1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp ở việt nam trong 6 tháng tới 1

20 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam trong 6 tháng tới
Tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn
Người hướng dẫn PGS. TS Trần Đình Thiên, Tiến sĩ Hàn Mạnh Tiến, TS. Nguyễn Minh Phong
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Kinh tế vĩ mô
Thể loại đề tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 27,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại một hội thảo gần đây bàn về những cách ứng biến của doanh nghiệp nhằm đối phó với lạm phát, nhiều ý kiến cũng đồng tình việc nhà sản xuất và nhà phân phối cần ngồi lại bàn bạc và dàn

Trang 1

Đề tài: Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam trong 6

tháng tới

* * *

HỌ TÊN : NGUYỄN NGỌC TUẤN

LỚP :TCDNB-CĐ23

Trang 2

I,Lạm phát và môi trường kinh tế:

Lạm phát đang làm thay đổi cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng, cho thấy tốc độ tiêu thụ hàng hóa giảm càng nhiều ở những mặt hàng mà tính thiết yếu đối với cuộc sống hàng ngày càng thấp.

Yếu tố giá đang được quan tâm

Cùng với việc người tiêu dùng đang quan tâm yếu tố giá, một nhà phân phối đưa ra gợi ý là cả nhà sản xuất và nhà phân phối cần quan tâm cắt giảm các hình thức tiếp thị để tập trung sức ổn định giá sản phẩm

Kết nối sản xuất với phân phối

Có ý kiến cho rằng thường thì giá thành sản xuất không chênh lệch nhiều

so với giá vốn Giá sản phẩm bị đội lên nhiều chính ở khâu phân phối với đòi hỏi mức chiết khấu quá cao

Thực ra, các doanh nghiệp trong nước luôn có ưu thế về việc thấu hiểu tập quán mua hàng và tâm lý của người tiêu dùng trong nước Nếu biết tận dụng, ưu thế này có thể phát huy tốt trong việc thúc đẩy tiêu dùng hàng nội địa

Tại một hội thảo gần đây bàn về những cách ứng biến của doanh nghiệp nhằm đối phó với lạm phát, nhiều ý kiến cũng đồng tình việc nhà sản xuất và nhà phân phối cần ngồi lại bàn bạc và dành cho nhau những ưu đãi thiết thực, chia sẻ chi phí, mức giảm lợi nhuận, giúp nhau ổn định giá cả hàng hóa

để gia tăng sản lượng tiêu thụ

Đối phó với lạm phát từ cấp độ vi mô

Các chuyên gia kinh tế, các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam cho rằng, bên cạnh chính sách vĩ mô, dài hạn trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn hiện nay, rất cần những biện pháp mạnh, tức thời ở tầng vi mô – ở cộng đồng doanh nghiệp và mỗi người dân

Tại Hội thảo “Ứng phó lạm phát từ góc độ quản trị doanh nghiệp” diễn ra hôm qua (24/7), tiến sĩ Hàn Mạnh Tiến, Chủ tịch Hội các Nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam, cho biết, hơn ai hết, các nhà quản trị doanh nghiệp cảm nhận một cách trực tiếp, sâu sắc nhất những tác động của tình hình kinh tế hiện nay Mỗi động thái của cộng đồng này có thể ảnh hưởng đến kết quả chung, mục tiêu chung là kiềm chế lạm phát

Nâng cao hiệu quả, hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 3

Theo PGS TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô ngắn hạn đã đi vào quỹ đạo Vấn đề bây giờ

là tập trung mạnh hơn tháo gỡ khó khăn ở tầng vi mô Cộng đồng doanh nghiệp với đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ là lực lượng dẫn dắt tăng trưởng Do đó, việc nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng này được ví như biện pháp hữu hiệu cho bài toán lạm phát

“Vấn đề tạo lòng tin của người dân hay doanh nghiệp đối với công tác điều hành của Chính phủ là quan trọng nhất hiện nay”, ông Trần Đình Thiên nhận định Tạo lòng tin là cả một nghệ thuật, với nhiều giải pháp kết hợp 2 yếu tố: quyết liệt nhưng khôn khéo, đúng lúc Ví dụ, việc sử dụng công cụ lãi suất, cắt giảm đầu tư công, “làm chủ” mặt trận thông tin bằng tính chính thống kết hợp với sự công khai và minh bạch

Do đó, sự thiếu thận trọng trong công bố thông tin, phát ngôn (chính thức) hay những tin đồn thất thiệt có thể khiến cho các biện pháp, chính sách khó phát huy hết tác dụng, thậm chí làm mất lòng tin vào các chính sách được thực thi

TS Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội, góp ý, kết quả chống lạm phát và phát triển kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào việc cải thiện căn bản cơ cấu và hiệu quả sử dụng vốn vay của các tổng công ty, tập đoàn nhà nước, hiện đang chiếm hơn 50% vốn đầu tư nhà nước, 70% tổng dư nợ quốc gia và hơn 80% tổng dư nợ tín dụng Trong khi đó, phải xác định vẫn tăng vốn đầu tư vào các ngành, lĩnh vực sản xuất hàng hóa cần thiết cho đời sống, cụ thể là nông nghiệp, nông thôn, hàng xuất khẩu, tiêu dùng

Tổng Giám đốc Tập đoàn AsiaInvest, Phó Tổng Thư ký Hội các Nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam Nguyễn Ngọc Bách cho rằng, điều quan trọng là doanh nghiệp phải có hệ thống quản trị rủi ro một cách hiệu quả Các doanh nghiệp cần xem xét lại danh mục đầu tư trong kế hoạch ngân sách năm 2008 và tái cấu trúc nguồn vốn Kiểm soát chặt chẽ chi phí, phát động phong trào tiết kiệm tại doanh nghiệp, chủ động tìm kiếm các nguồn cung ứng nguyên vật liệu và hàng hóa dự phòng bởi những nhà cung ứng hiện có của doanh nghiệp có thể sẽ phải cắt giảm sản xuất do những khó khăn về tài chính

Doanh nghiệp ứng phó với lạm phát: Cắt xe, giảm người

- Trước tình hình giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh, các doanh nghiệp

đã tự tổ chức hội thảo trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, cùng kiến nghị Chính phủ tìm những biện pháp chống lạm phát

Tại hội thảo, hầu hết doanh nghiệp đều công bố đã phải cắt giảm đầu tư, nhân công Bà Trần Thu Huyền, giám đốc Công ty cổ phần sơn Châu Á, cho

Trang 4

biết dù rất tiếc nhưng công ty của bà phải từ bỏ một dự án xây dựng khu resort Công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt thì buộc cắt dự án sản xuất phần ăn nhanh, co lại sản xuất xúc xích

Tự nuôi heo

Trước thực tế rất khó khăn, các doanh nghiệp đều có phương án rất cụ thể, chi li để chống chọi lạm phát, giảm chi tiêu, cố gắng duy trì để vượt qua bão giá Ông Bùi Đức Huyên, giám đốc Công ty cổ phần dinh dưỡng Việt Tín, cho biết trước giá các nguyên liệu như ngô, một số nguyên liệu khác đều tăng 100-300%, doanh nghiệp của ông đã phải tự đi thuê chuồng trại để nuôi tới 3.000 con heo để giảm chi phí đầu vào, bớt được nghịch lý càng sản xuất càng lỗ do không thể tăng giá bán

Cũng là biện pháp rất cụ thể mang tính "cái khó ló cái khôn", ông Mai Huy Tân cho biết Công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt đã chủ động tìm nguồn hàng nhập khẩu xa hơn nhưng rẻ hơn, đồng thời tăng thưởng để rút ngắn thời hạn thanh toán của các đại lý nhằm giảm vay ngân hàng Cùng kinh nghiệm quay vòng vốn nhanh, doanh nghiệp của ông Tân cũng tập trung sản xuất những mặt hàng có lợi nhuận cao, tạm dừng những mặt hàng lợi nhuận thấp hoặc chưa có thị hiếu tiêu dùng

Bằng việc sử dụng tốt nguồn vốn, những gì mình có, ông Tân khẳng định điều này đã giúp doanh nghiệp của ông không phải cắt giảm nhân công, giảm lương nhân viên dù có lúc phải tính đến ngừng sản xuất

Hội Các nhà quản trị doanh nghiệp cùng thống nhất kiến nghị xem lại cơ chế phân bổ vốn ODA Hiện nay ODA hầu như chỉ được rót vào doanh nghiệp nhà nước, khu vực tư nhân dùng vốn hiệu quả lại không thể tiếp cận Đây là một nghịch lý cần gỡ bỏ

Lãi suất sẽ tăng hay giảm?

"Sáu tháng cuối năm 2008, ở góc độ vĩ mô, đã có tín hiệu tốt cho nền kinh tế sau khi những biện pháp kiềm chế lạm phát bước đầu phát huy tác dụng Tuy nhiên, về góc độ vi mô thì đây mới là thời điểm khó khăn của các DN"- ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược- Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết

Nhân tố tiềm ẩn tăng giá còn diễn biến phức tạp

Sáu tháng đầu năm, lạm phát ở Việt Nam là 18,48%, con số này cao hơn nhiều so với mức 5,21% của cùng kỳ năm trước

Tiến sĩ Vũ Đình Ánh cho rằng, con số CPI ở mức 22% theo dự báo của

Bộ Kế hoạch và Đầu tư “đã trở nên lạc hậu” Ông Nguyễn Đức Thắng, Vụ phó Vụ Thương mại - Dịch vụ - Giá cả của Tổng cục Thống kê đưa ra 3 kịch bản: Nếu 6 tháng cuối năm, CPI tăng trung bình 1% so với trước thì lạm phát tháng 12/2008 so cùng kỳ năm trước tăng 25% Còn nếu CPI tăng 1,2%

và 1,5% thì con số tương ứng sẽ là hơn 27% và 30%

Trang 5

Theo ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược - NHNN, kinh tế

VN hiện có 2 diễn biến: Ở góc độ vĩ mô thì đã có tín hiệu tốt cho nền kinh tế sau khi những biện pháp kiềm chế lạm phát đã bước đầu phát huy tác dụng Tuy nhiên, về góc độ vi mô thì hiện mới là thời điểm khó khăn của các DN Điều này là do những khó khăn đang chuyển sang vai của các DN Các DN thuộc một số lĩnh vực nhạy cảm như kinh doanh bất động sản, xây dựng sẽ đối phải đối mặt với nhiều thách thức, không loại trừ một số DN có thể bị phá sản

Cũng theo ông Nghĩa, sau khi “vượt qua” vấn đề thanh khoản, các ngân hàng sẽ tiếp tục phải đối mặt với vấn đề nợ xấu bắt đầu từ quý 3 năm nay Ông Nghĩa dự báo, rất khó đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7% trong năm nay Nền kinh tế chỉ có thể phục hồi vào giữa năm 2009 với mức tăng trưởng còn thấp hơn năm 2008 và đến năm 2010 mới lấy lại đà tăng trưởng

Lãi suất tăng hay giảm?

Theo PGS, TS Nguyễn Thị Mùi, Phó giám đốc Học viện Tài chính, những chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN đang từng bước phát huy hiệu quả trong việc kiềm chế lạm phát và hạn chế tăng trưởng tín dụng nóng

"Tăng lãi suất (LS) là giảm cung tiền, nhưng khi cung tiền đã giảm đến mức thấp mà LS vẫn tiếp tục điều chỉnh tăng thì lúc này tăng LS sẽ có tác dụng ngược lại và gây thiếu thanh khoản cho ngân hàng Như vậy, tăng LS vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực đối với nền kinh tế Nhưng một khi tăng LS bắt đầu tỏ ra không hiệu quả xét cả khía cạnh vĩ mô và vi mô thì việc điều hành LS ổn định, theo xu hướng giảm dần cần được đặt ra đối với nền kinh tế VN những tháng còn lại của năm 2008"- bà Mùi cho biết

Cũng theo PGS.TS Nguyễn Thị Mùi thì LS tăng cao như hiện nay đang gây khó khăn lớn cho DN “DN VN phần lớn là DN nhỏ và vừa, hoạt động chủ yếu là vay vốn từ ngân hàng; lãi suất tăng, điều kiện vay ngặt nghèo làm cho doanh nghiệp khó tiếp cận với vốn vay, sản xuất cầm chừng, trong khi chính những doanh nghiệp này là lực lượng cung ứng hàng hoá tiêu dùng thiết yếu cho xã hội”

Tiến sỹ Nguyễn Minh Phong, Trưởng phòng nghiên cứu kinh tế, Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội cho rằng, sự lên xuống mạnh của lãi suất là tín hiệu và biểu hiện của một cuộc chấn động kinh tế Khi đó, hiệu quả của chính sách lãi suất sẽ bị suy giảm rất nhiều trong việc thực thi mục tiêu của chính sách tiền tệ Việc nâng lãi suất quá cao sẽ hạn chế đầu tư xã hội dẫn đến đình trệ, suy thoái, thất nghiệp và phá sản "Hiện nay, đại bộ phận các DN có lượng vốn vay chiếm phần lớn số vốn đang có Nếu LS cứ tiếp tục tăng thì không DN nào có thể chịu được, thậm chí sẽ có nhiều DN không trả được nợ và đứng trên bờ vực phá sản Khi đó áp lực lại đè nặng lên các tổ chức tín dụng vì nợ xấu ngân hàng tăng lên, đe dọa an toàn của hệ

Trang 6

thống ngân hàng Như vậy, kinh tế bị trì trệ, suy thoái và dẫn đến mục tiêu GDP tăng trưởng 7% cũng khó có thể đạt được"- ông Bùi Đức Thụ, Vụ trưởng Vụ Tài chính Ngân sách, Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội cho biết

II,CNTT –môi trường công nghệ:

Thực trạng ứng dụng CNTT yếu kém:

Doanh nghiệp ngại ứng dụng công nghệ thông tin

- Theo công bố mới nhất của Phòng Thương mại Công nghiệp VN (VCCI) thì hiện toàn quốc mới chỉ có 27% số doanh nghiệp (DN) ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT); 24% DN không sử dụng dịch vụ CNTT và 55% DN không sử dụng ADSL

Với tỉ lệ này, VN nằm trong tốp các quốc gia mà DN ngại ứng dụng CNTT nhất trong khu vực và thế giới

Theo công bố mới nhất của VCCI thì hiện cả nước mới chỉ có 27% số

DN ứng dụng CNTT; 24% không sử dụng dịch vụ CNTT và 55% DN không

sử dụng ADSL… Bên cạnh đó, theo đánh giá từ các chuyên gia thì đến thời điểm này, tỷ lệ DN có website ở nước ta mới chỉ chiếm hơn 30%, trong đó phần lớn dùng để tự quảng bá; khoảng 10% mới bắt đầu tham gia giao dịch điện tử và cũng mới chỉ có 18,1% DN có cán bộ chuyên trách về thương mại điện tử Không ít DN vẫn chưa coi đầu tư phát triển CNTT là một yêu cầu cấp thiết Nhiều đơn vị tuy đã ứng dụng nhưng thiếu đồng bộ kể cả phương tiện, thiết bị và nhân sự; có nơi, mới chỉ ứng dụng CNTT trong các công việc văn phòng hoặc một số khâu, một số lĩnh vực giản đơn mà chưa thật sự

đi sâu vào hoạt động chuyên môn, kỹ thuật Và có lẽ việc ứng dụng CNTT rộng rãi nhất đến nay đối với các DN ở nước ta vẫn là quản lý tài chính, kế toán (chiếm khoảng 88% sử dụng phần mềm kế toán tài chính) Nhưng ngay

cả những DN đã ứng dụng CNTT này, cũng chỉ có khoảng 20% các phần mềm thoả mãn yêu cầu của họ Chính từ những yếu kém và hạn chế này mà không có gì ngạc nhiên, khi VCCI cho biết, cả năm 2007 chỉ có 19 hợp đồng được thực hiện qua thương mại điện tử; trong đó, hợp đồng có giá trị lớn nhất cũng dưới 10 tỷ đồng và hợp đồng nhỏ nhất là… 300.000 đồng Qua đó

để thấy, việc tiếp cận, ứng dụng CNTT và thương mại điện tử ở các DN nước ta đến nay vẫn rất hạn chế và còn nhiều bất cập

Ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) có thể ứng dụng (ƯD) CNTT trong mọi hoạt động: điều hành, sản xuất, kinh doanh, giao dịch, thương mại Nhưng trước hết, cần phải xác định rõ ƯD CNTT là một khoản đầu tư của doanh nghiệp (DN)

Việc đầu tư và triển khai ƯD phải theo kế hoạch, lộ trình và đặc biệt phải rất lưu ý đến các điểm sau:

Trang 7

(1) Đầu tư tập trung vì ƯD CNTT đòi hỏi chi phí lớn, không chỉ về tài chính mà còn về nhân lực Do vậy, DN không nên dàn trải đầu tư mà tập trung vào một số hoạt động mà DN coi là quan trọng hơn cả;

(2) Đầu tư phải dựa trên trên một thiết kế tổng thể, phải đảm bảo tính đồng bộ và tích hợp hệ thống Trong DN có nhiều ƯD khác nhau sử dụng cho các mục đích khác nhau như: tài chính, sản xuất, lưu kho, phân phối, bán hàng Các ƯD này phải được liên kết với nhau, sử dụng cùng những nguồn dữ liệu;

(3) Sử dụng Internet triệt để DN phải có website riêng và chỉ bằng cách như vậy mới có thể tham gia vào thị trường lớn

Nhiều dự án ƯD CNTT vào DN thất bại chính là việc họ đã không xây dựng một lộ trình ƯD đúng đắn Hiện nay, các DN hầu hết chưa xây dựng được lộ trình ƯD CNTT trong vòng 5 năm trở lên, hoặc mới chỉ có kế hoạch

ở mức đơn giản Chính những kế hoạch đơn giản này đã gián tiếp làm tiêu tốn thời gian và tiền bạc cho những dự án bất thành của DN Thông thường, việc xây dựng lộ trình ƯD CNTT phải bắt đầu từ các cấp lãnh đạo cao nhất,

vì lộ trình ƯD này phải phù hợp với lộ trình phát triển của DN đó Nó phải được xây dựng đồng bộ ở tất cả các cấp và phải được đầu tư đầy đủ nguồn lực cần thiết Việc kết hợp với các nhà tư vấn ở trong giai đoạn này rất cần thiết Xây dựng lộ trình ƯD CNTT không chỉ dừng ở PM quản lý mà còn bao gồm hệ thống phần cứng, hạ tầng mạng, các ƯD trong tương lai

Hạn chế của SME

"SME thường thiếu đội ngũ nhân lực giỏi trong khai thác, tìm hiểu và ứng dụng CNTT nên thường hay chậm trễ trong giao dịch với đối tác Bên cạnh đó, họ tốn khá nhiều thời gian để gặp gỡ trao đổi thông tin làm chậm trễ quá trình xử lý công việc"

Ông Trần Đức Dũng, chủ nhiệm câu lạc bộ DN SIYB – VCCI

"Trình độ quản lý chưa cao, mang tính cá nhân và gia đình nhiều hơn; tính quản lý chuyên nghiệp chưa cao; vốn, tài chính, nguồn nhân lực trình độ cao là những hạn chế chính của SME Hiện nay, khoảng 60% SME đã triển khai ứng dụng CNTT tuy nhiên hiệu quả chưa cao Do những hạn chế về tài chính, nhân sự, họ chỉ trang bị những phần mềm rời rạc và không mang tính

hệ thống"

"Đầu tư lớn vào CNTT, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn về tài chính do đây là hướng đi hết sức táo bạo Giai đoạn đầu, chúng tôi gặp thất bại khi vốn pháp định ban đầu là 600 triệu đồng, hoạt động 6 tháng đầu năm, chúng tôi lỗ 700 triệu do hư hao, hư hỏng

Đó là cái trả giá ban đầu nhưng chúng tôi vẫn tin sẽ đạt hiệu quả Sau khi tập trung bàn giải pháp phát triển và nhất quyết bám sát vào CNTT đi lên, từ một nhà xưởng nhỏ bé ở quận 6 với số vốn 600 triệu, bây giờ vốn của công

Trang 8

ty đã trên 20 tỷ và côn ty đã trang bị được nhà xưởng riêng CNTT đã góp phần không nhỏ vào thành quả này"

"Các vấn đề cần quan tâm khi đầu tư CNTT: chọn giải pháp, đầu tư, ngân sách CNTT, sau đó, cụ thể chi tiết hóa vấn đề về nguồn nhân lực, về tổ chức thực hiện trong quá trình triển khai ứng dụng CNTT Nếu tốt hơn, có thể phân tích những điểm ưu thế và rủi ro dự kiến trong vấn đề ứng dụng CNTT, quan hệ của nhà cung cấp giải pháp Giai đoạn đầu ứng dụng CNTT đặc biệt khó khăn vì vẫn phải xử lý công việc hàng ngày, đồng thời vẫn phải tiếp thu

hệ thống mới, ứng dụng mới Quá trình thay đổi còn dẫn đến sự phân công chức năng, công việc từng phòng có thể thay đổi, việc tái cấu trúc cho phù hợp với quy trình trong CNTT có thể xảy ra Phải dự trù những phản ứng nhất định từ phía lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo cấp trung Thay đổi mức độ như thế nào để giảm rủi ro là điều quan tâm nhất, các DN cần bàn với nhà cung cấp, đơn vị tư vấn để giảm thiểu rủi ro"

"Việc phát triển chính phủ điện tử cũng là động lực để cho DN ứng dụng CNTT Ngoài việc xử lý thông tin trong nội bộ của họ, DN ứng dụng CNTT còn phải có những công cụ giao tiếp khách hàng qua mạng và "nói chuyện" được với cơ quan quản lý nhà nước và Chính Phủ, hay nói cách khác, phát triển các dịch vụ trực tuyến qua mạng"

"Trên thực tế, rất nhiều công ty đã phải triển khai ứng dụng CNTT, đặc biệt là giải pháp họach định nguồn lực ERP nhiều lần mà vẫn chưa đạt được mong đợi Có nhiều yếu tố chủ quan lẫn khách quan, nhưng đơn giản có thể

là giải pháp ngay từ đầu đã không được chọn đúng với quy mô, quy trình hoạt động của DN Cũng có thể DN đã không thể hiện được quyết tâm thay đổi đến cùng

Để triển khai ứng dụng cần có các bước sau: 1 Xây dựng chiến lược/mục tiêu; 2 Đánh giá và chọn lựa giải pháp; 3 Triển khai; 4 Vận hành, bảo trì, nâng cấp"

"SME nên đầu tư CNTT cho những hoạt động cốt lõi và những hoạt động mang nặng tính thống kê, phân tích

SME nên đầu tư từng phân hệ Trong quá trình triển khai, để tránh kéo dài thời gian hoặc gia tăng chi phí, mọi vấn đề nên được làm rõ trong hợp đồng Do phần mềm không phải là một loại hàng hoá đơn thuần, mối quan

hệ của DN và nhà cung cấp phần mềm không dừng lại sau khi hai bên thanh

lý hợp đồng Do vậy, khi lựa chọn giải pháp, DN nên lưu ý đến chi phí dịch

vụ và dịch vụ hỗ trợ của nhà cung cấp"

III,Dịch chuyển cơ cấu lao động –môi trường văn hoá xã hội nhân khẩu

Trang 9

Phát triển việc làm gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn-thành thị

Tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng việc làm không phải lúc nào cũng cùng chung một tốc độ, và quan trọng hơn, việc làm và thu nhập từ việc làm

đó thường là mối quan tâm đầu tiên của người dân Thúc đẩy việc làm do đó ngày càng trở thành một nhiệm vụ quan trọng của chính quyền các cấp và được coi là một biện pháp cơ bản để chống lại đói nghèo, thu hẹp khoảng cách về thu nhập trong xã hội

Thách thức về việc làm nói chung và chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn - thành thị nói riêng thường có thể thấy rõ hơn ở cấp tỉnh nơi gặp nhiều khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương

Các chiến lược phát triển kinh tế- xã hội và những thách thức của việc thúc đẩy việc làm ở cấp tỉnh

Có nhiều thách thức trong việc thúc đẩy việc làm ở cấp tỉnh tại Việt Nam Trong bối cảnh tình trạng thất nghiệp ở khu vực thành thị và thiếu việc làm

ở khu vực nông thôn vẫn còn tồn tại như hiện nay, việc phát triển các ngành kinh doanh và phi nông nghiệp là rất cấp thiết để thúc đẩy việc làm ở các tỉnh Tuy nhiên, sự phát triển của những ngành này rất hạn chế, đặc biệt ở những khu vực nông thôn rộng lớn của các tỉnh (trừ các thành phố lớn và tỉnh có trình độ côngnghiệp hoá cao như Bình Dương, Đồng Nai,v.v ) ở những tỉnh khác, số lượng các doanh nghiệp có thể đã tăng nhiều trong những năm gần đây, tuy nhiên, quy mô doanh nghiệp của họ thường nhỏ dẫn tới số lượng việc làm thấp Một thách thức khác, đó là điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém, mặc dù ảnh hưởng đó đối với việc làm chỉ là gián tiếp Dân

số tăng nhanh cũng có thể được coi là một thách thức đối với việc thúc đẩy việc làm vì nhu cầu việc làm sẽ tăng lên Nguồn cung lao động do đó sẽ dư thừa Số lượng người tuyệt đối ở các tỉnh cao, số người gia nhập lực lượng lao động hàng năm cũng khá lớn, gây ra những áp lực lớn đối với việc tạo việc làm

Một thách thức nữa là chất lượng lao động thấp, điều này có thể được nhìn từ hai khía cạnh là trình độ văn hóa thấp và trình độ tay nghề/học nghề thấp Khi sản xuất công nghiệp được mở rộng, sẽ phải sử dụng nhiều hơn lao động nông thôn nhưng trình độ văn hóa nói chung của người dân khá thấp Chỉ một tỉ lệ nhỏ lực lượng lao động đã được đào tạo trong các khóa học nghề Nhiều lao động nông thôn đã bỏ việc sau khi làm được một thời gian ngắn tại các khu công nghiệp Do đó, đây là một thách thức thực sự không chỉ đối với bản thân người lao động mà còn đối với cả cộng đồng doanh nghiệp

Trang 10

Các yếu tố khác nhau đóng các vai trò khác nhau ở tỉnh trong việc thúc đẩy sự phát triển việc làm và việc làm bền vững của địa phương Về phát triển của địa phương, sự hỗ trợ từ Trung ương vẫn là một nguồn thiết yếu đối với một số lượng lớn các tỉnh ở các khu vực miền núi, địa thế địa hình rất khó khăn Chỉ có đầu tư từ Chính phủ thì việc phát triển cơ sở hạ tầng ở những khu vực này mới khả thi Chương trình 135 là một ví dụ điển hình cho loại đầu tư này Cùng với đó, trong quá trình thúc đẩy việc làm, Chính phủ, đại diện bởi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cũng đã đóng một vai trò rất lớn thông qua việc ban hành các chính sách khác nhau và áp dụng nhiều chương trình tạo việc làm, an sinh xã hội, an toàn lao động, v.v Người chủ sử dụng lao động ở bất cứ nơi nào cũng là những nhân tố tích cực nhất và đóng vai trò trực tiếp trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, việc làm và việc làm bền vững vì họ vừa là bên cung vừa là bên cầu của quá trình sản xuất và là bên cầu về lao động Khả năng của người sử dụng lao động đặc biệt về mở rộng sản xuất ở mỗi tỉnh, sẽ quyết định mức độ phát triển kinh tế ở đó Việc này hiển nhiên đúng trong thời gian hiện nay khi Việt Nam đã và đang triển khai nền kinh tế có định hướng thị trường trong gần hai thập kỉ qua Ngoài việc chấp hành các chính sách và khuôn khổ luật pháp

về lao động và việc làm, người sử dụng lao động cũng là những người trả lương cho người lao động và do đó, việc trả lương của họ ảnh hưởng đến mặt "thu nhập công bằng" của việc làm bền vững Tất nhiên, hành vi cơ bản nhất của một người sử dụng lao động là tối đa hóa lợi nhuận của họ Tuy nhiên, tính hiệu quả của doanh nghiệp của họ sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc làm bền vững cho người lao động Mặc dù vậy, hiện nay ở một số tỉnh vẫn phổ biến tình trạng các chính sách an sinh xã hội của chính phủ không được tôn trọng trong nhiều doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ vàvừa

Hoạt động của thị trường lao động địa phương và chuyển dịch cơ cấu việc làm giữa nông thôn và thành thị ở cấp tỉnh

Thị trường lao động cấp tỉnh tất nhiên không chỉ thu hẹp trong phạm vi địa giới hành chính của tỉnh mà nó có liên quan chặt chẽ đến thị trường lao động trên cả nước Theo Bộ luật Lao động, người lao động được quyền tự do làm việc cho bất kỳ ai và bất kỳ nơi nào không bị luật pháp cấm Do đó, việc

di cư lao động là rất tự nhiên và không thể tránh khỏi trong điều kiện có sự khác biệt về nhu cầu lao động từ các cộng đồng doanh nghiệp ở các tỉnh khác nhau Nguồn cung lao động ở mỗi tỉnh thường không đáp ứng được nhu cầu lao động của tỉnh đó về cả số lượng và chất lượng, và thường nhỏ hơn nhu cầu về lao động ở các khu công nghiệp và thành phố lớn Ngoài ra,

sự thiếu việc làm ở các khu vực nông thôn là rất phổ biến và dân số nông thôn và nguồn lao động cũng rất lớn Vào năm 2006, dân số nông thôn của

Ngày đăng: 16/08/2023, 13:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w