ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Khoa Nhi - Tiêu hóa - Dinh dưỡng - Lây Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
- Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ 06/ 2021 đến 12/ 2021.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu mô tả cắt ngang:
Z: hệ số tin cậy khoảng 95%, mức ý nghĩa α = 0,05, ta có Z (1- α/2) = 1,96 p: Tỷ lệ tham chiếu kết quả mong muốn đạt p = 68,5% (p = 0,685) (theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết) [44] d là độ tin cậy tương đối, chọn d = 8% Thay công thức trên tính được n = 129 Chúng tôi lựa chọn 131 BN tham gia nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu này bao gồm hai hình thức chính: chọn mẫu thuận tiện và lấy tất cả các bệnh nhân dưới 5 tuổi mắc TCC đủ tiêu chuẩn tham gia Các bệnh nhân được chọn tại Khoa Nhi Tiêu hóa - Dinh dưỡng - Lây, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn nhằm đảm bảo sự phù hợp và đại diện cho nhóm đối tượng nghiên cứu Việc áp dụng phương pháp này giúp tối ưu hóa quá trình thu thập dữ liệu, đảm bảo tính khách quan và chính xác của kết quả nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu
Các biến số nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhi dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp Các đặc điểm chung của trẻ và bà mẹ như tình trạng dinh dưỡng, các triệu chứng đi kèm và các yếu tố nguy cơ được phân tích để nâng cao nhận thức về chẩn đoán và quản lý bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ nhỏ Việc xác định các dấu hiệu này giúp cải thiện việc phát hiện sớm và điều trị hiệu quả, góp phần giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Trẻ mắc tiêu chảy thường có đặc điểm chung như độ tuổi, giới tính và số lần tiêu chảy khi nhập viện Hoàn cảnh xuất hiện tiêu chảy có thể khác nhau, từ việc trẻ đẻ non hoặc nhẹ cân đến sinh đủ tháng Tình trạng dinh dưỡng trước khi nhập viện cũng ảnh hưởng, bao gồm trẻ bú mẹ hoàn toàn, ăn dặm, hay tự ăn hỗn hợp Ngoài ra, việc xem xét các yếu tố này giúp định hướng chẩn đoán và điều trị phù hợp cho trẻ mắc tiêu chảy.
Đặc điểm chung của bà mẹ: trình độ học vấn, nghề nghiệp, tuổi mẹ, số con trong gia đình Đặc điểm lâm sàng
- Toàn trạng: tỉnh? kích thích, vật vã? li bì? hôn mê? mệt lả? co giật?
- Dấu hiệu sinh tồn: nhiệt độ, SPO2, nhịp thở: bình thường? nhanh? chậm?
- Đánh giá mắt: bình thường? trũng? rất trũng?
- Độ chun giãn da: nếp véo da mất nhanh? chậm? rất chậm?
- Dấu hiệu khát: uống bình thường? uống háo hức? không uống được?
- Mức độ mất nước: không mất nước, có mất nước, mất nước nặng?
- Ăn uống: bình thường? biếng ăn?
- Số lần tiêu chảy trong ngày?
- Tính chất phân: lỏng/ nhầy/ khuôn/ lẫn máu?
+ Công thức máu: Bạch cầu, Hematocrit => Tăng/ giảm/ bình thường? + Sinh hóa máu: Protein, Albumin, CRP => Tăng/ giảm/ bình thường? + Điện giải đồ: Na + , K + , Cl - => Tăng/ giảm/ bình thường?
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ được đánh giá theo tiêu chuẩn tăng trưởng WHO 2006 với 3 chỉ số theo Z-score [65]
-3SD: SDD mức độ nặng;
< -2SD: SDD mức độ vừa;
Từ -2SD đến +2SD: Bình thường
-3SD: SDD mức độ nặng;
< -2SD: SDD mức độ vừa;
Từ -2SD đến +2SD: Bình thường
-3SD: SDD mức độ nặng;
< -2SD: SDD mức độ vừa;
Từ -2SD đến +2SD: Bình thường;
Mục tiêu 2: Phân tích kết quả chăm sóc trẻ bệnh và một số yếu tố liên quan Đánh giá mất nước và bù đủ nước, điện giải
- Theo dõi dấu hiệu sinh tồn: có/ không?
- Đánh giá mất nước qua các dấu hiệu môi khô, mắt trũng, nếp véo da: có/ không?
- Cho trẻ uống ORS theo y lệnh: trẻ được uống đủ liều hay không?
- Cho trẻ uống thuốc theo y lệnh: trẻ được uống đủ liều hay không?
- Thực hiện truyền dịch theo y lệnh: có/ không?
- Cân trẻ hằng ngày: có/ không?
- Hướng dẫn bà mẹ tiếp tục cho trẻ ăn hoặc bú: có/ không?
- Hướng dẫn ăn lỏng dễ tiêu hóa, giàu chất dinh dưỡng, Vitamin như thịt, cá, sữa Chia nhỏ và ăn nhiều bữa trong ngày: có/ không?
- Theo dõi phân và tình trạng chướng bụng của trẻ: có/ không?
- Theo dõi đáp ứng của trẻ sau ăn (tránh nôn, trớ…): có/ không?
- Thực hiện kháng sinh theo y lệnh: có/ không?
Chăm sóc, phòng nguy cơ nhiễm khuẩn
- Hướng dẫn cách ly và kiểm soát nhiễm trùng: xử lý phân an toàn, vệ sinh dụng cụ ăn uống: có/ không?
- Hướng dẫn rửa tay bằng xà phòng sau khi đi ngoài, thay tã lót; trước khi làm thức ăn, cho trẻ ăn/ uống/ bú, chăm sóc trẻ: có/ không?
- Sử dụng tã bỉm 1 lần: có/ không?
Chăm sóc vùng da xung quanh hậu môn
- Thay tã thường xuyên sau mỗi lần đi ngoài: có/ không?
- Rửa mông cho trẻ sạch bằng nước và xà phòng rồi thấm khô do phân của trẻ bị tiêu chảy rất kích ứng da: có/ không?
- Bôi kem chống hăm sau mỗi lần đi ngoài hoặc khi phát hiện tổn thương da như hăm đỏ (bôi dày hơn bình thường) : có/ không?
- Theo dõi các dấu hiệu nhiễm nấm, tổn thương da vùng mông: có/ không?
Các hoạt động tư vấn, hướng dẫn, giáo dục sức khỏe cho bà mẹ
- Hướng dẫn tuân thủ nội quy của khoa phòng: có/ không?
- Hướng dẫn cách pha, sử dụng ORS và các dung dịch thay thế; cách theo dõi các dấu hiệu mất nước: có/ không?
- Hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 4 - 6 tháng đầu: có/ không?
- Tư vấn, cung cấp kiến thức về bệnh và phòng bệnh tiêu chảy: có/ không?
- Tư vấn sự cần thiết của việc tuân thủ dùng thuốc và tái khám sau khi ra viện: có/ không? Đánh giá mức độ chăm sóc trẻ
- Kết quả CSĐD được đánh giá tổng thể tốt: Khi các hoạt động chăm sóc được điều dưỡng thực hiện ≥ 80% tổng số chăm sóc
- Kết quả CSĐD được đánh giá tổng thể khá/ trung bình: Khi các hoạt động chăm sóc được điều dưỡng thực hiện < 80% tổng số chăm sóc
Các yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc điều dưỡng bao gồm đặc điểm chung của trẻ và bà mẹ như tuổi, giới tính, tình trạng dinh dưỡng, nơi cư trú, tuổi mẹ, số con trong gia đình và trình độ học vấn Ngoài ra, các yếu tố lâm sàng như mức độ mất nước, tình trạng dinh dưỡng hiện tại, các bệnh kèm theo, số ngày nằm viện, số lần sốt và đi ngoài cũng ảnh hưởng đáng kể đến kết quả chăm sóc Hiểu rõ các đặc điểm này giúp nâng cao hiệu quả trong công tác điều dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ và sức khỏe của bà mẹ.
Chỉ tiêu, tiêu chuẩn, kỹ thuật sử dụng trong phương pháp
2.5.1 Đặc điểm chung của trẻ và bà mẹ
- Tính tuổi: Tuổi của trẻ được tính bằng cách lấy ngày, tháng, năm vào viện trừ đi ngày, tháng, năm sinh của trẻ và phân loại theo WHO năm 1995 [2]
Trẻ từ 1-29 ngày: 0 tháng tuổi;
Trẻ từ 30-59 ngày: 1 tháng tuổi;
Trẻ từ X tháng 1 ngày đến X tháng 29 ngày: X tháng tuổi
Chia tuổi thành 4 nhóm: dưới 6 tháng, 7 - 12 tháng, 13 - 24 tháng, 25 - 60 tháng
- Giới tính: chia thành 2 nhóm là nam và nữ
Đẻ non: trẻ sinh ra ở thời điểm tuổi thai < 37 tuần;
Đặc điểm của bà mẹ
- Trình độ học vấn: là cấp học cao nhất mà bà mẹ có được tại thời điểm nghiên cứu, được chia thành 2 nhóm:
Nhóm không biết chữ/ tiểu học/ THCS (trung học cơ sở)/ THPT (trung học phổ thông);
Nhóm cao đẳng/ đại học, sau đại học
Nghề nghiệp là công việc hiện tại của bà mẹ tại thời điểm nghiên cứu, được xác định dựa trên nghề làm trong thời gian dài nhất trong năm Nếu bà mẹ làm nhiều nghề, nghề chính là nghề có thời gian làm việc nhiều nhất trong năm Các nghề nghiệp được phân thành hai nhóm chính, nhằm mục đích phân loại và phân tích chính xác hơn về hoạt động lao động của bà mẹ Điều này giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc nghề nghiệp và ảnh hưởng của chúng đến các yếu tố xã hội và kinh tế.
Công nhân, hành chính, viên chức;
Nông dân, nội trợ, lao động tự do
- Nơi cư trú: là nơi gia đình trẻ đang sinh sống Nơi cư trú được chia thành 2 nhóm:
Thành thị: nơi cư trú thuộc thành phố, thị xã, thị trấn;
Nông thôn: nơi cư trú ngoài những khu vực trên
- Tuổi mẹ chia thành 3 nhóm:
- Số con trong gia đình: 1 con, 2 con và từ 3 con trở lên
2.5.2 Đặc điểm lâm sàng của trẻ
- Toàn trạng: cần quan sát toàn trạng và hành vi của trẻ để đánh giá mức độ mất nước
Trẻ tỉnh táo bình thường khi chưa có biểu hiện mất nước trên lâm sàng;
Trẻ vật vã, kích thích, quấy khóc là có biểu hiện mất nước;
Trẻ lờ đờ, mệt lả, li bì, hôn mê khi bị mất nước nặng hoặc sốc do giảm khối lượng tuần hoàn [13], [22], [26]
- Dấu hiệu sinh tồn: Mạch, nhiệt độ, nhịp thở, SPO2
Mạch: Khi mất nước mạch quay và mạch bẹn nhanh hơn; có thể rất nhanh, yếu hoặc khó bắt nếu mất nước nặng [13], [22]
Thân nhiệt được xác định bằng cách đo nhiệt độ ngoại vi tại nách, theo quy định trong thực hành lâm sàng nhi khoa Trẻ được xem là sốt khi có mức thân nhiệt từ ≥ 37,5°C trở lên, giúp đánh giá chính xác tình trạng sốt ở trẻ em.
Trẻ thở nhanh khi gặp mất nước nặng hoặc toan chuyển hóa, là dấu hiệu cần được chú ý Khi trẻ khó thở, cha mẹ nên kiểm tra xem trẻ có ho không để phân biệt với viêm phổi, đặc biệt vì viêm phổi cũng có thể kèm theo tiêu chảy và phân lỏng Việc nhận biết chính xác các triệu chứng giúp xác định nguyên nhân và có phương pháp điều trị phù hợp.
Nếu trẻ < 2 tháng tuổi: thở nhanh là ≥ 60 nhịp trong 1 phút;
Nếu trẻ 2 tháng đến 12 tháng: thở nhanh là ≥ 50 nhịp trong 1 phút;
Nếu trẻ 12 tháng đến 5 tuổi: thở nhanh là ≥ 40 nhịp trong 1 phút [8]
Đánh giá mức độ mất nước [5], [8]
- Trẻ dưới từ 1 tuần đến 2 tháng tuổi:
Bảng 2.1 Đánh giá mức độ mất nước cho trẻ từ 1 tuần đến 2 tháng tuổi
Dấu hiệu mất nước Đánh giá tình trạng mấtnước Hai trong các dấu hiệu sau:
Ngủ li bì hay khó đánh thức;
Nếp véo da mất rất chậm
Hai trong các dấu hiệu sau:
Nếp véo da mất chậm
Không đủ các dấu hiệu để phân loại có mất nước hoặc mất nước nặng Không mất nước
Bảng 2.2 Đánh giá mức độ mất nước cho trẻ 2 tháng đến 5 tuổi
Dấu hiệu mất nước Phân loại mức độ mất nước Hai trong các dấu hiệu sau:
- Li bì hay khó đánh thức;
- Không uống được hoặc uống kém;
- Nếp véo da mất rất chậm
Hai trong các dấu hiệu sau:
- Khát, uống nước háo hức;
- Nếp véo da mất chậm
Không đủ các dấu hiệu để phân loại có mất nước hoặc mất nước nặng Không mất nước
- Trẻ từ 1 tuần 2 tháng tuổi:
Bảng 2.3 Đánh giá mức độ mất nước ở trẻ 1 tuần đến 2 tháng tuổi
Dấu hiệu mất nước Đánh giá tình trạng mất nước Hai trong các dấu hiệu sau:
- Ngủ li bì hay khó đánh thức;
- Nếp véo da mất rất chậm
Hai trong các dấu hiệu sau:
- Nếp véo da mất chậm
Không đủ các dấu hiệu để phân loại có mất nước hoặc mất nước nặng Không mất nước
Để xác định dấu hiệu khát ở trẻ, trước hết cần hỏi xem trẻ có đòi uống nước hay không Việc cho trẻ uống nước bằng cốc, chén hoặc thìa giúp dễ dàng quan sát và đánh giá mức độ mất nước của trẻ, từ đó đưa ra những biện pháp phù hợp để cung cấp đủ nước cho trẻ.
Uống bình thường: trẻ có uống nhưng không thích lắm hoặc từ chối uống thì chưa có dấu hiệu mất nước trên lâm sàng;
Khi trẻ uống nước, bé thường háo hức nắm lấy thìa, ghì cốc vào miệng và thể hiện sự vui vẻ hoặc khóc ngay khi quá trình uống bị gián đoạn Việc bé nhìn theo cốc nước bị lấy đi cũng cho thấy bé đang hiểu và mong muốn tiếp tục nhận đủ nước, điều này chứng tỏ bé có nhu cầu duy trì lượng nước hợp lý để tránh mất nước.
Trẻ có biểu hiện không uống được hoặc uống kém, khi đưa thìa nước vào miệng, trẻ không uống hoặc uống yếu ớt, mất nhiều thời gian mới lấy lại một ít nước Ngoài ra, nếu quan sát thấy trẻ li bì hoặc hôn mê, đây là dấu hiệu của mất nước nặng cần được cấp cứu ngay lập tức.
- Khám xác định độ chun giãn da: tại bụng hoặc đùi ta véo da thành nếp rồi bỏ ra [12]:
Nếp véo da mất nhanh: chưa có biểu hiện mất nước trên lâm sàng;
Nếp véo da mất chậm: có mất nước;
Nếp véo da mất rất chậm (trên 2 giây): mất nước nặng
Chú ý khi trẻ bụ bẫm, phù hoặc suy dinh dưỡng thể teo đét phải kết hợp với đánh giá các triệu chứng khác để đánh giá mất nước [22]
Hình 2.1 Cách khám dấu véo da
Theo Đinh Ngọc Đệ (2012), ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bị suy dinh dưỡng thể teo đét (SDD nặng), nếp véo da mất rất chậm ngay cả khi trẻ không bị mất nước, cho thấy tính không tin cậy cao trong việc đánh giá mức độ mất nước Tuy nhiên, nếp véo da vẫn được sử dụng để phân loại mức độ mất nước ở trẻ, mặc dù độ chính xác giảm ở những trẻ bụ bẫm hoặc phù hợp.
Mắt của trẻ có thể ở các mức độ khác nhau, từ bình thường, trũng nhẹ đến trũng sâu Để phân biệt chính xác, cần hỏi kỹ người thân xem mắt trẻ hiện tại có khác so với tình trạng bình thường hay không, nhằm tránh nhầm lẫn và chẩn đoán chính xác Việc nhận biết rõ trạng thái của mắt trẻ là rất quan trọng để xác định vấn đề về sức khỏe mắt một cách chính xác.
Mắt khô hay ướt? khi trẻ khóc to có nước mắt chảy ra không? (nếu mắt khô, khóc không có nước mắt là trẻ có mất nước)
Hình 2.2 Dấu hiệu mắt trũng
Nguồn: Theo Đinh Ngọc Đệ (2012) [12]
- Quan sát và thăm khám môi, miệng, lưỡi: nhìn xem môi có khô không? Dùng ngón tay sạch, khô sờ vào miệng và lưỡi trẻ rồi rút ra Nếu thấy khô, không có nước bọt là có biểu hiện mất nước [12]
Bụng chướng là tình trạng tăng kích thước vòng bụng do tích tụ nhiều hơi trong ruột, có thể xuất phát từ việc nuốt khí vào đường tiêu hóa hoặc khí được tạo ra trong lòng ruột do quá trình lên men của vi khuẩn.
Cân trẻ là bước quan trọng để đánh giá mức độ mất dịch do mất nước Khi trẻ mất dưới 5% trọng lượng cơ thể, chưa có dấu hiệu mất nước lâm sàng rõ ràng; mất từ 5-10% thể trọng cho thấy mất nước vừa hoặc nhẹ; và mất trên 10% trọng lượng cơ thể là dấu hiệu của mất nước nặng, cần can thiệp y tế kịp thời để tránh biến chứng nghiêm trọng.
Tiêu chảy đột ngột gây đi tiêu nhiều lần với phân nhiều nước, có thể lẫn nhầy máu và có mùi chua tanh nồng hoặc thối khẳn, ảnh hưởng đến sức khỏe của thú cưng Trường hợp lỵ thường xuất hiện phân có nước lẫn máu hoặc mùi hôi khó chịu, đòi hỏi chăm sóc kịp thời để tránh biến chứng Ngoài ra, một số trường hợp phân tự chảy ra do bị liệt cơ thắt hậu môn, gây khó khăn trong việc kiểm soát đại tiện và cần điều trị phù hợp.
Nôn thường xuất hiện trước triệu chứng đi tiêu phân lỏng từ vài giờ đến vài chục giờ, đặc biệt trong các trường hợp tiêu chảy do virus Rotavirus hoặc tụ cầu, gây mất nước, H+ và Cl- Việc xác định số lần nôn, lượng chất nôn mỗi lần, cũng như thành phần của chất nôn (toàn nước, thức ăn hay chất khác) là rất quan trọng vì lượng dịch ORS cần bù phụ phụ thuộc vào tổng lượng dịch mất đi qua tiêu chảy và nôn.
Biếng ăn có thể xuất hiện sớm hoặc khi trẻ bị tiêu chảy kéo dài nhiều ngày, khiến trẻ từ chối các thức ăn thông thường và chỉ thích uống nước Việc đánh giá chế độ ăn của trẻ, tình trạng bú sữa, cũng như các loại thuốc và dung dịch mà gia đình đã cho trẻ uống như ORS hoặc nước uống khác là rất quan trọng để xác định nguyên nhân và xây dựng phương pháp điều trị thích hợp.
Chướng bụng: thường do hạ Kali máu hoặc do dùng các thuốc cầm tiêu chảy không đúng chỉ định [22]
CRP: nồng độ tăng khi >10 mg/L được coi là có ý nghĩa bệnh lý viêm cấp và tăng khi trẻ có biểu hiện nhiễm trùng [48], [55]
Nồng độ Cl- máu: 96-106 mmol/ L hay mEq/ L;
Nồng độ K+ máu: 3,5 - 5,0 mEq/ L hay mmol/ L;
Nồng độ Na+ máu: 130 - 150 mEq/ L hay mmol/ L [5];
- Xét nghiệm soi phân tươi [13], [22]:
Tìm thấy Hồng cầu, Bạch cầu hạt trung tính trong phân chứng tỏ tiêu chảy xâm nhập do nhiễm khuẩn Shigella, Salmonella, Campylobacter;
Tìm ký sinh khuẩn: E Histolytica, kén và ký sinh trùng Giardia
Xét nghiệm soi phân được thực hiện tại khoa Xét nghiệm Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
Phân loại suy dinh dƣỡng trẻ em [36], [65], [66]
Theo WHO 2006, SDD trong cộng đồng được phân thành ba thể: SDD nhẹ cân, SDD thấp còi và SDD gầy còm Các tiêu chí đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ bao gồm cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), và cân nặng theo chiều cao (CN/CC), dựa trên khuyến cáo của WHO Thiếu dinh dưỡng được xác định khi các chỉ tiêu này thấp hơn 2 độ lệch chuẩn (< -2SD) so với tiêu chuẩn tăng trưởng của WHO 2006 Chỉ số Z-score được tính theo công thức chuẩn xác nhằm đánh giá mức độ chênh lệch so với tiêu chuẩn tăng trưởng quốc tế.
Kích thước đo được - số trung bình của quần thể chuẩn
Giá trị SD của quần thể chuẩn
Khi CN/ T Z-score < -2SD: SDD thể nhẹ cân;
Khi CC/ T Z-score < -2SD: SDD thể thấp còi;
Bảng 2.3 TTDD của trẻ được đánh giá theo tiêu chuẩn tăng trưởng
WHO 2006 với 3 chỉ số theo Z-score
Tình trạng SDD Chỉ số Z-score Phân loại
< -3SD SDD mức độ nặng
< -2SD SDD mức độ vừa
Từ -2SD đến + 2SD Bình thường
< -3SD SDD mức độ nặng
< -2SD SDD mức độ vừa
Từ -2SD đến + 2SD Bình thường
Cân nặng/ Chiều cao (WHZ)
< -3SD SDD mức độ nặng
< -2SD SDD mức độ vừa
Từ -2SD đến + 2SD Bình thường
Xét nghiệm hóa dinh dƣỡng:
Phương pháp thu thập số liệu và đánh giá
Xây dựng bệnh án nghiên cứu bao gồm việc thiết lập bộ câu hỏi phỏng vấn để thu thập thông tin chung về trẻ và bà mẹ, đồng thời mô tả các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng và quá trình điều trị của bệnh nhân Bên cạnh đó, bệnh án còn ghi rõ các hoạt động chăm sóc, kết quả chăm sóc của điều dưỡng nhằm đảm bảo dữ liệu đầy đủ và chính xác cho nghiên cứu.
Trong bài viết này, chúng tôi đánh giá các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và khả năng đáp ứng điều trị của trẻ tại bốn thời điểm nghiên cứu: ngày 1, ngày 2, ngày 3 và ngày 5 Các chỉ số chăm sóc sốc (TTDD) của trẻ được đo lường dựa trên các tiêu chí Z-score liên quan đến các thông số như chiều cao/ thể tích (CN/T), cân nặng/ thể tích (CC/T), và chiều cao/ cân nặng (CN/CC), giúp đánh giá mức độ phục hồi và hiệu quả điều trị qua từng giai đoạn.
Kỹ năng phỏng vấn là yếu tố quan trọng giúp thu thập thông tin chính xác và hiệu quả trong quá trình điều tra Trước khi bắt đầu phỏng vấn, cần giải thích rõ ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của cuộc điều tra để người nhà bệnh nhân hiểu rõ mục đích Đồng thời, thái độ ân cần, quan tâm và đồng cảm sẽ tạo sự tin tưởng, giúp người nhà BN hợp tác tích cực hơn trong quá trình thu thập dữ liệu.
Phân tích và xử lý số liệu
Kiểm tra việc điền thông tin vào phiếu điều tra hàng ngày;
Kiểm tra, đối chiếu trước khi nhập số liệu
- Tiến hành nhập số liệu bằng phần mềm Enter data của chương trình Epi Info
Trong quá trình xử lý số liệu, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để thực hiện các phép tính thống kê mô tả và phân tích dữ liệu một cách chính xác Độ tin cậy của các kết quả thống kê được xác định với mức sai số α = 0,05, đảm bảo tính khách quan và đáng tin cậy của nghiên cứu.
Sử dụng phép toán thống kê: test khi bình phương, Fisher’s Exact test, T test.
Đạo đức nghiên cứu
Dự án nghiên cứu bắt đầu sau khi được Hội đồng phê duyệt đề cương của Trường Đại học Thăng Long và nhận được sự chấp thuận từ Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn cùng các phòng ban liên quan, đảm bảo tính hợp pháp và phù hợp với quy định của các bên liên quan.
Vì đối tượng nghiên cứu là trẻ em dưới 5 tuổi, việc cung cấp thông tin đầy đủ về ý nghĩa và mục đích của nghiên cứu cho cha mẹ hoặc bà mẹ là rất quan trọng để họ hiểu rõ và đồng thuận Cha mẹ hoặc bà mẹ tham gia nghiên cứu sẽ ký vào bản chấp thuận, thể hiện sự đồng ý của mình, đồng thời họ có quyền rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào để đảm bảo quyền lợi và sự tự do lựa chọn.
Cha mẹ (hoặc bà mẹ) cần được tư vấn, hướng dẫn và hỗ trợ trong việc chăm sóc, xử lý và điều trị khi gặp các vấn đề về sức khỏe trong quá trình nghiên cứu, nhằm đảm bảo sức khỏe tốt cho trẻ.
Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu gặp khó khăn trong việc thu thập dữ liệu do ảnh hưởng của dịch Covid-19, dẫn đến hạn chế về cỡ mẫu và tiếp cận đối tượng nghiên cứu Việc tiếp xúc trực tiếp với cha mẹ hoặc bà mẹ bị hạn chế, gây cản trở trong khai thác thông tin chính xác về hành vi và cách chăm sóc Đây là một nghiên cứu định lượng, tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về hành vi và ứng xử chăm sóc, cần kết hợp cùng nghiên cứu định tính, nhưng do hạn chế về thời điểm thực hiện, phần này chưa thể triển khai Những yếu tố này đều là những hạn chế của nghiên cứu, ảnh hưởng đến độ đầy đủ và chính xác của dữ liệu thu thập được.
BN dưới 5 tuổi vào viện được chẩn đoán tiêu chảy cấp
Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn tại các thời điểm nghiên cứu
- Đặc điểm chung của trẻ
- Đặc điểm chung của bà mẹ
- Chăm sóc điều dưỡng tại các thời điểm
- Một số yếu tố liên quan tới kết quả chăm sóc
- Đánh giá quá trình CSĐD
- Lượng giá chăm sóc điều dưỡng
Một số yếu tố liên quan tới kết quả chăm sóc điều dưỡng
- Đặc điểm cận lâm sàng
- Các hoạt động chăm sóc
Các thời điểm nghiên cứu gồm:
- Ngày thứ nhất sau điều trị, chăm sóc;
- Ngày thứ 2 sau điều trị, chăm sóc;
- Ngày thứ 3 sau điều trị, chăm sóc;
- Ngày thứ 5 sau điều trị, chăm sóc
Mời gia đình người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Biểu đồ 3.8: Số lần tiêu chảy khi vào viện (n = 131)
Trong tổng số trẻ nhập viện, có 100% trẻ bị tiêu chảy với phân lỏng hoặc tóe nước Khoảng 55,7% trẻ đi ngoài từ 3 đến 5 lần mỗi ngày, trong khi đó 30,5% trẻ đi ngoài từ 6 đến 9 lần, và 13,7% trẻ đi ngoài hơn 10 lần hàng ngày Đây là những số liệu đáng chú ý về mức độ nặng của tiêu chảy ở trẻ em nhập viện.
Biểu đồ 3.9: Triệu chứng lâm sàng khác khi vào viện (n = 131)
Khoa học cho thấy, có đến 70,2% trẻ nhập viện đều có sốt, là triệu chứng phổ biến nhất Đồng thời, tỷ lệ trẻ gặp phải tình trạng mất nước và kém ăn khi nhập viện lần lượt chiếm 61,1% và 64,1%, phản ánh mức độ nghiêm trọng của bệnh Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ bị co giật khi vào viện rất thấp, chỉ chiếm 3,8%, trong khi đó, triệu chứng nôn ở trẻ khi nhập viện lại cao hơn, đạt 31,3%.
Sốt Mất nước Kém ăn Nôn Co giật
Bảng 3.4: Đánh giá dấu hiệu sinh tồn và toàn trạng của trẻ
Từ ngày thứ 3 trở đi, một số bệnh nhi đã tiến triển tốt rõ rệt, tiêu chảy giảm, tình trạng sức khỏe ổn định dần và bệnh nhân được ra viện Điều này cho thấy quá trình phục hồi tích cực sau điều trị, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe trẻ em infectious Sự cải thiện rõ ràng của các bệnh nhi sau thời gian điều trị là minh chứng cho hiệu quả của các phương pháp chăm sóc và điều trị đã áp dụng, đồng thời liên quan đến quá trình theo dõi và quản lý bệnh lý tiêu chảy ở trẻ.
Trong quá trình điều trị, dấu hiệu sinh tồn bất thường và các triệu chứng toàn thân của bệnh nhân giảm dần theo thời gian nằm viện Ngày 1, có 43,5% trẻ em xuất hiện các triệu chứng nhẹ như kích thích, quấy khóc hoặc li bì, hôn mê, trong khi 47,3% trẻ sốt, và chỉ 2,3% trẻ thở nhanh Đến ngày thứ 5, tất cả các trẻ đều đã hồi phục tỉnh táo, không còn trẻ nào sốt cao và tất cả đều thở bình thường, chứng tỏ quá trình điều trị đạt hiệu quả tích cực.
Bảng 3.5: Đánh giá t nh trạng mất nước của trẻ trong thời gian nằm viện Đánh giá tình trạng mất nước
Mắt rất trũng 6 4,6 0 0 0 0 0 0 Đánh giá độ chun giãn da
Dấu hiệu mất nước của bệnh nhân cải thiện rõ rệt theo thời gian nằm viện Ngày đầu tiên, có đến 48,8% bệnh nhân hiện tượng mắt trũng, 2,3% gặp khó khăn trong việc chun giãn da, và 21,4% người có cảm giác khát hoặc không uống được nước, với tổng số bệnh nhân mất nước chiếm tỷ lệ 61,1% Đến ngày thứ 5, các dấu hiệu này đã giảm đáng kể, bệnh nhân không còn mắt trũng, không còn cảm giác khát nước, và chun giãn da trở lại bình thường, cho thấy sự phục hồi của tình trạng mất nước.
Bảng 3.6: Đánh giá tình trạng tiêu hóa của trẻ trong thời gian nằm viện Đánh giá tình trạng tiêu hóa
Thời điểm nghiên cứu Ngày 1 n = 131
Ngày 5 n = 116 n % n % n % n % Ăn uống của trẻ Ăn bình thường 82 62,6 104 79,4 116 92,1 111 95,7 Biếng ăn, chán ăn 49 37,4 27 20,6 10 7,9 5 4,3
Vào ngày đầu, có 37,4% bệnh nhân biếng ăn, 17,6% bị chướng bụng, và 100% đều đi phân lỏng hoặc nhầy, trong đó 11,4% có máu trong phân Đến ngày thứ 5, số bệnh nhân không còn đi ngoài phân lỏng tăng lên 71,6%, chỉ còn 4,3% biếng ăn, 7,8% chướng bụng, và 1,5% còn đi ngoài có máu trong phân, cho thấy sự cải thiện rõ rệt về triệu chứng sau quá trình điều trị.
3.2.2 Đặc điểm cận lâm sàng
Bảng 3.7: Chỉ số Hematocrit (Hct)
Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%) Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)
Ngày đầu nhập viện, có 93 bệnh nhân xét nghiệm Hct với tỷ lệ Hct tăng chiếm 71%, trung bình Hct là 0,34 ± 0,04, cho thấy tình trạng tăng Hct phổ biến khi mới vào viện Đến ngày thứ 5, số bệnh nhân cần xét nghiệm Hct giảm còn 28, trong đó phần lớn trẻ em (71,4%) có Hct máu bình thường, với trung bình Hct là 0,33 ± 0,05, cho thấy khả năng cải thiện hoặc ổn định trong quá trình điều trị.
Bảng 3.8: Chỉ số Bạch cầu
Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%) Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Ngày đầu vào viện có 94 BN xét nghiệm Bạch cầu, tỷ lệ trẻ Bạch cầu tăng là
47,9% (Bạch cầu trung bình: 10,3 ± 5,1) Ngày 5 chỉ còn 28 BN cần xét nghiệm Bạch cầu trong đó 57,1% bình thường (Bạch cầu trung bình là 10,93 ± 5,54)
Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%) Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)
Trong ngày nhập viện, có 87 bệnh nhân được xét nghiệm CRP, trong đó 63,2% có mức CRP máu tăng cao hoặc rất cao, trung bình là 37,6 ± 53,2 Đến ngày thứ 5, số bệnh nhân cần xét nghiệm CRP giảm còn 23, trong đó 39,1% có CRP máu bình thường và 60,9% có CRP tăng, với mức trung bình giảm xuống còn 19,2 ± 37,7 Điều này cho thấy xu hướng giảm CRP qua thời gian, phản ánh tiến triển tích cực của bệnh nhân.
Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%) Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Ngày đầu vào viện có 75 BN xét nghiệm Natri máu trong đó có 32% hạ
Trong quá trình điều trị, nồng độ natri máu trung bình của bệnh nhân đã được cải thiện rõ rệt Chỉ còn 18 bệnh nhân cần xét nghiệm natri máu vào ngày thứ 5, trong đó hơn 94,4% bệnh nhân đã có natri máu trở về mức bình thường với giá trị trung bình là 137,1 ± 2,2 mmol/L Điều này cho thấy quá trình điều trị đã hiệu quả trong điều chỉnh nồng độ natri, góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.
Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%) Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)
Trong ngày đầu nhập viện, có 75 bệnh nhân được xét nghiệm Kali máu, trong đó 6,7% bệnh nhân có mức Kali máu giảm (trung bình là 4,2 ± 0,6) Đến ngày thứ 5, số bệnh nhân cần xét nghiệm Kali máu giảm còn 18, và phần lớn (94,4%) các bệnh nhân đều có chỉ số Kali máu bình thường, với mức trung bình là 4,54 ± 0,64.
Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%) Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)
Vào ngày đầu nhập viện, có 75 bệnh nhân được xét nghiệm clo máu, trong đó 38,7% trường hợp ghi nhận mức clo máu tăng, trung bình là 105,1 ± 3,1 mmol/L Sau 5 ngày điều trị, số bệnh nhân cần xét nghiệm clo máu giảm còn 18, và tỷ lệ clo máu bình thường chiếm 61,1%, trong khi tỷ lệ clo máu tăng còn 38,9%, trung bình là 105,2 ± 2,47 mmol/L.
Bảng 3.13: Xét nghiệm phân khi nằm viện
Xét nghiệm phân Số lƣợng (n = 68) Tỷ lệ %
Nhận xét: Trong thời gian nằm viện có 68 BN được chỉ định làm xét nghiệm soi phân
Trong đó, 30,9% BN có Bạch cầu trong phân và 16,2% BN có Hồng cầu trong phân
3.2.3 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ khi vào viện
Biểu đồ 3.10: Tình trạng SDD thể nhẹ cân của trẻ (cân nặng/tuổi - Z-score)
Nhận xét: Đánh giá tình trạng SDD thể nhẹ cân của 131 BN tham gia nghiên cứu có
64,1% BN có TTDD bình thường; 29% BN SDD mức độ vừa và 6,9% BN SDD mức độ nặng (cân nặng/tuổi Z-score)
Biểu đồ 3.11: Tình trạng SDD thể thấp còi của trẻ (chiều cao/ tuổi - Z-score)
Nhận xét: Đánh giá tình trạng SDD thể thấp còi của 131 BN tham gia nghiên cứu có
65,6% BN có TTDD bình thường; 26% BN SDD mức độ vừa và 8,3% BN SDD mức độ nặng (chiều cao/ tuổi - Z-score)
SDD mức độ nặng SDD mức độ vừa Bình thường
SDD mức độ nặng SDD mức độ vừa Bình thường
Biểu đồ 3.12: Tình trạng SDD thể gầy còm của trẻ (cân nặng/ chiều cao - Z-score)
Nhận xét: Đánh giá tình trạng SDD thể gầy còm của 131 BN tham gia nghiên cứu có
56,5% BN có TTDD bình thường; 26,7% BN SDD mức độ vừa; 4,6% BN thừa cân, 5,3% BN béo phì và 6,9% BN SDD mức độ nặng (cân nặng/Chiều cao Z-score)
Bảng 3.14: Xét nghiệm Protein huyết tương
Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%) Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Ngày đầu vào viện có 47 BN xét nghiệm Protein trong đó 34,04% BN có
Trong quá trình theo dõi, lượng protein máu của bệnh nhân giảm rõ rệt, trung bình là 61,8 ± 10,4 g/L, và ngày thứ 5 chỉ còn 14 bệnh nhân cần xét nghiệm protein máu Trong số này, tỷ lệ bệnh nhân có protein máu bình thường đạt 57,1%, trong khi 42,9% còn lại ghi nhận mức protein máu giảm Các kết quả xét nghiệm cho thấy protein máu trung bình giảm còn 58,3 ± 18,26 g/L, phản ánh tình trạng suy giảm protein trong huyết thanh của bệnh nhân.
SDD mức độ nặng SDD mức độ vừa Bình thường Thừa cân Béo phì
Bảng 3.15: Xét nghiệm Albumin máu
Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%) Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)
Trong ngày đầu nhập viện, có 53 bệnh nhân được xét nghiệm Albumin, trong đó 15,1% trẻ có mức Albumin máu giảm, với giá trị trung bình là 40,1 ± 4,1 Đến ngày thứ 5, số lượng bệnh nhân cần xét nghiệm Protein máu giảm còn 15, trong đó 46,7% trẻ có protein máu bình thường và 53,3% trẻ có giảm protein máu, với giá trị trung bình Albumin là 36,5 ± 4,89 Quản lý xét nghiệm Albumin và protein máu giúp đánh giá chính xác tình trạng dinh dưỡng và chức năng gan của bệnh nhân.
Các hoạt động chăm sóc trẻ tiêu chảy
3.3.1 Đánh giá mất nước và bù đủ nước, điện giải
Bảng 3.16: Đánh giá mất nước và bù đủ nước, điện giải
Các hoạt động chăm sóc điều dƣỡng
Việc theo dõi dấu hiệu sinh tồn là rất quan trọng, với 131 trường hợp (100%) thực hiện đúng quy trình Đánh giá mất nước qua các dấu hiệu như môi khô, mắt trũng, nếp véo da được thực hiện với tỷ lệ cao, đạt 88 trường hợp (67,2%) Việc cho trẻ uống đủ ORS theo chỉ định cũng được tuân thủ, đạt 107 trường hợp (81,7%) Truyền dịch theo y lệnh cho trẻ đạt tỷ lệ 53 trường hợp (40,4%) Ngoài ra, cân trẻ hàng ngày là một yếu tố quan trọng, với 66 trẻ (50,4%) được cân đều đặn để theo dõi tình trạng sức khỏe.
Các triệu chứng mất nước được khám và ghi nhận ở hầu hết các bệnh nhân trong suốt quá trình nghiên cứu, cho thấy tình trạng mất nước là rất phổ biến ở nhóm này Kết quả theo dõi DHST (dấu hiệu sinh tồn) cho thấy tất cả trẻ đều được chăm sóc trong quá trình nằm viện, đảm bảo an toàn và theo dõi sát sao Vào ngày đầu tiên, có đến 81,7% bệnh nhân cần sử dụng ORS để bù dịch, trong khi 40,4% trẻ cũng cần được hỗ trợ bổ sung dịch truyền để duy trì cân bằng nước và điện giải.
BN cần truyền dịch theo y lệnh tới ngày 5 không còn trẻ nào cần bù dịch bằng uống ORS và truyền dịch
3.3.2 Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ tiêu chảy
Bảng 3.17: Tư vấn dinh dưỡng cho bà mẹ
Các hoạt động chăm sóc điều dƣỡng
Hướng dẫn bà mẹ tiếp tục cho trẻ ăn hoặc bú mẹ 83 63,4 75 57,3 87 69,0 94 81,0
Hướng dẫn bà mẹ cho trẻ ăn lỏng dễ tiêu hóa, giàu chất dinh dưỡng, vitamin như thịt, cá, sữa
Chia nhỏ và ăn nhiều bữa trong ngày
Theo dõi phân và tình trạng chướng bụng của trẻ 131 100 131 100 126 100 106 91,4
Theo dõi đáp ứng của trẻ sau ăn (tránh nôn trớ) 93 71,0 63 48,1 73 57,9 80 69,0
Ngày đầu nhập viện, hầu hết các bà mẹ đều được hướng dẫn tiếp tục cho trẻ ăn hoặc bú, đảm bảo chế độ dinh dưỡng phù hợp với lứa tuổi và điều kiện kinh tế gia đình Trẻ được các điều dưỡng theo dõi phản ứng sau ăn để phòng tránh nôn trớ, đồng thời tỷ lệ trẻ được theo dõi phân và tình trạng chướng bụng đạt trên 90% tại các thời điểm nghiên cứu, giúp đảm bảo sức khỏe và sự phục hồi hiệu quả cho trẻ.
3.3.3 Chăm sóc phòng nguy cơ nhiễm khuẩn và chăm sóc vùng da xung quanh hậu môn
Bảng 3.18: Chăm sóc phòng nguy cơ nhiễm khuẩn và vùng da xung quanh hậu môn
Các hoạt động chăm sóc điều dƣỡng
Thực hiện thuốc kháng sinh theo y lệnh 32 24,4 24 18,3 17 13,5 17 14,7
Hướng dẫn cách ly và kiểm soát nhiễm trùng: xử lý phân an toàn, vệ sinh dụng cụ ăn uống 113 86,3 78 59,5 34 27,0 67 57,8
Hướng dẫn rửa tay bằng xà phòng sau khi đi ngoài, thay tã lót; trước khi làm thức ăn, cho trẻ ăn/ uống/ bú, chăm sóc trẻ
Sử dụng tã bỉm 1 lần 127 96,9 117 89,3 80 63,5 78 67,2
Để giữ vùng mông của trẻ sạch sẽ, cần rửa nhẹ nhàng bằng nước và xà phòng phù hợp, sau đó thấm khô kỹ càng Sau mỗi lần đi ngoài hoặc khi phát hiện triệu chứng tổn thương da như hăm đỏ, cha mẹ nên bôi kem chống hăm để bảo vệ làn da bé, giúp ngăn ngừa viêm nhiễm và giữ cho vùng kín của trẻ luôn khỏe mạnh.
Trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, tỷ lệ sử dụng kháng sinh theo chỉ định y lệnh giảm dần từ ngày 1 đến ngày 5 Ngày đầu nhập viện, hầu hết các bà mẹ được hướng dẫn kỹ lưỡng về vệ sinh tay, xử lý phân của trẻ và vệ sinh dụng cụ ăn uống cùng các thao tác chăm sóc vùng da quanh hậu môn Các ngày tiếp theo, đặc biệt là ngày 2, 3 và 5, các bà mẹ vẫn tiếp tục nhận được sự hướng dẫn và nhắc nhở từ điều dưỡng nhằm duy trì vệ sinh tốt và kiểm soát nhiễm trùng hiệu quả.
3.3.4 Các hoạt động tư vấn, hướng dẫn, giáo dục sức khỏe cho bà mẹ
Bảng 3.19: Các hoạt động tư vấn, hướng dẫn, giáo dục sức khỏe
Các hoạt động chăm sóc điều dƣỡng
Hướng dẫn tuân thủ nội quy của bệnh viện 103 78,6 121 92,4 117 92,9 98 84,5
Hướng dẫn cách pha, sử dụng ORS và các dung dịch thay thế; cách theo dõi các dấu hiệu mất nước
Hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 4-6 tháng đầu 85 64,9 45 34,3 31 24,6 63 54,3
Tư vấn, cung cấp kiến thức về bệnh và phòng bệnh tiêu chảy 86 65,6 35 26,7 53 42,1 46 39,7
Tư vấn sự cần thiết của việc tuân thủ việc dùng thuốc, tái khám sau ra viện 0 0 28 21,4 33 26,2 79 68,1
Hầu hết các bà mẹ được điều dưỡng hướng dẫn tuân thủ nội quy bệnh viện trong quá trình chăm sóc trẻ Tuy nhiên, những trường hợp nhập viện vào cuối tuần hoặc ngày lễ chưa nhận được hướng dẫn nội quy kịp thời, hoặc được hướng dẫn vào các ngày sau Phần lớn các bà mẹ đã được nhân viên y tế hướng dẫn pha ORS đúng cách để phòng ngừa mất nước do tiêu chảy, nhưng vẫn còn một số chưa pha đúng quy trình, ví dụ như chia 1 gói ORS ra pha nhiều lần, hoặc chưa biết cách pha các dung dịch thay thế khác Mặc dù đã được cung cấp kiến thức về bệnh tiêu chảy, nhưng công tác phòng bệnh vẫn chưa đạt hiệu quả cao, dẫn tới tình trạng trẻ tái nhập viện sau khi đã điều trị khỏi và ra viện.
3.4 Đánh giá kết quả điều trị và chăm sóc điều dƣỡng cho trẻ tiêu chảy
Bảng 3.20: Thời gian nằm viện
Thời gian chăm sóc Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Số ngày nằm viện trung bình của BN là 7,1 ± 3,1 ngày trong đó 7,6% trẻ nằm viện dưới 3 ngày; 51,2% trẻ nằm viện 4 - 7 ngày và 41,2% trẻ nằm viện trên 8 ngày
Bảng 3.21: Đánh giá tổng thể kết quả chăm sóc điều dưỡng và điều trị cho trẻ tiêu chảy
Kết quả chăm sóc Số lƣợng (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: 100% BN khỏi bệnh và ra viện Tỷ lệ chăm sóc tốt là 69,5%; chăm sóc khá và trung bình là 30,5%
3.5 Một số yếu tố liên quan tới kết quả chăm sóc điều dƣỡng
3.5.1 Đặc điểm chung của trẻ liên quan tới kết quả chăm sóc điều dưỡng
Bảng 3.22: Một số đặc điểm chung của trẻ liên quan tới kết quả chăm sóc điều dưỡng Đặc điểm chung
Kết quả chăm sóc điều dƣỡng Tổng OR
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ chăm sóc trẻ em dựa trên nhóm tuổi, giới tính của trẻ, nơi ở, số con trong gia đình và trình độ học vấn của các bà mẹ, cho thấy các yếu tố này không ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng chăm sóc trẻ.
Nhóm BN có bà mẹ ≥ 30 tuổi có tỷ lệ được chăm sóc tốt cao gấp 4,8 lần so với
BN có mẹ ≤ 29 tuổi (OR = 4,8; 95% CI: 1,85 - 10,9, p =0,05) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P = 0,002 (