận thấy một số yếu tố quan trọng liên quan đến nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ, mặc dù điều kiện khách quan có thể ảnh hưởng đến kết quả Các yếu tố này góp phần vào việc hiểu rõ hơn về các yếu tố nguy cơ và hướng tiếp cận phòng ngừa, giảm thiểu biến chứng sau phẫu thuật tiêu hóa.
4.4.2.1 Liên quan giữa tuổi và tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ
Kết quả nghiên cứu cho thấy nóm người bệnh dưới 60 tuổi tỷ lệ NKVM thấp hơn nhóm từ 60 tuổi trở lên (1,1% so với 2,8%) khả năng mắc NKVM ở nhóm dưới
60 tuổi chỉ bằng gần 0,4 lần so với nhớm từ 60 tuổi trở lên
Nghiên cứu của Phạm Văn Tân (2016) cho thấy tỷ lệ mắc NKVM ở người bệnh từ 60 tuổi trở lên cao hơn so với nhóm dưới 60 tuổi, với tỷ lệ lần lượt là 3.7% và 3.6% [29] Các nghiên cứu khác cũng xác nhận rằng nguy cơ mắc NKVM càng cao ở những người cao tuổi, đặc biệt ở nhóm tuổi trên 60, cho thấy tuổi tác là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh [24], [27], [39].
Mối liên hệ giữa tuổi và tỷ lệ NKVM trong nghiên cứu chưa được xác nhận rõ ràng qua thống kê (P> 0.05), tuy nhiên, xu hướng cho thấy người bệnh cao tuổi có khả năng mắc NKVM cao hơn Điều này đặt ra yêu cầu cao hơn về phương pháp điều trị, chăm sóc và theo dõi diễn biến của người cao tuổi sau phẫu thuật để giảm thiểu rủi ro.
4.4.2.2 Liên quan giữa giới tính của người bệnh với NKVM
Theo Bảng 3.16, tỷ lệ mắc NKVM ở nam cao hơn nữ (2,3% so với 1,1%), cho thấy nguy cơ nam giới mắc NKVM cao hơn nữ giới gấp 1,7 lần Tuy nhiên, sự khác biệt này chưa đạt ý nghĩa thống kê, cho thấy còn cần nghiên cứu thêm để khẳng định mối liên hệ giữa giới tính và nguy cơ mắc NKVM.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các khác biệt về tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) giữa nam giới và nữ giới Theo tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2014), tỷ lệ nữ giới mắc NKVM cao hơn nam giới (11.1% so với 7.7%) Tuy nhiên, nghiên cứu của Phạm Văn Tân (2016) lại cho kết quả gần như tương đương, với tỷ lệ mắc NKVM ở nữ là 3.7% và ở nam là 3.6% Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Hồng Dương và cộng sự (2021) thực hiện tại Bệnh viện Giao thông vận tải Trung ương lại cho thấy nam giới có tỷ lệ mắc NKVM cao hơn nữ giới (6.5% so với 5.4%) Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thị Như Hoa (2019) đã chứng minh rằng nam giới có nguy cơ mắc NKVM cao hơn nữ giới tới 5.5 lần, cho thấy sự khác biệt rõ rệt về nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ theo giới tính.
[20] Xu hướng nam giới có nguy cơ mắc NKVM cao hơn nữ giới càng được thể hiện rõ trong những nghiên cứu gần đây
4.4.2.3 Liên quan giữa chỉ số khối cơ thể BMI với nhiễm khuẩn vết mổ phẫu thuật tiêu hóa
Nghiên cứu cho thấy người bệnh có BMI dưới 18.5, tức là gầy, có tỷ lệ mắc KVM cao hơn so với các nhóm còn lại, đạt 4% so với 1.3% và 1.7% Người gầy có nguy cơ mắc Nhiễm KVM cao gấp 2.46 lần so với nhóm có cân nặng bình thường, cho thấy tầm quan trọng của việc kiểm soát cân nặng trong phòng ngừa các bệnh lý liên quan.
Các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa tình trạng gầy yếu và nguy cơ mắc NKVM Cụ thể, nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2014) cho thấy tỷ lệ mắc NKVM ở người gầy cao hơn so với nhóm bình thường, lần lượt là 10.9% và 8.5% Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Hoa (2019) cũng xác định rằng người gầy có nguy cơ mắc NKVM cao gấp 8 lần so với nhóm có cân nặng bình thường.
Người bệnh gầy có nguy cơ thiếu dinh dưỡng cao, dẫn đến sức đề kháng yếu hơn và khả năng lành vết mổ chậm hơn so với người bình thường Vì vậy, chăm sóc dinh dưỡng sau phẫu thuật cho nhóm bệnh nhân gầy cần đặc biệt chú trọng để bổ sung đủ chất dinh dưỡng, giúp vết mổ nhanh lành, giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng và các biến chứng hậu phẫu.
4.4.2.4 Liên quan giữa trị số đường huyết với NKVM
Đường huyết cao có mối liên hệ mạnh và ý nghĩa thống kê với tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ, trong đó nhóm có đường huyết ≥ 8 mmol/lít có tỷ lệ nhiễm khuẩn lên đến 5,7%, cao hơn đáng kể so với nhóm có đường huyết dưới 8 mmol/lít là 1,2% Nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ do đường huyết cao ≥ 8 mmol/lít cao gấp 5 lần so với nhóm có trị số đường huyết thấp hơn, cho thấy kiểm soát đường huyết là yếu tố quan trọng trong phòng ngừa nhiễm trùng sau phẫu thuật.