ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết và điều trị tại Trung tâm Hồi sức tích cực Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong giai đoạn từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 9 năm 2021, đã được thu thập và phân tích để nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị nhiễm khuẩn huyết.
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân ≥ 18 tuổi được chẩn đoán NKH
- Chẩn đoán là nhiễm khuẩn huyết theo tiêu chuẩn của Hội Hồi sức cấp cứu Hoa Kỳ và Hội Hồi sức Châu Âu (SCCM/ESICM) 2016 [57]
- Bệnh nhân hoặc gia đình bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu và tuân thủ điều trị
- Bệnh nhân cấy máu cho kết quả dương tính
- Bệnh nhân vào điều trị trong tình trạng ngừng tuần hoàn, chết não
- Bệnh nhân điều trị dưới 24 giờ
- Bệnh nhân không được giám sát và xét nghiệm đủ theo quy định
Trung tâm Hồi sức tích cực Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Thiết kế nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu mô tả tiến cứu
Quy trình chọn mẫu và cách tính cỡ mẫu:
Các bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chí lựa chọn điều trị tại Trung tâm Hồi sức tích cực - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong khoảng thời gian từ tháng 11/2020 đến tháng 09/2021 hoặc cho đến khi đủ cỡ mẫu nghiên cứu.
Trong thời gian nghiên cứu thu thập được 126 người bệnh nhiễm khuẩn huyết đủ điều kiện đưa vào nghiên cứu.
Các biến số và chỉ số nghiên cứu
- Biến số thông tin chung: Tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, bệnh kết hợp, chế độ điều trị, …
- Biến số lâm sàng: Đường vào NKH, các biểu hiện lâm sàng của người bệnh NKH, huyết áp, mạch, nhiệt độ, nhịp thở,…
Các biến số cận lâm sàng trong chẩn đoán NKH bao gồm các chỉ số sinh hóa máu như Ure, Creatinine, Bilirubin, Albumin, Protein, Procalcitonin, CRP, cùng với các điện giải đồ và các chỉ số huyết học như bạch cầu Lympho, Hồng cầu, Hemoglobin Đồng thời, cấy khuẩn xác định chủng vi khuẩn là bước quan trọng giúp xác định nguyên nhân nhiễm trùng và hướng điều trị phù hợp Việc theo dõi các chỉ số này giúp đánh giá chức năng thận, tình trạng viêm nhiễm và đáp ứng điều trị của bệnh nhân NKH một cách chính xác.
- Tình trạng dinh dưỡng người bệnh NKH
Chăm sóc bệnh nhân thở máy về cơ bản bao gồm các công việc quan trọng như chăm sóc hút đờm, dãi để đảm bảo thông khí tốt và tránh tắc nghẽn đường hô hấp Ngoài ra, chăm sóc đường hô hấp trên và dưới (NKQ/MKQ), kiểm tra và quản lý cuff giúp duy trì áp lực phù hợp, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Việc chăm sóc dây dẫn máy thở đúng kỹ thuật giúp phòng ngừa nhiễm trùng và đảm bảo hoạt động hiệu quả của thiết bị Đồng thời, vệ sinh răng miệng và vệ sinh cá nhân (bao gồm tắm tại giường) là các bước không thể thiếu nhằm tăng cường sức khoẻ và phòng ngừa biến chứng cho bệnh nhân chăm sóc đặc biệt này.
- Biến số về chăm sóc catheter
- Biến số về chăm sóc các loại sonde dạ dày, sonde tiểu
Dịch vụ tư vấn dành cho người bệnh và người chăm sóc bệnh nhân bao gồm cung cấp kiến thức về chế độ dinh dưỡng phù hợp, hướng dẫn phòng ngừa biến chứng hiệu quả, đồng thời hỗ trợ thực hiện quy chế bệnh viện và nội quy khoa phòng để đảm bảo quá trình điều trị diễn ra an toàn và thuận lợi.
- Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo BMI và thang điểm NUTRIC.
Phương thức tiến hành
2.4.1 Các bước tiến hành nghiên cứu
Tất cả số liệu đều được ghi chép chính xác vào bảng theo dõi người bệnh theo đúng mẫu đã thiết kế sẵn (Phụ lục 1) Nhóm nghiên cứu thực hiện quan sát và điền thông tin vào bảng kiểm quy trình kỹ thuật, bao gồm các dữ liệu trước, trong và sau quá trình chăm sóc bệnh nhân Ngoài ra, các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng cũng được ghi chú rõ ràng vào phiếu theo dõi để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của hồ sơ bệnh nhân.
Tất cả người bệnh đều được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện để đánh giá các chỉ số sức khỏe ngay khi vào khoa, bắt đầu từ ngày thứ 1 Trong quá trình chăm sóc, các kỹ thuật điều dưỡng như đo dấu hiệu sinh tồn bằng máy, biểu hiện lâm sàng của người bệnh, và các thao tác y tế như đặt cuff, ống thông cho ăn, hút đờm, vệ sinh và thay chân ống nuôi dưỡng qua đường miệng hoặc mũi đều được ghi lại chính xác trong suốt ngày làm việc Các hoạt động chăm sóc bao gồm vệ sinh răng miệng, tắm tại giường bằng dung dịch sát khuẩn và theo dõi số lần sử dụng cuff, ống thông, hệ thống dây dẫn máy thở, bình hút đờm, và chăm sóc ống tiểu (theo phụ lục), nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình điều trị cho người bệnh thở máy xâm nhập.
Thu thập thông tin cận lâm sàng bao gồm kết quả khám bệnh, xét nghiệm máu, xét nghiệm đờm, xét nghiệm nước tiểu sau 48 giờ nhập viện và cấy khuẩn nhằm đảm bảo chẩn đoán chính xác và theo dõi diễn biến bệnh hiệu quả.
Các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng được đánh giá hàng ngày để theo dõi tình trạng bệnh nhân Số liệu này được thu thập vào các thời điểm chính gồm ngày thứ nhất (khi bệnh nhân mới nhập viện), ngày thứ 3, ngày thứ 5, và trước khi bệnh nhân ra viện, giúp đánh giá tiến triển và tình hình sức khỏe tổng thể của người bệnh.
2.4.2 Các công cụ sử dụng trong nghiên cứu
Bệnh án nghiên cứu là quá trình thu thập thông tin đối tượng nghiên cứu từ hồ sơ bệnh án và qua nhận định tình trạng người bệnh sau giao ban đầu giờ làm việc để lấy thông tin chính xác từ bác sĩ Quá trình này nhằm đảm bảo việc cung cấp chăm sóc người bệnh toàn diện theo quy trình điều dưỡng của bệnh viện, đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong công tác chăm sóc sức khỏe.
- Phiếu thu thập và chăm sóc người bệnh có thở máy (phụ lục 1)
- Bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh, và người nhà người bệnh (phụ lục 1)
- Các công cụ khám bệnh: nhiệt kế, huyết áp, ống nghe, monitorning theo dõi liên tục hãng Philips
Hình 2.1: Monitor Philips MX550 theo dõi bệnh nhân
Các công cụ thở máy và khử khuẩn máy thở đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân thở máy, bao gồm máy thở, máy hút đờm, bóng Ambu, các loại gạc củ ấu, gạc miếng, bộ dụng cụ thay băng ống mở khí quản, cùng các ống thông như ống hút đờm, ống Foley và ống Levin Để đảm bảo vệ sinh và tránh nhiễm khuẩn, việc sử dụng các dung dịch sát khuẩn như dung dịch vệ sinh răng miệng cho người thở máy xâm nhập, dung dịch sát khuẩn vết mở khí quản và dung dịch sát khuẩn tay nhanh là điều cần thiết Nhờ đó, quá trình chăm sóc và khử trùng các thiết bị y tế được thực hiện hiệu quả, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
- Các công cụ xét nghiệm: phiếu xét nghiệm, ống lấy mẫu bệnh phẩm, …
Mô tả các khái niệm, định nghĩa, tiêu chuẩn, kỹ thuật thực hiện về các biến số nghiên cứu
2.5.1 Các chỉ số nghiên cứu về đặc điểm chung người bệnh NKH
- Tuổi : được phân nhóm như sau:
- Giới: Nam và nữ giới
- Nghề nghiệp: sắp xếp vào các nhóm sau
Theo UNESCO, trình độ học vấn của một người được định nghĩa là bằng cấp cao nhất đã hoàn thành trong hệ thống giáo dục quốc dân mà người đó đã theo học, phản ánh mức độ học vấn đạt được trong quá trình học tập.
Theo Luật Giáo dục hiện hành của nước ta, Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm cả hệ thống giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Hệ thống này bắt đầu từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, đào tạo nghề, đến các bậc giáo dục chuyên nghiệp, nhằm phát triển nguồn nhân lực toàn diện cho đất nước.
Trong nghiên cứu này, chia thành các trình độ như sau:
+ Đến trung học phổ thông: Là những người đang đi học phổ thông hoặc có trình độ học vấn cao nhất là tốt nghiệp trung học phổ thông
Dạy nghề: Là những người đã tốt nghiệp (thường đã được cấp bằng hoặc chứng chỉ) các trường sơ cấp nghề, trung cấp nghề hoặc cao đẳng nghề
Trung cấp chuyên nghiệp: Là những người đã tốt nghiệp (thường đã được cấp bằng) bậc trung cấp chuyên nghiệp
Cao đẳng: Là những người đã tốt nghiệp cao đẳng (thường đã được cấp bằng cử nhân cao đẳng)
Đại học: Là những người đã tốt nghiệp đại học (thường đã được cấp bằng cử nhân đại học)
+ Sau đại học: Là những người đã tốt nghiệp thạc sỹ, tiến sỹ, tiến sỹ khoa học (thường đã được cấp học vị)
- Phân bố theo vùng định cư: Người bệnh sống ở thành thị hay nông thôn
Khái niệm về thành thị và nông thôn như sau:
Thành phố là trung tâm tập trung đông dân cư và chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, đóng vai trò là trung tâm về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, du lịch và dịch vụ của cả nước hoặc vùng lãnh thổ Đô thị bao gồm các khu vực như thị trấn, thị xã và các thành phố trực thuộc tỉnh hoặc trung ương, với các đơn vị hành chính như phường, quận, thành phố.
Nông thôn là diện tích không nằm trong nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi Ủy ban nhân dân xã Đây là vùng đất nơi người dân chủ yếu sinh sống bằng hoạt động nông nghiệp Các đơn vị hành chính của nông thôn được phân chia thành tiểu khu, thôn, làng, xã và huyện, tạo thành hệ thống quản lý rõ ràng và phù hợp với đặc thù địa phương.
- Chế độ điều trị: là quyền lợi người bệnh được hưởng khi điều trị tại Bệnh viện
Chia thành chế độ bảo hiểm y tế và dịch vụ
Chế độ Bảo hiểm y tế (bảo hiểm sức khỏe) là hình thức bảo hiểm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giúp người tham gia được chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh và phục hồi sức khỏe khi gặp tai nạn hoặc ốm đau Bảo hiểm y tế đảm bảo an tâm về tài chính khi đối diện với các vấn đề sức khỏe, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Đây là hình thức bảo hiểm thiết yếu, hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng với mức chi phí hợp lý.
+ Chế độ dịch vụ thì người bệnh phải trả toàn bộ chi phí trong quá trình điều trị
- Vị trí đường vào NKH:
Các bệnh lý nền như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch, viêm loét dạ dày, tá tràng, bệnh về cơ quan hô hấp và gan mật có thể gặp phải khi bệnh nhân mắc nhiễm trùng đường hô hấp do các đường vào nhiễm khuẩn đã từng mắc trước đó Những bệnh lý này có thể làm tăng nguy cơ biến chứng và phức tạp quá trình điều trị Việc kiểm soát các bệnh lý nền này là rất quan trọng để hạn chế tác động của nhiễm trùng đường hô hấp và cải thiện khả năng hồi phục của bệnh nhân.
Thời gian nằm viện tính từ ngày người bệnh nhập viện để điều trị cho đến khi được chữa khỏi và bác sĩ cho ra viện Thời gian này giúp đánh giá quá trình điều trị và phản ánh mức độ nặng nhẹ của bệnh Chọn lựa thời gian nằm viện phù hợp đảm bảo quá trình hồi phục tối ưu và an toàn cho bệnh nhân.
2.5.2 Mô tả các biến số về lâm sàng, cận lâm sàng, tình trạng dinh dưỡng người bệnh NKH
*Một số đặc điểm lâm sàng người bệnh NKH
Nhiễm khuẩn huyết là tình trạng vi khuẩn tồn tại và phát triển trong máu, gây ra phản ứng hệ thống của cơ thể đối với nhiễm trùng Triệu chứng của nhiễm khuẩn huyết thường bao gồm một hoặc nhiều biểu hiện như sốt cao, lạnh run, mệt mỏi kéo dài, và giảm huyết áp, đe dọa tới tính mạng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời Việc nhận biết sớm các triệu chứng này là vô cùng quan trọng để giảm thiểu biến chứng nguy hiểm của nhiễm khuẩn huyết.
+ Nhịp thở nhanh > 20/phút; hoặc PaCO2< 32 mmHg (tự thở)
+ Bạch cầu >12.000/mm 3 , hay < 4000/mm 3 , hoặc dạng non > 10%
Nhiễm khuẩn huyết nặng là tình trạng giảm tưới máu mô do nhiễm khuẩn huyết hoặc rối loạn chức năng các cơ quan Đây là một tình trạng nghiêm trọng ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể, gây suy gan, suy thận, và rối loạn chức năng tim mạch Nhiễm khuẩn huyết nặng đòi hỏi can thiệp y tế khẩn cấp để giảm thiểu biến chứng và tử vong Đặc biệt, việc nhận biết sớm các dấu hiệu của nhiễm trùng huyết nặng là điều cần thiết để đảm bảo điều trị hiệu quả.
+ Tụt huyết áp do nhiễm khuẩn huyết
Lactate vượt quá giới hạn trên của kết quả xét nghiệm bình thường cho thấy tình trạng thiếu oxy mô hoặc rối loạn chuyển hóa nghiêm trọng Trong khi đó, lượng nước tiểu ít hơn 0,5 mL/kg/giờ kéo dài trên 2 giờ dù đã bù dịch đầy đủ là dấu hiệu cảnh báo suy thận cấp hoặc giảm chức năng thận Việc theo dõi sát cả hai chỉ số này là cần thiết để đánh giá tình trạng sinh tồn và hướng xử trí y học phù hợp.
+ Tổn thương phổi cấp có PaO2/FiO2 < 250 và không có viêm phổi như là nguồn gốc nhiễm khuẩn
+ Tổn thương phổi cấp có PaO2/FiO2 < 200 và không có viêm phổi như là nguồn gốc nhiễm khuẩn
+ Rối loạn đông máu (INR > 1,5)
* Một số đặc điểm lâm sàng về tình trạng dinh dưỡng
- Dịch tồn dư ở dạ dày
Một số biến chứng hay gặp trong NKH, bao gồm:
* Một số đặc điểm cận lâm sàng và tình trạng dinh dưỡng người bệnh NKH Các chỉ số sinh hóa
- Albumin huyết thanh [35], trong đó:
+ Suy dinh dưỡng nhẹ: 28 - < 35 g/dl
+ Suy dinh dưỡng vừa: 21 - 27 g/dl
+ Suy dinh dưỡng nặng: < 21 g/dl
Protein TP bình thường: 60 – 80 g/l Protein TP < 60g/l là thấp
- CRP: giá trị bình thường: 0 – 5
- Pro- calcitolin bình thường: < 0.05ng/ml
- Ure: giá trị bình thường: 2.5- 7.5mmol/l
- Creatinin: giỏ trị bỡnh thường ở Nam giới là 62-120 àmol/l; ở Nữ giới là 53-100 àmol/l
Các chỉ số xét nghiệm khí máu động mạch
- PaO2: giá trị bình thường 80 – 100mmHg
- Lactat: giá trị bình thường 0,4 - 0,8 mmol/l
Các chỉ số công thức máu
- Bạch cầu: giá trị bình thường là 4 - 10,0 G/l
- Số lượng lympho bào (1000TB/mm 3 ) [35]
Bạch cầu Lympho có chức năng chính là tham gia các đáp ứng miễn dịch bảo vệ cơ thể
- Từ 1,2 – 2 G/L SDD mức độ nhẹ
- Từ 0,8 – 1,2 G/L SDD mức độ vừa
2.5.3 Mô tả các biến số về theo dõi và chăm sóc người bệnh NKH
* Biến số về theo dõi dấu hiệu sinh tồn :
- Giá trị bình thường của các chỉ số sinh tồn ở người lớn Việt Nam:
+ Mạch: Bình thường ở người lớn là 60 - 80 lần/phút
+ Nhiệt độ: Bình thường ở người lớn từ 36.3 – 37.1 độ C
Huyết áp tâm thu (tối đa): Bình thường là 90 - 140mmHg
Huyết áp tâm trương (tối thiểu): Bình thường là 60 - 90mmHg
Huyết áp trung bình động mạch = huyết áp tâm trương + 1/3
(huyết áp tâm thu – huyết áp tâm trương), huyết áp trung bình động mạch bình thường thay đổi từ 70-95 mm Hg
+ Nhịp thở: Bình thường ở người lớn là 16 đến 18 lần/phút
- Thời điểm lấy số liệu
+ Ngày thứ nhất: Bệnh nhân vào trung tâm điều trị trong vòng 12- 24 giờ đầu
+ Các ngày sau: lấy số liệu lúc 6 giờ sáng ngày thứ 3, ngày thứ 5 và ngày ra viện
* Tình trạng dinh dưỡng người bệnh NKH
Kỹ thuật đo chu vi vòng cánh tay (MUAC):
Hình 2.2 Các bước đo chu vi vòng cánh tay
- Dùng thước dây mềm, không chun giãn
- Bộc lộ toàn bộ cánh tay không thuận
- Để tay thõng tự nhiên
- Chọn điểm giữa cánh tay (giữa mỏm cùng xương vai và khuỷu tay)
- Vòng thước xung quanh điểm giữa cánh tay, sao cho không chặt cũng không quá lỏng
- Đọc và ghi kết quả chính xác 0,1cm
Nhận định kết quả:
Chu vi vòng cánh tay (cm) BMI (kg/m 2 ) Tình trạng dinh dưỡng
23 – < 25 18.5 – < 20.5 Nguy cơ suy dinh dưỡng
> 32 > 30 Dư cân, béo phì Đo chiều dài cẳng chân (gót chân- mào chày(cm)) để ước tính chiều cao:
- Dùng thước dây mềm, không chun giãn, độ chính xác 0,1cm:
- Yêu cầu người bệnh nằm ngửa, bộc lộ cẳng chân
- Gấp đầu gối trái sao cho tạo thành một góc 90 o
- Đo từ đầu gối đến bàn chân
- Đọc và ghi kết quả chính xác đến 0,1cm
Hình 2.3 Cách đo chiều dài cẳng chân
Công thức ước tính chiều cao từ chiều dài cẳng chân [70]
Chiều cao nữ = 91,45 + (1.53 x Chiều dài cẳng chân) – (0,16 x tuổi)
Chiều cao nam = 85 + (1.73 x Chiều dài cẳng chân) – (0,11 x tuổi)
* Theo chỉ số khối cơ thể ( BMI)
Chiều cao x chiều cao (m) Các số đo nhân trắc được thu thập bao gồm cân nặng, chiều cao
Thời điểm thu thập cân nặng cơ thể là trong vòng 12 giờ nhập viện, vào ngày thứ 3, ngày thứ 5 và trước khi ra viện để đảm bảo độ chính xác cao Chiều cao cũng được đo cùng lúc trong khoảng thời gian này để phục vụ cho các phân tích y học chính xác.
Người bệnh nằm tại ICU Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 có thể được ước tính chỉ số BMI dựa trên các số đo MUAC và chiều dài cẳng chân bằng công thức tính BMI đã được nghiên cứu [61] Các phương pháp đo lường này giúp đánh giá chính xác tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân, đặc biệt trong các tình huống không thể lấy số đo chiều cao trực tiếp Sử dụng công thức ước tính BMI từ MUAC và chiều dài cẳng chân là giải pháp tiện lợi, nhanh chóng và an toàn trong bệnh viện, góp phần cải thiện quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ICU.
- Cân trọng lượng cơ thể: Sử dụng cân bệnh nhân tại giường bằng giường có cân hãng Hill-Rom
Phương pháp thu thập dữ liệu là cân trọng lượng cơ thể của bệnh nhân vào buổi sáng trước khi cân zezo giường và đưa về mức chuẩn 0,0kg Kết quả cân được ghi chính xác vào phiếu theo dõi để đảm bảo tính chính xác của dữ liệu, góp phần tối ưu hóa quy trình chăm sóc sức khỏe bệnh nhân.
Kết quả ghi: Trọng lượng cơ thể được ghi theo kg với một số lẻ
Điểm NUTRIC Score, sử dụng các yếu tố như tuổi, số bệnh kèm theo, số ngày nằm viện đến khi vào ICU, điểm đánh giá mức độ nặng của bệnh (APACHE II) và điểm suy đa tạng (SOFA) trong 24 giờ đầu nhập viện, giúp xác định nguy cơ suy dinh dưỡng bệnh nhân nặng Cụ thể, tổng điểm NUTRIC từ 5 trở lên cho thấy nguy cơ cao gây suy dinh dưỡng bệnh nhân nặng, trong khi điểm dưới 5 cho nguy cơ thấp, giúp hướng dẫn chăm sóc dinh dưỡng phù hợp Điểm APACHE II được thu thập trong 24 giờ đầu để đánh giá mức độ nặng của bệnh, dựa trên dữ liệu bệnh án Điểm SOFA đánh giá tổn thương các cơ quan như hô hấp, đông máu, gan, tim mạch, thần kinh trung ương và thận, và các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong dự đoán tử vong tại ICU, đặc biệt khi điểm SOFA tăng trong 24-48 giờ đầu tiên.
Bảng 2.1 Bảng tính điểm NUTRIC
SOFA < 6 0 Điểm đánh giá suy tạng đơn giản lúc đầu 6 - 9 1
Số ngày nằm viện trước khi nhập vào ICU 0 - < 1 0
NUTRIC = nguy cơ dinh dưỡng trên người bệnh nặng
Nếu điểm NUTRIC ≥ 5 điểm là nguy cơ SDD cao Những người bệnh này sẽ nhận được lợi ích từ hỗ trợ dinh dưỡng
Nếu điểm NUTRIC < 5 người bệnh có nguy cơ SDD thấp
* Chế độ dinh dưỡng Đánh giá đường nuôi dưỡng, theo thời gian như:
- Ăn qua đường miệng: là người bệnh tự ăn được
- Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch: là các người bệnh phải nuôi dưỡng bằng các dung dịch qua đường truyền tĩnh mạch
- Ăn qua sonde: là các người bệnh phải nuôi dưỡng bằng bơm thức ăn lỏng như sữa, súp, cháo qua sonde dạ dày
2.5.4 Mô tả các biến số về theo dõi và chăm sóc người bệnh NKH
Thực hiện chăm sóc cơ bản/ngày:
Chăm sóc răng miệng và vệ sinh thân thể ít nhất 2 lần mỗi ngày bằng các dung dịch sát khuẩn theo đúng quy trình kỹ thuật đã được quy định trong bảng kiểm Việc duy trì vệ sinh sạch sẽ thường xuyên giúp phòng ngừa các bệnh về răng miệng và duy trì sức khỏe toàn diện Đảm bảo thực hiện đúng hướng dẫn trong quy trình chăm sóc sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân hàng ngày.
Biến số liên quan đến tình trạng dinh dưỡng
*Liên quan giữa một số đặc điểm chung với tình trạng dinh dưỡng
- Mối liên quan tình trạng dinh dưỡng BMI theo nhóm tuổi
- Mối liên quan tình trạng dinh dưỡng BMI theo giới
- Mối liên quan giữa bệnh kết hợp và tình trạng dinh dưỡng
- Mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng với tình trạng dinh dưỡng
- Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo BMI và mặt bệnh
- Mối liên quan giữa nguy cơ suy dinh dưỡng theo NUTRIC và một số đặc điểm của người bệnh NKH
- Mối liên quan giữa BMI và NUTRIC ra viện.
Xử lý số liệu
Làm sạch toàn bộ số liệu trước khi nhập liệu
Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0
Các thuật toán thống kê Y học được sử dụng:
Biến định lượng: Trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị min, max
Biến định tính: Số lượng và tỷ lệ %
Kiểm định với biến định tính thường sử dụng các bài kiểm tra so sánh, trong đó phương pháp bình phương (Chi-squared) được áp dụng để xác định các sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Các kết quả được coi là có ý nghĩa khi giá trị p < 0,05 Trong những trường hợp hệ số mong đợi nhỏ hơn 5, bài kiểm tra Fisher-Exact được sử dụng để đảm bảo độ chính xác của phân tích.
Kiểm định với biến định lượng: t-test để so sánh giá trị trung bình phân bố chuẩn, có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Sai số và biện pháp khống chế sai số
STT Sai số có thể gặp Biện pháp khắc phục
1 Sai số do cách phỏng vấn
- Tập huấn cho điều tra viên kỹ năng phát vấn, hướng dẫn đối tượng trả lời
2 Sai số do tổ chức phỏng vấn
- Chọn thời gian, địa điểm phù hợp
- Giám sát qua trình phỏng vấn
Vấn đề nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nhạy cảm, do đó có thể ảnh hưởng đến phản hồi của đối tượng nghiên cứu Các điều tra viên được đào tạo bài bản để khai thác thông tin chính xác và đúng thực trạng, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của dữ liệu.
Đạo đức của nghiên cứu
- Nghiên cứu được sự đồng ý của lãnh đạo Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Nghiên cứu nhằm mục đích mang lại lợi ích rõ ràng cho đối tượng tham gia, giúp họ hiểu rõ ý nghĩa và lợi ích của việc tham gia để tạo sự yên tâm và tự nguyện hợp tác Chúng tôi cam kết giữ bí mật tuyệt đối thông tin cá nhân của đối tượng, chỉ sử dụng dữ liệu thu thập để phục vụ mục đích khoa học của đề tài Đối tượng có thể an tâm về việc thông tin của mình được bảo vệ an toàn, góp phần thúc đẩy quá trình nghiên cứu trở nên chính xác và đáng tin cậy hơn.
Bệnh nhân được chẩn đoán là nhiễm khuẩn huyết
Khám lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng, theo dõi đánh giá dinh dưỡng, chăm sóc theo protocol nghiên cứu
Kiến nghị Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tình trạng dinh dưỡng
Phân tích thực trạng chăm sóc một số yếu tố liên quan
Sơ đồ của quá trình nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng chăm sóc và một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
3.2.1 Thực trạng chăm sóc bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
Bảng 3.16 Đặc điểm về chăm sóc NB nhiễm khuẩn huyết
Số ngày dùng Mean ± SD 6,98 ± 4,01 7,84 ± 4,13 7,32 ± 4,06 Dùng thuốc kháng sinh
Số ngày dùng Mean ± SD 8,74 ± 3,13 9,09 ± 5,20 8,95 ± 4,48 Dùng thuốc an thần Có 63 (82,89) 42 (84,0) 105 (83,33)
Số ngày dùng Mean ± SD 5,85 ± 3,34 6,12 ± 3,46 5,96 ± 3,38
Số ngày thở máy Mean ± SD 8,02 ± 4,26 9,12 ± 3,22 8,57 ± 3,81
Số ngày nằm viện Mean ± SD 16,09 ± 8,92 18,21 ± 20,92 17,22 ± 15,08
Phần trăm nữ giới sử dụng thuốc vận mạch, an thần, thở máy và lọc máu cao hơn nam giới lần lượt là 92%, 84%, 74% và 62% Thời gian trung bình sử dụng thuốc vận mạch của nữ giới là 7,32 ± 4,06 ngày, kháng sinh 8,95 ± 4,48 ngày, an thần 5,96 ± 3,38 ngày, và thở máy 8,57 ± 3,81 ngày Tổng thời gian nằm viện trung bình của nữ giới cũng lớn hơn nam giới, với trung bình cả nhóm là 17,22 ± 15,08 ngày, dao động từ 2 đến 58 ngày.
Bảng 3.17 Hoạt động chăm sóc dinh dưỡng NB nhiễm khuẩn huyết
Biến số nghiên cứu Người bệnh NKH
Số bữa ăn trong ngày (n = 126)
Lượng thức ăn trung bình/ bữa
Nhận xét: 57,14% bệnh nhân ăn dưới 6 bữa/ngày, trong khi đó lượng thức ăn
250,0 ± 115,25 gam/ngày; tỷ lệ có trào ngược dạ dày chiếm 27,77% và tiêu chảy chiếm 9,52%, táo bón chiếm 16,67%
Bảng 3.18 Theo dõi tình trạng nuôi dưỡng NB nhiễm khuẩn huyết
Ngày 1 Ngày 3 Ngày 5 Ra viện n % n % n % n %
Tỷ lệ truyền dịch đến ngày thứ 5 đạt 95,23%, cho thấy sự ổn định trong quá trình điều trị Trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân ăn qua sonde là 26,98% vào ngày thứ 3 và tăng lên 38,09% vào ngày thứ 5, phản ánh sự cải thiện về khả năng ăn uống của người bệnh Người bệnh bắt đầu ăn qua đường miệng với tỷ lệ 6,34% vào ngày thứ 5, tăng so với các ngày trước đó, và tỷ lệ ăn uống bình thường đạt 17,46% vào ngày ra viện Điều này cho thấy sự tiến triển tích cực của quá trình hồi phục và chuyển đổi chế độ dinh dưỡng phù hợp theo hướng dẫn của bệnh viện.
Bảng 3.19 Hoạt động chăm sóc Ống KQ/MKQ, hút đờm, cuff của điều dưỡng
Người bệnh NKH thở máy
≤ 3 giờ/lần 80 (87,91) 67 (75,28) 61 (71,76) 0 Chăm sóc Cuff 1 lần/ngày 83 (91,21) 72 (87,10) 80 (95,83) 20 (20,67)
>2 lần/ngày 8 (8,79) 17 (12,90) 5 (4,27) 0 Dây dẫn máy thở
* Ngày ra viện có nhiều bệnh nhân NKH trong tình trạng đỡ, khỏi nên không phải thở máy và không nằm giường ICU
Nhận xét: 100% bệnh nhân được chăm sóc đặc biệt, chăm sóc theo dõi ống nội khí quản, mở khí quản, dây thở máy
- Chăm sóc ống KQ/ MKQ, hút đờm ≤ 3 giờ/lần ở những ngày đầu chăm sóc, ngày đầu là 87,91% đến ngày ra viện chỉ còn 12,0% bệnh nhân cần chăm sóc
- Chăm sóc cuff chủ yếu được chăm sóc 1 lần/ngày, đến ngày ra viện còn 20,67% bệnh nhân còn cần được chăm sóc
Chăm sóc dây dẫn máy thở trong những ngày đầu nhập viện là yếu tố quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân, với hầu hết bệnh nhân được theo dõi đều đặn 2 lần mỗi ngày Đến ngày ra viện, tỷ lệ bệnh nhân còn thở máy giảm còn 12,0%, thể hiện quá trình chăm sóc và quản lý hiệu quả trong quá trình điều trị.
Bảng 3.20 Hoạt động chăm sóc catheter, dẫn lưu, thông tiểu, dạ dày của điều dưỡng
Chân ống thông tiểu dẫn lưu
Sonde dạ dày 1 lần/ ngày 84 (66,67) 112 (90,32) 116 (96,67) 18 (18,37)
Nhận xét: 100% bệnh nhân được chăm sóc đặc biệt
- Chăm sóc chân dẫn lưu thông tiểu và dẫn lưu được chăm sóc theo dõi 1lần/ ngày đến khi ra viện còn 98 bệnh nhân cần được chăm sóc
- Chăm sóc catheter và Sonde dạ dày chủ yếu được chăm sóc 1lần/ngày, đến ngày ra viện còn lần lượt 9,18% và 18,37% bệnh nhân còn cần được chăm sóc
Bảng 3.21 Hoạt động chăm sóc vết trợt, loét da, thay đổi tư thế và vệ sinh răng miệng cho người bệnh NKH
Số giờ thay đổi tư thế
Tổng cộng, 100% bệnh nhân được chăm sóc đặc biệt và chăm sóc vết trợt, loét da trong quá trình điều trị Cụ thể, tất cả 98 bệnh nhân (100%) đều nhận được chăm sóc vết trợt và loét da trước ngày ra viện, đảm bảo vệ sinh và phòng ngừa biến chứng Ngoài ra, 18 bệnh nhân (chiếm 18,37%) được thay đổi tư thế định kỳ hơn 2 giờ/lần nhằm giảm thiểu tình trạng loét do nằm lâu và nâng cao hiệu quả điều trị.
Bảng 3.22 Hoạt động tư vấn cho bệnh nhân NKH hoặc người nhà NB NKH
Người bệnh hoặc người nhà NB
Tư vấn về dinh dưỡng 105 83,33
Tư vấn về sự cần thiết phải tuân thủ điều trị 126 100
Tư vấn cho NB, người chăm về tự vệ sinh cá nhân 111 88,10
Tư vấn cho NB và NN có kiến thức phòng biến chứng 108 85,71
Hướng dẫn quy chế bệnh viện 126 100
Tư vấn sự cần thiết của tái khám 102 80,95
Nội dung tư vấn hiệu quả nhất tập trung vào việc tuân thủ điều trị và hướng dẫn quy chế bệnh viện, chiếm tỷ lệ 100% Trong khi đó, các hướng dẫn liên quan đến tầm quan trọng của việc tái khám chiếm tỷ lệ thấp nhất là 80,95%, cho thấy cần tăng cường cung cấp thông tin về sự cần thiết của việc tái khám để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
Bảng 3.23 Tỷ lệ về sự hài lòng của người bệnh NKH về hoạt động chăm sóc, tư vấn (n= 126)
NB nhiễm khuẩn huyết Rất không
Rất hài lòng Điều dưỡng hợp tác tốt và xử lý công việc thành thạo, kịp thời?
56 (44,44) Điều dưỡng có thái độ ứng xử tốt, sẵn sàng cung cấp thông tin, giải đáp thắc mắc khi người nhà, người bệnh có nhu cầu?
Người bệnh được cung cấp đầy đủ, cập nhật thông tin trong quá trình điều trị của người bệnh
26 (20,63) Đảm bảo hô hấp (đảm bảo chế độ thở oxy không xâm nhập hướng dẫn bệnh nhân sử dụng thuốc hoặc xông khí dung)
Trong đánh giá tổng thể, tỷ lệ khách hàng rất hài lòng về tiêu chí "Đảm bảo hô hấp" (bao gồm chế độ thở oxy không xâm nhập, hướng dẫn bệnh nhân sử dụng thuốc hoặc xông hơi dung) chiếm tới 59,52%, cho thấy chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực này được đánh giá cao Ngược lại, mức không hài lòng tập trung vào tiêu chí "Điều dưỡng hợp tác tốt và xử lý công việc thành thạo, kịp thời", với tỷ lệ cao nhất là 9,52%, phản ánh còn tồn tại một số điểm cần cải thiện trong công tác chăm sóc và xử lý công việc của điều dưỡng.
3.2.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng người bệnh NKH
Bảng 3.24 Mối liên quan tình trạng dinh dưỡng theo BMI và giới
Bình thường Suy dinh dưỡng OR
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Nhận xét: Tỷ lệ nam giới dinh dưỡng bình thường theo BMI là 81,58% cao hơn nữ giới là 80,0% tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.25 Mối liên quan tình trạng dinh dưỡng theo BMI và nhóm tuổi
Bình thường Suy dinh dưỡng OR
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Nhận xét: nhóm tuổi từ 20 – 39 không có bệnh nhân suy dinh dưỡng theo
BMI, nhóm tuổi ≥ 60 tuổi chiếm tỷ lệ suy dinh dưỡng nhiều nhất 16,67%; tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.26 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của người bệnh NKH với tình trạng dinh dưỡng theo BMI ra viện
Bình thường Suy dinh dưỡng
Nhận xét: Chưa tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo BMI và trình độ học vấn của bệnh nhân
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa nơi sinh sống của người bệnh NKH với tình trạng dinh dưỡng theo BMI ra viện
Bình thường Suy dinh dưỡng
Nhận xét: Chưa tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo BMI và vùng định cư của bệnh nhân
Bảng 3.28 Mối liên quan giữa bệnh kết hợp của người bệnh NKH với tình trạng dinh dưỡng theo BMI ra viện
Bình thường Suy dinh dưỡng
Nhận xét: Chưa tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo BMI và số bệnh kết hợp
Bảng 3.29 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo BMI và mặt bệnh
Bình thường* Suy dinh dưỡng OR
(*) kể cả bệnh nhân thừa cân, béo phì
Bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn so với bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết thông thường tại thời điểm ra viện Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê với p < 0,05 và khoảng tin cậy 95% từ 1,09 đến 5,77, cho thấy mức độ suy dinh dưỡng ở nhóm bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn rõ rệt hơn.
Bảng 3.30 Mối liên quan giữa nguy cơ suy dinh dưỡng theo thang điểm
NUTRIC ra viện và một số đặc điểm của người bệnh NKH Đặc điểm Điểm NUTRIC
Kết luận cho thấy chưa xác định được mối liên hệ rõ ràng giữa tình trạng dinh dưỡng theo Nutric và giới tính cũng như số bệnh đồng mắc Tuy nhiên, bệnh nhân dưới 60 tuổi có tỷ lệ đủ dinh dưỡng cao hơn so với nhóm trên 60 tuổi, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05; 95% CI từ 1,16 – 6,95).
Bảng 3.31 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng theo NUTRIC ra viện và mặt bệnh nhiễm khuẩn huyết
Nguy cơ SDD cao ≥ 5 OR
Những bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn so với những bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, điều này cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) và khoảng tin cậy 95% từ 1,09 đến 5,38.
Bảng 3.32 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của NB theo BMI và Nutric ra viện
Bình thường* Suy dinh dưỡng
(*) kể cả bệnh nhân thừa cân, béo phì
Những bệnh nhân có điểm nutrition ≥ 5 có tỷ lệ suy dinh dưỡng khi ra viện cao hơn so với nhóm có điểm nutrition < 5, thể hiện mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, và khoảng tin cậy 95% từ 1,12 đến 7,39.
Bảng 3.33 Một số yếu tố liên quan giữa tư vấn cho NB NKH và tình trạng dinh dưỡng theo BMI ra viện
Bình thường Suy dinh dưỡng
Tư vấn về dinh dưỡng
TV cho BN có kiến thức phòng biến chứng
Tư vấn cho BN về tự vệ sinh cá nhân
Tư vấn sự cần thiết của tái khám
Trong đánh giá này, chưa xác định được mối liên hệ giữa tình trạng dinh dưỡng theo BMI và các yếu tố như tư vấn biến chứng, vệ sinh cá nhân, hay tái khám Tuy nhiên, các bệnh nhân nhận tư vấn dinh dưỡng có tỷ lệ tình trạng dinh dưỡng bình thường cao hơn so với nhóm không nhận tư vấn, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) và hệ số tin cậy 95% từ 2,23 đến 21,4 Điều này cho thấy vai trò quan trọng của tư vấn dinh dưỡng trong duy trì sức khỏe và cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân.
BÀN LUẬN
Thực trạng chăm sóc và các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
4.2.1 Thực trạng chăm sóc của bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thuốc kháng sinh là loại thuốc được sử dụng phổ biến nhất trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, với tỷ lệ 100% và thời gian trung bình dùng khoảng 8,95 ngày Phần lớn nữ giới có tỷ lệ dùng thuốc vận mạch và an thần cao hơn nam giới, lần lượt là 92% và 84%, với thời gian trung bình là 7,32 ngày cho thuốc vận mạch, 8,95 ngày cho kháng sinh, và 5,96 ngày cho thuốc an thần Thời gian nằm viện trung bình của nữ giới cũng lớn hơn nam giới, đạt khoảng 17,22 ngày Nhiều nghiên cứu khác như của Mai Thị Lý cũng xác nhận rằng kháng sinh là loại thuốc phổ biến nhất (97,7%), trung bình dùng khoảng 9,72 ngày, theo sau là thuốc vận mạch (16,9%) với thời gian 4,21 ngày và thuốc an thần (11,6%) trung bình 3,1 ngày Khoảng 50,6% bệnh nhân cần thở máy, 47,7% thở oxy kính, 15,5% thở T-tube, 6,9% thở tự, và 4,6% thở oxy mask Ở bệnh nhân cao tuổi, việc sử dụng nhiều loại thuốc là yếu tố dự đoán cho kết quả điều trị kém, ngay cả sau khi đã điều chỉnh các yếu tố về xã hội học và chỉ số sức khỏe.
Dinh dưỡng là chức năng của các cá thể sử dụng thức ăn để duy trì sự sống thông qua các hoạt động như sinh trưởng, phát triển, vận động Khoa học về dinh dưỡng nghiên cứu mối liên hệ giữa thức ăn, chế độ ăn uống, sinh lý nuôi dưỡng, và tình trạng bệnh lý của cá thể Tình trạng dinh dưỡng phản ánh kết quả của quá trình ăn uống và sử dụng chất dinh dưỡng của cơ thể Dinh dưỡng tốt góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh tật và hỗ trợ quá trình phục hồi sau chấn thương Đặc biệt, đối với người cao tuổi, khi các chức năng cơ thể suy giảm, dinh dưỡng trở thành yếu tố thiết yếu để duy trì và cải thiện sức khỏe.
Trong quá trình điều trị, có 57,14% bệnh nhân ăn dưới 6 bữa/ngày, với lượng thức ăn trung bình là 250,0 ± 115,25 gram/ngày Tỷ lệ bệnh nhân gặp trào ngược dạ dày chiếm 27,77%, tiêu chảy 9,52%, và táo bón 16,67% tại thời điểm nhập viện đến khi ra viện, các biểu hiện dịch tồn dư, trào ngược, táo bón, tiêu chảy giảm dần Chỉ có biểu hiện tốc khô, gãy rụng tăng trong quá trình điều trị Nghiên cứu của Mai Thị Lý cho thấy tất cả người bệnh đều không tự ăn uống được, phải ăn qua sonde kết hợp truyền dịch, trong đó ăn qua sonde chiếm tỷ lệ 73,0% với thời gian trung bình 8,59 ± 2,63 ngày; nuôi qua sonde kết hợp truyền tĩnh mạch chiếm 45,4% với thời gian 7,22 ± 3,39 ngày; và chỉ có 3,5% người bệnh được nuôi qua tĩnh mạch với thời gian trung bình 3,83 ± 3,19 ngày.
Thanh, tỷ lệ nuôi dưỡng qua sone dạ dày tại bệnh viện Lão khoa Trung ưng năm
Năm 2016, tỷ lệ người bệnh suy dinh dưỡng đạt 32,63%, trong đó tỷ lệ nuôi dưỡng qua sone dạ dày tại khoa Hồi sức tích cực là 58,8% Các nghiên cứu quốc tế và trong nước trong nhiều thập kỷ qua cho thấy suy dinh dưỡng ở bệnh viện là vấn đề phổ biến toàn cầu, với tỷ lệ từ 20-50%, đặc biệt cao ở nhóm người cao tuổi, bệnh nhân chăm sóc tích cực, ung thư, bệnh tiêu hóa, bệnh mạn tính như COPD, suy thận, suy gan, và người sau phẫu thuật lớn Suy dinh dưỡng gây ra hậu quả lâm sàng nghiêm trọng như chậm hồi phục, giảm chất lượng sống, tăng nguy cơ nhiễm trùng, chi phí điều trị, thời gian nằm viện và tử vong Tại bệnh viện Quân đội Trung ương 108, việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng giúp các bác sĩ xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp, giúp bệnh nhân hồi phục nhanh hơn, giảm chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Những đánh giá này còn góp phần hoàn thiện quy trình chăm sóc dinh dưỡng, cung cấp thêm thông tin cho công tác quản lý và điều trị người bệnh.
Chăm sóc và bảo vệ phổi cho bệnh nhân thở máy tại khoa Hồi sức cấp cứu là công việc quan trọng ảnh hưởng lớn đến chất lượng điều trị Ở bệnh nhân thở máy, ống nội khí quản dễ gây tổn thương đường hô hấp trên và làm giảm phản xạ ho khạc, dẫn đến tình trạng ứ đọng chất tiết gây bệnh phổi nặng như viêm phổi, viêm phế quản, xẹp phổi Các biện pháp chăm sóc phổi nhằm phòng ngừa, hạn chế và điều trị các tác động có hại lên đường hô hấp Bệnh nhân thở máy cần được chăm sóc đặc biệt, theo dõi và hút đờm định kỳ, đặc biệt trong những ngày đầu, tỷ lệ giảm từ 87,91% xuống còn 12,0% khi ra viện Hút đờm phải thực hiện đúng quy trình để tránh nguy cơ tổn thương niêm mạc, thiếu oxy cấp, ngưng tim hay chảy máu phổi phế quản, đồng thời cần theo dõi ít nhất mỗi 3 giờ Trong quá trình hút, chú ý điều chỉnh FiO2 lên 100%, tắt báo động, và theo dõi sát diễn biến lâm sàng và SpO2; nếu SpO2 giảm nhẹ, cần tạm dừng hút, cung cấp oxy và đảm bảo bệnh nhân thở lại an toàn trước khi tiếp tục Vỗ rung giúp làm rõ đờm, và nguyên tắc vô trùng phải luôn được tuân thủ theo quy trình kiểm tra Ngoài ra, chăm sóc cuff đặt ngày một lần, kiểm tra áp lực cuff ở mức 25 cmH2O để đảm bảo bảo vệ đường hô hấp tối ưu cho bệnh nhân.
Trong những ngày đầu nhập viện, chăm sóc dây dẫn máy thở là yếu tố quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân, hầu hết được theo dõi 2 lần mỗi ngày Sau quá trình điều trị và chăm sóc tích cực, tỷ lệ bệnh nhân còn thở máy giảm dần và đến ngày ra viện còn 12,0% Điều này cho thấy hiệu quả của quy trình chăm sóc và quản lý dây dẫn máy thở trong quá trình điều trị, góp phần nâng cao tỷ lệ sống sót và phục hồi của bệnh nhân.
Người bệnh nằm điều trị tại Trung tâm HSTC có nguy cơ suy dinh dưỡng ngay khi vào viện hoặc mất dinh dưỡng do quá trình bệnh lý diễn ra và các thủ thuật, thủ thuật gây tai biến Trong quá trình nằm bất động lâu, bệnh nhân dễ xảy ra loét tì đè, do đó việc thay đổi tư thế giúp giảm áp lực tại các vị trí gây tì đè Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% bệnh nhân được chăm sóc đặc biệt và xử lý vết trợt, loét da, với 18,37% bệnh nhân được thay đổi tư thế > 2 giờ/lần để phòng ngừa các biến chứng này.
Nhiễm khuẩn huyết làm tăng tỷ lệ biến chứng và tử vong, ảnh hưởng đến kết quả điều trị chung của bệnh nhân Các yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn bao gồm mức độ chấn thương, béo phì, lượng máu mất và tình trạng bệnh lý kết hợp Thời gian phẫu thuật ngắn, kỹ thuật mổ tốt giúp giảm lượng máu mất và giảm tỷ lệ biến chứng sau mổ Các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn hiệu quả như chăm sóc vết thương, vết mổ (thay băng hàng ngày, theo dõi dịch, máu thấm theo quy trình kiểm tra), vệ sinh răng miệng, vệ sinh cá nhân, chăm sóc các loại catheter, chăm sóc thở máy, chăm sóc sonde dạ dày nuôi ăn và sonde bàng quang, cùng với việc thay đổi tư thế phòng ngừa loét đè ép đều đóng vai trò quan trọng Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ điều dưỡng thực hiện tốt nhất là theo dõi dịch và các loại thuốc theo y lệnh với tỷ lệ 99,21%, thấp nhất là quy trình chống loét đạt 80,95%, tỷ lệ chăm sóc tổng thể đạt 86,51%, trong đó chăm sóc khá là 13,49%.
Nhu cầu giáo dục sức khỏe của người điều dưỡng đối với người bệnh ngày càng tăng, nhằm nâng cao khả năng tự chăm sóc và rút ngắn thời gian nằm viện Việc trang bị kiến thức cho người bệnh để tự theo dõi và chăm sóc tại nhà trở nên cần thiết hơn do sự gia tăng của các bệnh mãn tính và tật nguyền Người điều dưỡng đóng vai trò then chốt trong công tác giáo dục sức khỏe, cần áp dụng quy trình giảng dạy gồm bốn bước cơ bản: nhận định, lập kế hoạch, thực hiện và lượng giá, để truyền đạt kiến thức hiệu quả và thúc đẩy thay đổi hành vi của người bệnh Nội dung tư vấn quan trọng nhất là tuân thủ điều trị và hướng dẫn quy chế bệnh viện, đạt tỷ lệ 100%, trong khi hướng dẫn tái khám có tỷ lệ thấp nhất là 80,95% Khi đánh giá mức độ hài lòng, tỷ lệ cao nhất là tiêu chí “Đảm bảo hô hấp, hướng dẫn sử dụng thuốc và xông khí dung” chiếm 59,52%, còn mức không hài lòng cao nhất là “Điều dưỡng hợp tác tốt, xử lý công việc thành thạo, kịp thời” với tỷ lệ 9,52%.
4.2.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh nhiễm khuẩn huyết
Mercadal-Orfila G và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự hiện diện của SDD, được đánh giá bằng công cụ NRS-2002, và tỷ lệ mắc bệnh cũng như tử vong ở bệnh nhân điều trị tại Trung tâm Hồi sức nói chung Kết quả cho thấy có đến 62% bệnh nhân có nguy cơ SDD theo tiêu chí của NRS-2002, cho thấy tầm quan trọng của việc đánh giá dinh dưỡng trong quản lý bệnh nhân hồi sức Nghiên cứu nhấn mạnh rằng phát hiện sớm và xử lý kịp thời SDD có thể giúp giảm tỷ lệ biến chứng và cải thiện khả năng hồi phục của người bệnh.
NRS-2002 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa SDD theo NRS-2002 và các biến chứng như suy ruột, suy thận, nhiễm trùng đường hô hấp, tăng đường huyết, tử vong bệnh viện và tử vong sau 6 tháng Nghiên cứu kết luận rằng SDD ảnh hưởng đến hơn một nửa số bệnh nhân nhập viện và liên quan đến tăng tỷ lệ mắc bệnh cũng như tử vong Những kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập kế hoạch cập nhật và theo dõi dinh dưỡng để phòng ngừa và chăm sóc bệnh nhân Các biện pháp này không chỉ giảm tỷ lệ biến chứng có thể tránh được mà còn giúp tiết kiệm chi phí y tế liên quan [55].
Nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận mối liên hệ rõ ràng giữa tình trạng dinh dưỡng theo Nutric và giới, cũng như số bệnh hiện mắc Tuy nhiên, bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên có tỷ lệ thiếu dinh dưỡng cao hơn so với nhóm dưới 60 tuổi, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05, 95% CI: 1,16 – 6,95) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Jian-Ping Miao, trong đó 40,9% bệnh nhân được phân loại là SDD theo NRS2002, và nhóm SDD có BMI, hemoglobin, albumin, tiền albumin thấp hơn cùng thời gian nằm viện dài hơn (p < 0,05) Tuổi cao là yếu tố làm tăng nguy cơ thiếu dinh dưỡng ở bệnh nhân.
Các nghiên cứu cho thấy tuổi là yếu tố nguy cơ chính gây thiếu dinh dưỡng ở người cao tuổi Giảm cân từ 5% trở lên trong vòng ba năm được xác định là dấu hiệu dự báo tỷ lệ tử vong cao ở người cao tuổi Việc phát hiện sớm, đánh giá chính xác và điều trị giảm cân cùng thiếu hụt dinh dưỡng có thể ngăn ngừa các biến chứng bệnh lý liên quan và nâng cao hiệu quả điều trị tại bệnh viện.
Nhiễm trùng vừa là nguyên nhân dẫn đến SDD (suy dinh dưỡng sau điều trị), vừa là hậu quả của tình trạng kém dinh dưỡng trong quá trình điều trị Nghiên cứu cho thấy, sau quá trình điều trị, 35,71% người có NKH có nguy cơ SDD với điểm phân loại theo Nutric ≥ 5, so với 64,29% bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ SDD (OR 3,29, p < 0,05), cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn tại thời điểm ra viện so với bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết thường, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05; 95% CI 1,09–5,38) Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thư chỉ ra rằng, sau 1 tuần điều trị, 85,2% người nhiễm trùng bị SDD so với 71,4% nhóm không nhiễm trùng (OR= 2,3, p > 0,05), dù chưa có ý nghĩa thống kê rõ ràng nhưng xu hướng rõ rệt Từ hai nghiên cứu này, có thể thấy bệnh nhân nhập viện càng nặng thì tỷ lệ suy dinh dưỡng sau điều trị càng cao.
Các bệnh nhân có điểm Nutric ≥ 5 có tỷ lệ suy dinh dưỡng khi ra viện cao hơn so với những bệnh nhân có điểm Nutric < 5, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) và khoảng tin cậy 95% từ 1,12 đến 7,39 Nghiên cứu của Ying-Min Lin chỉ ra rằng, đối với những bệnh nhân có nguy cơ dinh dưỡng và suy dinh dưỡng, việc hỗ trợ dinh dưỡng giúp giảm thời gian nằm viện (p < 0,05) Ngoài ra, những bệnh nhân được hỗ trợ dinh dưỡng còn có tỷ lệ biến chứng nhiễm trùng thấp hơn so với nhóm không nhận hỗ trợ dinh dưỡng, với tỉ lệ NRS 2002 là 6,82% so với 18,18%, và MNA-SF là 9,57% so với 20,23% (p < 0,05).