1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ văn hóa học quan hệ xã hội trong bối cảnh phi nông nghiệp hóa (nghiên cứu trường hợp làng ninh hiệp, gia lâm, hà nội

257 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ xã hội trong bối cảnh phi nông nghiệp hóa: Nghiên cứu trường hợp làng Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội
Tác giả Nguyễn Giáo
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Thanh Bình, TS. Đào Thế Đức
Trường học Học viện Khoa học xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Luận án tiến sĩ Văn học
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 257
Dung lượng 2,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Quan tâm đến bức tranh quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp hiện nay và việc nó có thể đem lại nhận thức gì mới so với những nhận thức đã có về quan hệ xã

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN GIÁO

QUAN HỆ XÃ HỘI TRONG BỐI CẢNH PHI NÔNG NGHIỆP HÓA:

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LÀNG NINH HIỆP, GIA LÂM, HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN GIÁO

QUAN HỆ XÃ HỘI TRONG BỐI CẢNH PHI NÔNG NGHIỆP HÓA:

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LÀNG NINH HIỆP, GIA LÂM, HÀ NỘI

Ngành: VĂN HÓA HỌC

Mã số: 62 31 06 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS TS LÊ THANH BÌNH

2 TS ĐÀO THẾ ĐỨC

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành đề tài này, nghiên cứu sinh xin trân trọng cảm ơn:

- Học viện Khoa học xã hội và khoa Văn hóa học, cơ sở đào tạo

- GS.TS Nguyễn Xuân Kính và GS.TS Lê Hồng Lý, lãnh đạo Viện Nghiên cứu văn hóa qua các thời kì và là những người đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho nghiên cứu sinh trong suốt quá trình thực hiện luận án

- PGS.TS Lê Thanh Bình và TS Đào Thế Đức, những người thày hướng dẫn trực tiếp

- Các nhà khoa học đã nhiệt tình góp ý cho luận án từ lúc mới là những trang bản thảo đầu tiên cho đến nay, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm, PGS.TS Phạm Quỳnh Phương và TS Hoàng Cầm

- Các thành viên của gia đình và bạn bè - những người đã dành sự quan tâm đầy ý nghĩa cho nghiên cứu sinh trong những năm qua

- Và cuối cùng, nhưng quan trọng nhất, người dân tại địa bàn nghiên cứu - các cộng tác viên đã cung cấp rất nhiều tư liệu cho nghiên cứu sinh để bản luận án này ra đời!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi và công trình này đảm bảo các nguyên tắc đạo đức trong việc trích dẫn tài liệu!

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Giáo

Trang 5

MỤC LỤC

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 5

4 Đóng góp của luận án 12

Chương 1 Tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết 13

1.1 Tình hình nghiên cứu 13 1.1.1 Tình hình nghiên cứu quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp 13 1.1.2 Tình hình nghiên cứu quan hệ xã hội ở nông thôn Việt Nam 15 1.1.3 Tình hình nghiên cứu quan hệ xã hội ở nông thôn châu Á 23

Chương 3 Mạng lưới quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp 64

3.1 Các quan hệ cơ bản trong mạng lưới 64

3.2 Cấu trúc của mạng lưới 74

Chương 4 Vốn xã hội ở Ninh Hiệp - sự vận dụng mạng lưới quan hệ xã

Danh mục công trình của tác giả liên quan đến đề tài nghiên cứu 151

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU THỐNG KÊ

Bảng 1 Các dạng quan hệ xã hội (lấy chủ hộ làm trung tâm) ở

khách dự đám cưới của 02 gia đình làm nghề thương mại 76

Bảng 2 Tiền mừng ở khách dự đám cưới của 02 gia đình làm

Biểu 1 Số lượng bình quân các sự kiện mang tính nghi lễ đã

tham gia và chi phí bình quân cho các sự kiện này của người làm nghề thương mại (hoặc có liên quan đến thương mại) và người làm nghề phi thương mại trong

Biểu 2 Số lượng bình quân các sự kiện mang tính nghi lễ đã

tham gia và chi phí bình quân cho các sự kiện này của người làm nghề thương mại ở các quy mô khác nhau

Biểu 3 Số lượng bình quân hội nhóm phi quan phương đã tham

gia của người làm nghề thương mại (hoặc có liên quan đến thương mại) và người làm nghề phi thương mại trong năm

Biểu 4 Số lượng bình quân hội nhóm phi quan phương đã tham

gia của người làm nghề thương mại ở các quy mô khác

Trang 7

NGHĨA CỦA CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

“Những người có quan hệ tình cảm thân thiết luôn sẵn sàng giúp nhau lúc khó khăn!”, Trung1, một người bạn học cũ của tôi và giờ là một thương nhân khá điển hình cho hàng ngàn thương nhân Ninh Hiệp, ngôi làng buôn vải và thuốc bắc rất có tiếng của ngoại thành Hà Nội, đã khẳng định như vậy khi đề cập đến vai trò của các mối quan hệ xã hội ở làng trong hoạt động kinh doanh Tôi hỏi lại: “Thế còn trong phát triển việc làm ăn?” Trung đáp: “Với anh em hay bạn bè, người ta hỏi vay lúc có sự cố; còn muốn phát triển việc làm ăn thì người ta sẽ đi vay lãi!” Đó là những trao đổi giữa chúng tôi cách đây mấy năm - vào một ngày mùa đông giá rét cuối tháng 12 năm 2011, khi tôi trở về quê tham dự đám cưới của người quen Bên chén rượu, sau những bàn luận dông dài về chính trị, thể thao và phim ảnh, câu chuyện đã đưa đẩy chúng tôi đến chỗ nói về sự gắn kết giữa quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp hiện nay với công việc buôn bán, công việc mà đại đa số dân cư của làng đang miệt mài theo đuổi

Trung vốn là bạn đồng môn khá thân thiết của tôi, đồng thời cũng là một người họ hàng xa (nhiều đời) Chúng tôi đều từng sống tại một thôn của làng, nơi khá có truyền thống buôn bán của Ninh Hiệp trước đây cũng như bây giờ Hết cấp III, Trung theo học một trường nghề trong hai năm, sau đó vì thất nghiệp nên về làng lấy vợ Thời gian đầu, vợ chồng Trung làm rất nhiều việc, ngoài làm ruộng vốn là nghiệp nhà, còn mua bán đồ điện tử cũ (mua về sửa chữa, tân trang rồi bán), buôn cá cảnh, vận chuyển, may mướn, bán hàng thuê Sau khi đất ruộng bị thu hồi cho khu công nghiệp, vợ chồng anh - nhờ

sự giúp đỡ tài chính từ những người thân thiết - đã mua được một chỗ ngồi nhỏ trên chợ để chuyển hẳn sang buôn vải Kể từ đó, anh tập trung phụ giúp

vợ bán hàng Dần dà, gia đình anh cũng có thu nhập vào loại trung bình khá trong làng Giờ anh đã xây được ngôi “biệt thự” ba tầng có tổng diện tích gần 400m2 trên mảnh đất được thừa kế từ cha mẹ Ngoài ra, anh cũng mua được

1 Từ đây trở đi, vì lí do đạo đức khoa học, tên thật của các nhân vật được đổi Mọi sự trùng hợp là ngẫu nhiên

Trang 9

hai mảnh đất “để sau này cho các con khi chúng lớn” Có thể nói, Trung chính là hình mẫu tiêu biểu cho những người Ninh Hiệp chuyển từ làm nghề hỗn hợp mà chủ yếu là làm nông sang buôn bán (sau khi đất canh tác của làng

bị chuyển đổi mục đích sử dụng) một cách thành công

Trung và tôi duy trì một mối quan hệ khá thân mật, dù tôi đã rời làng

kể từ lúc trở thành sinh viên, tức hơn hai mươi năm nay Mỗi khi tôi về quê, chúng tôi thường hẹn nhau đi uống nước và tán gẫu vào buổi chiều muộn, sau khi anh thu dọn hàng hóa xong Qua những câu chuyện của Trung, tôi hiểu rằng việc mưu sinh của một tiểu thương như anh giữa “biển” tiểu thương Ninh Hiệp là không hề đơn giản Anh tâm sự, có những lúc việc làm ăn thất bát đến mức tưởng như phải bỏ cuộc, nhưng cuối cùng nhờ sự trợ giúp của bà con trong họ và bạn bè thân thiết mà vợ chồng anh đã trụ lại được Tuy nhiên, anh nhấn mạnh một lần nữa rằng ở Ninh Hiệp, sự trợ giúp từ mạng lưới quan

hệ xã hội gần gũi sẽ chỉ đến trong thời điểm một cá nhân gặp khó khăn và thường người ta cũng xác định sẽ trông đợi vào nó những lúc nào gặp sự cố, còn muốn làm giàu thì phải tự thân vận động Tự thân vận động là gì? Đó là, cùng với việc vay lãi để kinh doanh, người ta nhất thiết phải xây dựng được một mạng lưới quan hệ trong và ngoài làng (càng rộng càng tốt) để khai thác cho việc làm ăn Anh khẳng định một cách quả quyết: “Quan hệ rộng là điều rất quan trọng! Nhờ quan hệ mà mình có được những thông tin cần thiết về mặt hàng, giá cả cũng như nguồn khách hàng Trong tình hình kinh doanh cạnh tranh hiện nay, không có mạng lưới như vậy thì khó lòng có thể phát triển được!”

Lời Trung nói khiến tôi quan tâm Sự nhìn nhận một cách phân biệt đối với những nguồn lực từ các mối quan hệ đa dạng nhưng đều đánh giá cao chúng, đặt trong bối cảnh đặc thù của làng là phi nông nghiệp hóa dạng thương mại hóa (theo thống kê gần đây, trong tổng số 3.370 hộ với 16.138 nhân khẩu của Ninh Hiệp, số hộ làm nông nghiệp chỉ chiếm 10%, còn lại chủ yếu là các hộ buôn bán hoặc sản xuất công nghiệp/ tiểu thủ công nghiệp/ dịch

vụ mà một phần khá lớn các hộ sản xuất công nghiệp/ tiểu thủ công nghiệp đó cũng kiêm luôn cả hoạt động thương mại) cho thấy một thực tế khá rõ: các

Trang 10

quan hệ xã hội truyền thống vẫn giữ những vai trò quan trọng, dù có thể là khác nhau, đối với đời sống của người dân nơi này Cụ thể, có những quan hệ đóng vai trò trợ giúp người ta trong hoàn cảnh khó khăn và có những quan hệ đóng vai trò trợ giúp người ta trong việc phát triển kinh tế Ta vẫn biết, một

số lí thuyết hiện đại - tiêu biểu là lí thuyết của Parsons - nhận định rằng trong một xã hội “hiện đại”, các quan hệ xã hội truyền thống sẽ dần dần giải thể, tan

rã do không còn những vai trò vốn có Như vậy, hiện tượng chứa đựng trong câu chuyện nêu trên phần nào đã vượt ra khỏi khả năng giải thích của các lí thuyết này Nó cần được tìm hiểu

Nếu như cách đây khoảng hơn thập kỉ, các làng - xã Việt phi nông nghiệp hầu như chưa xuất hiện thì nay một số làng - xã đã tiến tới phi nông nghiệp toàn diện mà Ninh Hiệp là một trường hợp Ngôi làng này2, nơi hiện

về mặt địa giới thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội, là một trong những làng lớn của đồng bằng Bắc Bộ với lịch sử lâu đời, cũng là làng tiêu biểu trong phát triển kinh tế kể từ sau thời điểm bắt đầu Đổi mới của cả nước Câu chuyện với Trung đã thôi thúc tôi bước đầu tìm hiểu các quan hệ xã hội tại đây Kết quả cho thấy, có sự gia tăng rất đáng chú ý của một số dạng quan hệ xã hội trong làng vì những lí do liên quan đến bối cảnh chuyển đổi về sinh kế Nói

cách khác, đang có một xu hướng phát triển của tính duy lí trên nền tảng đan

xen giữa tình và lí trong quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp mà (nền tảng đó) theo tôi vốn là mẫu số chung của quan hệ xã hội ở nông thôn Việt Tôi cho rằng, việc nhận diện điều này và lí giải nó có thể giúp góp thêm được một ý kiến vào cuộc thảo luận về quan hệ xã hội ở nông thôn nước ta và trong khu vực hiện nay

Từ những lí do trên, Quan hệ xã hội trong bối cảnh phi nông nghiệp

hóa: Nghiên cứu trường hợp làng Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội được tôi chọn

làm đề tài cho luận án tiến sĩ văn hóa học của mình3

2 Ninh Hiệp vừa là làng vừa là xã nhưng trong đời sống hàng ngày, người dân thường gọi nó là làng

3 Xin nói thêm, giữa nhiều định nghĩa về văn hóa, chúng tôi theo quan điểm đang trở nên phổ biến hiện nay của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) rằng văn hóa là một tập hợp “các đặc trưng tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội, và bao gồm, ngoài văn học và nghệ thuật, cả lối sống, cách thức cùng chung sống,

hệ giá trị, phong tục và tín ngưỡng” [247], vì thế xem quan hệ xã hội là cái thuộc về văn hóa

Trang 11

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Quan tâm đến bức tranh quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp hiện nay và việc

nó có thể đem lại nhận thức gì mới so với những nhận thức đã có về quan hệ

xã hội ở nông thôn Việt Nam và khu vực, mục đích nghiên cứu của đề tài là

chỉ ra được tính chất của mặt duy lí trong quan hệ xã hội của một ngôi làng

Việt trong bối cảnh đương đại với tư cách nét trội đã nói Quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp - như vừa đề cập - có sự đan xen của cả tình và lí, tuy nhiên trong khuôn khổ có hạn về mặt dung lượng của một luận án, đề tài chủ trương chỉ tập trung tìm hiểu cái là nét trội này4 Người viết xác định đây là một đề tài nghiên cứu cơ bản, hướng đến những thảo luận mang tính lí thuyết, song nó cũng sẽ là một nguồn tư liệu có ý nghĩa tham khảo cho việc hoạch định chính sách trong các lĩnh vực có liên quan

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp trong bối cảnh phi nông nghiệp hóa

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp kể từ

thời điểm mà theo chủ trương của chính quyền xã, phần lớn đất nông nghiệp trong làng bắt đầu bị chuyển đổi mục đích sử dụng (năm 2002) Trước kia Ninh Hiệp là một làng hỗn hợp, trong đó người làm ruộng chiếm tỉ lệ tương đối và bản thân người làm các ngành nghề khác như thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ… cũng không ly nông hoàn toàn Tuy nhiên, từ sau năm 2002, với việc diện tích canh tác ngày càng thu hẹp do đất nông nghiệp trở thành đất giãn dân và trở thành đất dành cho các hoạt động công nghiệp/ thương mại - dịch vụ, thành phần lao động thuần nông giảm thiểu một cách rất rõ rệt, chưa kể việc có rất nhiều hộ chỉ còn là hộ “thuần nông” trên giấy tờ tức thuần nông một cách hình thức Hiện, đại bộ phận dân làng đã trở thành những người kinh doanh hoặc có liên quan đến các hoạt động kinh doanh Người viết sẽ tập trung vào lực lượng này Và vì giới hạn vấn đề nghiên cứu ở mặt duy lí của quan hệ xã hội, người viết sẽ quan tâm đến bức tranh quan hệ xã hội ở đây trong sự gắn kết với vốn xã hội

4 Nét trội đang đề cập dĩ nhiên được hiểu là “nét trội” ở một thời điểm cụ thể, nhất định trong lịch

sử của ngôi làng (tức cái được đưa lại bởi một bối cảnh đặc thù)

Trang 12

3 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Như mọi công trình văn hóa học, đề tài này tập trung vào mối quan hệ giữa hiện tượng được nghiên cứu với bối cảnh Quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp trong bối cảnh chuyển đổi của làng - từ một xã hội mà con số lao động nông nghiệp chiếm tỉ lệ đáng kể sang một xã hội phi nông nghiệp, hay diễn đạt cách khác, từ một xã hội vốn được xem là “truyền thống” sang một xã hội được xem là “hiện đại” - nói lên điều gì về phản ứng (hiểu theo nghĩa sự lựa chọn) của người dân để thích nghi với nó cũng như theo đuổi những mục đích đã đặt ra và do vậy sáng tạo nên văn hóa của mình, đó là điều mà đề tài hướng tới

Đề tài chú trọng đến cái nhìn “từ bên trong” nhằm tìm hiểu, khám phá quan điểm của chủ thể văn hóa xung quanh những gì mà họ lựa chọn Cách tiếp cận này - đang trở nên rất có ảnh hưởng trong khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới hiện nay - bắt nguồn từ việc xem người dân là những chủ thể có tính tự quyết đối với hành vi của mình, khác với cách tiếp cận thuần túy “từ bên ngoài” vốn cho rằng chủ thể văn hóa không thực sự ý thức được

lí do khiến họ làm cái việc mà họ đã làm và vì thế không phải/ không được

là người có thẩm quyền trả lời về hành vi đó Với sự xác định trên, nguyên

tắc của đề tài là quan tâm đến câu trả lời của bản thân người dân làng Ninh

Hiệp trong việc lí giải những gì liên quan đến việc họ khởi tạo, duy trì, gia tăng, giảm thiểu hay kết thúc các mối quan hệ xã hội của mình Tất nhiên,

đề tài cũng lưu ý đúng mức đến cái nhìn từ bên ngoài, vì như ta biết, có những điều của bức tranh mà người ở hoàn toàn trong bức tranh không hẳn

dễ nhận ra

Xin nói thêm, việc nghiên cứu với tư cách là một người trong cuộc (sinh ra, lớn lên tại làng và đến nay vẫn duy trì mối quan hệ thường xuyên, đồng thời đã có những trải nghiệm nhiều mặt gắn với nghề buôn bán đặc thù trong các thập niên gần đây của nó) đem lại cho người viết khá nhiều thuận lợi, nhưng cũng không phải không có khó khăn Trước hết, về thuận lợi Có những vấn đề mà người ngoài cuộc khó hiểu được như người trong cuộc, vì dẫu dành nhiều thời gian để thâm nhập thực địa đến đâu, người ngoài cuộc

Trang 13

cũng không thể thực sự đồng hóa mình với đối tượng nghiên cứu Không một quan sát nào có thể tách khỏi người quan sát, mà người quan sát thì luôn bị chi phối bởi thế giới quan/ nhân sinh quan mang đặc điểm cá nhân và bối cảnh cụ thể của việc nghiên cứu với các biến số “gây nhiễu” nhất định - những điều dễ dẫn đến khoảng cách giữa người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Nếu người nghiên cứu là người trong cuộc, khoảng cách vừa đề cập sẽ được khắc phục phần lớn Tuy nhiên, mặc dù với người ngoài, dân làng sẽ có sự thận trọng nhất định và không muốn hoặc không muốn nói hết

về những gì mình nghĩ và làm5, có những điều họ chỉ cảm thấy thoải mái khi nói với người ngoài hơn là với người làng hay thậm chí là với người thân quen, kể cả trong trường hợp người đó không còn sinh sống hẳn ở làng nữa Ngoài ra, vì là nhà nghiên cứu “người làng”, tức thiếu đi đôi mắt hoàn toàn mới mẻ của các nhà nghiên cứu lần đầu tiếp xúc với đối tượng nghiên cứu, sẽ

có những hiện tượng mà người viết không cảm thấy đủ ngạc nhiên để dừng lại đặt câu hỏi và quan sát, dù chúng xứng đáng Tóm lại, thuận lợi và khó khăn cùng đến Dẫu vậy, nhìn chung thuận lợi vẫn là chính, đặc biệt là vì thái

độ sẵn sàng chia sẻ của người dân thì vẫn nhiều hơn thái độ ngược lại Bên cạnh đó, vị trí quan sát có phần “đa chiều” (là người làng nhưng không còn thường trú tại làng) dù sao vẫn đem lại cho người viết một may mắn là có thể, mượn một cách nói hình ảnh, cân bằng nhất định được giữa việc “ở đó” như yêu cầu của Geetz với “nhìn từ xa” như yêu cầu của Levi-Strauss

Với việc tìm hiểu các quan hệ xã hội ở làng Ninh Hiệp, đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu quen thuộc của văn hóa học - bộ môn khoa học nằm ở giao điểm của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, hay nói cách

khác một chuyên ngành không chuyên ngành (non - disciplinary discipline)

Đó là phương pháp nghiên cứu liên ngành Bên cạnh phương pháp quan sát

tham dự và phỏng vấn sâu là những phương pháp phổ biến trong dân tộc học

và được lựa chọn như các phương pháp nghiên cứu chính vì thích hợp để tìm

5 Trước đây, đã có những nhóm nghiên cứu về khảo sát tại Ninh Hiệp Một số người làng cho tôi biết họ khá phân vân khi nói với những đoàn này về con số thu nhập của mình

Trang 14

hiểu động cơ, ý nghĩa ẩn kín của các hành động của chủ thể văn hóa, người viết cũng quan tâm đến việc áp dụng phương pháp thống kê của xã hội học khi xem các thông số định lượng là những dữ kiện vừa có ý nghĩa gợi mở vừa

hỗ trợ cho việc giải quyết vấn đề nghiên cứu, đồng thời lưu ý đến việc phân tích - tổng hợp các tư liệu thành văn và cả phi thành văn có liên quan để nhận thức rõ hơn về vấn đề

Về việc quan sát và việc phỏng vấn sâu, nếu đối tượng quan sát của

đề tài là thực trạng của quan hệ xã hội của người Ninh Hiệp ở các điểm nghiên cứu tại một số thôn trong đời sống thường nhật và đời sống phi thường nhật (ví dụ như trong các sự kiện có tính nghi thức: cưới xin, mừng thọ, giỗ chạp ) thì đối tượng phỏng vấn sâu của đề tài là những người làng

và cũng đang cư trú tại làng với các độ tuổi, giới, trình độ học vấn, mức sống… khác nhau Trước nhất, về việc quan sát Hầu hết quan sát của tôi là quan sát tham dự Gặp gỡ họ hàng, bạn bè hay đi các đám “quan hôn tang tế” trong làng vốn là việc mà tôi vẫn làm lâu nay, nhưng từ khi bước vào nghiên cứu này, những điều đó được tôi quan tâm và thực hiện thường xuyên hơn (trước đây, vì không sống ở làng nên tôi vẫn để các em trai kế mình gánh vác giúp một phần trách nhiệm con trưởng) Mặc dù “thâm nhập địa bàn nghiên cứu” và “xây dựng quan hệ” là những giai đoạn quan trọng cho một quá trình điền dã như Shaffir và Stebbins (1991) [237] đã chỉ ra, vì là người làng, tôi có may mắn là không phải mất nhiều thời gian cho chúng như những người nghiên cứu “ngoài cuộc” Sau nữa, về việc phỏng vấn sâu Nhằm thu được những thông tin mà tôi cho là đáng tin cậy nhất có thể, tôi đã lựa chọn và tiếp cận đối tượng phỏng vấn từ nhiều nguồn, cụ thể là mạng lưới quan hệ của bản thân, sự giới thiệu của những người quen biết, sự giới thiệu của chính những người đã từng được phỏng vấn, và sự giới thiệu của các cơ quan chức năng; hứa hẹn giữ bí mật thông tin liên quan đến người được phỏng vấn bằng cách ẩn các thông tin có thể khiến họ bị nhận diện khi công

bố kết quả nghiên cứu; lựa chọn phương pháp phỏng vấn mở để người được phỏng vấn thoải mái bộc lộ suy nghĩ; và cuối cùng, phỏng vấn đối tượng nhiều lần ở nhiều tình huống khác nhau và phỏng vấn chéo các đối tượng

Trang 15

trong những trường hợp cần thiết Bên cạnh việc đưa ra các câu hỏi về những vấn đề hiện tại, việc đưa ra các câu hỏi mang tính hồi cố nhằm có được thông tin về làng trong quá khứ - đặc biệt là quan hệ xã hội của làng - cũng là điều tôi chú trọng: tôi đã đề nghị các thông tin viên lớn tuổi cho biết càng nhiều càng tốt những trải nghiệm liên quan mà họ còn nhớ được Phỏng vấn sâu làm tốn khá nhiều thời gian của người được hỏi và theo đạo đức nghiên cứu thì rất cần có thù lao thỏa đáng cho họ, song ở trường hợp của tôi (một người làng), đưa phong bì là phản tác dụng nên tôi đã dừng lại sau vài lần “thử nghiệm” và thay vào đó chỉ chuẩn bị quà cáp đơn giản là ít hoa quả theo mùa

Số lượng người được tôi phỏng vấn có sự xê dịch tùy theo từng câu hỏi Với mỗi câu hỏi, tôi hỏi ít nhất 5 - 7 người và chỉ dừng lại chừng nào nhận thấy rằng không có thêm ý kiến khác với những ý kiến đã có (thường thì thông tin cũng khá nhanh chóng bão hòa) Trong quá trình phỏng vấn, tôi không quay phim hay ghi âm vì không muốn thông tín viên của mình mất đi sự tự nhiên, điều hay xảy ra khi có sự hiện diện của các “thiết bị kĩ thuật” Tôi cũng hết sức hạn chế ghi chép, mặc dù thông tín viên không phản đối Điều này có hai

lí do Thứ nhất, tôi không muốn làm gián đoạn mạch câu chuyện - biết đâu đấy, những điều hay ho nhất có thể trôi tuột đi trong khoảng gián đoạn này Thứ hai, tôi không muốn ngừng sự giao tiếp bằng mắt giữa người phỏng vấn

và các thông tín viên - lắng nghe cảm giác của mình rằng thông tín viên có hứng thú tiếp tục câu chuyện hay không và thậm chí có nói “thực lòng” hay không là điều tôi đặc biệt quan tâm Vì quan hệ xã hội là vấn đề khá nhạy cảm nên tôi đã tập cho mình sự kiên nhẫn khi phỏng vấn và không ít lần đã thay thế các câu hỏi trực tiếp bằng các câu hỏi gián tiếp để người được phỏng vấn không cảm thấy e ngại Tất cả mọi sự ghi chép được tôi thực hiện khi trở về nhà cha mẹ tôi (cạnh UBND xã) ngay sau đó Điều này khiến tôi có thể lưu lại gần như trọn vẹn những gì đã thu nhận khi chúng vẫn còn khá rõ ràng trong trí nhớ Xin nói thêm, sở dĩ tôi không tiến hành các thảo luận nhóm tập trung bên cạnh việc quan sát và phỏng vấn sâu, dù nó cũng là một phương pháp nghiên cứu định tính quen thuộc, là có lí do Thoạt đầu, tôi cũng

dự định tổ chức những cuộc thảo luận như vậy, nhưng vì các thông tín viên

Trang 16

của tôi nói rằng quan hệ xã hội là chủ đề mà người làng không thực sự muốn trao đổi trước một nhóm đông người nên cuối cùng tôi đã đổi ý

Cả trong phỏng vấn sâu và quan sát, sau khi có từng kết quả, tôi đều bắt đầu luôn việc phân tích dữ liệu Nói cách khác, tôi làm điều đó ngay trong không khí trên thực địa (làng), khi những cảm nhận của mình về thông tin và

về bối cảnh có được thông tin vẫn còn sinh động Việc làm này cho phép người nghiên cứu kịp thời rút kinh nghiệm trong việc thu thập dữ liệu hoặc thậm chí điều chỉnh chiến lược nghiên cứu cho phù hợp với tình hình thực tế như Miles và Huberman (1994) [214] đã khẳng định, và vì thế tôi coi nó là một cơ chế để kiểm soát chất lượng của nghiên cứu

Về việc thống kê, tức về việc nghiên cứu định lượng, đề tài tiến hành một số thống kê liên quan đến vấn đề nghiên cứu mà kết quả thể hiện trong bản luận án như tỉ lệ các loại quan hệ xã hội trong danh sách khách dự đám cưới của một số gia đình hay số lượng sự kiện mang tính nghi lễ đã dự trong năm/ mức độ tham gia vào các hội nhóm phi quan phương của cá nhân Nhìn chung, tôi không vấp phải khó khăn gì đáng kể với việc đề nghị đối tượng tham gia vào khảo sát định lượng của mình, trước hết bởi - như chính người được hỏi nói - tôi là “người làng người nước” Bản thân tôi vốn có một mạng lưới quan hệ tương đối nên tiện đặt vấn đề đã đành, ngay cả với những đối tượng chưa quen biết thì tôi cũng có thể đến gặp và đề nghị họ cung cấp thông tin một cách khá “thuận buồm xuôi gió” mà không cần người giới thiệu, chỉ cần xưng là dân ở thôn nào, ngõ nào là đủ Những vất vả như kiểu của Whyte khi ông nghiên cứu một góc phố đô thị - rằng việc được chấp nhận trong xã hội căn cứ vào các quan hệ do cá nhân tự xây dựng và “tất cả những

sự giải thích về bản thân với người lạ đều vô nghĩa trong xã hội này” [250, tr 300] - là điều tôi không phải đối mặt Sau nữa, sự thuận lợi của tôi một phần còn vì người Ninh Hiệp đã khá quen với khảo sát định lượng, do mươi năm trở về trước làng hay được những người làm xã hội học về nghiên cứu (nhiều người đứng tuổi đã từng là người trả lời các phỏng vấn xã hội học trước đây

và nhiều người trẻ hiện đang là chủ một gia đình thì vẫn nhớ về chuyện đó)

Trang 17

Để việc khảo sát được thuận lợi, tôi lựa chọn đến các nhà mà mình đã lên danh sách vào thời điểm chiều muộn, khoảng trước bữa cơm, vì đó là lúc dễ gặp được chủ nhà nhất và không gây ảnh hưởng đến lịch trình làm việc đặc thù liên quan đến hoạt động kinh doanh của họ (buổi tối là lúc người buôn bán Ninh Hiệp kiểm hàng, giao hàng, thu tiền hàng - những việc bắt đầu ngoài 19 giờ và sẽ kết thúc vào khoảng 22 giờ) Tuy nhiên, mặc dù coi trọng các thông số định lượng, xin nhấn mạnh lại rằng với những vấn đề liên quan đến nhận thức, quan niệm, thái độ, tình cảm của chủ thể văn hóa về quan hệ

xã hội của họ, người viết vẫn ưu tiên sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính mà cụ thể ở đây là quan sát tham dự và phỏng vấn sâu vì chúng có hiệu quả hơn, nhất là trong một vấn đề có phần nhạy cảm như vấn đề đang triển khai Các thống kê được thực hiện, do đó, chủ yếu là nhằm tạo tiền đề và/ hoặc bổ sung cho điều tra định tính Việc lựa chọn sử dụng kĩ thuật định tính hay định lượng, như ta vẫn biết, phụ thuộc vào sự tương thích của chúng đối với vấn đề nghiên cứu và việc phối hợp chúng như thế nào cũng vậy

Về việc phân tích - tổng hợp các tư liệu có liên quan, đối tượng của

đề tài là các tư liệu về quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp nói riêng và các tư liệu có thể không về quan hệ xã hội nhưng gắn kết nhất định với vấn đề nghiên cứu Trong đó, tư liệu thành văn bao gồm: i) các công trình nghiên cứu đã được công bố của người nghiên cứu chuyên hoặc không chuyên, ii) các văn bản của Đảng bộ/ Đảng ủy và UBND xã, và iii) các tư liệu của người làng chưa/ không xuất bản Các công trình nghiên cứu chuyên nghiệp về Ninh Hiệp khá phong phú, lí do là bởi mấy thập niên gần đây, nó được các nhà khoa học về nông thôn/làng ở Việt Nam dành cho nhiều sự quan tâm Các công trình nghiên cứu không chuyên về Ninh Hiệp đã công bố cũng không ít6 Với các văn bản của Đảng bộ/Đảng ủy và UBND xã, tôi gặp thuận lợi lớn trong việc

6 Thậm chí cách đây khoảng chục năm, báo chí Hà Nội vẫn thường nhắc đến một người làng hay viết về Ninh Hiệp với danh xưng “người viết sử làng” Tuy nhiên, ít người biết rằng đây là người viết sử làng đặc biệt, vì ông đã nhận được cả tiếng vang lẫn tai họa từ những trang viết của mình (có quyển sách của ông đã bị UBND xã thu hồi do xuất hiện đơn kiện của một dòng họ trong làng rằng nó có những điểm chưa chính xác) Câu chuyện này khiến tôi luôn tự nhắc bản thân phải hết sức thận trọng khi sử dụng các nguồn tư liệu thứ cấp bằng cách hỏi thật nhiều người làng trong khả năng có thể của mình về những thông tin liên quan để đối chứng

Trang 18

tiếp cận do một cán bộ xã là bạn học cũ của tôi - anh đã giúp tôi sớm có được những gì mà tôi muốn Những văn bản này rất cần thiết vì chúng không chỉ đem lại con số mà còn cho tôi biết quan điểm của các tổ chức, cơ quan công quyền đối với vấn đề phi nông nghiệp hóa tại làng ở từng giai đoạn cụ thể Với các tư liệu của người làng chưa hoặc không xuất bản, việc tiếp cận khó hơn Vì quen biết “dây mơ rễ má” với người thân của các tác giả, tôi mượn được một vài bản thảo viết tay hoặc đánh máy đề cập đến những khía cạnh ít nhiều liên quan tới lịch sử của làng để tham khảo Tôi nhận thấy rằng thái độ trân trọng các bản thảo được mượn là điều khiến người mượn khá nhanh chóng giành được thiện cảm của người cho mượn và sau đó sẽ dễ được tạo điều kiện để tiếp cận nhiều tư liệu hơn nữa Ví dụ, có bản thảo, trước khi đem trả, tôi xin phép được đóng quyển để tránh khả năng sau này các trang ruột của nó bị thất lạc, không ngờ việc nhỏ như vậy cũng đủ để tôi nhận được sự hài lòng lớn từ phía người cho mượn - người này đã cung cấp thêm một vài tài liệu “độc” khác mà trước đó tôi không hề biết đến Ngoài ra, tôi cũng tham khảo các thông tin về làng trên internet - một nguồn có tính cập nhật và đa dạng - để biết thêm rằng người Ninh Hiệp nghĩ về mình như thế nào và người nơi khác nghĩ về họ ra sao trong những vấn đề mà tôi quan tâm Còn về việc phân tích - tổng hợp các tư liệu phi thành văn có liên quan, đối tượng của đề tài là những câu chuyện, lời ca gắn với quá trình hình thành, phát triển của làng mà một số người trong làng vẫn nhớ, cái lắng đọng hình ảnh cuộc sống của cư dân nơi này qua các thế hệ Tôi có được chúng chủ yếu từ các lão niên trong làng Họ biết tương đối nhiều và rất vui khi một người còn khá trẻ mong muốn tìm hiểu về di sản đó Cũng phải nói thêm rằng những sáng tác này không chỉ được lưu một cách tĩnh tại trong trí nhớ người già mà vẫn tiếp tục tồn tại sống động trong cuộc sống của họ theo một cách thức nhất định Không ít lần tôi đã chứng kiến các ông, các bà vui vẻ đọc, hát

và bàn luận về các sáng tác thơ ca truyền miệng lâu đời của làng khi họ sinh hoạt với nhau trong Câu lạc bộ văn nghệ người cao tuổi Ninh Hiệp do chính

bà thân sinh tôi là chủ tịch - hiện tượng cho thấy vẫn có một đời sống thực của văn hóa dân gian ở đây

Trang 19

4 Đóng góp của luận án

Đây là một nghiên cứu về quan hệ xã hội ở một làng người Việt trong bối cảnh phi nông nghiệp hóa đặc thù - phi nông nghiệp hóa dạng thương mại hóa - dưới góc độ văn hóa học

Về mặt lí luận, qua việc giải quyết vấn đề nghiên cứu, luận án thảo luận với và bổ sung cho quan điểm “người nông dân duy lí”, được biết đến nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu quan hệ xã hội ở nông thôn châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, do Popkin khởi xướng Đồng thời, luận án còn thảo luận với và bổ sung cho quan điểm “mạng xã hội” về vốn xã hội và phát

triển kinh tế, được biết đến nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu vốn xã hội, của

Burt, Portes, Massey, Woolcock và một số người khác

Về mặt thực tiễn, đề tài góp phần làm toàn diện hơn nữa nhận thức về bức tranh toàn cảnh của quan hệ xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay khi phi nông nghiệp hóa đang là một xu hướng ngày càng phát triển và vì thế, cung cấp thêm một cơ sở cho những nhà hoạch định chính sách và những người thực hiện các dự án phát triển trong các lĩnh vực/ vấn đề có liên quan

5 Bố cục

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình của tác giả liên quan đến đề tài và phụ lục, luận án có 05 chương:

Chương 1 Tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết;

Chương 2 Làng Ninh Hiệp;

Chương 3 Mạng lưới quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp;

Chương 4 Vốn xã hội ở Ninh Hiệp - sự vận dụng mạng lưới quan hệ

xã hội trong hoạt động mưu sinh của người dân;

Chương 5 Tính chiến lược trong quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp - sự ứng

xử với vốn xã hội

Trang 20

Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Tình hình nghiên cứu quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp

Ninh Hiệp là một trong những ngôi làng Bắc Bộ được giới nghiên cứu

về nông thôn ở Việt Nam khá quan tâm Đến nay, một số công trình khảo sát

về nó đã được thực hiện như: Ninh Hiệp truyền thống và phát triển của Tô

Duy Hợp (chủ biên) (1997) [45]; “Thương mại - dịch vụ trong phát triển kinh tế - xã hội ở Ninh Hiệp” của Lê Thanh Bình (2002) [8]; “Tiểu thủ công

nghiệp ở Ninh Hiệp (lịch sử và hiện tại)” của Dương Duy Bằng (2002) [5];

“Những biến đổi của quan hệ dòng họ ở Ninh Hiệp” của Vũ Văn Quân

(2002) [85]; Chợ nông thôn châu thổ sông Hồng trong quá trình chuyển đổi

kinh tế - xã hội thời kì đổi mới (trường hợp chợ Ninh Hiệp, chợ Hữu Bằng, chợ Thổ Tang) của Lê Thị Mai (2004) [64]7; Sinh hoạt văn hóa cổ truyền ở

các làng - xã Đa Tốn, Ninh Hiệp, Bát Tràng huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội trong thời kỳ đổi mới của Phan Thanh Tá (2010) [95]… Những nghiên

cứu mang tính tổng quát (Tô Duy Hợp) cũng như những nghiên cứu đi sâu tìm hiểu từng lĩnh vực như kinh tế (Lê Thị Mai, Lê Thanh Bình), văn hóa (Phan Thanh Tá), và xã hội (Vũ Văn Quân, Nguyễn Đức Truyến…) đã đưa đến một số kiến giải quan trọng về đối tượng này Ninh Hiệp cũng được giới nghiên cứu quốc tế ít nhiều chú ý Chẳng hạn trong công trình của Lương Văn Hy và Unger, “Wealth, Power, and Poverty in the Transition to Market Economies: The Process of Socio-economies Differentiation in Rural China

and Northern Vietnam” [Thịnh vượng, quyền lực và sự nghèo đói trong việc

chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường: Quá trình của sự phân hóa kinh tế -

xã hội ở nông thôn Trung Quốc và Bắc Việt Nam] (1998) [207], nó được lấy

làm ví dụ cho dạng làng có truyền thống về nghề thủ công và chuyên nghiệphóa thương mại (truyền thống này được xem là một trong các yếu tố có ý

7 Công trình đã được xuất bản bởi Nxb Thế giới (Hà Nội) vào năm 2004 với tên gọi Chợ quê trong quá trình chuyển đổi

Trang 21

nghĩa nền tảng đối với “mức độ của sự định hướng thị trường của một ngôi làng”) Hay mới đây, trong “Tư nhân hóa và sự năng động của thị trường mang tính chất giới ở Ninh Hiệp, Gia Lâm” (2014) [41], Horat đã mô tả việc phân công lại lao động cùng những thỏa thuận đối với vai trò và mối quan hệ giới trong gia đình ở làng hiện nay

Về việc nghiên cứu các quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp (hoặc lấy Ninh Hiệp làm một mẫu nghiên cứu trường hợp), có hai công trình tập trung hơn cả

là “Những biến đổi của quan hệ dòng họ ở Ninh Hiệp” của Vũ Văn Quân

(trong Làng ở vùng châu thổ sông Hồng, vấn đề còn bỏ ngỏ do Papin và Tessier chủ biên) (2002) [85] và Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở

nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kì đổi mới của Nguyễn Đức

Truyến (2003) [116]

Trong công trình thứ nhất, tác giả đã lần lượt đề cập tới i) sự gắn kết của quan hệ dòng họ trước Cách mạng (1945); ii) sự phai nhạt của quan hệ dòng họ trong giai đoạn từ sau Cách mạng cho đến trước thời điểm bắt đầu Đổi mới (1986) do những chi phối của bối cảnh chính trị; và iii) sự phục hồi của quan hệ dòng họ trong giai đoạn Đổi mới dưới tác động của sự phát triển kinh tế và đặc biệt là các chủ trương liên quan của Nhà nước Như vậy, nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của quan hệ dòng họ ở Ninh Hiệp, theo tác giả, là do tác nhân lịch sử - xã hội, nhất là những chính sách quan phương Quan điểm này có những cơ sở của nó, tuy nhiên tác giả mới chỉ đề cập đến các nguyên nhân khách quan chứ chưa chú ý đến các nguyên nhân chủ quan của sự biến đổi quan hệ dòng họ ở đây, trong khi do bản chất của các hoạt động mưu sinh phi nông nghiệp mà nó có rất nhiều khả năng mang nặng tính chiến lược

Trong công trình thứ hai, lấy làng Ninh Hiệp làm mẫu chính để khảo sát về các quan hệ xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kì Đổi mới, tác giả khẳng định, các quan hệ xã hội truyền thống phục hồi trên nền tảng tái lập kinh tế hộ gia đình Luận điểm cơ bản của tác giả là sự phục hồi kinh tế hộ gia đình một mặt phát triển ý thức về lợi ích kinh tế cá nhân,

Trang 22

mặt khác cũng đòi hỏi củng cố quan hệ cộng đồng truyền thống - được coi là giá đỡ chủ yếu cho sự phát triển của bản thân mô hình kinh tế, cũng như cho từng thành viên Mặc dù vậy, mô hình được nói đến trong nghiên cứu mới chỉ là mô hình kinh tế hộ nông dân, cái mà quan hệ cộng đồng vẫn có thể là

“giá đỡ”, chứ chưa bao gồm những mô hình khác

Có thể nói, phần nào giống như chính ngôi làng, quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp cũng đã nằm trong mối quan tâm của các nghiên cứu Tuy nhiên, những công trình đề cập đến nó so với những công trình đề cập đến các khía cạnh khác của làng lại chưa phong phú, và về cơ bản tập trung vào thời điểm cách đây trên một thập kỉ, khi Ninh Hiệp còn là một ngôi làng hỗn hợp điển hình thay vì phi nông nghiệp hóa như hiện tại

Nhìn rộng hơn, tình hình nghiên cứu quan hệ xã hội ở nông thôn Việt Nam và khu vực ra sao?

1.1.2 Tình hình nghiên cứu quan hệ xã hội ở nông thôn Việt Nam

Đề tài quan hệ xã hội thường được gặp trong những nghiên cứu về nông thôn và nông dân ở Việt Nam Có thể thấy hai mảng chính được quan tâm là i) đặc điểm quan hệ xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám (1945), và ii) đặc điểm quan hệ xã hội nông thôn Việt Nam từ sau thời điểm bắt đầu Đổi mới (1986) đến nay Một trong những lí do khiến quan hệ xã hội nông thôn giai đoạn từ sau năm 1945 đến trước năm 1986 không trở thành đối tượng được chú ý là sự chi phối của bối cảnh chính trị ở miền Bắc (quan hệ này bị xóa nhòa nhiều phần dưới thể chế “hợp tác xã”)

Thứ nhất, mảng đề tài về đặc điểm quan hệ xã hội nông thôn trước Cách mạng tháng Tám (1945)

Về tổng thể, có ba cách nhìn nhận khác nhau với đối tượng đang đề cập: duy tình, duy lí và trung hòa

Nằm trong số những người nghiên cứu sớm nhất về làng Việt, với

Người nông dân châu thổ Bắc Kì (1936), Gourou nhận định: “Làng là một

cộng đồng tự trị, tự giải quyết những mâu thuẫn giữa các thành viên, tự thu lấy thuế cho nhà nước” [31, tr 247] và “mặc dầu có sự tố giác và thủ đoạn

Trang 23

giữa các phe đảng, tình đoàn kết làng xã không phải là lời nói suông” [31, tr

254] Đồng tình với Gourou, Nguyễn Văn Huyên trong Văn minh Việt Nam

(1944) đánh giá rằng các thành viên trong làng có sự đoàn kết, và điều này đặc biệt xảy ra khi quyền lợi cộng đồng bị xâm phạm: “ làng xã Việt Nam, ngoài tổ chức hành chính chính thức, còn vô số nhóm có những mối quan hệ

rõ rệt Do tinh thần tương trợ của họ, những nhóm đó đóng vai trò tốt lành ở cái xứ sở ít tiền bạc này Dù sao đi nữa, đúng là có một cộng đồng làng xã

thật sự” [48, tr 148 - 149] Scott, với The Moral Economy of the Peasant:

Rebellion and Subsistence in Southeast Asia [Kinh tế đạo đức của nông dân:

Sự phản kháng và sinh tồn ở Đông Nam Á] (1976) [236] - công trình khởi

nguồn cho những tranh luận kéo dài của các nhà nghiên cứu trên thế giới về tính chất tình - lí ở nông thôn châu Á nhiều thập niên qua8 - nhấn mạnh rằng làng của người Việt thời thuộc địa là một thiết chế giảm thiểu rủi ro trong tình trạng khí hậu thất thường mà kĩ thuật sản xuất thì hạn chế, và sự đùm bọc giữa các thành viên của làng luôn tồn tại với trách nhiệm lớn của những người thuộc tầng lớp trên Trong “Công cuộc trị thủy - thủy lợi yêu cầu quan

hệ tập thể làng xã” (1977) [78], Vũ Huy Phúc và Lê Đình Sỹ nhận định việc phải đoàn kết để đấu tranh không ngừng với những thử thách của thiên nhiên

đã là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hình thành tinh thần cộng đồng ở nông thôn Nguyễn Đổng Chi, với “Sự tồn tại của quan hệ thân tộc trong làng xã Việt Nam” (1978) [11] và “Vài nét về biện pháp cứu tế tương trợ trong làng xã Việt Nam trước Cách mạng” (1978) [12], nói đến “sự cố kết lâu bền” trong quan hệ thân tộc nói riêng và “tinh thần tập thể rất cao” trong quan hệ làng xã nói chung ở người nông dân Trần Đình Hượu với

““Làng - Họ”, những vấn đề của quá khứ và hiện tại” (1989) xem làng là

“một thế giới riêng” và mọi người dân “có thể dựa vào thiết chế của làng, tinh thần cộng đồng, tình nghĩa bà con xóm làng mà sống, không cần ra khỏi

làng ” [51, tr 20] Diệp Đình Hoa trong Tìm hiểu làng Việt (1990) khẳng

8 Và còn không chỉ châu Á Ví dụ, xem bài viết gần đây bàn về công trình này của Edelman,

“Bringing the Moral Economy back in… to the Study of 21st-Century Transnational Peasant

Movements” [Đưa nền kinh tế đạo đức trở lại với việc nghiên cứu xuyên quốc gia về phong trào nông dân của thế kỉ 21] (2005) [165]

Trang 24

định: “Tinh thần đoàn kết và cố kết đã gắn những người nông dân lại với nhau, gắn họ với làng xã và được họ coi là nhu cầu, là lẽ sống, là tình cảm sâu sắc, là một nghĩa vụ thiêng liêng” [36, tr 544] Còn Đỗ Thái Đồng trong

“Làng hiện thực và biểu trưng” (1995) nhìn nhận, làng “có chức năng tổ chức, duy trì và tái tạo các quan hệ cộng đồng” và “là một hệ thống được biểu trưng về một sự an toàn xã hội vững chắc nhất” [28, tr 91]

Trong khi các nhà nghiên cứu nói trên nhấn mạnh đến sự lấn át của tính cộng đồng đối với tính cá nhân ở làng Việt thì ngược lại, Popkin qua

công trình tranh luận với Scott, The Rational Peasant: The Political Economy

of Rural Society in Vietnam [Người nông dân duy lí: Nền kinh tế chính trị của

xã hội nông thôn ở Việt Nam] (1979) [224], đã dành sự quan tâm cho mâu

thuẫn giữa lợi ích cá nhân và nhóm Cùng với tác phẩm của Scott, công trình của Popkin cũng chính là công trình đã đưa vấn đề tình - lí ở nông thôn Việt Nam vào tâm điểm chú ý của giới nghiên cứu quốc tế về nông thôn châu Á Popkin nhận định rằng người nông dân Việt thời thuộc địa luôn hành động dưới sự chi phối của việc ra quyết định cá nhân và những tương tác chiến lược, nhưng trước hết, anh ta quan tâm đến phúc lợi và sự an toàn của bản thân cũng như gia đình Nói cách khác, với Popkin, hành động của người nông dân mang nặng sự cân nhắc nhằm mục đích thu lợi tối đa hơn là bị chi phối bởi những vấn đề đạo đức: khi xem xét đến khả năng nhận được kết quả tốt đẹp hơn trên cơ sở hành động cá nhân, anh ta sẽ đi theo hướng tư lợi Tác giả vì thế cho rằng nên coi làng là một nghiệp đoàn hơn là một cộng đồng

Một người khác, Trần Từ, trong Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở

Bắc Bộ (1984), cũng lưu ý đến những mâu thuẫn thường trực, không thể hòa

giải trong cộng đồng làng xã Theo ông, mỗi làng của người Việt chính là một

“biển” tiểu nông tư hữu, trong đó từng hộ nông dân tự do, dù thuộc giai cấp hay thành phần xã hội nào, vẫn là một tế bào kinh tế độc lập với “lí tưởng” vươn lên riêng rẽ của nó [126, tr 29] Đồng thời, ông đánh giá rằng tuy “họ” của người Việt là một hình thức của gia đình mở rộng và chủ yếu có chức năng tạo ra niềm cộng cảm dựa trên huyết thống, vai trò của nó sau này chỉ

Trang 25

còn nằm ở lĩnh vực tâm tưởng hơn là đời sống hiện thực Đấy là chưa kể, “dù

tổ chức họ có thỉnh thoảng cung cấp một chỗ dựa tinh thần cho từng gia đình nhỏ đang phải đương đầu với mâu thuẫn làng mạc thì bản thân nó đã là một cái túi chứa mâu thuẫn rồi” [126, tr 44]

Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu lại khẳng định sự tồn tại đan xen của cả hai yếu tố vừa đề cập ở làng xã Việt (mặc dù có thể có điểm nhấn) Brocheux, trong “Moral Economy or Political Economy? The Peasants are

Always Rational” [Kinh tế đạo đức hay kinh tế chính trị? Nông dân luôn

sáng suốt] (1983), cho rằng tùy theo từng thời điểm và tình huống cụ thể,

người nông dân Việt Nam sẽ lựa chọn gắn mình vào nền kinh tế đạo đức (duy tình) hay nền kinh tế chính trị (duy lí), vì thế cuộc chiến quan điểm diễn ra giữa Scott và Popkin “là không tương ứng với cuộc sống thực tế” [154, tr 801] Lương Văn Hy, trong “Agrarian Unrest from an Anthropological

Perspective: The Case of Vietnam” [Tình trạng bất ổn nông nghiệp từ một góc

nhìn nhân học: Trường hợp của Việt Nam] (1985), khẳng định làng Việt thời

kì tiền thuộc địa và thuộc địa bao gồm cả sự “đoàn kết tận cùng” và cả “sự đua tranh dữ dội” mà nếu không có “những phân tích sâu về sự đan xen và đối lập trong nguyên lí cấu trúc và thông số sinh thái học” của nó thì sẽ không

thể hiểu hết các vấn đề liên quan [206, tr 153] Trần Quốc Vượng, với Văn

hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm (2000) nhận định, ngoài một “chủ nghĩa

cộng đồng”, hệ ý thức Việt Nam cổ truyền còn có cả “chủ nghĩa cá nhân tiểu

nông” [135, tr 83] Trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (2001), Trần

Ngọc Thêm đánh giá, “cộng đồng” và “tự trị” là hai đặc trưng căn rễ dẫn đến

“tính nước đôi” của người nông dân Việt: vừa có tinh thần đoàn kết tương trợ lại vừa có óc tư hữu, ích kỉ và thói cào bằng; vừa có tính tập thể hòa đồng lại vừa có tính bè phái, địa phương; vừa có nếp sống dân chủ bình đẳng lại vừa

có tính gia trưởng tôn ty; vừa có sự cần cù, tự lập lại vừa có thói dựa dẫm, ỷ lại [102, tr 197 - 198] Xác định làng xã Việt mang những đặc trưng kép là

“tự trị và phụ thuộc”, “tự cung tự cấp và thị trường”, “đồng thuận và xung

đột”, “biệt lập và giao lưu”, Tô Duy Hợp, trong Định hướng phát triển làng -

xã đồng bằng sông Hồng ngày nay (2003) [47] rồi sau đó là Lương Hồng

Trang 26

Quang, trong “Các tổ chức phi quan phương trong làng - xã vùng châu thổ Bắc Bộ (trường hợp hội đồng niên)” (2010) [80], cho rằng sự đồng thuận trong các quan hệ xã hội là hằng số chính, còn xung đột là hằng số phụ, và ở những làng hỗn hợp hoặc có hơi hướng phi nông như làng nghề, làng buôn hay làng ven đô thì những căn tính thuộc hằng số phụ bộc lộ mạnh hơn Và Bùi Xuân Đính, với “Từ một kiểu chia làng, suy nghĩ về tính thống nhất và đồng thuận của làng Việt thời phong kiến” (2007), quả quyết làng Việt vốn mang tính cộng đồng cao song lại là một cái gì đó rất dễ phân tán “về phương diện quyền lực” [26, tr 8]

Tóm lại, khi tìm hiểu quan hệ xã hội ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng, các nhà nghiên cứu đã đi đến những nhận định khác nhau: một số xem

nó là duy tình, số khác xem nó là duy lí và số còn lại xem nó có cả tình lẫn lí (với nét trội hoặc không) Nhìn chung, các tác giả này chủ yếu tiếp cận đối tượng dưới góc độ chức năng và hướng về nhóm hơn là về cá nhân

Thứ hai, mảng đề tài về đặc điểm quan hệ xã hội nông thôn sau thời điểm bắt đầu Đổi mới (1986) đến nay

Sau thời điểm bắt đầu Đổi mới, tức sau giai đoạn tồn tại của mô hình kinh tế “hợp tác xã”, người ta đã chứng kiến sự gia tăng rất mạnh mẽ của các yếu tố có tính truyền thống trong bối cảnh mới ở nông thôn Có một sự lấy lại đáng kể những khuôn mẫu của quá khứ, theo đó các giá trị cũ được tái khẳng định sau một thời gian tương đối dài mất đi hoặc chìm lắng Nói cách khác, làng xã Việt, đặc biệt là các quan hệ xã hội của nó, được phục hồi/ tái cấu trúc Điều này đã thu hút sự quan tâm của không ít nhà nghiên cứu

Ở đây, cũng có ba cách nhìn nhận khác nhau: một nghiêng về duy tình, một ngược lại, và một trung hòa

Trong cách nhìn thứ nhất, các tác giả chủ yếu nhấn mạnh đến yếu tố duy tình trong việc phục hồi những cấu trúc văn hóa - xã hội truyền thống

của nông thôn Với Đối diện tương lai hồi sinh quá khứ: Nghiên cứu biến đổi

xã hội ở một làng Bắc Việt Nam (2007) [55], Kleinen nói tới sự trở về quá

khứ hay hồi sinh quá khứ ở nông thôn sau thời điểm bắt đầu Đổi mới, một

Trang 27

quá khứ trước thời điểm cải cách ruộng đất với vai trò quan trọng của giới tinh hoa vốn là những “người cũ”, mang trong mình những “giá trị cũ” Tác giả đánh giá, sở dĩ có sự phục hồi đang đề cập là do những hình thức quan hệ

xã hội truyền thống cũng như những thực hành văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ đã đáp ứng được nhu cầu tinh thần vốn có của người dân Tìm hiểu các tổ chức phi quan phương của làng xã qua trường hợp hội đồng niên, Lương Hồng Quang, với “Các tổ chức phi quan phương trong làng - xã vùng châu thổ Bắc Bộ (trường hợp hội đồng niên)” (2010) [80], cho rằng sự phục hồi của những tổ chức này có cơ sở từ việc lấy lại các khuôn mẫu vốn có và đưa thêm vào những yêu cầu mới của cuộc sống Theo tác giả, khái niệm

“hiện đại” cần được hiểu là một sự tái tạo truyền thống có chọn lọc, và trong

sự phục hồi hội đồng niên có thể nhận thấy tính cộng đồng vẫn mạnh hơn tính cá nhân dẫu bối cảnh xã hội đã thay đổi Còn Mai Văn Hai và Ngô Thị Thanh Quý, với bài viết có tên “Vai trò của mạng lưới họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm trong hoạt động kinh tế ở nông thôn hiện nay” (2012) [35] thì nhận định, mạng lưới họ hàng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động kinh tế nông thôn trong bối cảnh kinh tế thị trường, và mối liên kết kinh tế giữa các thành viên trong mạng lưới họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm là biểu hiện cụ thể của tâm lí cộng đồng vốn đã tồn tại từ rất lâu đời ở nông thôn Việt Nam trong lịch sử (mặc dù không còn bó hẹp trong phạm vi làng xã)

Ở cách nhìn thứ hai, là cách nhìn có phần trội hơn, các tác giả lại nhấn mạnh đến sự duy lí trong quan hệ xã hội ở nông thôn khi đề cập đến vai trò của các quan hệ này trong phát triển kinh tế hộ gia đình, tức đặt chúng vào

mối liên hệ với nhu cầu về sinh kế của những người dân Trong Quan hệ

dòng họ ở châu thổ sông Hồng: Qua hai làng Đào Xá và Tứ Kỳ (2000) [33],

Mai Văn Hai và Phan Đại Doãn khẳng định, hiện tượng phục hưng dòng họ hiện nay có nguyên nhân từ sự tái lập kinh tế hộ gia đình và theo các tác giả, việc liên kết/ hợp tác trong dòng họ diễn ra ở hầu hết các phương diện quan trọng nhất của nghề: việc sử dụng nguồn đất đai canh tác, việc sở hữu tư liệu

Trang 28

sản xuất, và việc thực hiện những công đoạn sản xuất cụ thể Ở Kinh tế hộ gia

đình và các quan hệ xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kì đổi mới (2003) [116], Nguyễn Đức Truyến cũng cùng quan điểm khi cho rằng

sự tái lập kinh tế hộ gia đình đòi hỏi củng cố các quan hệ cộng đồng truyền thống - vốn được xem là giá đỡ chủ yếu cho sự phát triển của bản thân mô hình kinh tế, cũng như cho từng thành viên Với “Sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa” (2007) [100], Nguyễn Duy Thắng đánh giá, sự biến đổi một cách nhanh chóng của vùng nông thôn ven Hà Nội để hòa nhập với đô thị đã kéo theo việc mạng lưới xã hội của người nông dân ngày càng được mở rộng, cái khiến cho họ có cơ hội tích lũy được nhiều vốn xã hội hơn trong chiến lược sinh kế riêng Trong ““Giúp đỡ” và tương trợ trong cộng đồng làng quê ở miền Bắc Việt Nam: Quan hệ giữa tình đoàn kết và sự phụ thuộc” (2010), Tessier khẳng định sẽ là ảo tưởng nếu chỉ thấy ở “hệ thống giúp đỡ” được miêu tả trong công trình của ông những biểu hiện của tình đoàn kết gia đình hay dấu vết cuối cùng của các quan hệ kinh tế xã hội trước kia bởi thực ra nó là công

cụ điều tiết xã hội và kinh tế, và tác giả cho rằng hệ thống này có tính hợp

đồng [96, tr 374] Với Kinship as Social Capital: Economic, Social and

Cultural Dimensions of Changing Kinship Relations in a Northern Vietnammese Village [Họ hàng như là vốn xã hội: Các chiều cạnh kinh tế, xã hội và văn hóa của quan hệ họ hàng đang chuyển đổi ở một làng miền Bắc Việt Nam] (2010), Nguyễn Tuấn Anh cho biết, quan hệ họ hàng ở nông thôn

Việt Nam đã được khai thác tích cực cho việc xây dựng vốn xã hội kể từ sau giai đoạn hợp tác hóa nông nghiệp, bao gồm vốn xã hội nội bộ (được sử dụng để giảm thiểu những rủi ro của hoạt động sản xuất) và vốn xã hội bắc cầu (được sử dụng để gia tăng lợi nhuận và cải thiện phúc lợi gia đình) [218,

tr 225] Còn trong Từ lúa sang tôm: Hành vi giảm thiểu rủi ro và khai thác

vốn xã hội của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long (2014), Ngô Thị

Phương Lan đã nêu lên vai trò quan trọng của quan hệ xã hội với tư cách là vốn xã hội trong sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của người nông dân, mà theo

Trang 29

đó quan hệ họ hàng “vẫn là quan hệ cơ bản và có vai trò nổi trội trong việc

hỗ trợ nhau trong đời sống của cá nhân và đây cũng là mối quan hệ mà các

cá nhân tập trung đầu tư và củng cố ” [56, tr 290]

Bên cạnh đó, cũng có người nghiên cứu cho rằng có sự đan xen của cả yếu tố duy tình và duy lí trong thuộc tính của quan hệ xã hội ở nông thôn Việt Nam đương đại Chẳng hạn, với “Cộng đồng làng trong hệ thống an sinh xã hội hiện nay” (2007), Lê Mạnh Năm và Nguyễn Phan Lâm cho biết, tại hai địa bàn được các tác giả nghiên cứu là làng Tam Sơn và Đồng Kỵ thuộc tỉnh Bắc Ninh, họ hàng, láng giềng và những tổ chức tự nguyện có vai trò rất quan trọng đối với người dân trong vấn đề hỗ trợ khi rủi ro, hỗ trợ khi có việc, hỗ trợ khi gặp tình trạng đói nghèo Lí do hành động của các chủ thể (của những hoạt động này) là “động viên tinh thần” và “hỗ trợ phần nào về kinh tế” với các đối tượng cần giúp đỡ, là tâm lí phòng thân “giúp người là giúp mình”, là nhận thức “tập thể và nhà nước không trợ cấp hết được”, và cuối cùng là “làm theo lệ làng, phong tục của làng” [69, tr 72 - 74], tức có sự đan xen giữa tình cảm, việc ứng xử theo chuẩn mực và những cân nhắc về lợi ích Còn trong bài viết “Quà và vốn xã hội ở hai cộng đồng nông thôn Việt Nam” (2010), Lương Văn Hy đánh giá dòng quà ở các địa bàn khảo sát - làng Hoài Thị, tỉnh Bắc Ninh và ấp Dinh thuộc xã Khánh Hậu, tỉnh Long An

- là kết quả của mối tương tác giữa một mặt là sự lựa chọn có tính chiến lược của từng cá nhân và một mặt là quy ước văn hóa xã hội cùng điểm nhấn của các chủ thể về tình cảm Tác giả nhấn mạnh, ngay cả khi họ nói về tình cảm như là nền tảng của việc tặng quà ở mức độ nào, thì sự tặng quà đó cũng liên quan đến “những quyết định có suy nghĩ” trong việc sử dụng các nguồn lực vật chất Ông kết luận rằng ý thức hệ và những quy ước văn hóa xã hội đặc thù đã hòa quyện với sự tính toán và sự chủ động của người trong cuộc ở cả hai điểm nghiên cứu [52, tr 420]

Như vậy là, có thể thấy, về thuộc tính quan hệ xã hội ở nông thôn Việt Nam sau khi kết thúc giai đoạn hợp tác hóa nông nghiệp đến nay, các nhà nghiên cứu cũng có những nhận định không giống nhau: một số xem nó là duy tình, một số xem nó là duy lí và số khác thì xem nó có cả hai Nhưng, so

Trang 30

với mảng đề tài về quan hệ xã hội trước Cách mạng, các tác giả trong mảng đề tài này - dẫu về cơ bản vẫn khảo sát đối tượng dưới góc độ chức năng - chú ý hơn tới việc lấy các cá nhân làm trung tâm để từ đó tìm hiểu mạng lưới quan

hệ xã hội, tức đã bắt đầu có một sự chuyển dịch từ tiếp cận nhóm sang tiếp cận cá nhân

Tóm lại, xuất phát từ những góc nhìn khác nhau, các công trình nghiên cứu vừa điểm luận đã chứa đựng những phân tích đáng chú ý về quan hệ xã hội ở nông thôn Việt Nam trên phương diện đồng đại cũng như lịch đại Mặc

dù vậy, đối tượng nghiên cứu của chúng đến nay chủ yếu vẫn là các làng xã thuần nông và hỗn hợp trọng nông, còn các làng xã phi nông nghiệp hóa vừa xuất hiện thì chưa được quan tâm một cách thật thích đáng

1.1.3 Tình hình nghiên cứu quan hệ xã hội ở nông thôn châu Á

Cuộc thảo luận về tính duy tình/ duy lí nói chung và tính duy tình/ duy

lí trong quan hệ xã hội nói riêng của người nông dân châu Á bắt đầu trở nên sôi nổi cách đây gần nửa thế kỉ, tức những năm 1970 Có thể nói, đây là một cuộc thảo luận rất thu hút sự quan tâm của giới học thuật quốc tế Tham gia vào cuộc thảo luận này, mà Scott (1976)9 và Popkin (1979) - với các công trình đã được đề cập ở trên - là hạt nhân, cần kể đến những cái tên đáng chú ý như: Feeny, với “The Moral or the Rational Peasant? Competing Hypotheses

of Collective Action” [Người nông dân duy tình hay duy lí? Những giả thuyết

đối ngược nhau về hành động tập thể] (1983) [170]; Evans, với “From Moral

Economy to Remembered Village: The Sociology of James C Scott” [Từ nền

kinh tế đạo đức đến ngôi làng được đề cập: Xã hội học của James C Scott]

(1986) [168]; Chovanes, với “On Vietnamese and Other Peasants” [Về người

nông dân Việt Nam và những người nông dân khác] (1986) [159]; Zawawi,

với The Malay Labourer: By the Window of Capitalism [Người lao động

Malay: Bên cánh cửa của chủ nghĩa tư bản] (1998) [258]; Kurtz, với

“Understanding Peasant Revolution: From Concept to the Theory and Case”

9 Trước Scott, Swiff trong Malay Peasant Society in Jelebu [Xã hội nông dân Malay tại Jelebu]

(1965) [243] đã đề cập đến vấn đề mối quan hệ giữa đạo đức và nền kinh tế nông dân, nhưng chỉ sau công trình của Scott, cuộc thảo luận mới thực sự bùng nổ

Trang 31

[Thấu hiểu cuộc cách mạng của nông dân: Từ khái niệm đến lí thuyết và trường hợp cụ thể] (2000) [200]… Các nhà nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu

thuộc tính của đối tượng theo những cách nhìn nhận khác biệt nhau - nếu cách nhìn đầu tiên nhấn mạnh đến sự duy tình, cách nhìn thứ hai nhấn mạnh đến sự duy lí thì cách nhìn thứ ba cũng mang tính trung hòa Xin dừng lại ở một số bài viết mà tôi hứng thú Trong “Moral Economy or Contest State?:

Elite Demands and the Origins of Peasant Protest in Southeast Asia” [Kinh tế

đạo đức hay tình trạng cạnh tranh: Đòi hỏi của tầng lớp tinh hoa và nguồn gốc các cuộc nổi dậy của nông dân tại Đông Nam Á] (1980) [140], Adas

nhận định rằng luôn xuất hiện mâu thuẫn trong đời sống nông thôn giữa nông dân với tầng lớp trên và nguyên nhân dẫn đến sự phản kháng của người nông dân nằm ở những biến đổi liên quan đến mối quan hệ quyền lực giữa

họ với tầng lớp này cùng những biến đổi khác về kinh tế - xã hội mà có thể làm cho khả năng tự bảo vệ và vị thế thương lượng của họ suy yếu Theo tác giả, việc tìm cách mở rộng cơ hội nắm giữ nguồn lực đã đóng vai trò lớn trong sự xung đột giữa hai lực lượng Trong “Indulgence and Abundance as

Asian Peasant Values: A Bengali Case in Point” [Niềm đam mê và sự dư dật

như là những giá trị của nông dân châu Á: Trường hợp người Bengali]

(1983) [179], Greenough cho biết những người dân ở địa bàn nghiên cứu thuộc phía đông tiểu lục địa Ấn Độ vẫn trồng lúa vì lí do thờ thần lúa, dù được nhà nước khuyến khích trồng loại cây lương thực khác có giá trị kinh tế cao hơn, và ông đánh giá rằng các truyền thống sinh hoạt của họ vì thế bắt nguồn từ những giá trị được tạo ra tại địa phương của “niềm đam mê” và “sự

dư dật” hơn là nền kinh tế đạo đức Còn trong “Economic Action and

Buddhist Morality in a Thai Village” [Hành vi kinh tế và đạo lí Phật giáo ở

một làng người Thái] (1983) [191], Keyes đặt các nỗ lực kinh tế nhằm nâng

cao chất lượng cuộc sống của người nông dân vào mối liên hệ với nền kinh

tế chính trị và văn hóa Phật giáo Xuất phát từ quan điểm rằng người nông dân trong sự cố gắng tìm kiếm lợi ích đã bị chi phối bởi cả những điều kiện kinh tế chính trị lẫn những đòi hỏi xã hội của việc sống tại một cộng đồng

mà “luân lí đạo đức” gắn liền với một thế giới quan cụ thể, Keyes nhận định,

Trang 32

tuy vẫn có sự tính toán duy lí, những người vừa là nông dân lại vừa là Phật

tử ở địa bàn nghiên cứu của ông đã thực hành một thứ “đạo lí” kinh tế đặc trưng chịu ảnh hưởng của triết thuyết Phật giáo10

Cuộc thảo luận đến nay vẫn chưa kết thúc Ví dụ, gần đây, vào năm

2006, Rigg trong “Land, Farming, Livelihoods, and Poverty: Rethinking the

Links in the Rural South” [Đất đai, nông nghiệp, sinh kế, và nghèo đói: Suy

nghĩ lại về những mối liên kết ở vùng nông nghiệp phương Nam] [233] đã

chỉ ra nhiều biểu hiện của xu hướng duy lí ở người nông dân Đông Nam Á như hiện tượng đa dạng hóa nghề nghiệp trở nên phổ biến, thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp tăng lên, cuộc sống có tính di động hơn và sinh kế tương ứng được “giải địa phương hóa” ; tức người ta đang hướng đến những lựa chọn mang tính lợi ích hơn là hướng đến sự an toàn; còn vào năm

2007, McElwee, trong “From the Economy to the World Economy:

Revisiting Vietnamese Peasants in the Globalizing Era” [Từ nền kinh tế đạo

đức tới nền kinh tế thế giới: Nhìn nhận lại người nông dân Việt Nam trong kỉ nguyên toàn cầu hoá] [213], lại làm “hồi sinh” quan điểm người nông dân

duy tình của Scott sau khi tiến hành nghiên cứu tại chính điểm nghiên cứu cũ của Scott và kết quả cho thấy người nông dân vẫn không hướng đến tính duy

lí khi thích tìm kiếm sự an toàn hơn là mạnh dạn đầu tư trong bối cảnh kinh

tế thị trường Tuy nhiên, cách nhìn trong đó thừa nhận sự tồn tại của cả khía cạnh duy tình và duy lí ở quan hệ xã hội của khu vực nông thôn châu Á trong một hai thập niên qua đang dần trở nên chiếm ưu thế hơn Có thể thấy khá rõ điều này qua những nghiên cứu về Trung Quốc, một địa bàn rất thu hút các

nhà khoa học trong chủ đề đang bàn Các tác giả như Yan với The Flow of

Gifts: Reciprocity and Social Networks in a Chinese Village [Dòng quà: Sự

10 Trong “On the Symposium, Peasant Strategy in Asian Societies” [Về chuyên đề Chiến lược của nông dân trong các xã hội châu Á] (1984) [216], Moise cho là Keyes và các tác giả khác trong chuyên đề Chiến lược của nông dân trong các xã hội châu Á của Tạp chí Nghiên cứu châu

Á, Đại học Cambridge số 3 năm 1983 đã nhầm lẫn khi khẳng định rằng Scott muốn rút ra mô

hình tiếp cận chung từ trường hợp có tính đặc thù, nhưng trong “Still More on Peasant

Strategies: A Reply to Edwin Moise” [Tiếp tục bàn về chiến lược của người nông dân: Trả lời Edwin Moise] (1984) [192], Keyes đã khẳng định không có sự nhầm lẫn đó và đồng thời nhấn

mạnh thêm rằng ở bài viết của mình cho chuyên đề, tức bài viết mà chúng ta đang đề cập, ông đã không đồng ý với cách tiếp cận của cả Popkin lẫn Scott

Trang 33

trao đổi có đi có lại và những mạng lưới xã hội ở một làng Trung Quốc]

(1996) [257], Kipnis với Producing Guanxi: Sentiment, Self, and Subculture

in a North China Vilage [Tạo ra quan hệ: Tình cảm, cái tôi và tiểu văn hóa ở một làng Bắc Trung Quốc] (1997) [193], Wilson với “The Cash Nexus and

Social Networks: Mutual Aid and Gifts in Contemporary Shanghai Villages”

[Mối liên hệ tiền bạc và những mạng lưới xã hội: Sự trợ giúp có đi có lại và quà tặng trong các làng Thượng Hải đương đại] (1997) [252] và “Face,

Norm, and Instrumentality” [Thể diện, chuẩn mực và quy ước] (2002) [253]

đều cho rằng có sự tồn tại của cả yếu tố tình cảm và tính toán trong quan hệ

xã hội ở các địa bàn nông thôn được họ khảo sát Chẳng hạn, qua trường hợp một làng ở hạt Shuangcheng có tên Xiajia, Yan (1996) nhận định rất khó phân biệt chính xác đâu là sự tính toán hoặc không trong dòng quà của người dân Về nguyên tắc có đi có lại và đạo đức trong việc tặng quà, Yan đề cập đến ba chiều cạnh: sự tính toán duy lí, nghĩa vụ đạo đức và sự gắn bó về tình cảm, những cái cùng tồn tại ở mọi tương tác xã hội có liên quan mà người ta

có thể có những nhấn mạnh cụ thể tùy tình huống nhất định Nói cách khác, theo ông, dòng quà tặng gắn với những cân nhắc thực dụng, sự hòa đồng xã hội, đạo đức và tình cảm cá nhân Còn Wilson (2002), qua việc tìm hiểu các ngôi làng đang ở giai đoạn đầu của công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Thượng Hải, đã khẳng định, quà tặng và sự trợ giúp có đi có lại là các phương tiện để đạt được thể diện và là một biện pháp không trực tiếp để tiếp cận vốn xã hội (trong dạng quà và món tiền cho vay, lao động thông qua trợ giúp tương hỗ,

và các nguồn vật chất khác) Theo tác giả này, sự trao đổi dựa trên chuẩn mực

là sự đầu tư lâu dài về vốn xã hội, cái có thể tạo ra lợi nhuận vật chất về sau

và vì thế đường biên giới giữa việc trao đổi theo chuẩn mực với việc trao đổi thực dụng là không dứt khoát

Trở lên trên là tình hình nghiên cứu vấn đề ở khu vực

Tóm lại, quan hệ xã hội của nông thôn Việt đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước khảo sát trên một số phương diện và sự khảo sát này đạt được những kết quả đáng chú ý Tuy nhiên, làng xã Việt một hai thập niên

Trang 34

qua đã có những biến đổi quan trọng, mà việc tìm hiểu chúng trong bối cảnh mới là phi nông nghiệp hóa lại chưa được quan tâm đúng mức Còn, các công trình có liên quan về Ninh Hiệp nói riêng - một làng đến nay đã trở thành làng phi nông nghiệp rất tiêu biểu - thì hoặc chưa nói đến, hoặc chưa đi sâu, hoặc chưa bao quát, hoặc có những nhận định không còn mang tính cập nhật với các vận động xã hội diễn ra nhanh chóng những năm vừa qua, trong khi những gì xuất hiện ở đây được người viết ghi nhận từ các quan sát sơ bộ có thể đem lại một sự thảo luận phần nào giúp nhận thức rõ hơn quan hệ xã hội ở

“dạng” nông thôn này (phi nông nghiệp hóa) Đây là khoảng trống mà người viết muốn bổ khuyết và vì thế cũng quy định vị trí của công trình trong bối cảnh nghiên cứu Với đối tượng đang đề cập (quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp), người viết nhận thấy tính duy lí là nét trội Tuy nhiên, tính duy lí đó có đặc thù riêng

1.2 CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.2.1 Lí thuyết

Ở đề tài này, quan điểm chính mà người viết hướng tới sự thảo luận và

bổ sung là “người nông dân duy lí” với tác giả tiêu biểu là Popkin

Quan điểm của Popkin hình thành trên cơ sở thuyết duy lí hay còn

gọi là lựa chọn hợp lí

Nội dung chính của thuyết duy lí/ lựa chọn hợp lí là các cá nhân luôn làm điều mà họ xét thấy đem lại kết quả tốt nhất cho họ, hay nói cách khác luôn hành động một cách có chủ đích để sử dụng nguồn lực sao cho đạt được kết quả lớn nhất với chi phí nhỏ nhất Đồng thời, việc tối đa hóa lợi ích còn bao gồm cả sự lựa chọn một hành động tuy đem đến lợi ích không phải là lớn nhất nhưng bù lại có khả năng đạt được cao nhất, trên cơ sở đánh giá các cơ

may Cụ thể, Homans, trong The Nature of Social Science [Bản chất của

khoa học xã hội] (1967) [187], đã phân tích rằng khi lựa chọn một trong số

những cách hành động có thể có, mỗi cá nhân sẽ dừng lại ở cách nào mà họ cho là tích xác suất thành công của hành động với giá trị phần thưởng của hành động đó là lớn nhất Thuyết duy lí cũng còn được gọi là lí thuyết trao

Trang 35

đổi bởi nó quan tâm đến việc con người đạt được những gì trong các quá trình tương tác cũng như đóng góp của các quá trình đang bàn cho mối quan

hệ hoặc cho nhóm xã hội bao trùm hơn, với cái được trao đổi trong tương tác

là những giá trị vật chất hoặc tinh thần Sự trao đổi thường được nói đến là trao đổi kinh tế và trao đổi xã hội Vì đều dựa trên nguyên tắc cùng có lợi, sự khác biệt giữa trao đổi kinh tế và trao đổi xã hội chỉ mang tính chất tương

đối Với Exchange and Power in Social Life [Trao đổi và quyền lực trong

đời sống xã hội] (1964) [152], Blau lưu ý rằng trao đổi xã hội có chức năng

tạo ra mối quan hệ quyền lực giữa các bên tham gia Ngoài ra, theo Blau, cần nhấn mạnh tới một số đặc điểm nữa của trao đổi xã hội (trong sự so sánh với trao đổi kinh tế) là có giá trị tự thân, có sự cố gắng gây ấn tượng tốt với nhau giữa các đối tác tham gia, có sự ngang vị thế và có sự thỏa thuận ngầm giữa

các bên Tuy nhiên, theo Braudel trong Civilization and Capitalism, 15 th -

18 th Century [Nền văn minh và chủ nghĩa tư bản, thế kỉ XV - XVIII] (1979)

[153], không đơn giản để có thể nhận diện một hình thức trao đổi là trao đổi kinh tế hay xã hội và trên thực tế thì nó thường chứa đựng cả hai

Trong trường hợp nghiên cứu cụ thể của mình, với công trình The

Rational Peasant: The Political Economy of Rural Society in Vietnam [Người nông dân duy lí: Nền kinh tế chính trị của xã hội nông thôn ở Việt Nam]

(1979) [224], Popkin khẳng định người nông dân luôn lựa chọn cái mà họ tin

là sẽ làm tối đa hóa lợi ích mong đợi Khi người nông dân, bởi lí do nào đó,

có được thu nhập vượt ra ngoài mức ổn định vốn có từ trước, anh ta sẽ đem phần dư thừa ra đầu tư Dù đó là sự đầu tư “an toàn” hay không, anh ta vẫn cứ tiến hành, vì thứ nhất, việc này không đe dọa vị trí kinh tế mà anh ta đang có (chỉ liên quan đến bản thân khoản đầu tư), và thứ hai, chừng nào các nấc thang kinh tế khác nhau còn tồn tại, chừng đó mỗi con người còn quan tâm đến việc vươn lên nấc thang cao hơn so với hiện tại Nói cách khác, việc đầu

tư là điều được người nông dân thực hiện khi vị trí đang có của họ đủ để chống lại những tổn thất và khi sự thành công có thể cải thiện phần nào vị trí

ấy Bởi vậy, Popkin xem người nông dân là những cá nhân duy lí Và, trong

Trang 36

khi Scott (1976) cùng các nhà kinh tế đạo đức khác cho rằng làng, với tư cách một thiết chế giảm thiểu rủi ro cho những thành viên của nó, là một cộng đồng đoàn kết, thì Popkin, vì xem người nông dân là những cá nhân duy lí, lại khẳng định nó mang tính chất một “nghiệp đoàn” nhiều hơn Popkin vẫn thừa nhận có sự hợp tác trong nội bộ các nhóm nhỏ và giữa toàn thể các thành viên của làng nhằm đạt được những lợi ích tập thể (chẳng hạn, việc tự quản làng

xã hay tưới tiêu thủy lợi), nhưng bên cạnh đó, theo ông, là rất nhiều sự mâu thuẫn nảy sinh liên quan đến lợi ích cá nhân Mặt thứ hai được nhìn nhận là biểu hiện của tính duy lí trong quan hệ xã hội ở làng

Hướng tới việc thảo luận với quan điểm mà Popkin đại diện, lí thuyết được người viết sử dụng trong đề tài là lí thuyết vốn xã hội

Xin trình bày vài nét về lí thuyết này

Nội dung cơ bản của lí thuyết vốn xã hội là con người có thể sử dụng các quan hệ xã hội để tìm kiếm lợi ích Các định nghĩa phổ biến về vốn xã hội

của Bourdieu (trong “The Forms of Capital” [Hình thức của vốn xã hội]

(1986) [156]), của Coleman (trong “Social Capital in the Creation of

Human-Capital” [Vốn xã hội trong việc tạo dựng vốn con người] (1988) [160]), của

Putnam (trong “Bowling Alone: America’s Declining Social Capital”

[Bowling một mình: Sự suy giảm vốn xã hội của Mĩ] (1995) [231]), của

Portes (trong “Social Capital: Its Origins and Applications in Modern

Sociology” [Vốn xã hội: Nguồn gốc và những ứng dụng trong xã hội học hiện

đại] (1998) [227]), của Fukuyama (trong “Social Capital, Civil Society and

Development” [Vốn xã hội, xã hội dân sự và phát triển] (2001) [174])… đều

nhấn mạnh đến điều đó Ví dụ, Bourdieu xem vốn xã hội là “tổng hợp những nguồn lực thực tế hoặc tiềm tàng gắn với việc làm chủ một mạng lưới lâu bền những quan hệ quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau không ít thì nhiều được thể chế hóa” [156, tr 248 - 249]; Coleman cho rằng vốn xã hội là

“những thực thể khác biệt với hai điểm chung: chúng đều bao gồm một khía cạnh nào đấy của các cơ cấu xã hội, và chúng tạo thuận lợi cho những hành động của các tác nhân - hoặc cá nhân, hoặc tổ chức - trong cơ cấu” [160, tr

Trang 37

98]; còn Putnam nhận định: “Giống như khái niệm vốn vật chất và vốn con

người - công cụ và sự đào tạo, cái thúc đẩy hiệu suất cá nhân - vốn xã hội nói

tới các đặc tính của tổ chức xã hội như là các mạng lưới, các chuẩn mực và niềm tin xã hội, những gì làm trôi chảy sự phối hợp và cộng tác vì lợi ích qua lại” [231, tr 67]

Có những góc tiếp cận khác nhau về vốn xã hội Góc nhìn mạng xã

hội (social network view) là góc nhìn cụ thể được tác giả luận án quan tâm trong nghiên cứu của mình Cùng với góc nhìn cộng đồng (communitiarian

view), thể chế (institutional view) và đồng vận (synergy view), nó nằm trong

các góc nhìn chủ yếu về vốn xã hội Góc nhìn này gắn với các công trình

Structural Holes: The Social Structure of Competition [Lỗ hổng cấu trúc: Cấu trúc xã hội của sự đua tranh] (1992) [157] của Burt, “Embeddedness

and Immigration: Notes on the Social Determinants of Economic Action”

[Sự gắn bó và di trú: Ghi chép về yếu tố quyết định có tính xã hội của hành động kinh tế] (1993) [228] của Portes và Sensenbrenner, “Neoliberalism and

the Sociology of Development” [Chủ nghĩa tân tự do và xã hội học về phát

triển] (1997) [226] của Portes, “What's Driving Mexico-U.S Migration? A

Theoretical, Empirical, and Policy Analysis” [Cái gì dẫn dắt việc di cư

Mexico - Mĩ? Một phân tích lí thuyết, thực nghiệm và chính sách] (1997)

[212] của Massey và Espinosa, “March of Folly: US Immigration Policy

after NAFTA” [Diễn tiến của sự xuẩn ngốc: Chính sách nhập cư của Mĩ sau

NAFTA] (1998) [211] của Massey; “Social Capital and the Firm: Evidence

From Agricultural Trade” [Vốn xã hội và công ty: Bằng chứng từ nền thương

mại nông nghiệp] (1999) [169] của Fafchamps và Minten; “Learning from

Failures in Microfinance: What Unsuccessful Cases Tell Us about How

Group-Based Programs Work” [Bài học từ thất bại trong tài chính vi mô:

Các trường hợp không thành công cho chúng ta biết gì về sự hoạt động của các chương trình dựa vào nhóm] (1999) [254] của Woolcock Các tác giả

của những công trình vừa nêu đã phân biệt tính hướng nội và hướng ngoại của vốn xã hội Theo đó, vốn xã hội hướng nội (hay cũng gọi là vốn xã hội

Trang 38

nội bộ) nằm trong nhóm, còn vốn xã hội hướng ngoại (hay cũng gọi là vốn

xã hội bắc cầu) nằm ngoài nhóm; và nếu vốn xã hội hướng nội chủ yếu giúp giảm thiểu/ bảo hiểm rủi ro thì vốn xã hội hướng ngoại chủ yếu giúp phát triển kinh tế Nói cách khác, vốn xã hội được nhìn nhận là gắn với dạng thức

liên kết của các quan hệ xã hội: liên kết trong nội bộ (bonding), hoặc bắc cầu (bridging) Thế mạnh được ghi nhận của góc nhìn mạng xã hội là sự sẵn sàng

của nó cho việc tham gia vào các thảo luận chi tiết về chính sách trên cơ sở của các bằng chứng thực nghiệm11 Vì thế, nhiều nghiên cứu phát triển cũng

gắn với góc nhìn này như các công trình Enterprise Clusters and Networks in

Developing Countries [Các cụm doanh nghiệp và mạng lưới xã hội ở những nước đang phát triển] (1997) [163] của Van Dijk và Rabellotti, “Enterprise

Performance and the Functional Diversity of Social Capital” [Hiệu suất

doanh nghiệp và sự đa dạng chức năng của vốn xã hội] (1998) [148] của

Barr, hay “Poverty in Rural India: The Contribution of Qualitative Research

in Poverty Analysis” [Nghèo ở nông thôn Ấn Độ: Sự đóng góp của nghiên

cứu định tính trong phân tích nghèo] (1999) [197] của Kozel và Parker12

Đặt vấn đề tìm hiểu quan hệ xã hội của làng Ninh Hiệp trong bối cảnh

đương đại, sử dụng lí thuyết vốn xã hội trong đề tài, người viết căn cứ vào

thực tiễn ở Ninh Hiệp, cái được phản ánh qua những câu trả lời của chủ thể văn hóa - việc chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế phi

11 Xem thêm “Social Capital: Implications for Develoment Theory, Research, and Policy” [Vốn

xã hội: Hàm ý cho lí thuyết, nghiên cứu và chính sách phát triển] của Woolcock và Narayan

(2000) [255]

12 Ở Việt Nam, lí thuyết vốn xã hội bắt đầu được giới thiệu kể từ đầu thập niên 2000 và ngày càng được chú ý nhiều hơn Các bài viết nổi bật, theo dòng thời gian, về vấn đề nà y là của Trần Hữu Dũng (2003) [21], Trần Hữu Quang (2006) [83], Lê Minh Tiến (2007) [114], Hoàng Bá Thịnh (2009) [105], Phạm Như Hồ (2013) [42]… Xin nói thêm, vốn xã hội là vấn đề khá mới

mẻ đối với giới nghiên cứu ở Việt Nam nhưng đang thu hút được nhiều sự quan tâm, và các công trình liên quan đến nó gần đây xuất hiện khá phong phú Về cơ bản, có thể chia các công trình này thành 02 nhóm, bao gồm những công trình tìm hiểu chức năng, vị trí và biểu hiện của vốn xã hội ở Việt Nam nói chung, ví dụ như các công trình của Nguyễn Quý Thanh (2005) [98], Đào Thế Tuấn (2006) [122], Đặng Kim Sơn (2006) [92], Lê Ngọc Hùng (2008) [203], Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2012) [123], Hoàng Tụy (2013) [124], Nguyễn Đức Chiện (2013) [13]… và những công trình tìm hiểu các nét đặc trưng của nó qua trường hợp nghiên cứu cụ thể, ví dụ như các công trình của Thomése và Nguyễn Tuấn Anh (2007) [111], Nguyễn Vũ Hoàng (2008) [40], Lương Văn Hy (2010) [52], Nguyễn Anh Tuấn (2011) [119], Khúc Thị Thanh Vân (2012) [128]… Tuy nhiên, về dạng thứ hai, đến nay vẫn khá hiếm các công trình khảo sát nhóm làng xã phi nông nghiệp hóa

Trang 39

nông nghiệp dạng đặc thù là thương mại hóa đã thúc đẩy một cách mạnh mẽ các “chiến lược” của người dân trong quan hệ xã hội của mình nhằm bảo hiểm

rủi ro và phát triển lợi ích Kết quả có được là cơ sở để người viết thảo luận

với quan điểm mà Popkin đại diện về “người nông dân duy lí” Về đối tượng đang đề cập (quan hệ xã hội ở Ninh Hiệp), như đã nói, người viết nhận thấy tính duy lí là nét trội Tuy nhiên, khác với Popkin, người viết cho rằng tính duy lí trong quan hệ xã hội của người nông dân không chỉ biểu hiện qua sự

cạnh tranh mà còn có thể biểu hiện qua sự cố kết - một sự cố kết nhằm đạt

được những mục đích có tính cá nhân - nữa Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng bổ sung cho chính góc nhìn mạng xã hội về vốn xã hội và phát triển kinh tế: vốn xã hội không chỉ gắn với dạng thức liên kết của các quan hệ xã hội mà còn gắn với cả tính chất của chúng

1.2.2 Khái niệm

“Quan hệ xã hội” (social relations) là khái niệm trung tâm của đề tài

Trên cơ sở tham khảo các định nghĩa liên quan của các từ điển/ bách khoa thư

trong và ngoài nước có tính tổng hợp cũng như chuyên ngành như Từ điển

bách khoa Việt Nam (2003) [44], Dictionary of Social Sciences [Từ điển khoa học xã hội] (2002) [158], The Social Science Encyclopedia [Bách khoa thư về khoa học xã hội] (2003) [199], International Encyclopedia of Sociology [Bách khoa thư quốc tế về xã hội học] (1995) [208], Dictionary of Sociology [Từ điển xã hội học] (2001) [202], The Dictionary of Anthropology [Từ điển nhân học] (1997) [147], Encyclopedia of Social and Cultural Anthropology [Bách khoa thư về nhân học văn hóa và xã hội] (1997) [151]…, khái niệm

này được người viết dùng với nghĩa những tương tác giữa người với người

xuất hiện trong các quá trình hoạt động đa dạng về kinh tế, chính trị, và văn hóa Trong đề tài, người viết chủ trương tập trung vào quan hệ xã hội phi quan phương là những quan hệ do cá nhân xây dựng và quyết định

Gắn với “quan hệ xã hội”, có các khái niệm đáng chú ý như “cộng

đồng” (community), “nhóm” (group), “mạng lưới xã hội” (social network),

“thiết chế” (instiutions) và tất nhiên là “vốn xã hội” (social capital) Khái niệm

Trang 40

vốn xã hội đã được đề cập đến trong phần lí thuyết nên người viết không nhắc

lại ở đây Với những khái niệm còn lại, tham khảo The Social Science

Encyclopedia [Bách khoa thư về khoa học xã hội] (2003) [199, tr 114 - 115,

351 - 352, 417 - 418, 794 - 795], người viết xem:

- “Cộng đồng” là những người cùng chia sẻ một không gian địa lí xác định hay chia sẻ những đặc điểm chung nào đó (ví dụ như dân tộc, tôn giáo, học thuật, nghề nghiệp…) và/ hoặc duy trì các mối quan hệ tương tác, cái định dạng nó thành một thực thể xã hội dễ phân biệt

- “Nhóm” là tập hợp cá nhân được ràng buộc bởi các nguyên tắc tuyển mộ và bởi các quyền cùng nghĩa vụ của một thành viên

- “Mạng lưới xã hội” là mô hình kết nối các quan hệ xã hội của cá nhân, nhóm và tập thể (mạng lưới xã hội được lựa chọn khảo sát trong đề tài này là mạng lưới lấy cá nhân làm trung tâm)

- “Thiết chế xã hội” là i) tổ chức mà qua đó hoạt động xã hội thiết yếu được thực hiện và nhu cầu xã hội được đáp ứng, có mức độ cao của sự cam kết

- cái tích hợp, sắp xếp và ổn định các lĩnh vực chính của đời sống xã hội và ii)

mô hình hành vi tồn tại, kết tinh theo thời gian, khiến con người trở nên gắn bó như là hệ quả của vai trò của chúng trong việc tạo nên bản sắc

Sau “quan hệ xã hội”, “duy lí” (rationality) là một khái niệm trung

tâm nữa của luận án Trong lịch sử tồn tại lâu dài của mình, khái niệm này đã được đề cập đến bởi nhiều học giả, trong đó, đáng chú ý, Weber [139] - một tên tuổi lớn của khoa học xã hội và nhân văn thế kỉ cuối thế kỉ XIX và đầu thế

kỉ XX - xem nó là một giá trị gắn với chủ nghĩa tư bản phương tây cận đại (chủ nghĩa tư bản doanh nghiệp dân sự) Cách hiểu của luận án về khái niệm duy lí không nằm ngoài cách hiểu chung ở các lí thuyết gia của thuyết duy lí

đã thể hiện trong phần lí thuyết

Ngày đăng: 16/08/2023, 13:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.  Các  dạng  quan  hệ  xã  hội  (lấy  chủ  hộ  làm  trung  tâm)  ở - Luận án tiến sĩ văn hóa học  quan hệ xã hội trong bối cảnh phi nông nghiệp hóa (nghiên cứu trường hợp làng ninh hiệp, gia lâm, hà nội
Bảng 1. Các dạng quan hệ xã hội (lấy chủ hộ làm trung tâm) ở (Trang 6)
Bảng 1: Các dạng quan hệ xã hội (lấy chủ hộ làm trung tâm) ở khách dự đám - Luận án tiến sĩ văn hóa học  quan hệ xã hội trong bối cảnh phi nông nghiệp hóa (nghiên cứu trường hợp làng ninh hiệp, gia lâm, hà nội
Bảng 1 Các dạng quan hệ xã hội (lấy chủ hộ làm trung tâm) ở khách dự đám (Trang 84)
Bảng 2: Tiền mừng ở khách dự đám cưới   của 02 gia đình làm nghề thương mại 54 - Luận án tiến sĩ văn hóa học  quan hệ xã hội trong bối cảnh phi nông nghiệp hóa (nghiên cứu trường hợp làng ninh hiệp, gia lâm, hà nội
Bảng 2 Tiền mừng ở khách dự đám cưới của 02 gia đình làm nghề thương mại 54 (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm