1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021

103 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện Giao thông vận tải năm 2021
Tác giả Hà Diệu Linh
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Mai Hồng
Trường học Trường Đại Học Thăng Long
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1 Đại cương về thoái hoá khớp (13)
      • 1.1.1 Định nghĩa (13)
      • 1.1.2 Yếu tố nguy cơ của thoái hóa khớp (13)
      • 1.1.3 Phân loại, tỷ lệ (14)
      • 1.1.4 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh (15)
    • 1.2 Ảnh hưởng của thoái hóa khớp (16)
      • 1.2.1 Đau (16)
      • 1.2.2 Suy giảm khả năng (17)
      • 1.2.3 Gánh nặng tài chính (18)
      • 1.2.4 Các ảnh hưởng khác (19)
    • 1.3 Hoạt động hàng ngày (19)
      • 1.3.1 Khái niệm (19)
      • 1.3.2 Công cụ đo lường hoạt động hàng ngày (20)
      • 1.3.3 Ý nghĩa của thông số hoạt động hàng ngày của người bệnh với công việc của điều dưỡng (24)
    • 1.4 Một số học thuyết điều dưỡng ứng dụng trong nghiên cứu (24)
    • 1.5. Áp dụng quy trình điều dưỡng để chăm sóc người bệnh Thoái hóa khớp (27)
    • 1.6. Một số nghiên cứu về ảnh hưởng thoái hóa khớp lên hoạt động sống hàng ngày (34)
    • 1.5 Khung lý thuyết của nghiên cứu (35)
    • 1.6 Địa bàn nghiên cứu (36)
  • CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (37)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (0)
      • 2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn (37)
      • 2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ (37)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang (37)
    • 2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (37)
      • 2.3.1 Cỡ mẫu (37)
      • 2.3.2 Phương pháp chọn mẫu (38)
    • 2.4 Đia điểm và thời gian nghiên cứu (38)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (38)
      • 2.5.1 Tổ chức thu thập số liệu (38)
      • 2.5.2 Bộ công cụ (39)
      • 2.5.3 Tiến trình nghiên cứu (40)
    • 2.6. Biến số, chỉ số trong nghiên cứu (41)
      • 2.6.1. Biến số về đặc điểm của người bệnh (41)
      • 2.6.2 Biến số đánh giá hoạt động hàng ngày cơ bản theo thang điểm Katz (44)
      • 2.6.3 Biến số đánh giá hoạt động hàng ngày có sử dụng công cụ (IADLs) Lowton-Brody (45)
    • 2.7 Xử lý số liệu (45)
    • 2.8 Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục (46)
      • 2.8.1 Sai số và cách khắc phục (46)
      • 2.8.2 Hạn chế của nghiên cứu (46)
    • 2.9 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu (46)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (48)
    • 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (48)
    • 3.2. Đặc điểm người bệnh thoái hóa khớp (53)
    • 3.3. Ảnh hưởng của THK đến hoạt động hàng ngày và một số yếu tố liên quan (58)
      • 3.3.1. Ảnh hưởng của THK đến Hoạt động hàng ngày (58)
      • 3.3.2. Mối liên quan đến mức độ độc lập trong hoạt động hàng ngày (ADL) và hoạt động sống hàng ngày (IADL) (61)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (69)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu (69)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng của người bệnh thoái hóa khớp (73)
    • 4.4. Các yếu tố liên quan đến mức độ độc lập trong hoạt động hàng ngày (ADL) và hoạt động sống hàng ngày (IADL) của đối tượng nghiên cứu (78)
    • 4.5. Điểm mạnh và điểm hạn chế của nghiên cứu (85)
  • KẾT LUẬN (87)
    • 1. Đặc điểm của người bệnh thoái hóa khớp (87)
    • 2. Ảnh hưởng của thoái hóa khớp lên mức độ độc lập và sinh hoạt hàng ngày của người bệnh và một số yếu tố liên quan (87)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (90)

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.3.1 Cỡ mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu theo tỉ lệ n = Z 2 (1-α/2) p(1-p) d 2 Trong đó: n: là cỡ mẫu ước lượng

Z: Trị số phân phối chuẩn α: xác suất sai lầm loại 1, α = 0,05 vì vậy Z(1-α/2) = 1,96 d: sai số cho phép, chọn d = 0,5 p: tỉ lệ bị ảnh hưởng hoạt động hàng ngày do THK trong một nghiên cứu tương tự [53], chúng tôi chọn p = 0,44

Thay các giá trị trên vào công thức: 1,96 2 x 0,44(1-0,44) thì n = 3.78 Vậy số đối tượng cần điều tra là 378

Phương pháp lấy mẫu thuận tiện.

Đia điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm : Nghiên cứu được tiến hành tại phòng khám và khoa Nội A2 bệnh viện Giao thông Vận tải Trung ương

- Thời gian nghiên cứu : từ tháng 02/2021 đến tháng 03 năm 2022

+ Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 02 /2021 đến tháng 5 năm 2021

+ Thời gian xử lý số liệu và đánh giá kết quả: từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022.

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Tổ chức thu thập số liệu

Các điều tra viên được tập huấn trong vòng một tuần trước khi bắt đầu thu thập dữ liệu để đảm bảo hiểu rõ kỹ năng gọi tên, nhận biết các dấu hiệu bệnh và ghi nhận chính xác vào phiếu điều tra Trong quá trình tập huấn, họ được hướng dẫn về quy trình quản lý, đảm bảo chất lượng và cách khắc phục các sai sót có thể xảy ra Các vấn đề phát sinh trong quá trình thu thập dữ liệu đều được giải quyết trực tiếp và kịp thời thông qua các buổi giám sát hỗ trợ Trước khi chính thức thực hiện, nghiên cứu viên tiến hành điều tra thử trên khoảng 5–10 người bệnh để đảm bảo tính chính xác và giảm thiểu sai sót trong dữ liệu thu thập.

Việc giám sát thu thập số liệu được tiến hành ngẫu nhiên trên khoảng 5% số phiếu đã thu thập, đảm bảo tính khách quan và chính xác của dữ liệu Mọi vấn đề phát sinh trong quá trình thu thập sẽ được phản hồi lại ngay cho điều tra viên thông qua các buổi giám sát hỗ trợ, nhằm cải thiện kỹ năng và nâng cao chất lượng dữ liệu Quá trình này giúp đảm bảo tính đầy đủ, chính xác và đáng tin cậy của dữ liệu thu thập, góp phần vào thành công của dự án nghiên cứu.

Trong quá trình thu thập số liệu, điều tra viên giải thích rõ ràng mục đích nghiên cứu cho đối tượng tham gia, đảm bảo sự hiểu biết đầy đủ và đồng thuận Đối tượng nghiên cứu đồng ý tham gia vào quá trình khảo sát sau khi được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi soạn sẵn, giúp nâng cao độ chính xác và tính khách quan của dữ liệu thu thập.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng ba bộ câu hỏi để đánh giá thực trạng thoái hóa khớp (THK) và tác động của nó đến các hoạt động hàng ngày (ADL) và hoạt động có thể thực hiện độc lập (IADL) của người bệnh Kết quả cho thấy rằng THK ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân, góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc đánh giá toàn diện bệnh lý này Nghiên cứu cung cấp các thông tin quan trọng hỗ trợ quá trình chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Giao thông vận tải, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh mắc THK.

Bộ câu hỏi 1 được xây dựng dựa trên khung lý thuyết nghiên cứu về thực trạng bệnh thoái hóa khớp (THK) của bệnh nhân, tập trung vào các dữ liệu nhân khẩu học và thông tin liên quan đến tình trạng bệnh THK (Phụ lục 1) Nội dung này giúp khảo sát đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh cũng như tình trạng, mức độ và diễn biến của bệnh lý THK để phục vụ công tác nghiên cứu và chăm sóc y tế.

- Tuổi: chia thành 2 nhóm: ≤ 60 tuổi và ˃ 60 tuổi

- Trình độ học vấn: 4 mức độ, bao gồm: o Trung học phổ thông (Cấp 1-2) o Trung học cơ sở (Cấp 3) o Trung cấp – cao đẳng, o Đại học – sau đại học

- Nghề nghiệp: 5 mức độ, bao gồm: o Cơ quan nhà nước/hưu trí, o Buôn bán/doanh nhân, o Công nhân/nông dân, o Nội trợ/tự do,

- Tình trạng hôn nhân: 3 nhóm, bao gồm: o Độc thân, o Kết hôn, o Ly dị/góa

- BMI được tính dựa trên chiều cao và cân nặng của người bệnh

- Kinh tế gia đình o Nghèo o Cận nghèo o Không nghèo

Tiền sử bệnh của bệnh nhân cần được xem xét kỹ lưỡng, bao gồm thời gian mắc THK để đánh giá mức độ nghiêm trọng và tiến triển của bệnh Ngoài ra, việc xác định các bệnh lý nền kèm theo như tim mạch, tiểu đường, trầm cảm hoặc lo âu và tiền sử chấn thương cũng rất quan trọng để xây dựng phương pháp điều trị phù hợp và tối ưu hóa hiệu quả chăm sóc sức khỏe.

Khớp bị thoái hóa thường xảy ra ở các vị trí như gối, hông, vai, cổ tay và cột sống, ảnh hưởng đến nhiều khớp khác nhau Triệu chứng của thoái hóa khớp gồm có biến dạng khớp, đau nhức kéo dài và người bệnh thường phải sử dụng thuốc giảm đau để giảm thiểu cơn đau Ngoài ra, việc xác định có đang trong giai đoạn điều trị thoái hóa khớp hay không là rất quan trọng để đưa ra phương pháp chăm sóc phù hợp.

- Dấu hiệu sinh tồn: mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở

- Tâm lý, tình trạng sức khỏe, giấc ngủ

- Biến chứng: hạn chế vận động, teo cơ, cứng khớp

Bộ câu hỏi 2: đánh giá các hoạt động hàng ngày dựa vào thang điểm Katz

ADL [52] gồm 6 mục: (1) tắm, (2) mặc quần áo, (3) sử dụng nhà vệ sinh, (4) di chuyển, (5) khả năng tự chủ đại tiểu tiện, và (6) ăn uống (Phụ lục 2)

Bộ câu hỏi 3 giúp đánh giá các hoạt động hàng ngày sử dụng công cụ Lawton-Brody IADL, bao gồm 8 lĩnh vực chính Đây là các khả năng như sử dụng điện thoại, mua sắm, chuẩn bị đồ ăn, dọn nhà, giặt là, di chuyển/đi lại, quản lý sử dụng thuốc, và quản lý tài chính Các mục này cung cấp cái nhìn toàn diện về khả năng tự lực của cá nhân trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, hỗ trợ trong việc đánh giá độc lập và lên kế hoạch can thiệp phù hợp.

Trong quá trình mở đầu, điều tra viên lựa chọn người bệnh phù hợp dựa trên các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ liên quan đến chẩn đoán thoái hóa khớp Sau đó, điều tra viên tiếp cận người bệnh để chào hỏi, tư vấn về bệnh lý thoái hóa khớp Tiếp theo, họ thu thập thông tin về người bệnh thông qua phiếu hỏi Bệnh án nghiên cứu, gồm các câu hỏi về đặc điểm chung như tuổi, giới tính, BMI, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, thu nhập cá nhân, cũng như các thông tin liên quan đến tình trạng bệnh thoái hóa khớp Phiếu hỏi này được phát cho người bệnh tự điền hoặc có thể được điều tra viên hỗ trợ điền cho những người cao tuổi để đảm bảo dữ liệu chính xác và đầy đủ, phục vụ công tác nghiên cứu hiệu quả.

Điều tra viên sẽ tiến hành đánh giá các hoạt động hàng ngày của người bệnh thông qua Câu hỏi đánh giá theo thang điểm Katz ADL (Phụ lục 2), giúp xác định mức độ tự lập trong sinh hoạt Mỗi câu trả lời đều được tính 1 điểm trên tổng số 6 điểm, phản ánh khả năng tự chăm sóc bản thân Thang điểm này được chia thành 3 mức độ đánh giá, từ mức thấp đến cao, để dễ dàng phân loại tình trạng tự lập của người dùng Việc sử dụng thang điểm Katz ADL là phương pháp hiệu quả trong đánh giá chức năng vận động và khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân.

- 3-4: hạn chế hoạt động mức độ trung bình

- 1-2: hạn chế hoạt động mức độ nặng

Trong quá trình điều tra, câu hỏi đánh giá hoạt động hàng ngày sử dụng công cụ Lawton-Brody IADL gồm 8 mục chính, bao gồm khả năng sử dụng điện thoại, mua sắm, chuẩn bị đồ ăn, dọn nhà, giặt là, khả năng di chuyển, sử dụng và quản lý thuốc, cùng với quản lý tài chính Đối tượng nghiên cứu được chấm điểm dựa trên mức độ thực hiện của từng mục, sau đó phân loại thành 3 mức độ khác nhau về khả năng hoạt động hàng ngày Công cụ này giúp đánh giá toàn diện khả năng tự lập của người dùng trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày quan trọng.

- 7-8 điểm: độc lập hoàn toàn;

- 4-6 điểm: phụ hạn chế hoạt động mức độ trung bình;

Điểm từ 0-3 phản ánh hạn chế hoạt động mức độ nặng, yêu cầu các đối tượng nghiên cứu tham gia phỏng vấn theo nội dung trong phiếu khảo sát Trong quá trình phỏng vấn, đối tượng sẽ điền thông tin và đánh dấu vào ô tương ứng với câu trả lời Sau khi hoàn thành, điều tra viên sẽ kiểm tra lại để đảm bảo các nội dung đã đầy đủ và đúng yêu cầu của nghiên cứu, đảm bảo tính chính xác và toàn diện của dữ liệu thu thập.

Biến số, chỉ số trong nghiên cứu

2.6.1 Biến số về đặc điểm của người bệnh

Tuổi: Là tuổi tại thời điểm khám (bằng năm hiện tại trừ đi năm sinh)

Giới: gồm có Nam hoặc nữ

Chỉ số khối cơ thể (BMI) là công cụ phổ biến để đo lượng mỡ thừa trong cơ thể, dựa trên chiều cao và cân nặng của người trưởng thành Đối với nam và nữ trưởng thành, BMI được tính theo công thức chuẩn và áp dụng tiêu chuẩn đánh giá béo phì của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2000, phù hợp với người châu Á Đây là một chỉ số quan trọng giúp xác định tình trạng cân nặng và nguy cơ các bệnh liên quan đến béo phì.

BMI ≥ 25 Thừa cân, béo phì

Tình trạng hôn nhân: được tính như Độc thân / Kết hôn / Ly thân / Ly hôn / Góa

Trình độ học vấn: là mức bằng cấp cao nhất mà người được phỏng vấn hiện tại có được, có các giá trị:

Trung học phổ thông trở xuống bao gồm các nhóm học phổ cập như không biết chữ (chưa biết đọc viết), học tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5), và trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9), còn được gọi là cấp 1-2 Những đối tượng này vẫn đang trong quá trình tiếp cận kiến thức cơ bản về đọc viết và các kỹ năng học tập ở mức độ sơ cấp Việc phân loại rõ ràng các trình độ này giúp xác định chính xác các chương trình giáo dục phù hợp nhằm nâng cao trình độ và mở rộng cơ hội học tập cho mọi đối tượng.

- Trung học phổ thông trở lên: là những người học từ lớp 10 đến lớp 12 (Cấp 3), trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học

Nghề nghiệp là công việc chính mang lại thu nhập chủ đạo cho đối tượng, chiếm phần lớn thời gian và đem lại nguồn thu nhập cao nhất Việc lựa chọn nghề nghiệp phù hợp không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Nghề nghiệp còn phản ánh giá trị và khả năng của mỗi người trong xã hội, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển cá nhân và sự ổn định tài chính.

- Công chức/ viên chức: là những cá nhân làm việc trong các tổ chức, cơ quan nhà nước

- Nông dân: là những cá nhân có thu nhập chính từ nông nghiệp

- Công nhân: là các cá nhân làm việc trong các nhà máy, công xưởng, xí nghiệp, công trường,

- Nội trợ: là những cá nhân làm các công việc tại nhà: chăm sóc con cái, nấu ăn, giặt quần áo,…

- Già/ nghỉ hưu: là những người nằm ngoài độ tuổi lao động, không có làm thêm công việc nào khác

- Nghề nghiệp khác: là các cá nhân làm các công việc lao động tự do khác và tạo thu nhập cho họ

- Tiêu chuẩn hộ nghèo, cận nghèo và không nghèo

Theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, chuẩn nghèo được xác định là mức thu nhập 700.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành phố Chuẩn cận nghèo tương ứng là 1.000.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở thành phố Đây là các mức thu nhập tối thiểu để xác định điều kiện sống tối thiểu cho người dân khu vực nông thôn và thành thị.

- Chẩn đoán THK: Là vị trí khớp bị thoái hóa, có thể là: gối, hông, vai, cổ tay, cột sống …

- Thời gian mắc bệnh: là thời gian tính từ khi được chẩn đoán mắc bệnh

THK đến thời điểm thu thập số liệu của đối tượng, tính bằng năm:

Bệnh lý mắc kèm : ngoài bệnh THK bệnh nhân có mắc thêm bệnh bao gồm các giá trị: Không có: không mắc bệnh gì khác ngoài THK

Tiền sử bệnh : Các bệnh lý nền sẵn có của người bệnh

Phản ứng đau liên quan đến bệnh thoái hóa khớp được mô tả qua mức độ đau theo thang điểm VAS, phương pháp đánh giá phổ biến nhất trên lâm sàng Thang điểm VAS gồm hai mặt: phía trái dành cho bệnh nhân đánh giá mức độ không đau, và phía phải ghi “đau không chịu nổi”, giúp bệnh nhân dễ dàng xác định mức độ đau của mình Để tăng độ chính xác, mặt hình người biểu diễn các mức độ đau khác nhau, cho phép bệnh nhân di chuyển con trỏ đến vị trí phù hợp với cảm giác của mình Trong đó, mặt dành cho người đánh giá cũng được chia thành các điểm đánh giá rõ ràng để đảm bảo việc khảo sát chính xác và khách quan.

Trong quá trình đánh giá, có 11 vạch đánh số từ 0 đến 10 cm để đo chiều dài điểm đau, giúp xác định chính xác mức độ đau của người bệnh Sau khi người bệnh di chuyển con trỏ đến vị trí đau, người đánh giá xác nhận điểm đau VAS chính xác là khoảng cách từ vạch 0 đến vị trí con trỏ, đảm bảo tính khách quan và chính xác trong quá trình đánh giá Phương pháp này giúp chuẩn hóa việc đo lường mức độ đau dựa trên thang điểm VAS, nâng cao độ tin cậy của kết quả đánh giá.

Dựa vào thang điểm VAS cường độ đau được chia làm 3 mức độ:

- Đau ít : tương ứng với VAS ≤ 3 cm

- Đau trung bình: tương ứng với 4 cm ≤ VAS ≤ 7 cm

- Đau nặng hay đau nhiều: tương ứng với VAS ≥ 7 cm

Thước đo VAS (Visual Analogue Scale) Điều trị đau: Xác định xem NB có kiểm soát cơn đau hay không

Mô tả các biến số về theo dõi và chăm sóc người bệnh

* Biến số về theo dõi dấu sinh tồn sau phẫu thuật :

- Giá trị bình thường của các chỉ số sinh tồn ở người lớn Việt Nam:

+ Mạch: Bình thường ở người lớn là 60 - 80 lần/phút

+ Nhiệt độ: Bình thường ở người lớn từ 36.3 – 37.1 độ C

Huyết áp tâm thu (tối đa): Bình thường là 90 - 140mmHg

Huyết áp tâm trương (tối thiểu): Bình thường là 60 - 90mmHg

Huyết áp trung bình động mạch = huyết áp tâm trương + 1/3

(huyết áp tâm thu – huyết áp tâm trương), huyết áp trung bình động mạch bình thường thay đổi từ 70-95 mm Hg

- Thời điểm lấy số liệu: ngay khi NB đến khám bệnh tại Khoa khám bệnh

2.6.2 Biến số đánh giá hoạt động hàng ngày cơ bản theo thang điểm Katz ADL

Thang điểm Katz ADL, được phát triển vào năm 1970, là một chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng độc lập của người bệnh trong các hoạt động hàng ngày Thang điểm này bao gồm các biến chính như khả năng tự chăm sóc cá nhân, vệ sinh, mặc quần, đi lại, ăn uống và kiểm soát tiểu tiện Đây là công cụ giúp các nhân viên y tế xác định mức độ cần thiết của sự hỗ trợ và chăm sóc phù hợp cho từng bệnh nhân Thang điểm Katz ADL đã trở thành tiêu chuẩn trong đánh giá chức năng phụ thuộc của người cao tuổi và người bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc y tế.

(3) Sử dụng nhà vệ sinh;

(5) Khả năng tự chủ đại tiểu tiện, và

2.6.3 Biến số đánh giá hoạt động hàng ngày có sử dụng công cụ (IADLs) Lowton-Brody

Gồm 8 mục với tổng 31 câu, mỗi câu có thực hiện được tính 1 điểm, mỗi câu không thực hiện hoặc thực hiện với trợ giúp tính 0 điểm Các mục bao gồm:

(1) Khả năng sử dụng điện thoại;

(6) Khả năng di chuyển/đi lại;

(7) Sử dụng/quản lý dùng thuốc; và

Xử lý số liệu

Dữ liệu định lượng được kiểm tra, làm sạch các lỗi, mã hóa và nhập vào máy tính để xử lý bằng phần mềm SPSS 20, nhằm phân tích số liệu một cách chính xác Phương pháp thống kê chiếm vai trò quan trọng trong quá trình phân tích dữ liệu, trong đó kiểm định χ² được sử dụng để xác định sự khác biệt giữa hai tỷ lệ cũng như mối tương quan giữa các biến phân loại, với mức ý nghĩa p 0,05) Ngoài ra, giới nữ cũng có nguy cơ giảm mức độ độc lập trong một số hoạt động hàng ngày như sử dụng điện thoại và chuẩn bị thức ăn.

Những người nghèo hoặc cận nghèo có tỷ lệ hạn chế độc lập trong hoạt động hàng ngày (ADL) nặng cao hơn rõ ràng so với người không nghèo, với tỷ lệ lần lượt là 26,3% so với 17,2% Ngoài ra, họ cũng đối diện với tỷ lệ hạn chế độc lập nặng cao hơn nhiều so với nhóm không nghèo, với các con số lần lượt là 29,3% so với 18,3% Các ít số này đều cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, với p đều < 0,05, phản ánh rõ ràng về mức độ ảnh hưởng của tình trạng nghèo đói đối với chức năng hàng ngày của người dân.

THK là bệnh mạn tính ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng vận động và chất lượng cuộc sống của người bệnh Người có điều kiện kinh tế khó khăn thường không thể thực hiện việc khám chữa định kỳ, dẫn đến việc kiểm soát bệnh kém và các khớp bị tổn thương nặng hơn theo thời gian Khi bệnh tiến triển, chức năng khớp bị giới hạn, gây mất độc lập trong sinh hoạt hàng ngày và trở thành gánh nặng cho gia đình, khiến cuộc sống của họ càng trở nên khó khăn hơn Để đối mặt với tình trạng này, cần có sự hỗ trợ từ cộng đồng nhằm giúp người bệnh tiếp cận dịch vụ y tế và điều trị phù hợp, qua đó hạn chế di chứng tàn tật và nâng cao chất lượng cuộc sống cho những người mắc THK có hoàn cảnh khó khăn.

Nghiên cứu cho thấy, bệnh đái tháo đường không ảnh hưởng đến hoạt động sinh hoạt thường ngày (ADL) mà chủ yếu liên quan đến khả năng độc lập trong các hoạt động sống hàng ngày (IADL) Theo bảng 3.22, tỷ lệ hạn chế độc lập nặng ở người mắc bệnh tiểu đường cao hơn đáng kể so với người không mắc bệnh (32,6% so với 21,6%), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Kết quả này tương với một số nghiên cứu khác Một nghiên cứu tại

Nghiên cứu của Mỹ cho thấy, giữa các nhóm bệnh nhân đang sử dụng thuốc chống viêm NSAID, không có sự khác biệt đáng kể về điểm ADL, bất kể họ làm các nghề khác nhau hoặc mắc các bệnh kèm theo như tim mạch, tăng huyết áp hoặc tiểu đường.

Các nghiên cứu trước đây cho thấy bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính như đái tháo đường và bệnh tim mạch thường có điểm IADL thấp, phản ánh ảnh hưởng tiêu cực của bệnh lý đến khả năng tự lập hàng ngày [15], [23] Ngoài ra, mức độ suy giảm chức năng IADL càng trở nên rõ ràng khi bệnh nhân mắc nhiều bệnh mãn tính, đặc biệt là từ hai bệnh trở lên, khiến họ có điểm IADL thấp hơn so với những người không mắc hoặc chỉ mắc một bệnh mạn tính [25].

Trầm cảm/ lo âu/ căng thẳng

Các bệnh nhân mắc trầm cảm, lo âu hoặc căng thẳng có mức độ hạn chế nặng trong hoạt động hàng ngày (ADL) chiếm tỷ lệ cao đến 45,9%, so với 19,4% ở những người không mắc các vấn đề này, với ý nghĩa thống kê rõ ràng (p = 0,001) Đặc biệt, người cao tuổi bị thoái hóa khớp kèm theo sa sút trí tuệ hoặc giảm nhận thức và tinh thần dễ gặp suy giảm khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày Sự biến động về nhận thức ở bệnh nhân sa sút trí tuệ có mối liên hệ đáng kể với khả năng tham gia hoạt động hàng ngày, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của họ.

Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc hỗ trợ tinh thần cho người bệnh thoái hóa khớp là vô cùng quan trọng Điều dưỡng cần giải thích rõ về tình trạng bệnh để giúp người bệnh hiểu and tuân thủ đúng thuốc nhằm giảm đau, nâng cao chất lượng giấc ngủ và cải thiện khả năng vận động Nhờ đó, người bệnh sẽ giảm lo lắng, an tâm hơn trong quá trình điều trị, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe.

Chấn thương có thể làm bệnh thoái hóa khớp trở nên nghiêm trọng hơn, xuất hiện trước hoặc sau khi người bệnh mắc THK Chấn thương không chỉ là nguyên nhân gây ra bệnh THK mà còn là hậu quả do tình trạng khớp đã bị thoái hóa Người bị THK thường gặp hạn chế vận động, và khi chịu chấn thương nặng, nguy cơ phải dựa vào chăm sóc nhiều hơn sẽ gia tăng đáng kể.

Nghiên cứu cho thấy rằng chấn thương liên quan đáng kể đến việc giảm khả năng thực hiện độc lập các hoạt động hàng ngày (ADL) và hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày (IADL) Những người bị chấn thương có tỷ lệ hạn chế độc lập nặng cao hơn so với người không chấn thương, với 32,6% so với 20,5%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Ngoài ra, theo bảng 3.22, các cá nhân bị chấn thương cũng gặp phải hạn chế trong các hoạt động sống hàng ngày (IADL) cao hơn, với 30,4% ở mức nặng và 54,3% mức trung bình, xác nhận mối liên hệ đáng kể giữa chấn thương và khả năng vận động hàng ngày (p = 0,031).

Điểm mạnh và điểm hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu này là một trong số ít tại Việt Nam đề cập đến mức độ hạn chế các hoạt động hàng ngày của người bệnh thoái hoá khớp, sử dụng bộ công cụ đã được chuẩn hoá để đảm bảo độ chính xác Với cỡ mẫu lớn, nghiên cứu mang lại kết quả có tính khách quan, góp phần nâng cao nhận thức và cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người bệnh Đây là điểm mạnh nổi bật giúp nghiên cứu có giá trị trong cộng đồng y tế Việt Nam.

Việc sử dụng ADL và IADL đã được nhiều nghiên cứu quốc tế áp dụng để đánh giá mức độ độc lập của người bệnh viêm khớp trong các hoạt động hàng ngày Hai bộ công cụ này cung cấp đánh giá khách quan và chính xác về khả năng thực hiện các hoạt động cơ bản phục vụ cuộc sống, giúp xác định mức độ ảnh hưởng của bệnh đến sinh hoạt hàng ngày Việc chuẩn hóa các công cụ đánh giá này đã nâng cao độ tin cậy cho nghiên cứu của chúng tôi, đảm bảo kết quả chính xác và khách quan hơn.

Cỡ mẫu lớn là một ưu điểm quan trọng trong nghiên cứu, đặc biệt đối với các nghiên cứu cắt ngang, giúp tăng khả năng khái quát hóa kết quả và đảm bảo tính đại diện của quần thể Các nghiên cứu cỡ mẫu dưới 200 thường gặp hạn chế trong việc xác định tính đại diện của kết quả nghiên cứu Cỡ mẫu của nghiên cứu này đủ lớn để đảm bảo tính đại diện và khả năng tổng quát hóa cho quần thể nghiên cứu.

Nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân mắc các loại thoái hoá khớp khác nhau, không giới hạn ở một số loại phổ biến như khớp gối hay khớp háng Vì vậy, kết quả của nghiên cứu mang lại cái nhìn toàn diện về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh thoái hoá khớp nói chung, giúp so sánh mức độ tự lập giữa các nhóm bệnh nhân khác nhau bị thoái hoá khớp.

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, việc tập huấn người thu thập dữ liệu và hướng dẫn kỹ lưỡng cho người bệnh về cách trả lời câu hỏi đóng vai trò quan trọng để giảm thiểu các sai số có thể xảy ra Các biện pháp này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu thu thập, nâng cao chất lượng nghiên cứu Việc hạn chế tối đa sai số trong quá trình thu thập dữ liệu không chỉ nâng cao hiệu quả nghiên cứu mà còn đảm bảo kết quả phản ánh đúng thực trạng.

Hạn chế của nghiên cứu

Mặc dù nghiên cứu của chúng tôi có nhiều ưu điểm như đã đề cập, nhưng vẫn gặp phải một số hạn chế Do tính chất nghiên cứu cắt ngang, chúng tôi chưa thể xác định mối quan hệ nhân quả giữa tiến triển của bệnh thoái hoá khớp và mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh.

Do nghiên cứu được thực hiện trong thời điểm Hà Nội đang chịu ảnh hưởng của đợt sóng COVID-19 và gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận cũng như tuyển chọn bệnh nhân, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (convenience sampling) để thực hiện nghiên cứu một cách thuận lợi và hợp lý hơn.

Việc lựa chọn người tham gia có thể gây ra một số sai số, ảnh hưởng đến tính đa dạng và đại diện của nghiên cứu Điều này có thể làm giảm độ chính xác và khả năng tổng quát của kết quả nghiên cứu, đòi hỏi cần chú trọng đảm bảo tiêu chí chọn mẫu phù hợp để nâng cao tính tin cậy và tính khả dụng của dữ liệu.

Dù đã tổ chức tập huấn kỹ lưỡng cho những người thu thập số liệu và có sự giám sát chặt chẽ, chúng tôi vẫn còn lo ngại về khả năng đối tượng nghiên cứu không phản hồi chính xác về mức độ hoạt động của họ Điều này ảnh hưởng đến độ chính xác của dữ liệu và kết quả nghiên cứu Do đó, việc đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của dữ liệu vẫn đang là một thách thức trong quá trình thu thập thông tin.

Ngày đăng: 16/08/2023, 16:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Hải Bình (2016), Nghiên cứu điều trị bệnh thoái hóa khớp gối nguyên phát bằng liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu tự thân, Luận văn Thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu điều trị bệnh thoái hóa khớp gối nguyên phát bằng liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu tự thân
Tác giả: Bùi Hải Bình
Năm: 2016
2. Lê Na (2012), Nhận xét tình trạng thoái hóa khớp gối ở người có hội chứng chuyển hóa từ 40 tới 70 tuổi tại khoa Khám bệnh theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3 - 10/2012, Luận văn Thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét tình trạng thoái hóa khớp gối ở người có hội chứng chuyển hóa từ 40 tới 70 tuổi tại khoa Khám bệnh theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3 - 10/2012
Tác giả: Lê Na
Năm: 2012
3. Nguyễn Thị Ngần và các cộng sự (2014). Khảo sát sự hiểu biết của bệnh nhân về bệnh thoái hóa khớp. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 18 (3), 252 – 257 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Ngần và các cộng sự
Năm: 2014
4. Lê Quang Nhựt và các cộng sự. (2012), "Khảo sát thoái hóa khớp gối ở bệnh nhân cao tuổi tại khoa nội cơ xương khớp Bệnh viện Chợ Rẫy", Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 16(1-5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thoái hóa khớp gối ở bệnh nhân cao tuổi tại khoa nội cơ xương khớp Bệnh viện Chợ Rẫy
Tác giả: Lê Quang Nhựt và các cộng sự
Năm: 2012
5. Trần Thái Hà và các cộng sự (2022). Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân thoái hóa khớp gồi tại bệnh viện Đa khoa huyện Mê Linh. Tạp chí Y học Việt Nam, số 2 (514): 280- 288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học Việt Nam
Tác giả: Trần Thái Hà và các cộng sự
Năm: 2022
6. Đinh Thị Diệu Hằng (2013). Nghiên cứu thực trạng bệnh thoái hóa khớp gối và hiệu quả nâng cao năng lực chẩn đoán, xử trí của cán bộ y tế xã tại Hải Dương. Luận án tiến sỹ Y học., Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng bệnh thoái hóa khớp gối và hiệu quả nâng cao năng lực chẩn đoán, xử trí của cán bộ y tế xã tại Hải Dương
Tác giả: Đinh Thị Diệu Hằng
Năm: 2013
7. Đặng Hồng Hoa (1997). Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh hư khớp gối. Luận văn thạc sỹ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh hư khớp gối
Tác giả: Đặng Hồng Hoa
Năm: 1997
8. Nguyễn Thị Ngọc Lan (2011), Bệnh học cơ xương khớp Nội khoa, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học cơ xương khớp Nội khoa
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2011
9. Nguyễn Thị Lệ Linh và các cộng sự (2022). Khảo sát vai trò của siêu âm khớp trong bệnh thoái hóa khớp gối tại bệnh viện chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y dược học thực hành, số 15 (175): 94- 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y dược học thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Lệ Linh và các cộng sự
Năm: 2022
10. Nguyễn Thị Thanh Phượng (2015). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, siêu âm và cộng hưởng từ khớp gối ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối, Luận văn tiến sỹ y học. Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, siêu âm và cộng hưởng từ khớp gối ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Phượng
Năm: 2015
11. Lê Bảo Ngọc (2015), Một số đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát, Luận văn Thạc sĩ sức khỏe, Khoa Điều dưỡng, trường Đại học Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát
Tác giả: Lê Bảo Ngọc
Năm: 2015
12. Võ Văn Thắng và các cộng sự. (2019), "Tình trạng chức năng và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại tỉnh Thừa Thiên Huế", Tạp chí Y học Thực hành. 1114(10), tr. 26-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng chức năng và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Võ Văn Thắng và các cộng sự
Năm: 2019
13. Nguyễn Thị Phương Thủy và các cộng sự (2021). Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Tạp chí Y học Việt Nam, 502 (5): 99- 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Thủy và các cộng sự
Năm: 2021
14. Dương Đình Toàn (2015). Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi tạo tổn thương dưới sụn và ghép khối tế bào gốc tủy xương tự thân trong điều trị thoái hóa khớp gối, Luận án Tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi tạo tổn thương dưới sụn và ghép khối tế bào gốc tủy xương tự thân trong điều trị thoái hóa khớp gối
Tác giả: Dương Đình Toàn
Năm: 2015
15. Đặng Văn Út và Lưu Tiến Thuận (2020), "Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp của người tiêu dùng-Trường hợp tại tỉnh Đồng Tháp", Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh – Kinh tế và Quản trị kinh doanh. 15(3), tr. 102-113.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp của người tiêu dùng-Trường hợp tại tỉnh Đồng Tháp
Tác giả: Đặng Văn Út, Lưu Tiến Thuận
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh – Kinh tế và Quản trị kinh doanh
Năm: 2020
16. Bethlehem, J. (1999), "Cross-sectional research", Research methodology in the social, behavioural and life sciences. 110, tr. 142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research methodology in the social, behavioural and life sciences
Tác giả: Bethlehem, J
Năm: 1999
17. Castell, M.V. et al (2015), "Osteoarthritis and frailty in elderly individuals across six European countries: results from the European Project on Osteoarthritis (EPOSA)", BMC Musculoskeletal Disorders.16(1), tr. 359 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Osteoarthritis and frailty in elderly individuals across six European countries: results from the European Project on Osteoarthritis (EPOSA)
Tác giả: Castell, M.V. et al
Năm: 2015
18. Cleveland, R.J. et al (2019), "The impact of painful knee osteoarthritis on mortality: a community-based cohort study with over 24 years of follow-up", Osteoarthritis and cartilage. 27(4), tr. 593-602 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of painful knee osteoarthritis on mortality: a community-based cohort study with over 24 years of follow-up
Tác giả: Cleveland, R.J. et al
Năm: 2019
19. Clynes, M.A. et al (2019), "Impact of osteoarthritis on activities of daily living: does joint site matter?", Aging Clinical and Experimental Research. 31(8), tr. 1049-1056 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of osteoarthritis on activities of daily living: does joint site matter
Tác giả: Clynes, M.A. et al
Năm: 2019
21. Cross, M. et al (2014), "The global burden of hip and knee osteoarthritis: estimates from the global burden of disease 2010 study", Annals of the rheumatic diseases. 73(7), tr. 1323-1330 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The global burden of hip and knee osteoarthritis: estimates from the global burden of disease 2010 study
Tác giả: Cross, M. et al
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Khung lý thuyết của nghiên cứu - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Hình 1. Khung lý thuyết của nghiên cứu (Trang 35)
Bảng 3. 1. Phân bố người bệnh theo tuổi (n = 378) - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3. 1. Phân bố người bệnh theo tuổi (n = 378) (Trang 48)
Bảng 3. 2.Phân bố người bệnh theo BMI (n = 378) - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3. 2.Phân bố người bệnh theo BMI (n = 378) (Trang 49)
Bảng 3. 4. Phân bố người bệnh theo trình độ học vấn (n = 378) - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3. 4. Phân bố người bệnh theo trình độ học vấn (n = 378) (Trang 50)
Bảng 3. 6. Phân bố người bệnh theo thời gian mắc thoái hoá khớp (n = 378) - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3. 6. Phân bố người bệnh theo thời gian mắc thoái hoá khớp (n = 378) (Trang 52)
Bảng 3.7. Thực trạng các dấu hiệu sinh tồn của người bệnh (n = 378) - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3.7. Thực trạng các dấu hiệu sinh tồn của người bệnh (n = 378) (Trang 53)
Bảng 3.10. Biến chứng thoái hóa khớp của người bệnh (n = 378) - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3.10. Biến chứng thoái hóa khớp của người bệnh (n = 378) (Trang 56)
Bảng 3.15. Hoạt động sống hàng ngày chung (n = 378) - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3.15. Hoạt động sống hàng ngày chung (n = 378) (Trang 60)
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa đặc điểm về kinh tế, thời gian mắc bệnh với - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa đặc điểm về kinh tế, thời gian mắc bệnh với (Trang 62)
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa bệnh lý đi kèm với - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa bệnh lý đi kèm với (Trang 63)
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa chẩn đoán THK với - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa chẩn đoán THK với (Trang 64)
Bảng 3.20. Mối liên quan giữa đặc điểm chung với - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3.20. Mối liên quan giữa đặc điểm chung với (Trang 65)
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa đặc điểm về kinh tế, thời gian mắc bệnh với - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa đặc điểm về kinh tế, thời gian mắc bệnh với (Trang 66)
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa chẩn đoán THK với - Ảnh hưởng của thoái hoá khớp đến hoạt động hàng ngày ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện giao thông vận tải năm 2021
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa chẩn đoán THK với (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w