1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021

99 16 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết Quả Chăm Sóc, Điều Trị Người Bệnh Viêm Tụy Cấp Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Tại Bệnh Viện Trung Ương Quân Đội 108 Năm 2020 – 2021
Tác giả An Thị Hồng Vân
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Vân
Trường học Đại Học Thăng Long
Chuyên ngành Điều Dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sĩ điều dưỡng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1. Tổng quan về bệnh viêm tụy cấp (15)
      • 1.1.1. Sơ lược về giải phẫu, sinh lý tụy (15)
      • 1.1.2. Nguyên nhân gây viêm tụy cấp (16)
      • 1.1.3. Bệnh sinh viêm tụy cấp (18)
      • 1.1.4. Tổn thương Viên tụy cấp gây ra (18)
      • 1.1.5. Các triệu chứng lâm sàng của viêm tụy cấp (19)
      • 1.1.6. Các thể lâm sàng (21)
      • 1.1.7. Cận lâm sàng (21)
      • 1.1.8. Chẩn đoán Viên tụy cấp (23)
      • 1.1.9. Điều trị viêm tụy cấp (24)
      • 1.1.10. Biến chứng (24)
    • 1.2. Công tác chăm sóc người bệnh (0)
      • 1.2.1. Khái niệm về chăm sóc điều dưỡng (25)
      • 1.2.2. Vai trò của điều dưỡng trong điều trị và chăm sóc VTC (25)
      • 1.2.3. Các học thuyết điều dưỡng (0)
      • 1.2.4. Qui trình chăm sóc người bệnh viêm tuỵ cấp (28)
    • 1.3. Các nghiên cứu trong nước và thế giới về VTC (0)
      • 1.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới (33)
      • 1.3.2. Trong nước (34)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (36)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
      • 2.1.1. Đối tượng (36)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân (36)
      • 2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ (36)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (36)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (0)
      • 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu (36)
      • 2.3.2. Cỡ mẫu (36)
      • 2.3.3. Phương pháp chọn mẫu (36)
    • 2.4. Mô tả các khái niệm, định nghĩa, tiêu chuẩn, kỹ thuật thực hiện về các biến số nghiên cứu (0)
      • 2.4.1. Các chỉ số nghiên cứu về đặc điểm chung người bệnh viêm tụy cấp (37)
      • 2.4.2. Mô tả các biến số về lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh viêm tụy cấp (39)
      • 2.4.3. Mô tả các biến số về chăm sóc, điều trị và một số yếu tố liên quan (40)
    • 2.5. Phương thức tiến hành (43)
    • 2.6. Sai số và biện pháp khống chế sai số (0)
    • 2.7. Xử lý số liệu (44)
    • 2.8. Đạo đức nghiên cứu (45)
    • 2.9. Sơ đồ của quá trình nghiên cứu (0)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (47)
    • 3.1. Đặc điểm chung (47)
    • 3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng (51)
    • 3.3. Kết quả điều trị và chăm sóc của người bệnh VTC (55)
      • 3.3.1. Kết quả điều trị (55)
      • 3.3.2. Kết quả chăm sóc (56)
    • 3.4. Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị chăm sóc của người bệnh VTC (64)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (67)
    • 4.1. Đặc điểm thông tin chung (67)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân Viêm tụy cấp (70)
      • 4.2.1. Đặc điểm lâm sàng (70)
      • 4.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng (72)
    • 4.3. Kết quả chăm sóc và điều trị bệnh nhân Viêm tụy cấp (76)
      • 4.3.1. Kết quả điều trị (76)
      • 4.3.2. Kết quả chăm sóc (77)
    • 4.4. Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị, chăm sóc bệnh nhân VTC (82)
  • KẾT LUẬN (84)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (88)
  • PHỤ LỤC (94)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng: Tất cả bệnh nhân VTC ở Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

Bệnh nhân được chẩn đoán VTC dựa trên tiêu chuẩn của Atlanta 2012, trong đó xác định VTC khi có ít nhất hai trong số ba biểu hiện chính Cụ thể, theo hướng dẫn của Atlanta 2012, chẩn đoán chính xác VTC đòi hỏi bệnh nhân phải có ít nhất hai trong ba triệu chứng quan trọng của bệnh.

 Đau vùng trên bụng kèm nôn

 Amylase máu ≥ 660 U/L hoặc P- amylase máu ≥ 150 U/L hoặc lipase máu

 Hình ảnh VTC trên siêu âm, CT ổ bụng hoặc MRI mật tụy

- Bệnh nhân VTC xảy ra trên nền viêm tụy mạn

- Bệnh nhân VTC đến muộn sau 7 ngày

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2020 đến tháng 10/2021

- Địa điểm nghiên cứu: khoa Nội tiêu hóa - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu

2.3.2 Cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận tiện trong thời gian nghiên cứu chúng tôi thu thập là 180 bệnh nhân VTC

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu : chọn mẫu thuận tiện tất cả những người bệnh đủ tiêu chuẩn lựa chọn trên đều được chọn vào mẫu nghiên cứu.

Mô tả các khái niệm, định nghĩa, tiêu chuẩn, kỹ thuật thực hiện về các biến số nghiên cứu

2.4.1 Các chỉ số nghiên cứu về đặc điểm chung người bệnh viêm tụy cấp

- Tuổi : được phân nhóm như sau:

- Giới: Nam và nữ giới

- Nghề nghiệp: sắp xếp vào các nhóm sau

Theo UNESCO, trình độ học vấn của một người được định nghĩa là bằng cấp cao nhất mà họ đã hoàn thành trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây là chỉ số đánh giá mức độ học vấn của cá nhân dựa trên lớp học cao nhất mà họ đã hoàn tất Trình độ học vấn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng học tập và phát triển của mỗi người trong xã hội.

Theo Luật Giáo dục hiện hành của Việt Nam, Hệ thống giáo dục quốc dân gồm có hệ thống giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Hệ thống này bắt đầu từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, dạy nghề đến các trình độ giáo dục chuyên nghiệp, đảm bảo phát triển toàn diện kỹ năng và kiến thức cho học sinh, sinh viên.

Trong nghiên cứu này, chia thành các trình độ như sau:

+ Đến trung học phổ thông: Là những người đang đi học phổ thông hoặc có trình độ học vấn cao nhất là tốt nghiệp trung học phổ thông

Dạy nghề: Là những người đã tốt nghiệp (thường đã được cấp bằng hoặc chứng chỉ) các trường sơ cấp nghề, trung cấp nghề hoặc cao đẳng nghề

Trung cấp chuyên nghiệp: Là những người đã tốt nghiệp (thường đã được cấp bằng) bậc trung cấp chuyên nghiệp

Cao đẳng: Là những người đã tốt nghiệp cao đẳng (thường đã được cấp bằng cử nhân cao đẳng)

Đại học: Là những người đã tốt nghiệp đại học (thường đã được cấp bằng cử nhân đại học)

+ Sau đại học: Là những người đã tốt nghiệp thạc sỹ, tiến sỹ, tiến sỹ khoa học (thường đã được cấp học vị)

- Phân bố theo vùng định cƣ: Người bệnh sống ở thành thị hay nông thôn

- Khái niệm về thành thị và nông thôn như sau:

Thành thị là khu vực tập trung đông dân cư và chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, đóng vai trò trung tâm về chính trị, văn hóa, xã hội, du lịch và dịch vụ của cả nước hoặc vùng lãnh thổ Đô thị gồm các loại hình như thị trấn, thị xã, thành phố, trong đó thành phố trực thuộc tỉnh và trung ương đóng vai trò quan trọng Các đơn vị hành chính tại thành phố được phân chia thành phường, quận và thành phố, góp phần quản lý và phát triển đô thị một cách hiệu quả.

Nông thôn là khu vực không thuộc nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã, thị trấn, và được quản lý bởi ủy ban nhân dân xã cấp cơ sở Đây là vùng đất nơi người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp, thể hiện đặc trưng văn hóa và kinh tế đặc trưng của Việt Nam Các đơn vị hành chính của nông thôn bao gồm tiểu khu, thôn, làng, xã, huyện, góp phần quản lý và phát triển cộng đồng nông dân một cách hiệu quả.

- Chế độ điều trị: là quyền lợi người bệnh được hưởng khi điều trị tại Bệnh viện

Chia thành chế độ bảo hiểm y tế và dịch vụ

Chế độ Bảo hiểm y tế (bảo hiểm sức khỏe) là hình thức bảo hiểm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giúp người tham gia được chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, phục hồi sức khỏe khi gặp tai nạn hoặc ốm đau Bảo hiểm y tế hướng đến dự phòng và chăm sóc sức khỏe toàn diện, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm gánh nặng tài chính trong việc điều trị Đây là giải pháp tối ưu để bảo vệ sức khỏe bền vững và đảm bảo quyền lợi y tế cho mọi người dân.

+ Chế độ dịch vụ thì người bệnh phải trả toàn bộ chi phí trong quá trình điều trị

Các bệnh lý kèm theo phổ biến bao gồm tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch, viêm loét dạ dày và tá tràng, cùng các bệnh về hệ hô hấp và gan mật Việc phát hiện và quản lý các tình trạng này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe toàn diện Điều trị hiệu quả các bệnh lý kèm theo giúp giảm thiểu các biến chứng nghiêm trọng, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

- Thói quen xấu gây bệnh:

+ Liên quan đến rượu bia

+ Hút thuốc lá, thuốc lào, tẩu …

+ Béo phì, thích ăn đồ ngọt

2.4.2 Mô tả các biến số về lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh viêm tụy cấp

*Một số đặc điểm lâm sàng người bệnh viêm tụy cấp

* Một số đặc điểm cận lâm sàng và tình trạng dinh dưỡng người bệnh viêm tụy cấp

Các chỉ số xét nghiệm cận lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán ban đầu và đánh giá mức độ nặng của bệnh Việc theo dõi các chỉ số này qua ngày thứ 3 và các thời điểm tiếp theo giúp đánh giá tiến triển bệnh, từ đó đề ra các phương pháp điều trị phù hợp Việc phân tích các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng giúp dự đoán khả năng hồi phục hoặc biến chứng của bệnh, nâng cao hiệu quả chăm sóc bệnh nhân.

Chụp CT (CLVT) hoặc cộng hưởng từ (MRI) có giá trị cao hơn trong chẩn đoán khắc phục những hạn chế của siêu âm, giúp đánh giá chính xác hơn các tổn thương ở tụy và các biến chứng của viêm tụy cấp như đánh giá bờ tụy, tổn thương nhu mô, mức độ hoại tử và đám dịch quanh tụy Theo đánh giá của Balthazar, thang điểm chấn đoán dựa trên các yếu tố này để xác định mức độ tổn thương tụy một cách chính xác hơn trong quá trình điều trị.

Bảng 2.1 Điểm Balthazar đ nh gi mức độ nặng trên CT [45]

Mức độ Điểm Hoại tử Điểm

A: tụy bình thường 0 Không có hoại tử 0

B: tụy to khu trú hoặc lan tỏa 1 Hoại tử 1/3 tụy 2 C: biến đổi cấu trúc tụy, kèm thay đổi lớp mỡ quanh tụy 2 Hoại tử 1/2 tụy 4 D: có một ổ dịch 3 Hoại tử > 1/2 tụy 6 E: hai hoặc nhiều ổ dịch 4

Theo nghiên cứu của Balthazar, tỷ lệ tử vong và biến chứng ở nhóm A và B lần lượt là 0% và 4%, trong khi đó nhóm C, D và E có tỷ lệ tử vong và biến chứng tương ứng là 14% và 54% Điểm CTSI được tính dựa trên điểm mức độ viêm cộng với điểm diện tích hoại tử, dao động từ 0 đến 2 điểm, trong đó 0 điểm thể hiện không có biến chứng hoặc tử vong.

3 - 6 điểm Biến chứng không rõ ràng

>7 điểm: bệnh nặng, biến chứng 92%, tử vong 17%

Chẩn đoán thể bệnh Balthazar - Ranson dựa vào CT scanner chia

VTC thành 2 thể bệnh: VTC thể phù và VTC thể hoại tử

Bao gồm: Các chỉ số xét nghiệm chẩn đoán bệnh: Amylase máu, Lypase máu, LDH,

Các chỉ số đánh giá và tiên lượng bệnh: Canxi máu, Glucose máu, Hematocrit, Creatinin, bạch cầu, chỉ số CRP, urê máu, PaO2

2.4.3 Mô tả các biến số về chăm sóc, điều trị và một số yếu tố liên quan

* Biến số về theo dõi dấu hiệu sinh tồn :

- Giá trị bình thường của các chỉ số sinh tồn ở người lớn Việt Nam:

+ Mạch: Bình thường ở người lớn là 60 - 80 lần/phút

+ Nhiệt độ: Bình thường ở người lớn từ 36.3 – 37.1 độ C

Huyết áp tâm thu (tối đa): Bình thường là 90 - 140mmHg

Huyết áp tâm trương (tối thiểu): Bình thường là 60 - 90mmHg

Huyết áp trung bình động mạch = huyết áp tâm trương + 1/3

(huyết áp tâm thu – huyết áp tâm trương), huyết áp trung bình động mạch bình thường thay đổi từ 70-95 mm Hg

+ Nhịp thở: Bình thường ở người lớn là 16 đến 18 lần/phút

- Thời điểm lấy số liệu

Trong ngày thứ nhất, bệnh nhân được đưa vào trung tâm điều trị trong vòng 12-24 giờ đầu, nhằm đảm bảo chăm sóc ban đầu một cách nhanh chóng và hiệu quả Các ngày tiếp theo, dữ liệu sức khỏe của bệnh nhân được thu thập vào lúc 6 giờ sáng vào ngày thứ 3, thứ 5 và ngày ra viện để theo dõi quá trình hồi phục và điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời.

Mức độ đau khi vào viện được đánh giá bằng thang điểm VAS, trong đó bệnh nhân nhìn vào một thước đo có các hình ảnh thể hiện các mức độ đau khác nhau, rồi tự xác định mức độ đau của mình dựa trên hình ảnh đó Thước đo có 10 vạch, mỗi vạch cách nhau 10mm, và điều dưỡng xác định điểm đau tương ứng với vị trí bệnh nhân chỉ trên mặt trước của thước Việc đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS giúp cung cấp thông tin chính xác và khách quan về mức độ đau của bệnh nhân để hướng dẫn điều trị phù hợp.

Thang điểm nhìn VAS (Visual Analog Scale):

- Tiêu chuẩn đánh giá chăm sóc điều dưỡng dựa trên:

+ Thông tư số 07/2011 - TT - BYT của Bộ Y Tế ngày 26/1/2011 về hướng dẫn công tác điều dưỡng chăm sóc người bệnh trong bệnh viện

+ Bộ tiêu chuẩn chất lượng chăm sóc người bệnh trong các bệnh viện của hội Điều dưỡng Việt Nam

Các nội dung phỏng vấn nhằm đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân về chất lượng chăm sóc của điều dưỡng trong quá trình điều trị nội trú Việc này giúp xác định khả năng đáp ứng và hiệu quả của các hoạt động chăm sóc, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế nội trú Đánh giá này là bước quan trọng trong việc cải thiện dịch vụ y tế, đảm bảo bệnh nhân nhận được sự chăm sóc toàn diện và đáp ứng nhu cầu cá nhân.

- Yếu tố tiếp đón người bệnh

- Yếu tố theo dõi/đánh giá người bệnh

- Yếu tố về phối hợp thực hiện của bác sĩ; yếu tố tư vấn, hướng dẫn GDSK cho người bệnh

- Đánh giá đường nuôi dưỡng, theo thời gian như:

- Ăn qua đường miệng: là người bệnh tự ăn được

- Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch: là các người bệnh phải nuôi dưỡng bằng các dung dịch qua đường truyền tĩnh mạch

- Ăn qua sonde: là các người bệnh phải nuôi dưỡng bằng bơm thức ăn lỏng như sữa, súp, cháo qua sonde dạ dày

* Đánh giá phân loại chăm sóc

Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân đều giảm đến hơn 80%, không gặp các biến chứng về VTC hay NKBV Người bệnh thể hiện sự hài lòng cao về dịch vụ chăm sóc của điều dưỡng viên và ra viện trong tình trạng cải thiện rõ rệt, khỏi bệnh.

Các triệu chứng lâm sàng của khách hàng đều cải thiện trên 50% đến 70%, cho thấy tiến triển tích cực trong quá trình điều trị Mặc dù người bệnh gặp phải biến chứng viêm nhiễm trùng bệnh viện (VTC) và nhiễm khuẩn trong quá trình điều trị, nhưng đều được điều trị hiệu quả và khỏi bệnh Người bệnh cảm thấy hài lòng về công tác chăm sóc của điều dưỡng viên, dù ra viện hay chuyển tuyến dưới tiếp tục điều trị.

* Một số yếu tố liên quan:

- Mối liên quan đến điều trị:

+ Biến chứng: tuổi, giới, số ngày nằm viện, thể viêm tụy cấp …

- Mối liên quan đến chăm sóc:

+ Đặc điểm chung: tuổi, giới, học vấn

Phương thức tiến hành

- Bước 1: Tiếp xúc với bệnh nhân, giải thích về nghiên cứu và lấy phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu

- Bước 2: Khai thác thông tin chung, tiền sử và bệnh sử của đối tượng nghiên cứu vào ngày đầu nhập viện

+ Giới, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, BHYT, kinh tế gia đình, chung sống hàng ngày

+ Lý do vào viện, tiền sử bệnh tật

- Bước 3: Khám lâm sàng vào ngày đầu nhập viện

+ Toàn thân: Mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, phù, da, niêm mạc

+ Đo chiều cao, cân nặng, tính BMI

- Bước 4: Kết quả xét nghiệm cận lâm sàng vào ngày đầu nhập viện

+ Các chỉ số xét nghiệm

- Bước 5: hoạt động tư vấn - chăm sóc

+ Hoạt động chăm sóc điều dưỡng: phỏng vấn người bệnh gồm 12 nội dung chăm sóc;

+ Hoạt động tư vấn - GDSK điều dưỡng: phỏng vấn người bệnh gồm 8 nội dung

* Phương ph p thu thập số liệu:

Bệnh án nghiên cứu bao gồm việc thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án của đối tượng nghiên cứu và nhận định tình trạng sức khỏe của bệnh nhân sau giao ban đầu giờ làm việc để lấy thông tin từ bác sĩ Quá trình này còn bao gồm thực hiện chăm sóc người bệnh toàn diện theo quy trình điều dưỡng của bệnh viện, đảm bảo chất lượng chăm sóc và hiệu quả nghiên cứu.

- Phiếu thu thập và chăm sóc người bệnh (phụ lục 1)

- Bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh, và người nhà người bệnh (phụ lục 1)

- Các công cụ khám bệnh: nhiệt kế, huyết áp, ống nghe, monitorning theo dõi liên tục hãng Philips

2.6 Sai số và biện ph p khống chế sai số

STT Sai số có thể gặp Biện ph p khắc phục

1 Sai số do cách phỏng vấn - Tập huấn cho điều tra viên kỹ năng phát vấn, hướng dẫn đối tượng trả lời

2 Sai số do tổ chức phỏng vấn

- Chọn thời gian, địa điểm phù hợp

- Giám sát qua trình phỏng vấn

Vấn đề nghiên cứu là vấn đề nhạy cảm, có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của câu trả lời từ đối tượng nghiên cứu Để đảm bảo thu thập dữ liệu chính xác, điều tra viên được tập huấn kỹ lưỡng nhằm khai thác đúng thực trạng mà không gây ảnh hưởng tiêu cực đến người tham gia Việc này giúp nâng cao độ tin cậy của kết quả nghiên cứu, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm cần sự cẩn trọng và chính xác cao.

Làm sạch toàn bộ số liệu trước khi nhập liệu

Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0

Các thuật toán thống kê Y học được sử dụng:

Biến định lượng: Trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị min, max

Biến định tính: Số lượng và tỷ lệ %

Trong kiểm định với biến định tính, phương pháp sử dụng test so sánh như kiểm định Chi bình phương giúp xác định các mối liên hệ có ý nghĩa thống kê, đặc biệt khi p 6 điểm), với giá trị p < 0,05 và khoảng tin cậy 95% từ 1,08 đến 3,26.

BÀN LUẬN

Đặc điểm thông tin chung

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số người bệnh là nam giới, chiếm tỷ lệ 82,78%, cao hơn nữ giới đáng kể và tỷ lệ nam/nữ đạt 4,62/1, vượt xa so với các nghiên cứu trước như của Đặng Kiều Oanh, tỷ lệ nam/nữ khoảng 3/1, hay của Trần Công Hoan với tỷ lệ 2/1 Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, nam giới có nguy cơ mắc viêm tụy cấp cao hơn nữ giới, tuy nhiên theo Ranson, tỷ lệ mắc bệnh giữa hai giới gần như tương đương và đang có xu hướng gia tăng ở nữ giới Ngoài ra, tần suất mắc bệnh còn phụ thuộc vào yếu tố chủng tộc; ở Mỹ, người da đen có tỷ lệ mắc VTC gấp 3 lần so với người da trắng Sự chênh lệch về thời gian mắc bệnh giữa nam và nữ có thể liên quan đến phong cách sống như lối sống uống nhiều rượu, chế độ ăn không hợp vệ sinh, nhiều thịt và cách sinh hoạt hàng ngày.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận độ tuổi trung bình là 51,77 ± 14,55 tuổi, dao động từ 21 đến 94 tuổi, trong đó nhóm tuổi 40-49 chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,0%, còn nhóm dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 3,89% Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh với độ tuổi trung bình 46,88 ± 12,44 tuổi, trong đó nhóm 40-49 tuổi chiếm 34,78%, đều là độ tuổi lao động và có điều kiện kinh tế khá tốt Trần Công Hoan cũng ghi nhận độ tuổi trung bình là 48,2, với nhóm 40-49 tuổi chiếm 30,9%, cho thấy tuổi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh càng tăng Các nghiên cứu nước ngoài như của Koop Bossha với độ tuổi trung bình 49 ± 3 và Mortele (2021) với trung bình 49,2 tuổi cho thấy tỷ lệ bệnh nhân dưới 30 tuổi khoảng 8,4% Theo Ranson, nhóm tuổi trên 65 và trên 55 là những yếu tố chính liên quan đến mức độ nghiêm trọng và tiên lượng bệnh nặng ở bệnh nhân.

Khoảng 52,22% bệnh nhân có trình độ học vấn từ cao đẳng đến đại học, trong đó tỷ lệ nghề nghiệp là công chức, hành chính chiếm đến 34,33%, phù hợp với nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh ghi nhận nhóm nghề nghiệp làm công chức/viên chức chiếm tỷ lệ cao nhất là 35,86% Nông dân và công nhân chiếm tỷ lệ 15,21%, phản ánh mối liên hệ giữa nghề nghiệp và trình độ học vấn của bệnh nhân Trần Công Hoan (2008) trên 178 bệnh nhân VTC tại Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức nhận định, lối sống của người bệnh ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh, khi trước đó viêm tụy cấp phổ biến hơn ở nhóm bệnh nhân thu nhập thấp như nông dân và công nhân, thường liên quan đến rượu, giun chui đường mật Tuy nhiên, hiện nay, tỷ lệ VTC do giun chui đường mật đã giảm đáng kể, trong khi nguyên nhân từ chế độ ăn nhiều cholesterol đang gia tăng.

Tỷ lệ thói quen xấu gây bệnh VTC liên quan chủ yếu đến rượu bia, chiếm 41,67%, cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh với 56,58%, nơi đa số bệnh nhân đều đã sử dụng rượu lâu năm (trên 3 năm) và mỗi ngày trên 250 ml rượu Các nghiên cứu của Hoàng Đức Chuyên và Nguyễn Quang Hải cho thấy tỷ lệ có tiền sử uống rượu là 65,3% và 62,5%, trong khi Nguyễn Quang Nghĩa ghi nhận chỉ có 4,67% Nghiện rượu gây kết tủa protein trong ống tụy nhỏ, ảnh hưởng độc tố tới tụy, dẫn đến xơ hóa và teo tụy, đồng thời mỡ máu cũng đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của VTC do rượu Có các giả thuyết cho rằng rượu làm mất trương lực cơ thắt Oddi, gây dịch tràng trào vào ống tụy hoặc trào ngược dịch mật do tăng trương lực cơ Oddi, hoặc do giải phóng các gốc tự do và tăng tiết acetylcholin gây viêm tụy cấp Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng nghiện rượu là nguyên nhân chủ yếu gây VTC, với tỷ lệ người bệnh do nghiện rượu ngày càng tăng, như nghiên cứu của Steinberg W và Tenner S tại Mỹ năm 1993 xác định nguyên nhân do nhiễm rượu chiếm tới 61,4%, trong khi Siegleman đưa ra con số 55%.

Người bệnh mắc các bệnh lý như rối loạn chuyển hóa, tăng huyết áp, đái tháo đường và bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ lần lượt là 59,44%, 28,33%, 23,89% và 12,78% So với nghiên cứu của Hoàng Đức Chuyên, tỷ lệ rối loạn chuyển hóa ở các bệnh nhân này cao hơn với mức 25,3% Các con số này nhấn mạnh mối liên hệ và tầm quan trọng của việc kiểm soát rối loạn chuyển hóa trong phòng ngừa các bệnh lý tim mạch và đái tháo đường Việc xác định chính xác tỷ lệ mắc các bệnh lý này giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh cho thấy 45,65% bệnh nhân gặp rối loạn mỡ máu, trong khi Nguyễn Đàm Chính ghi nhận tỷ lệ tăng mỡ máu là 47,7% Tác giả Domiguez chỉ ra rằng tỷ lệ tăng mỡ máu có thể gặp ở tới 50% người bệnh VTC Thường xuyên, rối loạn mỡ máu trong VTC chủ yếu là tăng triglycerid, điều này phần nào giải thích tại sao nhiều trường hợp mắc VTC sau các bữa ăn thịnh soạn, nhiều rượu và thịt Theo Wu B.U, ở những bệnh nhân có mức triglycerid nền cao hơn bình thường, việc tiêu thụ nhiều rượu cùng với bữa ăn giàu đạm và mỡ thúc đẩy triglycerid trong máu tăng đột ngột, gây tắc nghẽn mạch máu và tụy, dẫn đến VTC Do đó, kiểm tra tình trạng mỡ máu là rất cần thiết, đặc biệt ở nam giới tuổi 40-49 có tiền sử nghiện rượu và thừa cân Một số trường hợp, máy đo không thể xác định triglycerid do huyết tương đục như sữa, nguyên nhân là triglycerid tăng cao dưới dạng chylomicron.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 68,33% bệnh nhân có tiền sử viêm tụy cấp trước đó, trong đó 43,33% từng mắc trên 2 lần và 25,0% từng trải qua 1 lần Đặc biệt, có 2 bệnh nhân bị viêm tụy cấp tới 6 lần Tỷ lệ tái mắc VTC của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Đặng Kiều Oanh, với 55,3% bệnh nhân có tiền sử VTC Trong số các trường hợp tái phát, có 23,91% bệnh nhân chỉ mắc 1 lần, còn một số bệnh nhân khác bị VTC đến 9, hoặc 7, hoặc 5 lần Phần lớn các trường hợp VTC trước đó đều không rõ nguyên nhân (75%), có thể do người bệnh điều trị tại tuyến dưới mà chưa phát hiện được nguyên nhân hoặc các yếu tố nguy cơ như nghiện rượu, tăng triglyceride máu, giun chui ống mật, sỏi mật hoặc viêm tụy mãn tính chưa được loại bỏ, góp phần làm tăng tỷ lệ tái phát của bệnh.

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân Viêm tụy cấp

Viện VTC là bệnh lý cấp cứu phổ biến, đặc trưng bởi triệu chứng đau bụng đa dạng và dữ dội, thể hiện tại chỗ và toàn thân Khi nhập viện, hầu hết bệnh nhân đều có các triệu chứng liên quan của viêm tụy cấp, trong đó đau bụng chiếm tỷ lệ rất cao, đạt 98,33% trong nghiên cứu của chúng tôi, cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh và gần bằng với tỷ lệ 100% của Trần Công Hoàn, cũng như 98,7% của Hoàng Đức Chuyên, cho thấy đây là dấu hiệu chính và đặc trưng của bệnh lý này.

Sau 3 ngày nhập viện, các triệu chứng của bệnh nhân đã giảm rõ rệt, với tỷ lệ đau bụng còn 1,11%, thấp hơn nhiều so với ban đầu, trong khi các triệu chứng khác như buồn nôn và nôn cũng giảm đáng kể, chỉ còn 2,78% và 1,67% vào ngày thứ 3, và hết khi ra viện Vị trí đau bụng thường bắt đầu ở thượng vị, quanh rốn hoặc hạ sườn trái, sau đó lan rộng ra khắp bụng, đặc biệt sau các bữa ăn uống thịnh soạn Đặc biệt, bệnh nhân mắc VTC do tác dụng của enzym tụy hoạt hóa gây tổn thương tụy và kích thích xung quanh, dẫn đến nôn mửa, nhưng tỉ lệ này thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đó như của Hoàng Đức Chuyên, Suvat Vôngphachăn, Nguyễn Thị Hằng và Bùi Văn Khích Các triệu chứng nôn thường xuất hiện ngay sau cơn đau đầu tiên và giảm dần sau 1-2 ngày điều trị, phản ánh hiệu quả của các biện pháp chăm sóc và điều trị hiện đại.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có đến 68,89% người bệnh VTC gặp phải tình trạng chướng bụng, thường biểu hiện bằng cảm giác căng cứng, đau ấn và phản ứng thành bụng hoặc phản ứng phúc mạc, dễ phân biệt với các bệnh lý cấp tính như chảy máu trong ổ bụng, tắc ruột hoặc viêm phúc mạc Chướng bụng có thể là do hơi hoặc dịch trong ổ bụng ở giai đoạn muộn, thường tập trung ở vùng trên rốn và gõ trong, khi có dịch trong ổ bụng thì gõ đục vùng thấp Kết quả của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu khác, như của Nguyễn Thị Hằng với tỷ lệ chướng bụng 66% và Nguyễn Quang Nghĩa với 69% Trong các ca bệnh nặng tại khoa hồi sức tích cực, chướng bụng gặp ở 86,8% (34/38), chủ yếu do giảm hoặc liệt ruột cơ năng gây khó chịu, khó thở, áp lực đẩy cơ hoành lên cao gây hạn chế thành ngực, làm tăng công thở và áp lực đường thở.

Chướng bụng thể hiện tăng áp lực ổ bụng do phù khoảng kẽ trong ruột và mạc treo, gây tổn thương nội mô mao mạch, thiếu máu cục bộ, và giải phóng cytokines làm giãn mạch, tăng tính thấm thành mạch, từ đó ảnh hưởng đến sự tưới máu cho các cơ quan Sự thiếu máu tổ chức thúc đẩy vòng xoắn của quá trình viêm, thoát mạch, phù ruột, tăng ALOB, và gây chướng bụng; do đó, chướng bụng có thể là yếu tố dự báo cho tình trạng nặng của VTC, nguy cơ biến chứng suy đa tạng, cũng như kéo dài thời gian nằm viện.

Trong VTC, bí trung đại tiện thường đi kèm với các triệu chứng như đau và chướng bụng, dễ gây nhầm lẫn với thủng tạng hoặc tắc ruột Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ này lên đến 61,11%, cao hơn so với các nghiên cứu của Suvat Vôngphachăn (44,1%) và Vũ Đức Định (48,3%) Đến ngày thứ 3 sau can thiệp, tỷ lệ bí trung đại tiện giảm còn 17,22%, chỉ còn 01 bệnh nhân duy nhất còn mắc phải tình trạng này tại thời điểm ra viện.

Triệu chứng vàng da là một dấu hiệu ít gặp, nhưng là yếu tố tiên lượng nặng của bệnh Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 7,22% bệnh nhân xuất hiện vàng da, và không còn ai còn triệu chứng này tại thời điểm ra viện Tỷ lệ này vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh, với 27,17% bệnh nhân mắc vàng da, cho thấy sự tiến triển tích cực trong quá trình điều trị và phục hồi của bệnh nhân.

Tràn dịch màng phổi trong VTC thường gặp phải tràn dịch phía bên trái, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng hô hấp của bệnh nhân Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ tràn dịch màng phổi là rất thấp (0,56%), khác biệt đáng kể so với nghiên cứu của Hoàng Đức Chuyên có 40 bệnh nhân, trong đó 20 bệnh phải chọc hút dịch màng phổi và 1 trường hợp nuôi cấy vi khuẩn bệnh viện.

Đau bụng cấp tính trong viêm tụy cấp thường khởi phát đột ngột và tiến triển nặng, với điểm đau trung bình theo thang điểm VAS là 5,23 ± 2,55, trong đó 43,89% người bệnh có mức đau dữ dội từ 7-9 điểm Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận điểm VAS trung bình là 6,59 ± 1,65, chủ yếu phân bố trong khoảng 5-7 điểm (61,84%), và 31,59% bệnh nhân bị đau ở mức 8-10 điểm Vị trí đau chủ yếu tập trung ở vùng thượng vị, có thể lan vòng ra sau lưng theo bờ sườn trái, với kiểu đau chói, đâm xuyên sâu lưng, liên tục không có khoảng nghỉ Tính chất đau khác nhau tùy theo nguyên nhân, như đau do sỏi mật thường có đặc điểm đột ngột, đau mạnh vùng thượng vị lan ra sau lưng, trong khi đau do rượu hoặc bệnh chuyển hóa thường không đột ngột và không dữ dội như vậy Do đó, việc khai thác đặc điểm cơn đau của người bệnh khi nhập viện rất quan trọng để chẩn đoán nguyên nhân và thể bệnh, từ đó đưa ra hướng xử lý phù hợp, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ tử vong của viêm tụy do sỏi mật là từ 10-30%.

4.2.2 Đặc điểm cận lâm sàng

Các triệu chứng chủ yếu của VTC gồm đau bụng thượng vị kéo dài, lan ra sau lưng, kèm theo các dấu hiệu như nôn, buồn nôn và bí trung tiện, là những biểu hiện thường gặp nhất Tuy nhiên, VTC có thể nhầm lẫn với các bệnh lý cấp cứu ngoại khoa khác như thủng dạ dày hoặc tắc ruột, do đó cần thực hiện các xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh chính xác để xác định đúng chẩn đoán và thể bệnh của VTC.

Xét nghiệm chẩn đoán bệnh và theo dõi tình trạng VTC được sử dụng hiệu quả để phát hiện sớm bệnh nặng hoặc theo dõi tiến triển của bệnh Các chỉ số xét nghiệm như amylase máu, amylase niệu, LDH giúp chẩn đoán sớm viêm tụy cấp (VTC) Trong những trường hợp bệnh nhân đến muộn hoặc chuyển tuyến đã có kết quả xét nghiệm ban đầu, cần đánh giá thêm các chỉ số như Ure máu, Canxi máu, Đường máu, khí máu động mạch, AST, Billirubin máu để tiên lượng tình hình đông máu, suy tạng và xác định nguyên nhân như sỏi mật Công thức máu, đặc biệt là số lượng bạch cầu, CRP, Hematocrit, là những chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ nhiễm trùng và tình trạng viêm trong bệnh nhân VTC.

Xét nghiệm Amylase máu là phương pháp thường được chỉ định hàng đầu trong chẩn đoán viêm tụy cấp (VTC) Theo nghiên cứu của chúng tôi, có 15,56% bệnh nhân có mức Amylase máu bình thường, trong khi 32,22% tăng và 52,22% tăng gấp 3 lần bình thường; nồng độ trung bình là 795,15 ± 593,05 mmol/l, thấp hơn so với các nghiên cứu trước như của Đặng Kiều Oanh và Nguyễn Đàm Chính Tăng Amylase máu gấp 3 lần có thể kết hợp với các triệu chứng điển hình kèm hình ảnh chẩn đoán hình ảnh của VTC để xác định chẩn đoán, nên đây là chỉ số quan trọng trong chẩn đoán Tuy nhiên, một số bệnh nhân vẫn có thể bị VTC mà không tăng Amylase máu, đặc biệt khi xét nghiệm này giảm trong vòng 48 giờ sau khi bệnh bắt đầu hoặc khi bệnh nhân tới viện muộn, điều này làm giảm tính đặc hiệu của xét nghiệm Ngoài ra, Amylase máu còn tăng trong nhiều bệnh cảnh khác như thủng dạ dày, nhồi máu mạc treo hay u buồng trứng, vú, phổi, do đó, chỉ dựa vào tăng Amylase máu không đủ để xác định chính xác chẩn đoán VTC, mà phải dựa trên phối hợp nhiều yếu tố chẩn đoán hình ảnh và lâm sàng.

Lipase máu chủ yếu được tổng hợp từ tế bào tuyến tụy, bên cạnh đó còn xuất phát từ gan và dạ dày Tăng lipase máu có thể liên quan đến các bệnh như tắc ruột, loét dạ dày, thủng ruột hoặc các bệnh lý đường mật cấp mà không kèm theo viêm tụy Trong viêm tụy cấp, mức độ lipase máu thường tăng muộn hơn so với amylase, đạt đỉnh sau 24 giờ và kéo dài từ 8 đến 14 ngày trước khi trở về bình thường Theo Hội nghị Atlanta (2012), mức lipase máu gấp 3 lần mức bình thường là dấu hiệu chẩn đoán quan trọng cho cả người lớn và trẻ em mắc viêm tụy cấp Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 24 người bệnh có mức lipase vượt quá 3 lần so với bình thường, tuy nhiên việc xét nghiệm lipase còn hạn chế về số lượng, ảnh hưởng đến độ chính xác trong chẩn đoán lâm sàng Theo các nghiên cứu, độ nhạy của xét nghiệm lipase trong chẩn đoán viêm tụy dao động từ 85% đến 100%, với Nelson đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu của lipase đạt từ 86% đến 100% Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ người có lipase gấp 3 lần mức bình thường là 31,11%, với nồng độ trung bình là 960,80 ± 1675,37 mmol/l.

Khoảng 4,44% bệnh nhân có hồng cầu tăng và 69,44% bệnh nhân có bạch cầu trên 10 G/l, với giá trị trung bình của hồng cầu là 7,84 ± 36,31 G/l và của bạch cầu là 13,78 ± 16,35 G/l Tăng bạch cầu kèm theo các triệu chứng mệt mỏi, sốt cao kéo dài là dấu hiệu gợi ý biến chứng của VTC, phản ánh tình trạng nhiễm trùng nặng và là yếu tố tiên lượng bệnh nặng cần can thiệp phẫu thuật Số lượng bạch cầu cao hơn so với nghiên cứu của Hoàng Đức Chuyên (12,38 ± 4,531 G/l), trong đó có 65,3% bệnh nhân có bạch cầu trên 10 G/l; bạch cầu trên 16 G/l theo Ranson đều cho thấy tiên lượng nặng Đặc biệt, trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có 1 bệnh nhân giảm bạch cầu dưới 4 G/l do nghiện rượu nặng, thể trạng suy dinh dưỡng với BMI=16 Việc theo dõi các chỉ số cận lâm sàng rất quan trọng giúp điều dưỡng và bác sĩ dự đoán chính xác tình trạng bệnh, đánh giá tiến triển và điều trị phù hợp; sau 3 ngày nằm viện, chúng tôi nhận thấy các chỉ số sinh hóa như amylase, bạch cầu, creatinine đều giảm rõ rệt, trong đó amylase và bạch cầu giảm còn 175,27 ± 182,22 mmol/l và 8,25 ± 6,21 G/l, creatinine giảm từ 72,46 ± 35,48 xuống 68,32 ± 15,69 U’mol/l, thấp hơn so với nghiên cứu của Hoàng Đức Chuyên ghi nhận trung bình 144,4 ± 146,20 U’mol/l và 36% bệnh nhân suy thận Suy thận trong VTC là hậu quả của tăng tính thấm thành mạch và dịch thoát vào khoang thứ 3, gây thiếu thể tích tuần hoàn và tăng ALOB, dẫn đến suy thận cấp; do đó, việc bù đủ dịch kịp thời là cần thiết để tránh chuyển từ suy thận chức năng sang suy thận thực tổn.

Chụp CLVT ở người bệnh VTC giúp chẩn đoán dễ dàng, chính xác và đặc hiệu hơn trong bệnh cảnh VTC Đây được coi là phương pháp chẩn đoán vàng nhờ độ chính xác cao trong việc xác định mức độ tổn thương tụy và các tổ chức xung quanh Hình ảnh VTC trên CLVT cho thấy sự khác biệt giữa thể phù nề và thể hoại tử, giúp đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh Theo đánh giá của Balthazar, các mức tổn thương tụy trên CT gồm B, C, D, trong đó mức B chiếm tỷ lệ cao nhất là 22,78%, còn mức E rất ít gặp Nghiên cứu của Hoàng Đức Chuyên cho thấy sau 72 giờ chụp, 84% bệnh nhân có tổn thương tụy mức C, D theo phân loại Balthazar, giúp tiên lượng chính xác hơn về diễn biến bệnh.

E trong đó 36 BN có tổn thương Balthazar E chiếm 48% [3] Hoại tử 1/3 tụy chiếm 10,56%; biến chứng không rõ chiếm 26,11%

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có tới 89,44% bệnh nhân mắc viêm tụy cấp phù nề, cao hơn so với tỷ lệ của nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh (66,34%) và thể hoại tử chiếm 33,36%, giúp xác định thể bệnh sơ bộ để dự đoán mức độ nặng của bệnh và hướng điều trị phù hợp Kết quả cho thấy tỷ lệ VTCHT thấp hơn so với các nghiên cứu của Trần Công Hoan (41,0%) và Nguyễn Đàm Chính (48,5%), cho thấy thể hoại tử vẫn còn ít phổ biến hơn thể phù nề, đồng thời là thể nhẹ, ít biến chứng hơn.

Kết quả chăm sóc và điều trị bệnh nhân Viêm tụy cấp

Thời gian điều trị trung bình là 7,17 ± 4,45 ngày, trong đó nam giới có thời gian điều trị trung bình ngắn hơn với 7,06 ± 4,39 ngày so với nữ giới, đạt mức 7,71 ± 4,76 ngày Thời gian điều trị kéo dài nhất là 32 ngày, trong khi mức ngắn nhất chưa được đề cập rõ ràng.

02 ngày Thời gian điều trị trung bình của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu của Hoàng Đức Chuyên 9,9 ± 6,49 ngày [3], nghiên cứu Nguyễn Quang Hải: 18,6 ± 5,4 ngày [6]

Trong số 180 bệnh nhân, chỉ có 8 trường hợp biến chứng nhẹ chiếm tỷ lệ 4,44%, và tất cả đều đã ổn định và ra viện thành công không có trường hợp tử vong Tỉ lệ điều trị thành công đạt 100%, vượt xa nghiên cứu của Hoàng Đức Chuyên, nơi có tỷ lệ tử vong do viêm trào cấp tính nặng là 8% và suy đa tạng là 9% Trong quá trình điều trị, có 4,44% bệnh nhân mắc viêm phổi nhẹ, tuy nhiên đều đã khỏi bệnh và ra viện an toàn Đặc biệt, tỷ lệ biến chứng viêm phổi trong số các bệnh nhân chỉ chiếm 5 trên 19 trường hợp, minh chứng cho hiệu quả điều trị tốt của phương pháp này.

Trong nghiên cứu này, có những bệnh nhân gặp các biến chứng nặng như suy thận (3/19), ARDS (2/19), nang giả tụy (1/19), và biến chứng áp xe vô khuẩn (1/19) Nghiên cứu của tác giả cho thấy số lượng biến chứng lớn có thể do phương pháp đối chứng và lựa chọn nhóm bệnh nhân nặng, dẫn đến kết quả điều trị không đạt như mong đợi.

Người bệnh VTC tại khoa Nội Tiêu hóa cần được chăm sóc và theo dõi cẩn thận để đảm bảo quá trình phục hồi hiệu quả Việc theo dõi chức năng sống hàng ngày, đánh giá mức độ đau bằng thang điểm VAS, chăm sóc giấc ngủ và dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị Đặc biệt, cung cấp dinh dưỡng phù hợp giúp người bệnh VTC nhanh chóng hồi phục và xuất viện sớm Bên cạnh đó, giáo dục sức khỏe góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và nâng cao ý thức tự chăm sóc cho người bệnh Tại Việt Nam, hiện chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá tình trạng chăm sóc người bệnh VTC, do đó, nghiên cứu của chúng tôi tập trung khảo sát phản hồi của người bệnh nhằm đánh giá chất lượng chăm sóc theo quy trình điều dưỡng từ khi nhập viện.

Theo dõi sự thay đổi các triệu chứng bất thường và dấu hiệu sinh tồn là yếu tố quan trọng để đánh giá tình trạng bệnh của mỗi người bệnh Quá trình theo dõi người bệnh VTC khi điều trị tại bệnh viện bao gồm nhận định, quan sát toàn thân và theo dõi các dấu hiệu sinh tồn như mạch, nhiệt độ, nhịp thở và huyết áp hàng ngày, giúp đánh giá huyết động của người bệnh Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh có mạch nhanh giảm từ 17,22% xuống còn 9,44% sau 48 giờ và tỷ lệ huyết áp tâm thu trên 140 mmHg giảm từ 27,22% xuống còn 13,33% sau 48 giờ, trong khi tỷ lệ sốt và sốt cao cũng giảm rõ rệt sau thời gian điều trị Ngoài ra, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 100% người bệnh được theo dõi chỉ số mạch, nhiệt độ, huyết áp hàng ngày, cùng với tỷ lệ cao theo dõi lượng nước tiểu (91,67%) và kiểm tra khi truyền dịch (98,89%), phù hợp với các nghiên cứu khác như của Bùi Văn Khích đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi liên tục các dấu hiệu sinh tồn Người bệnh cũng cần được theo dõi huyết áp, lượng nước tiểu 24h, dịch mất do nôn hay dẫn lưu dạ dày để đảm bảo quá trình điều trị hiệu quả Mặc dù 100% bệnh nhân được thực hiện nội quy, tỷ lệ người được hỏi thăm sức khỏe, giải đáp thắc mắc còn thấp (65,56%), tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi so sánh cao hơn một số công trình khác như của Đặng Kiều Oanh với 93,47% bệnh nhân được phổ biến nội quy và 89,47% được thăm hỏi kịp thời, điều này rất quan trọng để người bệnh nắm rõ quy định, hợp tác cùng nhân viên y tế Ngoài ra, 96,05% người bệnh được đánh giá phân loại bằng vòng đeo tay để xác định mức độ bệnh, nhưng việc quan tâm theo dõi sức khỏe còn hạn chế do tình hình dịch Covid-19 làm phân tán nguồn nhân lực, dẫn đến thiếu sự chăm sóc tận tình, cần được chú ý và cải thiện trong thời gian tới tại khoa Nội tiêu hóa.

Trong quá trình chăm sóc điều dưỡng, việc hướng dẫn người bệnh nhịn ăn trước khi nội soi dạ dày đạt tỷ lệ cao là 84,44%, và 100% bệnh nhân được phát thuốc cùng hướng dẫn sử dụng đúng cách Ngoài ra, 98,89% người bệnh được tư vấn giáo dục sức khỏe, phản ánh hiệu quả cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh chỉ có 44,73% bệnh nhân nhận được giúp đỡ vệ sinh hàng ngày Đúng quy trình phát thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc giảm đau đúng giờ đã được thực hiện cho 94,73% bệnh nhân VTC Bên cạnh đó, việc hỗ trợ bệnh nhân nặng vệ sinh cá nhân hàng ngày là cần thiết, đặc biệt khi không có người thân chăm sóc, vì bệnh nhân dễ tổn thương và thiếu sự quan tâm có thể gây ra phản hồi tiêu cực trong quá trình điều trị.

Người điều dưỡng cần đưa ra chẩn đoán điều dưỡng chính xác để lập kế hoạch chăm sóc phù hợp, bao gồm chế độ nghỉ ngơi giảm đau, chế độ ăn uống cho bệnh nhân và đánh giá tình hình giấc ngủ Chăm sóc dinh dưỡng đóng vai trò thiết yếu trong quá trình điều trị bệnh nhân VTC, với 96,67% bệnh nhân nhận được hỗ trợ dinh dưỡng và ăn uống Thêm vào đó, 95% bệnh nhân được giải thích rõ về chế độ ăn trong viện, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh, trong đó 82,89% bệnh nhân được hướng dẫn về chế độ ăn lý trị trong thời gian nằm viện Việc giải thích về quá trình nhịn ăn và các phương pháp cung cấp dinh dưỡng không qua đường miệng như truyền tĩnh mạch hoặc mở thông hỗng tràng là rất cần thiết, đặc biệt là để người nhà bệnh nhân nắm rõ và phối hợp tốt quá trình điều trị.

Có thể chia ra 2 thời kỳ nuôi dưỡng người bệnh VTC qua đường tĩnh mạch hoàn toàn và giai đoạn cho ăn ban đầu

Trong giai đoạn nhịn ăn của bệnh nhân viêm tụy cấp, chăm sóc qua đường tĩnh mạch đóng vai trò quan trọng để cung cấp nước, điện giải và năng lượng, giúp tụy nghỉ ngơi giảm tiết dịch và giảm đau Theo nghiên cứu của chúng tôi, 100% bệnh nhân được truyền dịch và xét nghiệm ngay khi nhập viện, với 61,67% giảm đau và 91,67% dùng kháng sinh đến ngày thứ 3, số lượng giảm dần đến khi xuất viện còn 13,89% sử dụng kháng sinh Nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch sử dụng các dung dịch như NaCl 0,9%, Glucose 5% hoặc 10%, Ringer lactat, và axit amin để đảm bảo dinh dưỡng thiết yếu; đối với tụy viêm nhẹ không biến chứng, dùng Dextrose 5% là đủ Trong quá trình truyền dịch, bác sĩ theo dõi áp lực tĩnh mạch trung ương, áp lực phổi và lưu lượng nước tiểu để điều chỉnh tốc độ truyền, đảm bảo huyết động ổn định trong 3-5 ngày, khi các chỉ số lâm sàng suy giảm Mặc dù nhịn ăn kéo dài gây khó khăn, bệnh nhân cần được giải thích và thuyết phục tuân thủ điều trị, tuy nhiên, nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch tốn kém Có xu hướng điều trị sớm bằng cách mở thông nuôi ăn qua hỗng tràng giúp bảo vệ niêm mạc ruột, giảm tiết dịch tụy và nội độc tố, đồng thời giảm chi phí hơn so với truyền tĩnh mạch Ngoài ra, bệnh nhân nặng cần theo dõi và điều trị dự phòng sốc, trong đó nghiên cứu cho thấy 97,22% bệnh nhân truyền dịch ≥ 4 lít trong ngày đầu nhập viện, với 29,44% cân bằng kiềm toan và 10,56% dùng thuốc vận mạch, tỷ lệ này giảm còn 32,22% truyền dịch ≥ 4 lít vào ngày thứ 3 và không còn bệnh nhân truyền dịch lớn vào ngày xuất viện.

Trong giai đoạn ăn trở lại sau truyền TTM, người bệnh bắt đầu ăn khi hết đau và chán ăn, với chế độ bắt đầu bằng nước đường rồi dần chuyển sang cháo nhằm giảm tiết dịch tụy Sau đó, người bệnh có thể ăn các thức ăn đặc hơn như súp, cơm nát, hoặc bột dinh dưỡng, bắt đầu với lượng khoảng 1/4-1/3 nhu cầu bình thường Trong thời gian này, người điều dưỡng cần theo dõi sát tình trạng của bệnh nhân khi truyền dịch, và nếu diễn biến tốt, chế độ dinh dưỡng có thể tăng lên đến 1800-2000 Kcal/ngày Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ người bệnh nhịn ăn trong ngày đầu nhập viện là 100%, trong khi tỷ lệ ăn qua sonde là 10,56%, và qua quá trình chăm sóc, tỷ lệ ăn nhẹ bằng cháo hoặc ăn bình thường đã tăng lên rõ rệt theo thời gian.

3 nằm viện ăn nhẹ chiếm 43,89%, ăn bình thường chiếm 31,67% Ngày ra viện không còn bệnh nhân nhịn ăn hoặc ăn qua sonde; ăn bình thường chiếm 82,22%

Việc theo dõi đánh giá giấc ngủ hàng ngày giúp bác sĩ có các can thiệp phù hợp để cải thiện chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân ngủ dưới 4 tiếng chỉ chiếm 0,56% vào ngày nhập viện, trong khi đó, 98,33% ngủ trong khoảng 4-6 tiếng và 1,11% ngủ trên 6 tiếng Đến ngày thứ 3, không còn bệnh nhân nào ngủ dưới 4 tiếng, và đến ngày ra viện, 100% bệnh nhân đã có giấc ngủ trên 6 tiếng, cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong cải thiện chất lượng giấc ngủ qua thời gian theo dõi.

Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng điểm cắt người bệnh được đánh giá

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân được đánh giá mức độ cải thiện sau điều trị dựa trên các triệu chứng lâm sàng và sự hài lòng với công tác chăm sóc Tỷ lệ bệnh nhân đạt mức “tốt” khi tất cả các triệu chứng lâm sàng giảm ≥ 80%, không có biến chứng VTC và không bị NKBV, thể hiện sự khỏi bệnh đáng kể và sự hài lòng cao về công tác chăm sóc của điều dưỡng viên Cụ thể, hoạt động chăm sóc cơ bản của điều dưỡng đạt tỷ lệ 88,33%, cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh với 44,73% bệnh nhân đánh giá chăm sóc hằng ngày Ngoài ra, 85,52% bệnh nhân nhận được chăm sóc dinh dưỡng phù hợp, và 82,89% được giải thích rõ ràng về chế độ dinh dưỡng, nhưng vẫn còn 56,57% bệnh nhân chưa tuân thủ chế độ dinh dưỡng đề ra Các bệnh nhân có mức độ cải thiện “khá” khi triệu chứng giảm hơn 50-70%, có biến chứng VTC trong quá trình điều trị hoặc nhiễm khuẩn bệnh viện, nhưng đều được điều trị khỏi NKBV và đều hài lòng về chăm sóc, dù ra viện hay chuyển tuyến dưới.

Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị, chăm sóc bệnh nhân VTC

Trong thang điểm Ranson, tuổi ≥ 55 là yếu tố dự đoán mức độ nặng của viêm tụy cấp Nam giới có tỷ lệ biến chứng cao hơn nữ giới, chiếm 75%, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Thời gian nằm viện trên 8 ngày liên quan đến tỷ lệ biến chứng cao hơn gấp 23,1 lần so với nhóm nằm viện ≤ 8 ngày (95% CI: 2,77–48,47, p < 0,001), cho thấy thời gian điều trị càng kéo dài thì biến chứng càng nhiều Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy hỗ trợ vệ sinh hàng ngày giúp bệnh nhân rút ngắn thời gian nằm viện (6,11 ± 3,15 ngày so với 7,08 ± 3,62 ngày, p < 0,05) Trong giai đoạn đầu điều trị, việc trao đổi, động viên người bệnh là điều cần thiết, đặc biệt khi bệnh nhân phải nhịn ăn lâu Đặc biệt, bệnh nhân có biến chứng nặng, uống rượu nhiều thường có thời gian điều trị trung bình dài hơn Viêm tụy cấp thể phù là dạng nhẹ, ít biến chứng và hồi phục nhanh hơn, trong khi thể hoại tử nhu mô tụy là bệnh cảnh nặng, có thể lan sang các tạng lân cận và gây hoại tử nhiều vùng, tổ chức tụy hoại tử càng nhiều thì bệnh càng nặng và thời gian nằm viện kéo dài Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ bệnh nhân viêm tụy cấp thể hoại tử có biến chứng lên đến 87,5%, cao gấp 9,3 lần so với thể phù (95% CI: 1,05–4,38, p < 0,001) Đặc điểm đau bụng của viêm tụy cấp thường khởi phát đột ngột, tiến triển cấp nặng; tại nhập viện, 43,89% bệnh nhân có mức điểm VAS đau từ 7–10, trung bình 5,23 ± 2,55 điểm Nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh ghi nhận mức điểm VAS trung bình là 7,16 ± 4,17 điểm khi nhập viện Các bệnh nhân có điểm VAS ≤ 6 đánh giá chăm sóc tốt chiếm 93,07%, cao hơn nhóm điểm VAS > 6, và tỷ lệ này cao gấp 1,69 lần so với nhóm điểm VAS cao hơn (95% CI: 1,08–3,26, p < 0,05), cho thấy mức độ đau ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc, riêng nghiên cứu của chúng tôi còn ghi nhận sự khác biệt rõ rệt về chăm sóc và mức độ đau so với nghiên cứu của Đặng Kiều Oanh. -Nâng cao chất lượng chăm sóc viêm tụy cấp và giảm đau hiệu quả với giải pháp hỗ trợ chuyên nghiệp từ [Draft Alpha](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha).

Ngày đăng: 16/08/2023, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Bùi Văn Kích (2014), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm tụy cấp nặng tại khoa Hồi sức cấp cứu - Bệnh viện Bạch Mai", Luận văn chuyên khoa II, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm tụy cấp nặng tại khoa Hồi sức cấp cứu - Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Bùi Văn Kích
Năm: 2014
12. Nguyễn Quang Nghĩa (1995), "Nghiên cứu điều trị viêm tụy cấp tại Bệnh viện Việt Đức", Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu điều trị viêm tụy cấp tại Bệnh viện Việt Đức
Tác giả: Nguyễn Quang Nghĩa
Năm: 1995
13. Đặng Kiều Oanh (2019), "Đánh giá thực hành chăm sóc người bệnh viêm tụy cấp của điều dưỡng tại khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Bạch Mai", Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng, Trường Đại học Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực hành chăm sóc người bệnh viêm tụy cấp của điều dưỡng tại khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Đặng Kiều Oanh
Năm: 2019
14. Nguyễn Gia Khánh Phạm Thị Minh Khoa (2008), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị viêm tụy cấp ở trẻ", Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị viêm tụy cấp ở trẻ
Tác giả: Nguyễn Gia Khánh Phạm Thị Minh Khoa
Năm: 2008
15. Nguyễn Tiến Thịnh (2018), "Quy trình chăm sóc bệnh nhân viêm tụy cấp ", Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, tr. 4-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình chăm sóc bệnh nhân viêm tụy cấp
Tác giả: Nguyễn Tiến Thịnh
Năm: 2018
16. Trần Thị Thuận (2007), "Điều dưỡng cơ bản I, " Nhà xuất bản Y học, tr. 35-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng cơ bản I
Tác giả: Trần Thị Thuận
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
17. Nguyễn Khánh Trạch (2004), "Viêm tụy cấp", Bệnh học Nội khoa-Dành cho đối tượng sau đại học tập 1, Nhà xuất bản Y học, tr. 143-155.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm tụy cấp
Tác giả: Nguyễn Khánh Trạch
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
18. F. Valverde-López, C. M. Wilcox và E. Redondo-Cerezo (2018), "Evaluation and management of acute pancreatitis in Spain", Gastroenterol Hepatol, 41(10), tr. 618-628 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation and management of acute pancreatitis in Spain
Tác giả: F. Valverde-López, C. M. Wilcox và E. Redondo-Cerezo
Năm: 2018
19. M. Al-Omran, Z. H. Albalawi, M. F. Tashkandi et al,. (2010), "Enteral versus parenteral nutrition for acute pancreatitis", Cochrane Database Syst Rev, 2010(1), tr. Cd002837 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Enteral versus parenteral nutrition for acute pancreatitis
Tác giả: M. Al-Omran, Z. H. Albalawi, M. F. Tashkandi
Nhà XB: Cochrane Database Syst Rev
Năm: 2010
20. P. P. Argueta, M. Salazar, I. Vohra et al,. (2021), "Thirty-Day Readmission Among Patients with Alcoholic Acute Pancreatitis", Dig Dis Sci, 66(12), tr. 4227-4236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thirty-Day Readmission Among Patients with Alcoholic Acute Pancreatitis
Tác giả: P. P. Argueta, M. Salazar, I. Vohra et al
Năm: 2021
21. P. A. Banks, T. L. Bollen, C. Dervenis et al,. (2013), "Classification of acute pancreatitis--2012: revision of the Atlanta classification and definitions by international consensus", Gut, 62(1), tr. 102-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Classification of acute pancreatitis--2012: revision of the Atlanta classification and definitions by international consensus
Tác giả: P. A. Banks, T. L. Bollen, C. Dervenis et al
Năm: 2013
22. S. W. Behrman và E. S. Fowler (2007), "Pathophysiology of chronic pancreatitis", Surg Clin North Am, 87(6), tr. 1309-24, vii Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pathophysiology of chronic pancreatitis
Tác giả: S. W. Behrman và E. S. Fowler
Năm: 2007
23. L. Birrell, M. McGuinness, B. Elliott et al,. (2021), "Effect of rurality and ethnicity in severity and outcomes in patients with acute pancreatitis", ANZ J Surg, 91(7-8), tr. 1558-1562 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of rurality and ethnicity in severity and outcomes in patients with acute pancreatitis
Tác giả: L. Birrell, M. McGuinness, B. Elliott et al
Năm: 2021
24. T. L. Bollen (2016), "Acute pancreatitis: international classification and nomenclature", Clin Radiol, 71(2), tr. 121-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acute pancreatitis: international classification and nomenclature
Tác giả: T. L. Bollen
Năm: 2016
25. S. Bolourani, L. Diao, D. A. Thompson et al,. (2020), "Risk Factors for Early Readmission After Acute Pancreatitis: Importance of Timely Interventions", J Surg Res, 252, tr. 96-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk Factors for Early Readmission After Acute Pancreatitis: Importance of Timely Interventions
Tác giả: S. Bolourani, L. Diao, D. A. Thompson et al
Năm: 2020
26. R. C. Bone (1994), "Sepsis and SIRS", Nephrol Dial Transplant, 9 Suppl 4, tr. 99-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sepsis and SIRS
Tác giả: R. C. Bone
Năm: 1994
27. M. C. Bulthuis, L. Boxhoorn, M. Beudel et al,. (2021), "Acute pancreatitis in COVID-19 patients: true risk?", Scand J Gastroenterol, 56(5), tr. 585-587 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acute pancreatitis in COVID-19 patients: true risk
Tác giả: M. C. Bulthuis, L. Boxhoorn, M. Beudel et al
Năm: 2021
28. L. Chen, Y. Huang, H. Yu et al,. (2021), "The association of parameters of body composition and laboratory markers with the severity of hypertriglyceridemia-induced pancreatitis", Lipids Health Dis, 20(1), tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The association of parameters of body composition and laboratory markers with the severity of hypertriglyceridemia-induced pancreatitis
Tác giả: L. Chen, Y. Huang, H. Yu et al
Năm: 2021
29. S. D. Colvin, E. N. Smith, D. E. Morgan et al,. (2020), "Acute pancreatitis: an update on the revised Atlanta classification", Abdom Radiol (NY), 45(5), tr. 1222-1231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acute pancreatitis: an update on the revised Atlanta classification
Tác giả: S. D. Colvin, E. N. Smith, D. E. Morgan et al
Năm: 2020
30. G. Cruciat, G. Nemeti, I. Goidescu et al,. (2020), "Hypertriglyceridemia triggered acute pancreatitis in pregnancy - diagnostic approach, management and follow-up care", Lipids Health Dis, 19(1), tr. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypertriglyceridemia triggered acute pancreatitis in pregnancy - diagnostic approach, management and follow-up care
Tác giả: G. Cruciat, G. Nemeti, I. Goidescu et al
Năm: 2020

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Giải phẫu tụy - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Hình 1.1 Giải phẫu tụy (Trang 15)
Bảng 3.1. Phân loại độ tuổi của đối tƣợng nghiên cứu - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.1. Phân loại độ tuổi của đối tƣợng nghiên cứu (Trang 47)
Bảng 3.2. Phân loại trình độ học vấn và nghề nghiệp - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.2. Phân loại trình độ học vấn và nghề nghiệp (Trang 48)
Bảng 3.4. Tiền sử bệnh lý kèm theo  Tiền sử bệnh lý kèm theo  Số lƣợng   Tỷ lệ (%) - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.4. Tiền sử bệnh lý kèm theo Tiền sử bệnh lý kèm theo Số lƣợng Tỷ lệ (%) (Trang 50)
Bảng 3.5. Theo dõi c c triệu chứng lâm sàng - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.5. Theo dõi c c triệu chứng lâm sàng (Trang 51)
Bảng 3.7. Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.7. Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu (Trang 52)
Bảng 3.6: Mức độ đau VAS của người bệnh VTC - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.6 Mức độ đau VAS của người bệnh VTC (Trang 52)
Bảng 3.8. Kết quả xét nghiệm công thức m u - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.8. Kết quả xét nghiệm công thức m u (Trang 53)
Bảng 3.9. Kết quả xét nghiệm CRP của người bệnh trong nghiên cứu - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.9. Kết quả xét nghiệm CRP của người bệnh trong nghiên cứu (Trang 53)
Bảng 3.14: Phân loại và tiếp đón người bệnh tại khoa - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.14 Phân loại và tiếp đón người bệnh tại khoa (Trang 59)
Bảng 3.15. Thực hiện y lệnh của B c sĩ - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.15. Thực hiện y lệnh của B c sĩ (Trang 60)
Bảng 3.16.  Chế độ dinh dưỡng của người bệnh viêm tụy cấp - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.16. Chế độ dinh dưỡng của người bệnh viêm tụy cấp (Trang 60)
Bảng 3.19: Hoạt động theo dõi cơ bản - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.19 Hoạt động theo dõi cơ bản (Trang 62)
Bảng 3.26. Mối liên quan giữa thể viêm tụy cấp và kết quả chăm sóc - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
Bảng 3.26. Mối liên quan giữa thể viêm tụy cấp và kết quả chăm sóc (Trang 66)
Hình ảnh CT theo thang điểm Balthazar: - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh viêm tụy cấp và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020 – 2021
nh ảnh CT theo thang điểm Balthazar: (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm