1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân

37 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân
Tác giả Kim Lân
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại bài luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 608,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Vợ nhặt” lấy bối cảnh từ nạn đói năm 1945 đã đi vào lịch sử như một vành khăn tăng cướp đi mạng sống của hơn hai triệu đồng bào ta. Bằng ngòi bút sắc sảo, săn đuổi hiện thực đến tận đáy, Kim Lân đã mở ra trước mắt bạn đọc không gian tăm tối và có phần nghiệt ngã: “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào”.

Trang 1

VỢ NHẶT

Đề 1: “Cái đói… tự đắc với chính mình”

Có ai đó đã ví: “Sáng tạo nghệ thuật giống như việc thả diều Con diều dù có bay bổng bao nhiêu vẫn phải gắn bó với mặt đất bằng một sợi dây vững chắc” Ý tưởng ấy gợi cho ta nhiều suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống Qủa đúng như vậy, cuộc sống giống như một nghiên mực

mà người nghệ sĩ phải chấm bút vào nếu không văn chương cũng chỉ là “ánh trăng lừa dối” mà thôi Điều ấy gợi cho ta liên tưởng đến nhà văn Kim Lân- cây bút độc đáo của làng quê Việt Nam và mối lương duyên với đồng ruộng nông thôn Chính con người và vùng đất nơi đây đã thổi hồn vào tác phẩm của ông, đặc biệt là ở “Vợ nhặt” Tác phẩm không chỉ là bức tranh hiện thực thê thảm của nạn đói mà còn diễn tả thật sinh động vẻ đẹp và sức sống kì diệu của người dân nơi đây

Kim Lân được mệnh danh là nhà văn “một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy”, với những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân in trong tập “Con chó xấu xí” (1962) Tiền thân của truyện ngắn là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được viết ngay sau Cách mạng tháng 8 nhưng còn dang dở và thất lạc bản thảo Ngay khi hòa bình lập lại (1954) ông dựa vào một

phần cốt truyện để viết nên truyện ngắn này “Vợ nhặt” không chỉ là bức tranh thê thảm của nạn đói năm 1945 mà điều tác giả muốn gửi gắm là tình người trong những năm tháng đói khổ và

Trang 2

lay lắt, tối tăm ấy Truyện ngắn được chia làm bốn phần, đoạn trích thuộc phần một của truyện

“Vợ nhặt” lấy bối cảnh từ nạn đói năm 1945 đã đi vào lịch sử như một vành khăn tăng cướp đi mạng sống của hơn hai triệu đồng bào ta Bằng ngòi bút sắc sảo, săn đuổi hiện thực đến tận đáy, Kim Lân đã mở ra trước mắt bạn đọc không gian tăm tối và

có phần nghiệt ngã: “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào” Với từ “tràn” cái đói đã được cụ thể hóa với sức tàn phá dữ dội Bức tranh toàn cảnh về nạn đói hiện lên “người đói bồng bế dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma” và sau đó là “chết như ngả rạ”, “không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người” Có thể nói, cái đói, cái khát, cái chết đã len lỏi vào từng đường thôn ngõ xóm, gõ cửa từng gia đình Cái chết

đã bao phủ cả bầu trời và mặt đất Dưới ngòi bút của Kim Lân, không gian nghệ thuật của tác phẩm ngột ngạt, bức bối đến tắc thở Người chết như ngả rạ, còn những người sống thì sống một cuộc sống lay lắt, vật vờ, thoi thóp, một cuộc sống không đáng sống Có đến hai lần nhà văn so sánh người như ma nhằm diễn tả đó là lúc cõi âm tràn vào cõi dương Cuộc sống được nhìn như một bãi tha ma khổng lồ, ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh như sợi tóc Cái đói tàn phá lên từng gương mặt người: trẻ con không nhúc nhích- cái đói đã giết chết bản tính trẻ thơ của chúng, người dân xóm ngụ cư “khuôn mặt hốc hác u tối” Không cần một lời kết tội hùng biện nhưng đọc

những dòng văn của Kim Lân ta thấy như là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo vạch trần bản chất phi nhân tính của bè lũ cướp nước Bao nhiêu con người đã phải ra đi tỏng cái đói, cái

Trang 3

khát Chỉ với vài dòng văn ngắn ngủi, Kim Lân đã để lại trong long người đọc bao nỗi ngậm ngùi, xót thương với số phận của người dân lao động Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám

Một buổi chiều “tối sầm lại vì đói khát” con người đang chìm dần trong bóng tối “không nhà nào có ánh đèn, kẻ chết, tiếng quạ cứ gào lên từng hồi thê thết” Cái đói đã biến con người thành cái xác không hồn vật vờ, quằn quại Cái đói đang tràn lan như một dịch bệnh tàn nhẫn và phô trương sức mạnh hủy diệt thật là khủng khiếp Giữa thế giới ngổn ngang người sống

kẻ chết ấy, Kim Lân dám đặt vào đó một đám cưới quả là táo bạo Người ta lấy nhau khi ăn nên làm ra, đám cưới là hiện thân của sự sống, hạnh phúc ấy vậy mà Tràng và người vợ nhặt

quyết định đưa nhau về trong vòng bủa vây của cái chết, cái đói Nó đeo bám quyết liệt, đậm đặc trong không khí của tác phẩm, nó vẩn lên thành màu, thành mùi, thành tiếng Cả một xã hội là một đám ma khổng lồ, Tràng đưa vợ về trong một buổi chiều chạng vạng, đau thương đó Đám cưới của Tràng xuất hiện trên không gian bi thảm ấy Tràng nhặt được vợ Có thể nói, trên cái nền tối sầm lại vì đói khát, vẻ đẹp ánh sáng của niềm tin, của tình thương lại lung linh làm tỏa sáng, làm ấm thêm, đẹp thêm bức tranh tình người

Tác giả đã tạo cho thiên truyện một phông nền đặc biệt nhàu nát, ảm đạm, tối tăm, có phần nghiệt ngã Mảng tối của bức tranh hiện thực đau buồn chính là phép đòn bẩy cho mảng sáng của tình người Tràng đưa vợ về nhà trước con mắt tò mò của những người xóm ngụ cư Tâm trạng Tràng có những biến đổi

Trang 4

rất tinh tế qua cái nhìn của nhà văn Kim Lân: “Mặt hắn có một

vẻ gì phơi phới khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh” Từ một gã dân ngụ cư xấu xí, ế

vợ, lần đầu tiên hắn cảm nhận được hạnh phúc Tràng trong tâm trạng lâng lâng, vui sướng, tủm tỉm cười, thích chí, ánh mắt tràn đầy hi vọng Nó đối lập hoàn toàn với khung cảnh thê

lương, ảm đạm của xóm ngụ cư Đấy là gì nếu như không phải

là cái bộ dạng sung sướng, cái cảm giác đang ngất ngây trong men say hạnh phúc, dù nó mới bắt đầu trong Tràng

Trước con mắt tò mò của những đứa trẻ “Tràng vội vàng

nghiêm nét mặt, lắc đầu ra hiệu không bằng lòng” Nếu như trước đây hắn thường xuyên nói đùa với đám trẻ thì dường như việc có vợ khiến Tràng trưởng thành hơn, hắn ý thức được mình cần tách biệt với đám trẻ con và có trách nhiệm với vợ mình Kim Lân diễn tả rất thành công cách cư xử của Tràng với

lũ trẻ con trêu đùa, để gã trai này mắng yêu lũ trẻ “Bố ranh!”

Gã trai tưởng chừng ngờ nghệch này cũng khéo léo biết mấy để đưa vợ về nhà trước những cặp mắt tò mò và những lời trêu đùa

Trước con mắt tò mò và ái ngại của người dân xóm ngụ cư “Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”, Tràng vẫn không hề lo

sợ tương lai Trong trái tim anh cu Tràng giờ đây chỉ có niềm hạnh phúc mới vừa nhen nhóm Dường như mọi lo âu, nghịch cảnh khắc nghiệt của cuộc sống cũng không thể ngăn con người hướng về những giá trị đích thực là có một mái ấm gia đình,

Trang 5

được yêu thương Và không có gì ngăn nổi niềm tin, niềm hy vọng của họ vào tương lai Đó chính là giá trị nhân văn đầy cảm động của truyện ngắn này

Trước sự ngượng nghịu, chân nọ bưới díu cả vào chân kia của Thị “hắn cũng biết thế, nhưng hắn lại lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh vênh lên tự đắc với mình” Việc có vợ khiến Tràng trở nên hãnh diện với mọi người trong xóm ngụ cư và ngay cả với chính bản thân mình hắn cũng không thể giấu nổi niềm vui, niềm hạnh phúc

Kim Lân rất tinh tế khi miêu tả nét tâm lí, tính cách của Thị Nhà văn như lọt vào trong nỗi thẳm sâu tâm tư tình cảm ấy của người phụ nữ năm đói Người đàn bà bề ngoài tưởng như đáng khinh ấy khi lâm vào cảnh đưuòng cùng phải theo không Tràng trong lòng cũng vừa thấy tủi phận, vừa e thẹn, ngập ngừng:

“Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt Thị có vẻ rón rén, e

thẹn” Cái dáng vẻ ấy không giấu nổi những cặp mắt tò mò của người dân xóm ngụ cư Người ta thấy “Thị thèn thẹn hay đáo để” khi nhìn thấy cặp mắt những người xung quanh đang đổ dồn cả về phía mình “Thị ngượng nghịu chân nọ díu cả vào chân kia” Kim Lân như nhìn thấy cả nỗi tủi nhục của kiếp người, thấy

cả trong bước chân lieu xiêu, bước díu vào nhau kia là cái tủi hờn, xấu hổ Nhà văn đã miêu tả thật tinh tế và cảm động

những bước chân ngập ngừng, e thẹn trên đường về nhà chồng của Thị Hoàn cảnh tàn nhân xô đẩy Thị có lúc thành ra trơ tráo, cong cớn nhưng cái bản chất thực của chị không phải là như

Trang 6

vậy Ẩn sâu trong tâm hồn chị vẫn là người con gái giàu lòng tự trọng Cái hay của tác phẩm là không để cảnh ngộ xua con

người đi đến tận cùng của cái tầm thường, hèn hạ

Cũng như Tràng, Thị mong muốn có hạnh phúc, có một mái

ấm gia đình dù ban đầu cái mong muốn ấy không hề xuất hiện Thị tư nguyện về làm vợ Tràng chẳng qua vì đói Người đàn bà

ấy đến với Tràng trước hết chỉ đến với một chốn có thể tựa nương trong thời buổi đói kém, không hề có biểu hiện của tình yêu hay niềm khát khao hạnh phúc Nhưng Kim Lân, bằng vốn sống và sự tinh tế của mình, đã khám phá ra cáu bản chất đẹp của người vợ nhặt đó là niềm khát khao hạnh phúc

Những người dân trong xóm ngụ cư khi “Nhìn theo bóng

Tràng và bóng người đàn bà lủi thủi đi về bến, người trong xóm

lạ lắm” Họ “bàn tán” và khi họ “hiểu đôi phần” khuôn mặt họ

“bỗng rưng rạng rỡ hẳn lên” Tình huống đã tạo nên sự thay đổi mới mẻ theo hướng tích cực: bên bờ vực cái chết vì đói khát vẫn biết cảm thông cho nhau, tin tưởng vào điều tốt đẹp: “Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tối tăm ấy của họ” Rõ ràng cuộc hôn nhân kỳ lạ của Tràng đã làm bừng sáng niềm yêu thương trong xóm ngụ cư vốn như những nhà

mồ hoang lạnh với những sinh linh đang tuyệt vọng trong cơn đói khát Tình yêu, khao khát hạnh phúc như ngọn gió xua đuổi

tà khi u mê vây bủa con người Viết đoạn văn này Kim Lân đã khẳng định sự sống và ý chí vươn lên chống lại định mệnh của con người luôn mãnh liệt

Trang 7

Kim Lân mượn cái đói như một phép thử để làm nổi bật cái tình, như một bối cảnh khảo sát sức sống của con người Cuộc sống đói nghèo chỉ có thể làm tep tóp phần thể xác chứ không thể hủy diệt được tình yêu thương đồng loại, không thể dập tắt ngọn lửa khát vọng sống trong mỗi cá nhân Hiện thực đó chỉ là phông nền, là hoàn cảnh để vẻ đẹp của tâm hồn con người, tình yêu thương của những con người dành cho nhau tỏa sáng đẹp

chuyện linh hoạt, câu văn giàu cảm xúc… tất cả đã khắc họa thực cảnh thê thảm của nạn đói năm 1945

“Cái đẹp cứu vớt con người” Vâng, “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân đã thể hiện rõ sức mạnh kỳ diệu ấy Trên phông nền u

ám của nạn đói, của cái chết, tiếng quạ kêu thê thết, Kim Lân vẫn pha vào đó một chút sắc màu ấm áp của hạnh phúc lứa đôi, lóe lên hi vọng về một ngày mai tươi sáng, về sự thay đổi vận hội Trong đó, đoạn trích trên là một trong những trích đoạn hay nhất về hiện thực thê thảm của người nông dân cùng phẩm chất quý báu của người nông dân nghèo dù trên bờ vực cái chết vẫn khao khát được sống, sống với đúng nghĩa của từ này Phải

Trang 8

chăng Kim Lân đang muốn nhắn nhủ tới thế hệ trẻ chúng ta rằng: “hãy luôn khao khát ước mơ và sống một cuộc đời đúng nghĩa”

Đề 2: “Ít lâu nay…cùng đẩy xe bò về”

Có ai đó đã ví: “Sáng tạo nghệ thuật giống như việc thả diều Con diều dù có bay bổng bao nhiêu vẫn phải gắn bó với mặt đất bằng một sợi dây vững chắc” Ý tưởng ấy gợi cho ta nhiều suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống Qủa đúng như vậy, cuộc sống giống như một nghiên mực

mà người nghệ sĩ phải chấm bút vào nếu không văn chương cũng chỉ là “ánh trăng lừa dối” mà thôi Điều ấy gợi cho ta liên tưởng đến nhà văn Kim Lân- cây bút độc đáo của làng quê Việt Nam và mối lương duyên với đồng ruộng nông thôn Chính con người và vùng đất nơi đây đã thổi hồn vào tác phẩm của ông, đặc biệt là ở “Vợ nhặt” Tác phẩm không chỉ là bức tranh hiện thực thê thảm của nạn đói mà còn diễn tả thật sinh động vẻ đẹp và sức sống kì diệu của người dân nơi đây

Kim Lân được mệnh danh là nhà văn “một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy”, với những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân in trong tập “Con chó xấu xí” (1962) Tiền thân của truyện ngắn là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được viết ngay sau Cách mạng tháng 8 nhưng còn dang dở và thất lạc bản thảo Ngay khi hòa bình lập lại (1954) ông dựa vào một phần cốt truyện để viết nên truyện ngắn này “Vợ nhặt” không

Trang 9

chỉ là bức tranh thê thảm của nạn đói năm 1945 mà điều tác giả muốn gửi gắm là tình người trong những năm tháng đói khổ và lay lắt, tối tăm ấy Truyện ngắn được chia làm bốn phần, đoạn trích thuộc phần hai của truyện

Đoạn trích thuộc phần giữa của truyện, là dòng hồi tưởng của nhân vật Tràng trong một lần “xe thóc liên đoàn lên tỉnh” thì tình cờ gặp Thị Nhờ một câu bông đùa mà Tràng có vợ Đoạn văn vừa hài hước, vừa chua xót, diễn tả tâm trạng nhân vật Thị, tâm trạng của Tràng qua hai lần gặp gỡ

Tràng là người lao động thiệt thòi, nghèo khổ đến mức cái tên cũng gợi sự lam lũ, vất vả Đó là con người được tạo hóa đẽo gọt quá sơ sài về ngoại hình và tính cách Hắn có vẻ ngờ nghịch, vừa đi vừa lảm nhảm những điều hắn nghĩ… Tràng là dân ngụ

cư với thân phận bèo bọt, sống tạm, nghề nghiệp vất vưởng, gia cảnh nghèo khó, mẹ góa con côi nên đã nhiều tuổi mà vẫn chưa

có gia đình Trong lần gặp gỡ đầu tiên, Tràng vốn làm nghề kéo

xe bò thuê và ít lâu nay công việc của anh là “xe thóc liên đoàn lên tỉnh” vận chuyển thóc cho phát xít Nhật Hôm ấy, khi “đang

gò lưng kéo xe bò thóc vào dốc tỉnh, hắn hò một câu cho đỡ nhọc”, không chủ tâm chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô gái lại

cứ đẩy Thị ra với hắn, vì thế mà có sự tiếp xúc đầu tiên Tràng

đã hò “Muốn ăn cơm trắng mới giò này! Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!” Trước hết đây là câu hò của người lao động, lời ca tiếng hát bật lên tự nhiên trong bối cảnh lao động nặng nhọc, làm vơi bớt nhọc nhằn, cổ vũ, khích lệ con người Nhịp của câu

hò trước hết là nhịp của lao động, chữ “nì”, “này” được thêm

Trang 10

vào cuối mỗi câu, ngắt ra để tạo nhịp, dồn sức để kéo chiếc xe

bò đầy thóc lên dốc Câu hò ấy phải chăng còn được bật ra một cách tự nhiên như lời đùa vui giữa các chàng trai chưa vợ và những cô gái chưa chồng Có thể thấy hoàn cảnh đói khổ nhất cũng không thể làm mất đi tình cảm tự nhiên của con người Nhờ đó mà tạo nên hợp âm tiếng cười như nắc nẻ của những

cô gái làm cho không gian vui lên, bớt cảm giác nặng nề của cuộc sống mưu sinh u ám Câu hò dường như cũng ẩn chứa khát vọng âm thầm của con người, của Tràng: trong ngày đói người ta nói đến “cơm trắng mấy giò” như một niềm hạnh phúc tinh thàn Câu hò đã trở thành nhịp cầu nối, mở đầu cuộc gặp

gỡ của hai con người cùng cảnh ngộ trong nạn đói năm 45

Người vợ nhặt là nạn nhân của nạn đói năm 45 Thị là người

vô gia cư, đến cái tên cũng chẳng có Thị hiện lên vừa bằng

ngoại hình, vừa bằng tính cách của một con người năm đói Trước sự trêu chọc của mấy cô bạn “kìa anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắng mấy giò thì ra đẩy xe cho anh ấy!” Thị không hề xấu

hổ hay e thẹn như biểu hiện thường thấy ở những cô gái khác,

mà rất dạn dĩ phối hợp với các bạn để trêu đùa Ngôn ngữ táo bạo “có khối cơm trắng mấy giò đấy”, “đã thật thì đẩy chứ sợ gì” lại được nói bằng giọng điệu “cong cớn” nhưng vẫn có nét duyên riêng ở cách xưng hô thân mật “nhà tôi ơi”, “đằng ấy nhỉ” khiến khoảng cách xa lạ như được xóa nhòa Hành động

“vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng” đúng là

thiếu đi sự duyên dáng nữ tính, nhưng có thể thấy đằng sau đó

là sự giúp đỡ chân tình khi Tràng đang phải gò sức để kéo xe

bò Đặc biệt là những biểu cảm “Thị liếc mắt, cười tít” trong

Trang 11

cảm nhận của Tràng mới đáng yêu làm sao bởi “Từ khi cha sinh

mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười cới hắn tình tứ như thế” Có thể thấy cuộc gặp đầu tiên đã làm nổi bật lên

những vẻ đẹp trong tâm hồn Tràng và Thị

Lần gặp gỡ thứ hai, đùa đã thành thật, Tràng sẵn sàng đánh đổi tất cả để có gia đình hạnh phúc Khi Tràng đang ngồi nghỉ trước cổng chợ tỉnh thì bất ngờ có một người đàn bà “sầm sập chạy đến”, “sung sỉa nói: Điêu người thế mà điêu” Tràng không nhận ra người đàn bà ngày trước đẩy xe cho mình bởi Thị quá khác Thấy người đàn bà đói rách thảm hại, Tràng động lòng thương, hắn sẵn sàng cho Thị ăn dù chả dư dật gì Có ai ngờ trong con người thô kệch ấy lại có một tấm lòng thương người cao cả Tràng mời người đàn bà kia đi ăn, không chỉ cho ăn mà còn cho ăn rất nhiều: bốn bát bánh đúc Đó chính là lòng

thương một con người đói khát hơn mình chứ Tràng không có ý định lợi dụng hay chòng ghẹo Vốn tính hay đùa, Tràng lại tầm phào “nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” Phía sau câu nói tưởng là đùa vui bật ra từ người đàn ông nghèo khổ ấy là khát vọng cháy bỏng có thật về một mái nhà hạnh phúc, về tổ ấm gia đình Nói đùa thế thôi, ai ngờ Thị về thật Lúc đầu, Tràng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết “mới đầu anh cũng chậc, nghĩ: Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng” Đó là một nỗi sợ hãi có thật, nhất lại là thời đói kém như thế này, một nỗi lo rất thực tế Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc

đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh tặc lưỡi “chậc, kệ!” Chỉ một từ “kệ” thôi, Tràng như bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ

Trang 12

hãi, mọi lo nghĩ để vun vén cho cái hạnh phúc của mình Cái

“tặc lưỡi” không phải là sự phó mặc liều lĩnh, dễ dãi mà đó là tình thương yêu của anh với người cùng khổ Việc hai người đến với nhau bề ngoài có vẻ ngẫu nhiên, nhưng bên trong lại là tất yếu Người đàn bà cần Tràng để có một chỗ dựa qua thì đói kém, còn Tràng cũng cần người phụ nữ nghèo ấy để có vợ và biết đến hạnh phúc Anh chấp nhận đương đầu với khó khăn hiện tại và cả sắp tới Phải chăng đằng sau cái quyết định có vẻ tầm phào với một việc thuộc thể loại trọng đại bậc nhất trong đời, Tràng đã dám đánh cược cuộc đời mình cùng cái đói, cái chết? Hạnh phúc giản dị, đơn sơ nhưng trong hoàn cảnh của Tràng anh đâu dễ dãi có được? Vì thế khi có nó Tràng rất trân trọng, nâng niu Điều này được chứng thực qua hàng loạt các hành động và phản ứng tâm lí kể từ khi có vợ Đầu tiên là việc

“anh đưa Thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho Thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra chợ hàng cơm đánh một bữa no nê rồi cùng đẩy xe bò về” Chi tiết này cho thấy Tràng là một người đàn ông phóng khoáng, biết quan tâm đến người khác- người bạn đời Sính lễ chẳng có gì to tát nhưng hành động của Tràng cho thấy anh rất nghiêm túc, biết nghĩ với một trái tim nhân hậu Phải chăng niềm khao khát về một mái ấm thực sự luôn

âm ỉ, chảy từ lâu trong Tràng, nhưng vì cuộc sống khắc nghiệt

đã bóp nghẹt nó lại nên bây giờ khi có cơ hội bày tỏ thì nó được thể hiện một cách vô cùng tự nhiên, tinh tế đến thế Hạnh phúc giống như làn gió mát cuốn đi tất cả những ê chề, lo lắng, tối tăm làm Tràng quên đi những ngặt nghèo của cuộc sống mưu sinh

Trang 13

Cái đói đã hành hạ, đẩy Thị đến bờ vực thẳm Thị xuất hiện với ngoại hình kém hấp dẫn, nếu như không muốn nói là xấu Cái đói đã để lại dấu tích ghê gớm của nó trên khuôn mặt “lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” và “cái quần tả tơi như tổ đỉa”, làm cho Thị trở nên trơ trẽn vì miếng ăn Vì cái đói mà Thị trở nên “chao chat”, “chỏng lỏn”, “cong cớn”, “sưng sỉa” khi giao tiếp, nói chuyện Cái đói biến Thị trở thành kẻ liều lĩnh, cùng đường, đánh rơi cả lòng tự trọng Hai con mắt của Thị

sáng lên trước miếng ăn, Thị quên đi cái e thẹn, nết na, kín đáo vốn có của người phụ nữ Thị nói với Tràng một cách thẳng

thắn: “ăn gì thì ăn, chả ăn giầu”, rồi cong cớn trước mặt Tràng

“ăn thật nhá! ừ ăn thì ăn sợ gì” Thế rồi Thị sà xuống “cắm đầu

ăn một chập hết bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì” Ăn xong, Thị cầm đôi đũa quệt ngang miệng: “Hà, ngon” Bánh

đúc- thứ thức ăn được coi là bình dân và rẻ tiền trong đời sống người Việt Nam trong những ngày tháng đói kém đủ phép màu

để làm hai con mắt trũng hoáy của người phụ nữ đói sáng lên

Có thể nói, tất cả biểu hiện trên của Thị suy cho cùng là vì đói Cái đói đã quay quắt họ, té ra nó cũng có thể se duyên cho một mối tình Phía sau tình cảnh trôi dạt, vấn vương, người vợ nhặt lại có một lòng ham sống mãnh liệt, Thị bất chấp tất cả để được

ăn, ăn để được tồn tại Đó là ý thức bám lấy sự sống: Khi Tràng nói đùa “có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” thì người đàn bà kia lại im lặng sau câu nói ấy Nói đúng hơn là Thị đồng ý, đồng ý mà không hề do dự, phân vân Thị nào có biết Tràng là ai, tốt xấu như thế nào? Quê quán, gốc tích ra sao? Chỉ một câu hò bâng quơ và mấy bát bánh đúc là Thị có thể theo

Trang 14

Tràng ngay Phải chăng Thị theo Tràng chỉ vì miếng ăn? Thị dễ dàng, hời hợt thế ư? Thực ra, hành động theo Tràng của Thị xuất phát từ nhu cầu bám lấy sự sống, từ lòng khao khát được sống Vì quá đói, không có nơi nương tựa Thị đã phải bước qua tất cả để theo về làm vợ Tràng Cận kề bên cái chết, người đàn

bà không hề buông xuôi sự sống Trái lại, Thị vẫn vượt lên trên cái ảm đạm để xây dựng mái ấm gia đình Niềm lạc quan, yêu sống của Thị chính là một phẩm chất đáng quý Nói như Kim Lân: “Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến

những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết mọt

truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái

chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”

Viết về năm đói nhưng Kim Lân lại hướng về con người để làm

rõ phẩm chất tốt đẹp của họ Trước hết là Tràng Tràng là người dân ngụ cư nghèo khổ, có phẩm chất hiền lành, tốt bụng, sẵn sàng cưu mang người cùng cảnh ngộ nạn đói khủng khiếp Viết

về nhân vật Tràng, Kim Lân đặt nhân vật vào một tình huống vừa kì quặc, vừa oái oăm, vừa bi hài nhưng nhà văn đã cảm

thông, chia sẻ cùng nhân vật để cất lên bài ca nhân bản mạnh

mẽ, làm tha thiết lòng người về hạnh phúc đời thường Con người dù nghèo khổ đến đâu họ vẫn có quyền ước mơ một gia đình hạnh phúc Không chỉ Tràng mà Thị cũng là một người đàn

bà năm đói Người đàn bà ấy vì đói quá, không có nơi nương tựa đã phải bước qua tất cả để theo Tràng, về làm vợ Trong lời giới thiệu ban đầu ta tưởng Thị là một người chao chat, chỏng

Trang 15

lỏn, không còn biết xấu hổ là gì Nhưng kì thực, Thị là một số phận đáng thương Phía sau hình ảnh “cùng đường và liều

lĩnh”, bạn đọc thực sự xúc động trước vẻ đẹp chiều sâu tâm hồn của Thị, đó là một người phụ nữ giàu nữ tính, giàu long tự trọng và có khát vọng sống mãnh liệt Qua hai lần gặp gỡ của Tràng, Kim Lân thể hiện niềm cảm thông sâu sắc trước thân phận bi đát của người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm

45 Nhà văn ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của họ Đó là khát vọng sống, đề cao tình thương, tình nghĩa con người trong tận cùng đau khổ vì đối diện với cái đói, cái chết đang rình rập Tác giả gửi gắm niềm tin vào người nông dân Chính khát vọng hạnh phúc gia đình sẽ làm nên sức mạnh để con người hướng về

chuyện linh hoạt, câu văn giàu cảm xúc… tất cả đã khắc họa thực cảnh thê thảm của nạn đói năm 1945

“Cái đẹp cứu vớt con người” Vâng, “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân đã thể hiện rõ sức mạnh kỳ diệu ấy Trên phông nền u

ám của nạn đói, của cái chết, tiếng quạ kêu thê thết, Kim Lân vẫn pha vào đó một chút sắc màu ấm áp của hạnh phúc lứa đôi,

Trang 16

lóe lên hi vọng về một ngày mai tươi sáng, về sự thay đổi vận hội Trong đó, đoạn trích trên là một trong những trích đoạn hay nhất về hiện thực thê thảm của người nông dân cùng phẩm chất quý báu của người nông dân nghèo dù trên bờ vực cái chết vẫn khao khát được sống, sống với đúng nghĩa của từ này Phải chăng Kim Lân đang muốn nhắn nhủ tới thế hệ trẻ chúng ta rằng: “hãy luôn khao khát ước mơ và sống một cuộc đời đúng nghĩa”

Đề 3: Tâm trạng bà cụ Tứ trong đoạn trích “Bà lão cúi đầu…ròng ròng”

Có ai đó đã ví: “Sáng tạo nghệ thuật giống như việc thả diều Con diều dù có bay bổng bao nhiêu vẫn phải gắn bó với mặt đất bằng một sợi dây vững chắc” Ý tưởng ấy gợi cho ta nhiều suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống Qủa đúng như vậy, cuộc sống giống như một nghiên mực

mà người nghệ sĩ phải chấm bút vào nếu không văn chương cũng chỉ là “ánh trăng lừa dối” mà thôi Điều ấy gợi cho ta liên tưởng đến nhà văn Kim Lân- cây bút độc đáo của làng quê Việt Nam và mối lương duyên với đồng ruộng nông thôn Chính con người và vùng đất nơi đây đã thổi hồn vào tác phẩm của ông, đặc biệt là ở “Vợ nhặt” Tác phẩm không chỉ là bức tranh hiện thực thê thảm của nạn đói mà còn diễn tả thật sinh động vẻ đẹp và sức sống kì diệu của người dân nơi đây

Kim Lân được mệnh danh là nhà văn “một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy”, với những trang viết

Trang 17

đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân in trong tập “Con chó xấu xí” (1962) Tiền thân của truyện ngắn là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được viết ngay sau Cách mạng tháng 8 nhưng còn dang dở và thất lạc bản thảo Ngay khi hòa bình lập lại (1954) ông dựa vào một

phần cốt truyện để viết nên truyện ngắn này “Vợ nhặt” không chỉ là bức tranh thê thảm của nạn đói năm 1945 mà điều tác giả muốn gửi gắm là tình người trong những năm tháng đói khổ và lay lắt, tối tăm ấy Truyện ngắn được chia làm bốn phần, đoạn trích thuộc phần một của truyện

Việc nhặt được vợ khiến Tràng vừa ngạc nhiên, vừa hạnh

phúc, Tràng không giấu nổi niềm hạnh phúc trên khuôn mặt Khi trở về, bà cụ Tứ đã đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác nhưng chỉ sau một câu nói của Tràng “nhà tôi nó về… cái số” thì tâm trạng bà cụ đã hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự Đoạn trích “bà lão cúi đầu ròng ròng” nằm phần giữa cốt truyện đã khắc họa xúc động về tấm long bao dung, nhân hậu của người

mẹ nghèo và tình cảnh, thân phận của con người trong những ngày đói khát cơ cực ấy

Trước tiên, bà cụ Tứ hiện lên là người “hiểu ra biết bao nhiêu

cơ sự” Là người phụ nữ từng trải, nên chỉ sau một câu nói của con trai “bà cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi” Hai câu văn ngắn như diễn tả thật rành mạch những cảm xúc trong bà, nhà văn dường như quan sát từ trạng thái bên ngoài để diễn tả suy nghĩ bên trong nhưng người đọc thì nhận thấy điều ngược lại “Bà lão hiểu rồi”, bà lão hiểu nghịch cảnh, sự trớ trêu trong cảnh

Trang 18

túng đói con mình có được vợ và là “nhặt nhau” vu vơ giữa

đường Vì hiểu nên bà cúi đầu, trong những mớ tâm trạng ngổn ngang, buồn tủi và bà cỉ hoàn toàn “nín lặng” Trong câu chuyện của buổi tối hôm ấy, người mẹ không hề hỏi con về chuyện nên duyên như thế nào, bà nín lặng bởi bà hiểu cơ sự, một tình

huống nhạy cảm mà nếu không tinh tế thì sẽ khiến các con lúng túng, bị tổn thương Cách ứng xử của người mẹ thể hiện sự

thấu trải đời, sâu sắc và bao dung

Khi hiểu ra cơ sự, người mẹ cảm thấy thương con và tủi phận biết bao Người mẹ nhạy cảm nhận ra cảnh bi hài của câu

chuyện để rồi nỗi tủi thân đã hóa thành nước mắt: “Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” Lòng bà ngổn ngang trăm mối, chồng chất bao nỗi niềm suy tư “Kẽ mắt kèm nhèm” là sự hiện hình của một bức chân dung đầy khổ hạnh của người phụ nữ nông thôn lớn tuổi, là biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng, tình thương con thắt lòng Từ “rỉ” miêu tả giọt nước mắt ít ỏi, khó khăn, dường như bà cụ Tứ đang phải kìm nén cảm xúc của chính mình, bao nhiêu tủi phận, cay đắng, xót xa như nghẹn lại Biết bao nhiêu cơ cực của cuộc đời đã chất chứa, dồn tụ và ứ nghẹn trong dòng nước mắt ít ỏi, hiếm hoi ấy Viết về hình ảnh “giọt nước mắt”, Nguyễn Khuyến trong bài “Khóc Dương Khuê” cũng có câu:

“Tuổi già như hạt lệ sương

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan”

Hay Nam Cao khi miêu tả nước mắt của Lão Hạc “Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra” Những năm

Ngày đăng: 16/08/2023, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w