ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 300 bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ được chăm sóc tại khoa Sản, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng
- Trẻ sơ sinh sau đẻ
- Không dị tật bẩm sinh
- Không mắc bệnh lí nặng cần chuyển cấp cứu hoặc chuyển tuyến
- Trẻ sơ sinh bị dị tật bẩm sinh cần chăm sóc đặc biệt
- Trẻ sơ sinh bị bệnh lý nặng cần chuyển khoa hoặc chuyển tuyến
- Bà mẹ của trẻ từ chối tham gia nghiên cứu này
Thời gian và địa điểm
- Thời gian: Từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 6 năm 2021 Do ảnh hưởng dịch COVID-19, thời gian thu thập số liệu kéo dài đến tháng 7 năm 2021
- Địa điểm: Tại khoa Sản Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế NC: Mô tả tiến cứu
+ Bộ câu hỏi thiết kế sẵn
+ Phiếu theo dõi và chăm sóc
* Cỡ mẫu: được tính theo công thức
- n: Cỡ mẫu của nghiên cứu
- α: Mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 0,05
- Z (1-α /2): Hệ số tin cậy Với độ tin cậy 95% thì giá trị của Z(1- α /2) = 1,96
- p: Tỷ lệ trẻ sơ sinh được chăm sóc đạt kết quả tốt với p = 0,5 để có cỡ mẫu lớn nhất do chưa có nhiều nghiên cứu trước đó
Dựa trên các chỉ số và công thức đã tính, cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu là 267 người để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy Để dự phòng cho các trường hợp trẻ sơ sinh có thể bỏ dở hoặc chưa xuất viện, hoặc gặp các biến cố như bệnh nặng, chuyển khoa hoặc chuyển viện trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã thêm 10% vào cỡ mẫu ban đầu Do đó, cỡ mẫu cuối cùng của nghiên cứu sẽ là 300 người để đảm bảo độ chính xác và khả năng tổng quát của kết quả.
Chọn mẫu thuận tiện bao gồm tất cả các trẻ sinh thường và sinh mổ tại khoa Sản từ tháng 01/2021 đến tháng 06/2021, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đề ra.
Trong quá trình nghiên cứu, từng đối tượng được phỏng vấn để xác định các đặc điểm chung, đo lường các chỉ số sức khỏe và đánh giá đặc điểm lâm sàng ngay sau sinh cũng như trước ngày ra viện Ngoài ra, công tác phỏng vấn còn tập trung vào hoạt động tư vấn và hoạt động chăm sóc sau sinh nhằm cung cấp dữ liệu toàn diện và chính xác cho nghiên cứu.
Phương pháp thu thập thông tin
2.4.1 Nội dung và biến số nghiên cứu
* Mục tiêu 1: Mô tả đặc điểm lâm sàng của trẻ sơ sinh
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu gồm phụ nữ theo giới tính nữ, trong độ tuổi sinh sản, có đăng ký bảo hiểm y tế để đảm bảo quyền lợi chăm sóc sức khỏe Họ có tiền sử sản khoa đa dạng, bao gồm số lần sinh, loại sinh (đẻ thường hay mổ lấy thai), và tuổi thai khi sinh Ngoài ra, các yếu tố về bệnh lý kèm theo của mẹ như cao huyết áp, tiểu đường thai kỳ hoặc các bệnh mãn tính cũng được ghi nhận để đánh giá toàn diện về đặc điểm chung của nhóm đối tượng.
- Đặc điểm lâm sàng: Đặc điểm lâm sàng Trong và ngay sau đẻ
Cữ bú đầu tiên của trẻ
Sau đẻ 30 phút Sau đẻ 45 phút - 1giờ Sau đẻ 1h30'- 2 giờ
Bú mẹ Tốt(8-12 lần/ngày)
Màu sắc da Không vàng da hồng hào
Tím đầu chi Vàng da Sinh lý
Rốn Đã rụng Khô Ướt Chưa rụng Khô Ướt Thân nhiệt 37,5 o Giấc ngủ Ngủ đủ giấc
Bài tiết phân su, phân
Có Không Nhiễm khuẩn Có
- Apgar sau đẻ 1 phút, 5 phút:
8-10 điểm/1 phút : Tình trạng trẻ tốt 4-7 điểm/ 1 phút: trẻ ngạt từ nhẹ đến trung bình Cần hồi sức 0-3 điểm/ 1 phút: trẻ ngạt nặng, cần hồi sức tích cực
- Cân nặng ( Tính theo gram), chiều dài, vòng đầu, vòng ngực ( Tính theo gram)
- Hô hấp: bình thường ( nhịp thở 40-50 lần/ phút, thở đều
+ Suy hô hấp: thay đổi nhanh hoặc chậm hơn nhịp thở bình thường, thở rên, rút lõm lồng ngực, tím tái
- Màu sắc da: bình thường trẻ hồng hào Tím tái khi có suy hô hấp
+ Vàng da sinh lý bình thường xuất hiện vào ngày thứ 3-5 sau đẻ, rồi giảm dần, kéo dài dưới 10 ngày
+ Vàng da bệnh lý: xuất hiện sớm trước 24-36 giờ tuổi, mức độ vàng da vừa-rõ, vàng toàn thân, tốc độ vàng da tăng nhanh, kéo dài
- Bài tiết: Phân su, nước tiểu: số lần, màu sắc có thường không
- Các dấu hiệu bất thường:
+ Bỏ bú: trẻ không bú mẹ
+ Tăng hoặc hạ thân nhiệt
+ Ngủ: có đủ giấc không
Mục tiêu 2: Phân tích kết quả chăm sóc và một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc
Phân tích mối liên hệ giữa kết quả chăm sóc và các đặc điểm chung, đặc điểm lâm sàng, hoạt động tư vấn, hoạt động chăm sóc cơ bản cùng mức độ hài lòng chung của betaine đã cho thấy rằng việc đáp ứng tốt các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng chăm sóc thai sản Các yếu tố như đặc điểm lâm sàng và hoạt động tư vấn có ảnh hưởng tích cực đến kết quả chăm sóc, giúp tăng mức độ hài lòng của khách hàng về dịch vụ điều dưỡng tại khoa Sản Đồng thời, hoạt động chăm sóc cơ bản cũng đóng góp vào sự thành công của quá trình chăm sóc, từ đó nâng cao hiệu quả chăm sóc và sự hài lòng chung của sản phụ Việc nghiên cứu này khẳng định tầm quan trọng của việc tích hợp các yếu tố này để cải thiện chất lượng dịch vụ, nâng cao trải nghiệm của sản phụ tại khoa Sản.
2.4.2 Công cụ thu thập thông tin
Thu thập thông tin qua bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên nội dung và biến số nghiên cứu
- Phần đặc điểm chung: Phỏng vấn và xem hồ sơ bệnh án
Để đánh giá đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân, cần hỏi rõ các triệu chứng hiện tại, xem hồ sơ bệnh án để nắm bắt lịch sử bệnh lý, đồng thời hỏi về các hoạt động chăm sóc và tư vấn của nhân viên điều dưỡng Việc kết hợp kiểm tra hồ sơ bệnh án và điền vào phiếu thu thập thông tin giúp đảm bảo thu thập đầy đủ dữ liệu chính xác phục vụ chẩn đoán và điều trị hiệu quả.
2.4.3 Các bước tiến hành thu thập thông tin
- Bước 1: Tiếp xúc với sản phụ, giải thích về nghiên cứu và lấy phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bước 2: Khai thác thông tin chung, tiền sử của đối tượng nghiên cứu
+ Đặc điểm hình thể ngoài: Cân nặng, chiều dài, vòng đầu, vòng ngực
+ Toàn thân: màu sắc da, nhiệt độ, nhịp thở
+ Bú mẹ: Bú tốt hay bú kém (Bình thường trẻ bú tù 8-12 bữa/ ngày)
+ Bài tiết: Đã bài tiết phân su, nước tiểu chưa, có bất thường về bài tiết không + Các dấu hiệu bất thường: Vàng da, nhiễm khuẩn
- Bước 4: Hoạt động tư vấn - chăm sóc, sự hài lòng về chăm sóc
Hoạt động chăm sóc điều dưỡng bao gồm phỏng vấn các bà mẹ và người chăm sóc trẻ để tư vấn, hướng dẫn họ cách chăm sóc và giáo dục sức khỏe cho trẻ Điều dưỡng có vai trò tư vấn về các hoạt động liên quan đến sức khỏe của trẻ, cung cấp kiến thức cần thiết và hướng dẫn các mẹ áp dụng đúng cách nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ.
- Bước 5: Sau khi ghi thông tin vào phiếu thu thập thông tin, kiểm tra và hoàn thiện phiếu, nhập số liệu vào phầm mềm SPSS
Một số khái niệm, phân loại, đánh giá, thước đo trong nghiên cứu
Bảng 2.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Nhóm/Mục tiêu Biến số Chỉ số Phương pháp thu thập Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Tuổi Nhóm tuổi Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ
Dịch vụ phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ cung cấp thông tin về giới tính (nam hoặc nữ) của trẻ sơ sinh, giúp xác định đặc điểm giới quan trọng trong quá trình sinh nở Phỏng vấn tập trung vào nơi cư trú của các bà mẹ, bao gồm thành phố và vùng nông thôn, để đánh giá ảnh hưởng của môi trường sống đến quá trình sinh nở Ngoài ra, các cuộc phỏng vấn còn đề cập đến phương pháp sinh của bà mẹ, như sinh thường hoặc sinh mổ, nhằm cung cấp dữ liệu chính xác và toàn diện về quá trình sinh nở của từng trường hợp.
Mục tiêu 1: Đặc điểm lâm sàng của trẻ sơ sinh trong và sau đẻ tại bệnh viện đa khoa tỉnh Cao
Bằng Điểm lâm sàng của trẻ sơ sinh đủ tháng
Apgar Tuổi thai Cân nặng
Bú mẹ Giấc ngủ Bài tiết
Hỏi bệnh, cân đo trực tiếp Đặc điểm của trẻ sơ sinh non tháng
Hô hấp Màu sắc da
Bú mẹ Giấc ngủ Bài tiết
Hỏi bệnh, cân đo trực tiếp
Các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh
Phát vấn, thời gian từ lúc phát hiện bệnh đến khi tham gia nghiên cứu
Phương pháp điều Dùng thuốc Hỏi bệnh, trị đã sử dụng Không dùng thuốc HSBA Mục tiêu 2:
Kết quả chăm sóc trẻ sơ sinh và một số yếu tố liên quan
Công tác tiếp đón người bệnh
2 Hướng dẫn làm các thủ tục hành chính và quy trình khám bệnh điều trị
3 Hướng dẫn nội quy khoa phòng, bệnh viện
Qua công tác điều dưỡng hàng ngày được ghi chép trong phiếu chăm sóc Chăm sóc về dinh dưỡng
1 Hướng dẫn bà mẹ cho trẻ bú đúng cách và bú đủ bữa
2 Hướng dẫn bà mẹ cách vắt sữa và bảo quản sữa
3 Hướng dẫn bà mẹ cách pha và cho trẻ uống sữa ngoài (đối với trẻ có chống chỉ định bú mẹ)
Qua công tác điều dưỡng hàng ngày được ghi chép trong phiếu chăm sóc
Chăm sóc về chế độ vệ sinh
1 Sắp xếp buồng bệnh gọn gàng, thông thoáng, đủ ánh sáng, đảm bảo vệ sinh
2 Hướng dẫn cách giữ vệ sinh cho trẻ
3 Hướng dẫn cách vệ sinh vú trước và sau khi cho trẻ bú
4 Hướng dẫn vệ sinh đồ dùng, dụng cụ cho trẻ ăn
Hỏi, tham khảo hồ sơ bệnh án
Tư vấn , GDSK 1 Tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ
2 Hướng dẫn bà mẹ theo dõi các dấu hiệu bất thường
3 Tư vấn các mũi tiêm phòng cho trẻ
4 HD bà mẹ cách chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ
5 HD theo dõi giấc ngủ của trẻ
CS trẻ và thực hiện y lệnh thuốc
1 Thường xuyên theo dõi tình trạng sức khỏe của trẻ
2 Phát hiện các dáu hiệu bất thường và xử trí kịp thời
3 Thông báo giải thích trước khi thực hiện y lệnh
Hỏi, tham khảo hồ sơ bệnh án
Mức độ hài lòng với kết quả chăm sóc Đánh giá theo các mức độ tương ứng:
Hỏi, tham khảo hồ sơ bệnh án
Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc và điều trị
Tuổi Giới Bệnh lý kèm theo Ước tính liên quan thông qua chỉ số OR và giá trị p bằng phần mềm SPSS
Đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh theo tiêu chuẩn sau
2.6.1 Đánh giá kết quả chăm sóc sơ sinh
Bảng 2.2 Đánh giá các nội dung chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh ngay sau đẻ( theo quy trình EENC)
Nội dung chăm sóc thiết yếu
1 Đọc to thời điểm sinh (giờ, phút, giây ), giới tính
2 Lau khô người của bé có được bắt đầu trong vòng 5 giây sau khi đẻ
3 Lau khô trẻ kỹ càng (mắt, mặt, đầu, tay và chân)
4 Trẻ được tiếp xúc da kề da với mẹ
5 Phủ một tấm vải lên người trẻ và đội mũ cho trẻ
6 Kiểm tra dây rốn trước khi kẹp, chỉ kẹp khi dây rốn ngừng đập
7 Tư vấn cho mẹ về những dấu hiệu đòi bú của trẻ
(chảy nước dãi, mở miệng, lè lưỡi/liếm, gặm tay, bò trườn)
Trẻ được đánh giá chăm sóc tốt ngay sau đẻ khi bảng kiểm đạt 12/14 điểm
Bảng 2.3 Đánh giá các nội dung chăm sóc sau đẻ
Nội dung Kết quả chăm sóc tốt
Bú mẹ Trẻ bú mẹ được( hoặc uống sữa ngoài) đủ 8-12 bữa / ngày
Hô hấp Thở đều, không có biểu hiện khó thở
Rốn Khô, không nhiễm khuẩn
Da Trẻ được tắm hoặc lau người hằng ngày, da không nhiễm khuẩn
Giấc ngủ Ngủ đủ giấc
Bài tiết Bài tiết phân và nước tiểu bình thường( trẻ không bị táo bón hoặc tiêu chảy, không nhiễm khuẩn đường tiết niệu)
Nhiễm khuẩn Không có biểu hiện nhiễm khuẩn
Tiêm phòng Trẻ được tiêm vitamin K, vacine viêm gan B
Trẻ được đánh giá chăm sóc đạt kết quả tốt khi các nội dung chăm sóc ngay sau đẻ và sau đẻ đạt tốt
2.6.2 Đánh giá các hoạt động chăm sóc của điều dưỡng
Trong nghiên cứu được xây dựng theo thang điểm Likert
- Mỗi câu hỏi có 05 mức độ đánh giá được xếp theo thứ tự 1, 2, 3 ,4, 5:
+ Mức 1 = Thực hiện rất tốt( Thực hiện rất thành thạo, chuyên nghiệp)
+ Mức 2 = Thực hiện tốt (Thực hiện thành thạo)
+ Mức 4 = Thực hiện chưa tốt (Có thực hiện chưa đạt, kém)
+ Mức 5 = Không thực hiện ( Rất kém)
Trong quá trình phỏng vấn người bệnh về công tác chăm sóc sơ cứu ban đầu (CSNB) của điều dưỡng, kết quả đánh giá được phân loại rõ ràng Kết quả được xem là "Tốt" khi người bệnh đánh giá ở mức độ 1 hoặc 2, thể hiện sự hài lòng cao về dịch vụ chăm sóc Ngược lại, nếu người bệnh đánh giá ở mức độ 3, 4 hoặc 5, kết quả sẽ được xếp loại là "Không tốt", cho thấy còn nhiều điểm cần cải thiện trong công tác chăm sóc của điều dưỡng Việc đánh giá đúng mức độ hài lòng giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đảm bảo chăm sóc người bệnh được tốt hơn.
Trong mục A, quy trình tiếp đón người bệnh gồm 4 câu hỏi chính, được đánh giá là “Tốt” khi bệnh nhân trả lời đạt mức độ 1 hoặc 2 cho cả 4 câu hỏi (A1-A4) Điều này đồng nghĩa với việc chỉ cần một trong số các câu hỏi không đạt mức độ này để kết luận là không đạt tiêu chuẩn Việc đánh giá chính xác các câu hỏi giúp đảm bảo chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng tại cơ sở y tế Các tiêu chí rõ ràng này đảm bảo quy trình tiếp đón người bệnh được thực hiện đúng chuẩn, nâng cao trải nghiệm và hài lòng của bệnh nhân.
Trong phần B về chăm sóc dinh dưỡng, có 5 câu hỏi (B1-B5), trong đó có 1 câu hỏi chuyển đổi Các câu trả lời được đánh giá dựa trên thang điểm từ 1 đến 5, với mức độ 1 và 2 thể hiện mức độ tốt, phản ánh tình trạng chăm sóc dinh dưỡng tích cực Ngược lại, khi một câu trả lời có mức độ 3, 4 hoặc 5, điều này cho thấy tình trạng không tốt trong chăm sóc dinh dưỡng của người được khảo sát Do đó, hệ thống đánh giá này giúp xác định rõ ràng mức độ chăm sóc dinh dưỡng và cung cấp cơ sở để đưa ra các biện pháp cải thiện phù hợp.
Trong Mục C về công tác chăm sóc và hỗ trợ vệ sinh cho người bệnh, có tổng cộng 06 câu hỏi (C1-C6), trong đó có 1 câu chuyển đổi kết quả Đánh giá mức độ hoàn thành công tác này được căn cứ vào các câu trả lời: được xem là "tốt" khi tất cả 5 câu trả lời đều đạt mức độ 1 hoặc 2, thể hiện sự chăm sóc tận tình và hiệu quả Ngược lại, nếu có ít nhất một câu trả lời phản hồi ở mức độ 3, 4 hoặc 5, kết quả sẽ được đánh giá là "Không tốt," thể hiện còn tồn tại những khuyết điểm trong quá trình hỗ trợ vệ sinh cho người bệnh.
* Mục D: Công tác tư vấn, giáo dục sức khỏe, gồm 06 câu (D1- D6)
Tư vấn - giáo dục sức khỏe là hình thức truyền thông trực tiếp giữa nhân viên y tế và người bệnh hoặc người nhà người bệnh về nội dung liên quan đến bệnh, phương pháp điều trị, chăm sóc bệnh, phòng bệnh Hoạt động này giúp nâng cao nhận thức về sức khỏe và thúc đẩy hành vi phòng ngừa hiệu quả Nghiên cứu về lĩnh vực này được xây dựng dựa trên thang điểm Likert 5 để đánh giá mức độ hài lòng và hiệu quả của các buổi tư vấn, từ đó cải thiện chất lượng dịch vụ y tế và nâng cao kết quả chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
+ Mức 1 = Thực hiện rất tốt (Có tư vấn, người bệnh hiểu và làm theo tốt)
+ Mức 2 = Thực hiện tốt (Có tư vấn, người bệnh hiểu và làm theo được)
+ Mức 3 = Bình thường (Có tư vấn, người bệnh hiểu nhưng không làm theo được)
+ Mức 4= Thực hiện chưa tốt (Có tư vấn, nhưng người bệnh không hiểu )
Mức 5 được coi là "Không thực hiện" (không tư vấn, hướng dẫn) và chỉ được đánh giá là "Tốt" khi tất cả 5 câu hỏi đều nhận điểm mức độ 1 hoặc 2 từ người bệnh Ngược lại, nếu có ngay một câu trả lời ở mức độ 3, 4 hoặc 5, thì tổng thể đánh giá sẽ là "Không tốt" Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo toàn bộ các câu hỏi đều đạt mức độ thấp để duy trì chất lượng dịch vụ tư vấn và hướng dẫn.
Mục E: Công tác theo dõi và thực hiện y lệnh được đánh giá dựa trên 4 câu hỏi, trong đó mức độ đáp ứng của người bệnh đóng vai trò quan trọng Kết quả được xem là “Tốt” khi cả 4 câu (F1 - F4) đều đạt mức độ 1 hoặc 2, cho thấy người bệnh hài lòng và y lệnh được thực hiện đúng quy định Nếu chỉ một trong các câu có mức độ từ 3 trở lên, kết quả sẽ bị đánh giá là “Không tốt”, phản ánh cần cải thiện công tác theo dõi và thực hiện y lệnh để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu được phân tích và xử lý trên phần mềm thống kê y học spss 20.0 Các biến được mô tả dưới dạng ± độ lệch chuẩn hoặc dưới dạng %
So sánh kết quả giữa các biến bằng thuật toán kiểm định test T Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p 50 cm cm là 254, chiếm tỷ lệ 84,7
Bảng 3.5 Đặc điểm vòng đầu, vòng ngực khi sinh của trẻ (n = 300) Đặc điểm hình thể ngoài Số lượng
Nhận xét: + Vòng đầu trung bình của trẻ là 34,6 ± 1,83 cm
+ Trẻ có vòng đầu < 34 cm là 35, chiếm tỷ lệ 11,7%
+ Trẻ có vòng đầu 34 cm là 265, chiếm tỷ lệ 88,3%
+ Vòng ngực trung bình của trẻ là 34,2 ± 1,62 cm + Trẻ có vòng ngực < 33 cm là 31, chiếm tỷ lệ 10,3%
+ Trẻ có vòng ngực 33 cm là 269, chiếm tỷ lệ 98,7%
Bảng 3.6 Tình trạng màu sác da của trẻ ngay sau đẻ (n = 300)
Tình trạng trẻ sau đẻ Số lượng
Màu sắc da Toàn thân hồng hào 279 93
Thân hồng, chân tay tím 21 7,0
Nhận xét: + Trẻ có Toàn thân hồng hào là 279, chiếm tỷ lệ 93%
+ Trẻ có Thân hồng, chân tay tím là 21, chiếm tỷ lệ 7,0%
Bảng 3.7 Cữ bú đầu tiên của trẻ ngay sau đẻ (n = 300)
Tình trạng trẻ sau đẻ Số lượng
Cữ bú đầu tiên của trẻ
Sau xổ thai 45 phút - 1giờ 124 41,3
Nhận xét: + Trẻ có cữ bú đầu tiên sau xổ thai 30 phút là 171, chiếm tỷ lệ 57,0%
Sau sinh, tỷ lệ trẻ có cữ bú đầu tiên trong vòng 45 phút đến 1 giờ chiếm 41,3%, cho thấy sự quan tâm đến việc kích thích bú sớm nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi và phát triển của trẻ Khoảng 1,7% trẻ có cữ bú đầu tiên sau 1 giờ 30 phút đến 2 giờ, trong khi đó, tỷ lệ trẻ bắt đầu bú sớm sau sinh đạt 100% sau 2 giờ, thể hiện sự thành công trong việc bắt đầu cho trẻ bú ngay sau sinh nhằm đảm bảo nguồn sữa mẹ và sức khỏe tốt cho bé.
Bảng 3.8 Tình trạng sức khỏe của trẻ sau đẻ 24h (n = 300)
Tình trạng trẻ sau đẻ 24h đầu Số lượng
+ Tỷ lệ trẻ bú tốt sau đẻ 24h là 92,3%
+ Có 288 trẻ da hồng hào, chiếm tỷ lệ 99,3%
+ 94,3% tổng số trẻ có thân nhiệt sau sinh trong khoảng 36,5 o -37,4 o + Rốn khô sau đẻ 24 giờ chiếm tỷ lệ 87,3%
+ Có 91,3% trẻ ngủ đủ giấc sau đẻ 24 giờ
+ Tỷ lệ trẻ bài tiết nước tiểu và phân su sau đẻ 24 giờ là 99,7% và 98,7%
Bảng 3.9 Tình trạng sức khỏe của trẻ trước khi ra viện (n = 300)
Tình trạng trẻ trước khi ra viện Số lượng
+ 96% trẻ bú tốt trước khi ra viện
+ Có 272 trẻ giảm cân nặng, chiếm tỷ lệ 90,7%
+ Có 183 trẻ xuất hiện dấu hiệu vàng da, chiếm tỷ lệ 61%
+ Có 97,7% tổng số trẻ có nhiệt độ từ 36,5 o -37,4 o
+ Số trẻ rốn khô chưa rụng chiếm tỷ lệ cao nhất 66,7%, tiếp theo là rốn khô đã rụng, rốn ướt chưa rụng và rốn ướt đã rụng lần lượt 20,7%, 9,7%, 3,0%
+ Có 90,7% trẻ ngủ đủ giấc trước ra viện vàng da sinh lý vàng da bệnh lý
Biểu đồ 3.3 Các dấu hiệu bất thường trẻ sơ sinh (n = 300)
Nhận xét: Có 175 trẻ vàng da sinh lý, chiếm tỷ lệ 95,6% tổng số trẻ Vàng da bệnh lý chỉ có 8 người, chiểm tỷ lệ 4,4%
Bú kém Khó thở Sốt Co giật Hạ thân nhiệt
Biểu đồ 3.4 Các dấu hiệu bất thường của trẻ (n = 300) Nhận xét: Tỷ lệ trẻ bú kém chiếm 4%, khó thở chiếm 1,3%, sốt chiếm 0,3% và hạ thân nhiệt chiếm 2%.
Các hoạt động chăm sóc
Bảng 3.10 Hoạt động tiếp đón người bệnh (n = 300)
Tốt Không tốt n TL% n TL%
1 Tiếp đón người bệnh chu đáo 168 89,3 32 10,7
2 Hướng dẫn làm các thủ tục hành chính 254 84,7 46 15,3
3 NHS phổ biến nội quy, quy định của khoa phòng, bệnh viện 256 85,3 44 14,7
4 NHS có giải thích ngay khi có thắc mắc 256 85,3 44 14,7
Các hoạt động tiếp đón bệnh nhân đều được thực hiện hiệu quả, với tỷ lệ vượt qua 85% Trong đó, hoạt động “tiếp đón người bệnh chu đáo” đạt tỷ lệ cao nhất là 89,3%, phản ánh mức độ hài lòng cao về chất lượng phục vụ Ngược lại, hoạt động “hướng dẫn làm các thủ tục hành chính” có tỷ lệ thấp hơn nhưng vẫn đạt 84,7%, cho thấy sự hoàn thiện trong công tác hướng dẫn và hỗ trợ bệnh nhân.
Bảng 3.11 Chăm sóc về dinh dưỡng (n = 300)
Chăm sóc về dinh dưỡng
Sau sinh 24 giờ Trước ra viện
Tốt Không tốt Tốt Không tốt Tốt Không tốt n % n % n % n % n % n %
HD các cho bú và số lần bú
HD bà mẹ cách vắt và bảo quản sữa
Có khó khăn trong việc cho con bú
NHS hỗ trợ khi gặp khó khăn
NHS tư vấn lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ
+ Tỷ lệ bà mẹ có khó khăn trong việc cho con bú sau sinh là 76,3%, sau 24 giờ là 63,3% và trước khi ra viện là 29,7%
Các hoạt động hướng dẫn cho mẹ về kỹ thuật cho bú và số lần bú phù hợp đã được thực hiện đạt mức độ cao, từ trên 74% Đồng thời, mẹ được hướng dẫn cách vắt và bảo quản sữa cho trẻ sau sinh đúng cách, đảm bảo an toàn và chất lượng Các hoạt động này đều đã được thực hiện thành công sau sinh, sau 24 giờ và trước khi ra viện, góp phần nâng cao tỷ lệ chăm sóc sức khỏe cho trẻ sơ sinh.
Bảng 3.12 Chăm sóc chế độ vệ sinh (n = 300)
Chăm sóc về vệ sinh
Sau sinh 24 giờ Trước ra viện
Tốt Không tốt Tốt Không tốt Tốt Không tốt n % n % n % n % n % n %
Sắp xếp buồng bệnh gọn gàng, đảm bảo vệ sinh
NHS tắm cho trẻ hằng ngày
NHS thay ga/chiếu theo lịch của BV và khi cần
NHS hướng dẫn vệ sinh sau khi trẻ đại tiểu tiện
Chăm sóc về vệ sinh
Sau sinh 24 giờ Trước ra viện
Tốt Không tốt Tốt Không tốt Tốt Không tốt n % n % n % n % n % n %
Có khó khăn trong việc vệ sinh cho trẻ
NHS giúp đỡ, hỗ trợ vệ sinh
+ Có 71%; 67,7% và 51% số bà mẹ gặp khó khăn trong việc vệ sinh cho trẻ sau sinh; sau 24 giờ và trước khi ra viện
Các hoạt động tắm cho trẻ của NHS được thực hiện hàng ngày sau sinh, sau 24 giờ và trước khi ra viện đều đạt tỷ lệ thực hiện ở mức độ rất cao, trên 90%, đảm bảo an toàn và vệ sinh cho trẻ sơ sinh.
Bảng 3.13 Hoạt động tư vấn, GDSK (n = 300)
Sau sinh 24 giờ Trước ra viện
Tốt Không tốt Tốt Không tốt Tốt Không tốt n % n % n % n % n % n %
Tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ
HD bà mẹ cách giữ vệ 267 89 33 11 269 89.7 31.0 10.3 272 90.7 28.0 9.3
Sau sinh 24 giờ Trước ra viện
Tốt Không tốt Tốt Không tốt Tốt Không tốt n % n % n % n % n % n % sinh cho trẻ
HD bà mẹ theo dõi giấc ngủ của trẻ
HD bà mẹ cách chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ
Tư vấn tiêm phòng cho trẻ
HD vệ sinh đồ dụng, dụng cụ cho trẻ ăn
Các hoạt động chăm sóc trẻ sơ sinh tại bệnh viện bao gồm tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ, hướng dẫn bà mẹ giữ vệ sinh cho trẻ, tư vấn chăm sóc, phòng bệnh và tiêm phòng cho trẻ sau sinh, sau 24 giờ và trước khi ra viện đều đạt mức độ thực hiện tốt cao, trên 75%.
Sau sinh, hoạt động theo dõi giấc ngủ của trẻ và vệ sinh đồ dùng, dụng cụ ăn uống có tỷ lệ hoàn thành tốt còn thấp, với mức độ từ 61% đến 66% trở lên sau 24 giờ và trước khi ra viện.
Bảng 3.14 Công tác theo dõi trẻ sơ sinh và thực hiện y lệnh (n = 300)
Theo dõi trẻ sơ sinh và thực hiện y lệnh
Sau sinh 24 giờ Trước ra viện
Tốt Không tốt Tốt Không tốt Tốt Không tốt n % n % n % n % n % n %
Theo dõi tình trạng sức khỏe của trẻ hàng ngày
HD cách tự theo dõi và phát hiện các dấu hiệu bất thường
Chăm sóc và xử trí sự cố xảy ra thành thạo, kịp thời
Thông báo và giải thích trước khi thực hiện chăm sóc và dùng thuốc cho trẻ
Các hoạt động theo dõi trẻ sơ sinh và thực hiện y lệnh sau sinh đều đạt mức độ cao, trên 80%, đặc biệt sau 24 giờ và trước khi ra viện Việc theo dõi sát sao giúp đảm bảo sức khỏe của trẻ sơ sinh một cách hiệu quả Điều này cho thấy chất lượng chăm sóc trẻ sơ sinh tại bệnh viện đạt tiêu chuẩn cao, đáp ứng yêu cầu y tế và an toàn.
Bảng 3.15 Kết quả các hoạt động chăm sóc thiết yếu trong sinh (n = 300)
Kết quả chăm sóc Thực hiện tốt Thực hiện chưa tốt n TL% n TL%
1 Thông báo giờ sinh, giới tính 293 97,7 7 2,3
2 Lau khô trẻ trong vòng 5 giây sau đẻ 289 96,3 11 3,7
3 Lau khô trẻ kỹ càng 224 74,7 76 25,3
4 Đặt trẻ tiếp xúc trực tiếp da kề da với mẹ ngay sau đẻ 165 55 135 45
5 Đội mũ cho trẻ, phủ khăn khô sạch lên hai mẹ con 275 91,7 25 8,3
6 Kẹp cắt dây rốn sau khi dây rốn đã ngừng đập (Cắt rốn một thì) 291 97 9 3
7 Hướng dẫn bà mẹ cho trẻ bú luôn trong vòng 1h đầu sau sinh 282 94 18 6
+ Tổng điểm chung hoạt động chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh ngay sau đẻ đạt tốt chiếm 87%, chưa tốt chiếm 13%
+ Các hoạt động chăm sóc thiết yếu 1, 2, 3, 5, 6, 7 đều được thực hiện tốt, chiếm tỷ lệ trên 90%
+ Có 165 trường hợp (55%) được đánh giá mức độ tốt ở hoạt động số 4: “Đặt trẻ tiếp xúc trực tiếp da kề da với mẹ ngay sau đẻ
Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc trẻ sơ sinh
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc với tuổi thai (n = 300)
Yếu tố liên quan Kết quả chăm sóc
Tuổi thai < 37 tuần có kết quả chăm sóc chung ở mức tốt đạt 53,3%, và 46,7% có kết quả chưa tốt Tỷ lệ này ở nhóm tuổi thai 37 tuần lần lượt 88,8% và 11,2%
Tỷ lệ chăm sóc tốt đối với nhóm trẻ tuổi thai 37 tuần cao hơn nhóm trẻ tuổi thai < 37 tuần, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc với giới tính (n = 300)
Trong tổng thể, có 87,8% khách hàng đạt kết quả chăm sóc chung tốt, trong khi 12,2% không đạt kết quả tốt Trong nhóm khách hàng nữ, tỷ lệ chăm sóc tốt là 86%, cao hơn so với tỷ lệ không tốt là 14% Tuy nhiên, không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và kết quả chăm sóc chung, với giá trị p > 0,05.
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc với cân nặng (n = 300)
Yếu tố liên quan Kết quả chăm sóc
Trong số trẻ có trọng lượng ≤3300g, tỷ lệ kết quả chăm sóc chung đạt mức tốt là 84,1%, trong khi đó 15,9% chưa tốt Đối với nhóm trẻ có trọng lượng trên 3300g, tỷ lệ kết quả chăm sóc tốt là 88,8%, còn 11,2% chưa tốt Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa cân nặng và kết quả chăm sóc chung với p > 0,05, cho thấy cân nặng không ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng chăm sóc trẻ.
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc với bệnh lý của mẹ (n = 300)
Yếu tố liên quan Kết quả chăm sóc
Bệnh lý của mẹ kèm theo
Tỷ lệ chăm sóc chung đạt kết quả tốt là 84%, trong khi đó 16% có kết quả chưa tốt Trong nhóm không có bệnh lý kèm theo, tỷ lệ đạt kết quả tốt là 87,3%, còn nhóm có bệnh lý kèm theo là 12,7% Không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa bệnh lý kèm theo và kết quả chăm sóc chung với p > 0,05.
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc với cách thức đẻ (n = 300)
Yếu tố liên quan Kết quả chăm sóc
Cách thức đẻ Đẻ thường 152(96,8) 5(3,2) 157(100)
Có kết quả chăm sóc tốt ở nhóm đẻ thường đạt 96,8%, và không tốt đạt 3,2%
Tỷ lệ này ở nhóm đẻ mổ lần lượt 76,2%, 23,8%
Tỷ lệ bệnh nhân đẻ thường được chăm sóc tốt cao hơn nhóm được chăm sóc không tốt, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 3.21 Yếu tố liên quan giữa kết quả chăm sóc với tình trạng bệnh (n = 300)
Tốt Không tốt n TL% n TL%
Vàng da bệnh lý có tỷ lệ chăm sóc chung đạt mức tốt là 75%, trong khi có 25% kết quả chưa tốt Tỷ lệ này đối với nhóm không vàng da bệnh lý lần lượt là 87,3% và 12,7% Không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa vàng da bệnh lý và kết quả chăm sóc chung, với giá trị p > 0,05. -Nâng tầm nội dung y tế của bạn trở nên chính xác và chuẩn SEO với dịch vụ biên tập chuyên nghiệp từ chúng tôi! [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha)
Nhiễm khuẩn và kết quả chăm sóc chung có mối liên quan không rõ ràng, khi tỷ lệ chăm sóc tốt đạt 100% ở nhóm nhiễm khuẩn và lần lượt là 86,6% và 13,4% ở nhóm không nhiễm khuẩn Tuy nhiên, phân tích cho thấy không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa nhiễm khuẩn và kết quả chăm sóc chung (p > 0,05), cho thấy mức độ nhiễm khuẩn không ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng chăm sóc.
Nhóm suy hô hấp đạt tỷ lệ chăm sóc chung tốt là 75%, trong khi 25% còn lại chưa đạt, trong khi ở nhóm không suy hô hấp, tỷ lệ này là 87,2% tốt và 12,8% chưa tốt Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa suy hô hấp và kết quả chăm sóc chung, với giá trị p > 0,05, cho thấy sự khác biệt không đáng kể giữa các nhóm.
Bảng 3.22 Yếu tố liên quan giữa kết quả chăm sóc với hoạt động tư vấn, GDSK
Hoạt động tư vấn GDSK
Tốt Không tốt n TL% n TL%
Nhóm tư vấn có kết quả chăm sóc chung đạt mức tốt là 83,8%, trong khi 29,8% còn lại chưa đạt yêu cầu, cho thấy hiệu quả hoạt động tư vấn còn hạn chế Ngược lại, nhóm tư vấn không tốt có tỷ lệ đạt kết quả tốt chỉ là 2,8%, còn 97,2% không đạt yêu cầu, phản ánh rõ sự khác biệt rõ ràng trong chất lượng tư vấn Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa hoạt động tư vấn và kết quả chăm sóc chung, thể hiện rằng chất lượng tư vấn ảnh hưởng đáng kể đến kết quả chăm sóc.
BÀN LUẬN
Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên 300 ca đẻ để đánh giá quy trình chăm sóc trẻ sơ sinh, trong đó có 285 trường hợp đủ tháng, chiếm 95%, phù hợp với tỷ lệ chung tại Việt Nam Hơn một nửa số trẻ sinh ra là giới tính nam (54,7%), và phần lớn các bà mẹ sử dụng Bảo hiểm Y tế, đạt tỷ lệ 94,7%, phản ánh thực trạng bảo hiểm y tế toàn dân tại khu vực miền núi gần như đạt 95% Báo cáo chung cho thấy tỷ lệ sinh non ở Việt Nam ngày càng tăng với trung bình khoảng 7%, mỗi năm có khoảng 100.000-110.000 trẻ sinh non Theo Tổng quan về Bình đẳng giới 2021, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam năm 2019 là 111,5 trẻ nam trên 100 bé gái, cao hơn tỷ lệ tự nhiên khoảng 104-106 Tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm Y tế toàn diện đạt 90,85% dân số, với hơn 87,96 triệu người tham gia tính đến cuối năm 2020, đặc trưng cho nỗ lực mở rộng tiếp cận dịch vụ y tế cho mọi người dân.
Hơn một nửa (56,7%) số bà mẹ cư trú tại nông thôn, chủ yếu ở tỉnh Cao Bằng, nơi có điều kiện kinh tế và xã hội còn khó khăn, diện tích đất nhỏ hẹp và tỷ lệ dân tộc thiểu số khá đông Trong nghiên cứu, 62,3% phụ nữ sinh con rạ và hơn một nửa số ca đẻ là đẻ thường (52,3%), phản ánh tác động của yếu tố địa lý và văn hóa đặc trưng của khu vực Do đặc điểm văn hóa địa phương, tỷ lệ mổ lấy thai tại đây còn thấp, cho thấy nhu cầu sử dụng dịch vụ này chưa cao Các bệnh lý kèm theo của mẹ như cao huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch, thận và các bệnh khác có tỷ lệ thấp, lần lượt là 1% đến 3,3% Các trẻ sơ sinh chủ yếu bị vàng da sinh lý (95,6%), trong khi vàng da bệnh lý chiếm 4,4% Tỷ lệ trẻ bú kém là 4%, khó thở 1,3%, sốt 0,3%, hạ thân nhiệt 2%, và không có trường hợp nào bị dị tật bẩm sinh Các bệnh lý kèm theo của mẹ đều phổ biến, nhưng tỷ lệ thấp và không khác biệt nhiều so với các nghiên cứu khác trong cộng đồng.
Đặc điểm lâm sàng của trẻ sơ sinh
Điểm Apgar sau sinh từ 8 đến 10 điểm chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 97,7%, cho thấy phần lớn trẻ sơ sinh có tình trạng sức khỏe tốt ngay sau đẻ Khoảng 98% trẻ ghi nhận điểm Apgar từ 8 đến 10 điểm sau 5 phút, trong khi tỷ lệ trẻ có điểm từ 4 đến 7 điểm là 2,0%, còn dưới 4 điểm chiếm 0,3%, cho thấy phần lớn trẻ sơ sinh cần ít hoặc không cần chăm sóc y tế khẩn cấp Đánh giá chính xác điểm Apgar giúp phòng ngừa tử vong ở trẻ sơ sinh và xác định ngay liệu em bé có cần can thiệp y tế cấp thiết hay không Nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ có điểm Apgar sau 5 phút dưới 7 có nguy cơ tử vong cao hơn, và các trường hợp có điểm số thấp thường liên quan đến trẻ non tháng, nhẹ cân hoặc mắc các bệnh lý thiếu oxy, thiếu máu cục bộ Trong đó, phù bì là dấu hiệu nặng thường gặp trong các bệnh lý nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh.
Ngoài điểm Apgar, trẻ sơ sinh cần được đánh giá về các dị tật như biến dạng chân, dị tật thừa ngón và các bất thường quan trọng khác như tiếng thổi của tim Việc đánh giá nên được thực hiện trong phòng ấm gần người thân để đảm bảo sự thoải mái và an toàn cho trẻ Các biện pháp phòng ngừa bao gồm sử dụng thuốc nhỏ mắt chống vi khuẩn (như erythromycin 0,5%, tetracycline 1 cm, hoặc dung dịch bạc nitrate 1%) để phòng bệnh lậu cầu và chlamydial, cũng như tiêm vitamin K 1 mg để dự phòng bệnh xuất huyết Sau khi sơ sinh được kiểm tra, trẻ sẽ được tắm, bọc, đội mũ để giữ ấm và đưa về phòng cùng mẹ Gia đình cần nhận biết trẻ, được hướng dẫn bởi nhân viên y tế, và được tiếp tục hỗ trợ trong quá trình nuôi con bằng sữa mẹ, nhằm tăng khả năng thành công của việc nuôi dưỡng và đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và bé.
Ngay sau sinh, việc đánh giá các yếu tố như mức độ hô hấp, nhịp tim, màu sắc, cơ lực và phản ứng với kích thích của trẻ sơ sinh là rất quan trọng và được ghi nhận trong bảng điểm Apgar thực hiện tại phút 1 và phút 5 sau sinh Điểm số Apgar từ 8 đến 10 cho thấy trẻ sơ sinh đang thích nghi tốt và quá trình chuyển đổi ra môi trường bên ngoài diễn ra suôn sẻ, trong khi điểm số ≤ 7 sau 5 phút hoặc duy trì lâu hơn 10 phút liên quan đến nguy cơ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao hơn Nhiều trẻ sơ sinh bình thường xuất hiện tím tái trong 1 phút đầu sau sinh nhưng sẽ hết sau 5 phút, còn những trẻ không phục hồi có thể do dị tật tim phổi bẩm sinh hoặc suy thần kinh trung ương.
Trong những ngày đầu tiên, khám toàn diện trẻ nên được thực hiện trong vòng 24 giờ đầu để đánh giá sức khỏe ban đầu Việc khám trẻ có sự có mặt của mẹ và gia đình giúp họ đặt câu hỏi và nhận hướng dẫn từ bác sĩ lâm sàng về các phát hiện thể chất Các phép đo cơ bản như chiều dài, cân nặng và chu vi vòng đầu là rất quan trọng trong quá trình đánh giá (xem thêm Các thông số tăng trưởng ở trẻ sơ sinh) Chiều dài được đo từ đỉnh đầu đến gót chân và so sánh với bảng tiêu chuẩn tăng trưởng dựa trên tuổi thai Nếu tuổi thai không rõ hoặc trẻ có vẻ như lớn hoặc nhỏ hơn so với tuổi thai, có thể xác định chính xác hơn bằng các khám thực thể và khám hệ thần kinh cơ, sử dụng phương pháp đánh giá tuổi thai bằng điểm Ballard, với độ chính xác khoảng ± 2 tuần, mặc dù đối với trẻ sơ sinh bệnh lý, độ tin cậy có thể giảm.
Hầu hết trẻ sơ sinh đều có cân nặng khi đẻ từ 3200g trở lên, chiếm tỷ lệ 62,3% tổng số trẻ Khoảng 84,7% trẻ có chiều dài trên 45cm, và phần lớn trẻ có vòng đầu 34cm (88,9%) cùng vòng ngực 33cm (98,7%) Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết trẻ sơ sinh đều có các chỉ số sức khỏe cơ bản trong giới hạn bình thường về cân nặng, chiều dài, vòng đầu và vòng ngực, phù hợp với tiêu chuẩn chung Cân nặng trung bình của trẻ trai là khoảng 3100g (± 350g), trẻ gái là khoảng 3060g (± 340g); trẻ dưới 2500g thường là trẻ đẻ non, đẻ yếu hoặc suy dinh dưỡng bào thai Chiều cao trung bình của trẻ đủ tháng là 50± 1,5cm đối với trẻ trai và 50± 1,3cm đối với trẻ gái; trẻ đẻ non có chiều cao dưới 45cm Vòng đầu trung bình của trẻ sơ sinh đủ tháng là khoảng 30 ± 1,83cm, trong khi lúc mới sinh, vòng ngực của trẻ nhỏ hơn vòng đầu khoảng 30cm.
Hầu hết trẻ sơ sinh có tình trạng sức khỏe ổn định ngay sau đẻ, trong 24 giờ đầu và khi ra viện, với tỷ lệ trẻ có vấn đề sức khỏe khá thấp Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các khuyến cáo và thống kê trong và ngoài nước, cho thấy 93% trẻ hồng hào sau sinh Khoảng 98,3% trẻ không bài tiết nước tiểu và phân su ngay sau sinh, trong khi tỷ lệ bú lần đầu sau xổ thai cao nhất là 57% sau 30 phút, còn sau 1-2 giờ chỉ khoảng 1,7% Đánh giá sau 24 giờ cho thấy đa số trẻ (92,3%) bú tốt, với 288 trẻ da hồng hào, phản ánh sức khỏe tích cực của trẻ sơ sinh sau sinh.
Dưới 1% trẻ có thân nhiệt ngoài khoảng 36,5°C - 37,4°C sau sinh, với 94,3% trẻ có nhiệt độ trong khoảng này Rốn khô sau đẻ 24 giờ chiếm tỷ lệ 87,3%, trong khi 96% trẻ bú tốt trước khi ra viện Đa số trẻ xuất hiện dấu hiệu vàng da, chiếm 61%, và 90,7% trẻ ngủ đủ giấc trước khi xuất viện Hầu hết trẻ bài tiết nước tiểu và phân su sau đẻ 24 giờ, với tỷ lệ lần lượt là 99,7% và 98,7% Đánh giá khi ra viện cho thấy 90,7% trẻ ngủ đủ giấc Nhiệt độ trước khi ra viện có 97,7% trẻ trong khoảng 36,5°C - 37,4°C Về tình trạng rốn, tỷ lệ rốn khô chưa rụng cao nhất, chiếm 66,7%, tiếp theo là rốn khô đã rụng 20,7%, rốn ướt chưa rụng 9,7%, và rốn ướt đã rụng lần lượt là 3,0% Hầu hết trẻ giảm cân sau sinh, chiếm tỷ lệ 90,7%.
Nghiên cứu mới nhất của tác giả Hoàng Thị Dung và cộng sự năm 2021 đã mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, tập trung vào 96 trẻ tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2020 Kết quả cho thấy suy hô hấp phổ biến ở trẻ sơ sinh nam, đặc biệt ở trẻ dưới 1 ngày tuổi (76,0%), sinh non dưới 37 tuần (61,5%), và cân nặng dưới 2500g (57,3%) Các triệu chứng chính gồm tím (90,6%), rút lõm lồng ngực (87,5%), thở nhanh (86,5%), phập phồng cánh mũi (46,9%), cùng với các rối loạn đông máu (92,7%), giảm albumin máu (72,9%) và giảm glucose máu (37,5%) Trẻ sơ sinh non tháng thể hiện các dấu hiệu suy hô hấp nặng hơn với thời điểm xuất hiện sớm hơn, kèm theo các triệu chứng như tím, phập phồng cánh mũi, SpO2 < 90%, hạ thân nhiệt, giảm albumin và pH máu thấp hơn so với nhóm trẻ đủ tháng Nghiên cứu kết luận rằng các dấu hiệu suy hô hấp thường gặp ở trẻ sơ sinh non tháng, có thể xuất hiện ngay trong ngày đầu sau sinh, đặc biệt ở trẻ có cân nặng thấp.
Kết quả các hoạt động chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh ngay sau đẻ (theo quy trình EENC)
Nghiên cứu cho thấy 87% tổng điểm quy trình chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh ngay sau đẻ đạt mức tốt, trong khi 13% chưa đạt yêu cầu Các thao tác cần thực hiện ngay sau sinh gồm 7 tiêu chí, trong đó, 5 thao tác được thực hiện đúng tỷ lệ cao như thông báo giờ sinh (97,7%), lau khô trẻ trong vòng 5 giây sau đẻ (96,3%), đội mũ cho trẻ, phủ khăn khô sạch lên mẹ con (91,7%), kẹp cắt dây rốn sau khi ngừng đập (97%), và hướng dẫn mẹ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh (94%) Tuy nhiên, có hai thao tác còn tỷ lệ thực hiện chưa tốt là đặt trẻ da kề da với mẹ ngay sau đẻ (45%) và lau khô trẻ kỹ càng (25,3%) Theo các nghiên cứu của Ngô Minh Hà tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, tỷ lệ thực hành đạt quy trình chăm sóc thiết yếu là 59%, trong khi nghiên cứu của Lê Thị Kim Loan tại Bệnh viện tỉnh Ninh Thuận đạt 54%, cho thấy còn nhiều chênh lệch nhưng chưa phản ánh rõ về chất lượng dịch vụ hay trình độ của nhân viên y tế giữa các địa phương.
Nghiên cứu của chúng tôi khác biệt so với các nghiên cứu trước do thang đo khá chung chung của họ, dẫn đến hạn chế trong việc đánh giá chính xác Trong khi tác giả Ngô Minh Hà chỉ xây dựng bộ tiêu chí gồm 28 yếu tố để đánh giá thực hành của hộ sinh, thì nghiên cứu của Lê Thị Kim Loan chỉ tập trung vào 6 nội dung cơ bản của quy trình CSTY Ngược lại, nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã đánh giá 2 bước trong 6 bước của quy trình CSTY, sử dụng tới 32 tiêu chí, nhằm phát hiện rõ các hạn chế cụ thể trong thực hành hộ sinh Việc chia nhỏ các tiêu chí giúp xác định chính xác các điểm còn yếu, từ đó đề xuất các giải pháp điều chỉnh hiệu quả hơn.
Nghiên cứu đã ghi nhận tỷ lệ trẻ sơ sinh tiếp xúc da kề da với mẹ ngay sau sinh đạt 92,2%, cao hơn nhiều so với nghiên cứu của tác giả Huỳnh Công Lên (75%) và các đánh giá của nhóm EENC VN tại 15 bệnh viện năm 2016 (75%), cũng như nghiên cứu tại 8 quốc gia khu vực Thái Bình Dương (63%) Ngoài ra, tỷ lệ trẻ bú mẹ trong 1 giờ sau sinh đạt 94%, phù hợp với khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế; kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Huỳnh Công Lên (75%) nhưng cao hơn nhiều so với kết quả của Lê Thị Mộng Tuyển tại Bệnh viện Sản Nhi Đà Nẵng là 44,8%.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc giữ ấm trẻ sơ sinh thông qua tiếp xúc da kề da với mẹ sau sinh là rất có lợi, với tỷ lệ thực hành đạt tới 96,1% ở các bệnh viện Cụ thể, 92,2% trẻ sơ sinh được tiếp xúc da kề da ngay trong phút đầu sau sinh, góp phần thúc đẩy quá trình làm quen nhiệt độ và tạo sự gắn kết giữa mẹ và con Đánh giá của nhóm EENC VN năm 2016 tại 15 bệnh viện cho thấy tỷ lệ này đạt 75%, trong khi đó các quốc gia trong khu vực Thái Bình Dương đạt trung bình 63% Nghiên cứu cũng cho thấy khoảng 48,6% trẻ duy trì da kề da trong ≥ 90 phút, và 42,4% trẻ được làm da kề da ngay lập tức mà không bị cách ly trong ít nhất 90 phút để hoàn tất cữ bú đầu tiên Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ được da kề da > 60 phút vẫn còn khá thấp, từ 41,3% đến 62,5% theo đánh giá của nhóm EENC VN Thực hành cho trẻ tiếp xúc da kề da còn tiềm năng để cải thiện, đặc biệt là duy trì quá trình này trên 90 phút để giúp trẻ hoàn thành cữ bú đầu tiên và thích nghi với nhiệt độ cơ thể Trong nghiên cứu gần đây của bác sĩ Lê Thị Mộng Tuyền tại Bệnh viện Sản Nhi Đà Nẵng, tỷ lệ bà mẹ cho con bú trong vòng một giờ đầu sau sinh đạt 44,8%, trong khi tỷ lệ không cho trẻ ăn hoặc uống gì trước lần bú đầu tiên chiếm đến 81,03%, cho thấy còn nhiều cơ hội để nâng cao các thực hành hỗ trợ nuôi dưỡng sơ sinh ngay sau sinh.
Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em (SKBMTE), với giảm rõ rệt tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi (GS.TS Nguyễn Viết Tiến, 2017) Quốc gia này đã được WHO và UNICEF lựa chọn đăng cai tổ chức hội thảo quốc tế về thúc đẩy tiến bộ của Chăm sóc sơ sinh thiết yếu ban đầu (EENC), góp phần hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc đến năm 2030 Hiện nay, EENC đã được áp dụng tại 16 quốc gia, với hơn 30.000 cán bộ y tế được tập huấn tại 2.522 cơ sở y tế, giúp cải thiện chất lượng chăm sóc cho gần 4 triệu trẻ sơ sinh Trong khu vực, hội nghị gồm các thứ trưởng từ 8 quốc gia là dịp để xác định các giải pháp vượt qua rào cản, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao công tác chăm sóc sơ sinh sớm, đặc biệt tại các nhóm dân cư dễ tổn thương.
Tại Bệnh viện Bà Rịa, Bệnh viện tỉnh và bệnh viện Lê Lợi đã ứng dụng thành công quy trình EENC từ năm 2015, mang lại lợi ích rõ rệt cho hơn 1.000 phụ nữ sinh mỗi tháng nhờ chăm sóc tận tâm Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản đã tổ chức tập huấn cho 90 cán bộ y tế từ các huyện và xã, bao gồm cả huyện Côn Đảo, nhằm đảm bảo việc thực hành quy trình đúng chuẩn Dự kiến, đến ngày 1-9-2015, quy trình EENC sẽ được triển khai đồng bộ trên toàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nâng cao chất lượng chăm sóc mẹ và bé Nhiều bằng chứng đã chứng minh lợi ích của việc thực hiện chăm sóc y tế trong và ngay sau đẻ, tuy nhiên, việc thực hành chưa đầy đủ quy trình của hộ sinh dẫn đến những bất cập và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của sản phụ và trẻ sơ sinh, có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng về lâu dài.
Hoạt động tiếp đón người bệnh
Nghiên cứu cho thấy hầu hết các hoạt động tiếp đón người bệnh đều đạt hiệu quả cao, với tỷ lệ trên 85% Trong đó, hoạt động "tiếp đón người bệnh chu đáo" nổi bật nhất với tỷ lệ 89,3%, thể hiện sự chú trọng đến sự tận tình và chuyên nghiệp trong dịch vụ y tế Ngược lại, hoạt động "hướng dẫn làm các thủ tục hành chính" có tỷ lệ thấp nhất là 84,7%, nhưng vẫn đảm bảo đáp ứng yêu cầu chất lượng tiếp đón Các kết quả này cho thấy sự cố gắng của các cơ sở y tế trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng và chăm sóc người bệnh.
Các hoạt động tiếp đón người bệnh tại bệnh viện được thực hiện theo Thông tư số 31/2021/TT-BYT của Bộ Y tế ngày 28/12/2021 về Quy định hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện, giúp đảm bảo quy trình chuyên nghiệp và an toàn Quản lý quy trình tiếp nhận và nhận định người bệnh tuân thủ theo hướng dẫn của Thông tư 31, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và đáp ứng kịp thời nhu cầu của患者 Việc tiếp nhận và nhận định người bệnh đúng quy trình là bước quan trọng trong việc xác định chính xác trạng thái sức khỏe của bệnh nhân, từ đó lên kế hoạch điều trị phù hợp Các hoạt động này góp phần nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc và đảm bảo chăm sóc người bệnh theo tiêu chuẩn y tế hiện hành.
Trong quá trình tiếp nhận, phân loại, sàng lọc và cấp cứu ban đầu, nhân viên y tế phối hợp với bác sỹ để đảm bảo người bệnh được xử lý nhanh chóng và chính xác Các bước bao gồm sắp xếp thứ tự khám dựa trên mức độ nghiêm trọng của bệnh lý, đặc biệt chú trọng đến các đối tượng ưu tiên như người cao tuổi, thương binh, phụ nữ có thai, trẻ em và đối tượng chính sách khác Hướng dẫn và hỗ trợ người bệnh thực hiện khám bệnh cũng là phần quan trọng trong quy trình, đảm bảo người bệnh tuân thủ các kỹ thuật cận lâm sàng theo chỉ định của bác sỹ Bên cạnh đó, quy trình tiếp nhận còn bao gồm hỗ trợ thủ tục và sắp xếp người bệnh vào điều trị nội trú một cách hợp lý nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế.
Nhận định người bệnh gồm khám và đánh giá tình trạng sức khỏe hiện tại cùng các nhu cầu cơ bản, đồng thời xác định các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh Quá trình này giúp xác định chẩn đoán điều dưỡng phù hợp, ưu tiên các chẩn đoán có tác động trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của bệnh nhân Điều dưỡng phân cấp chăm sóc dựa trên nhận định về tình trạng sức khỏe và mức độ nguy kịch, phối hợp với bác sĩ để đánh giá mức độ bệnh và dự báo các yếu tố nguy hiểm, nguy cơ xảy ra sự cố trong quá trình điều trị và chăm sóc bệnh nhân.
Hiện chưa có nghiên cứu đối chiếu để phân tích kết quả, tuy nhiên, nhận thấy hoạt động tiếp đón người bệnh của hộ sinh còn nhiều thiếu sót, dễ dẫn đến sự bất ổn về tâm lý cho thai phụ và người nhà Việc hướng dẫn các thủ tục hành chính chỉ đạt khoảng 85% có thể làm tăng sự lo lắng cho các bà mẹ trước sinh, ảnh hưởng đến tâm trạng và sức khỏe của họ trong quá trình sinh nở.
Chăm sóc về dinh dưỡng
Nghiên cứu này cho thấy có đến 67,3% các trường hợp gặp khó khăn trong việc cho con bú, trong đó 56,7% được hỗ trợ và 61% được tư vấn tốt Tỷ lệ sản phụ bắt đầu cho trẻ bú trong vòng một giờ đầu sau sinh còn thấp, chỉ 37,7%, phần lớn trẻ (57,2%) bắt đầu bú sau 2-6 giờ sau đẻ Trên thế giới, tỷ lệ sản phụ cho con bú trong vòng một giờ đầu còn hạn chế, với gần 20% trẻ sơ sinh ở châu Á được bú trong 24 giờ đầu sau sinh Tại Trung Quốc, một nghiên cứu tại thành phố Jinan cho thấy 51% sản phụ bắt đầu cho con bú trong vòng một giờ, trong khi theo điều tra sức khỏe và dân số, chỉ 28% trẻ sơ sinh được bú trong một giờ đầu sau sinh, phần còn lại thường được cho ăn bằng sữa bò, mật ong hoặc các thức ăn khác trước khi bú mẹ lần đầu Tỷ lệ sản phụ cho trẻ ăn uống các thực phẩm khác trước khi bắt đầu bú mẹ khá cao, khoảng 19,1%.
Chăm sóc dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị, bao gồm việc thực hiện hoặc hỗ trợ người bệnh theo chế độ dinh dưỡng phù hợp theo chỉ định của bác sĩ, đồng thời theo dõi dung nạp và mức độ hài lòng của người bệnh để báo cáo kịp thời và điều chỉnh chế độ phù hợp Điều dưỡng viên phối hợp cùng bác sĩ đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh hàng ngày và đảm bảo cung cấp chế độ ăn phù hợp với bệnh lý, trong đó người bệnh có chế độ ăn bệnh lý sẽ được cung cấp suất ăn chuyên biệt và theo dõi ghi nhận kết quả thực hiện Ngoài ra, người bệnh cũng được hỗ trợ ăn uống khi cần và những trường hợp ăn qua ống thông phải do điều dưỡng viên hoặc hộ sinh viên trực tiếp thực hiện, theo quy định của Thông tư số 18/2020/TT-BYT và Thông tư số 07/2011 của Bộ Y tế.
Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh chỉ đạt dưới 1 trẻ trên 4 trẻ, nhưng tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ trong ngày đầu tiên lại cao đến 72,5% Chỉ có 45,4% trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ hoàn toàn Khoảng hơn một nửa số trẻ từ 6-23 tháng tuổi thực hiện chế độ ăn tối thiểu, nhưng tỷ lệ này phụ thuộc vào mức sống của gia đình và trình độ học vấn của mẹ Trẻ có mẹ trình độ học vấn cao và sống trong gia đình khá giả có khả năng nhận chế độ ăn đủ về cả số lượng lẫn chất lượng cao hơn Tỷ lệ trẻ có chế độ ăn tối thiểu khác nhau đáng kể giữa các khu vực địa lý, nhóm tuổi và nhóm dân tộc, khu vực thành thị đạt 50,4%, trong khi nông thôn là 43,2%; trẻ 6-8 tháng tuổi chỉ đạt 31,6%, còn trẻ 18-23 tháng tuổi đạt 51,8%; tỷ lệ trẻ dân tộc Kinh/Hoa là 48,5%, trong khi nhóm dân tộc Mông chỉ đạt 7,1%.
Nghiên cứu của Lê Thị Hương và Đỗ Hữu Hanh tại Yên Bái năm 2008 cho thấy 66% sản phụ thực hiện việc bú sớm trong vòng nửa giờ đầu sau sinh Tuy nhiên, chỉ có 19,1% sản phụ được y tế hỗ trợ trong việc bú sữa đầu tiên, trong khi con số này ở các nhân viên y tế khác là 33% Các khoa bệnh viện thường phân công chăm sóc theo đội nhóm, mỗi nhóm có nhiệm vụ riêng như chăm sóc sản phụ chuyển dạ hay sau đẻ, nhưng nhân viên y tế cần cải thiện khả năng tư vấn và hỗ trợ trẻ bú mẹ sớm Điều này dẫn đến việc 19,1% trẻ không được bú mẹ đúng giờ đầu, thay vào đó ăn thực phẩm khác, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và khả năng truyền kháng thể từ sữa mẹ Nguyên nhân chính khiến trẻ không bú sớm là do sản phụ thiếu hiểu biết về lợi ích của sữa non và việc cho con bú sớm, cùng với các phong tục tập quán lâu đời hoặc mệt mỏi sau sinh khiến họ ngại cho con bú trong vòng một giờ đầu sau sinh.
Chăm sóc dinh dưỡng trong bệnh viện bao gồm thực hiện hoặc hỗ trợ người bệnh thực hiện chế độ dinh dưỡng phù hợp theo chỉ định của bác sĩ, đồng thời theo dõi dung nạp và phản hồi về chế độ dinh dưỡng của người bệnh để báo cáo bác sĩ và điều chỉnh kịp thời, đảm bảo trách nhiệm của điều dưỡng theo quy định tại Thông tư số 18/2020/TT-BYT Việc bú mẹ sớm nhất có thể sau sinh, lý tưởng nhất trong vòng 1 giờ đầu, được khuyến khích để hỗ trợ sự phát triển và sức khỏe của trẻ sơ sinh Các thủ tục như cân, đo, tắm bé trong giờ đầu sau sinh nên tránh trừ khi thật sự cần thiết hoặc mẹ yêu cầu, nhằm tạo điều kiện tối đa cho bé tiếp xúc da kề da với mẹ Để giữ ấm cho bé, cần đảm bảo bé khô ráo, được bao phủ bởi chăn hoặc khăn lông ấm, duy trì tiếp xúc da kề da để đảm bảo bé cảm thấy an toàn và ấm áp.
Chăm sóc chế độ vệ sinh
Nghiên cứu cho thấy công việc tắm hàng ngày cho trẻ của NHS đạt tỷ lệ cao nhất, với 93,3%, nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động chăm sóc vệ sinh Ngoài ra, các hoạt động khác như "sắp xếp buồng bệnh" cũng được thực hiện đều đặn, phản ánh sự chú trọng vào công việc chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân.
Theo khảo sát, hướng dẫn vệ sinh khi trẻ đi đại tiểu tiện theo lịch đã đạt mức độ hoàn thành tốt với tỷ lệ lần lượt là 64%, 65,3% và 60,3% Tuy nhiên, vẫn còn đến 71% bà mẹ gặp khó khăn trong việc vệ sinh cho trẻ, điều này cho thấy cần tăng cường hỗ trợ và đào tạo Mức độ hỗ trợ từ nhân viên y tế, như sự giúp đỡ của NHS, đạt chỉ 44%, cho thấy còn nhiều khả năng cải thiện để giảm bớt gánh nặng cho các bà mẹ trong công tác vệ sinh cho trẻ.
Theo nghiên cứu của tác giả Huỳnh Công Lên, có đến 80,4% trẻ sơ sinh được NVYT tắm sau sinh, trong đó 52,9% trẻ được tắm sau 24 giờ và 27,5% tắm từ 7 đến dưới 24 giờ sau sinh Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ sơ sinh tắm trong vòng 24 giờ thấp hơn so với báo cáo đánh giá tại 15 bệnh viện năm 2016 của Nhóm EENCVN, với khoảng 75% trẻ được tắm sau 24 giờ.
Hoạt động tư vấn, GDSK trước sinh (đánh giá mối liên quan)
Các hoạt động tư vấn về nuôi con bằng sữa mẹ, giữ vệ sinh cho trẻ, chăm sóc và phòng bệnh, cũng như tiêm phòng cho trẻ đều được thực hiện hiệu quả với tỷ lệ thành công lần lượt là 92%, 89%, 76,4% và 89,3% Trong khi đó, các hoạt động theo dõi giấc ngủ và vệ sinh đồ dùng, dụng cụ ăn của trẻ đạt mức độ hoàn thành tốt lần lượt là 66% và 61%, cho thấy cần cải thiện trong các lĩnh vực này.
Hoạt động tư vấn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết của sản phụ về lợi ích của tiếp xúc da kề da mẹ - con sớm, giúp họ tự tin thực hiện phương pháp này Nghiên cứu của tác giả Phạm Thúy Quỳnh cho thấy tỷ lệ sản phụ hiểu biết về tiếp xúc da kề da đạt tới 97%, nhưng tỷ lệ thực hành chỉ đạt 38,9%, phản ánh sự cần thiết của đào tạo và hướng dẫn cụ thể hơn Theo nghiên cứu của Lozoff, tại các nước kém phát triển, biện pháp ủ ấm da kề da ít được thực hiện do thiếu nỗ lực thúc đẩy, mặc dù các nghiên cứu cho thấy sự tư vấn trước sinh có thể nâng cao tỷ lệ thực hành này Tại Nigeria, tỷ lệ áp dụng phương pháp ủ ấm da kề da trong vòng 30 phút sau sinh chỉ đạt 38,4% (năm 2005), trong khi tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, việc da kề da ngay sau đẻ khá phổ biến với tỷ lệ 86,7%, tuy nhiên, để sản phụ chủ động thực hiện cần có hướng dẫn rõ ràng hơn từ nhân viên y tế.
Hoạt động tư vấn, truyền thông và giáo dục sức khỏe nhằm phối hợp với các y sĩ và nhân viên chuyên môn khác để hướng dẫn kiến thức về bệnh, cách tự chăm sóc và theo dõi sức khỏe Các hoạt động này còn bao gồm hợp tác với nhân viên y tế trong chăm sóc, phòng bệnh, kiểm soát nhiễm khuẩn, dinh dưỡng, phục hồi chức năng và hướng dẫn người bệnh thực hiện đầy đủ các nội quy trong điều trị nội trú, chuyển viện và ra viện Tư vấn cũng giúp người bệnh cải thiện hành vi sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật, nâng cao kiến thức tự chăm sóc bản thân và hợp tác trong quá trình điều trị theo quy định tại Thông tư số 31/2021/TT-BYT của Bộ Y tế về hoạt động dinh dưỡng trong bệnh viện.
Trong hướng dẫn chăm sóc người bệnh tại khoản 1, 2 điều 4, chương II, Thông tư số 07/2011/TT-BYT quy định các hoạt động tư vấn và hướng dẫn người bệnh bao gồm việc bệnh viện tổ chức các hình thức tư vấn, giáo dục sức khỏe phù hợp Người bệnh nằm viện được điều dưỡng viên, hộ sinh viên tư vấn, hướng dẫn tự chăm sóc, theo dõi và phòng bệnh trong thời gian nằm viện cũng như sau khi ra viện Cùng với Thông tư số 07, Bộ Y tế còn ban hành Thông tư 31/2021/TT-BYT bổ sung các hoạt động tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại điểm i, khoản 1, điều.
Chương II về nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc điều dưỡng nhấn mạnh vai trò phối hợp với bác sĩ và các chuyên gia y tế khác trong việc tư vấn, hướng dẫn bệnh nhân về kiến thức bệnh lý và kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe Điều dưỡng còn có trách nhiệm theo dõi tình trạng người bệnh, hợp tác với nhân viên y tế trong công tác phòng chống nhiễm khuẩn, đảm bảo an toàn người bệnh và duy trì các quy định về dinh dưỡng, phục hồi chức năng Ngoài ra, họ hướng dẫn và hỗ trợ người bệnh thực hiện đầy đủ nội quy điều trị nội trú, cũng như các quy trình chuyển khoa, chuyển viện hoặc ra viện để đảm bảo quy trình chăm sóc toàn diện.
Công tác theo dõi trẻ sơ sinh và thực hiện y lệnh
Nghiên cứu cho thấy, hơn 80% hoạt động theo dõi trẻ sơ sinh và thực hiện y lệnh đều được thực hiện tốt, phản ánh chất lượng chăm sóc y tế hiệu quả Trong đó, hoạt động 3 ghi nhận tỷ lệ thực hiện cao nhất, thể hiện sự tuân thủ nghiêm ngặt trong quá trình chăm sóc và theo dõi trẻ nhỏ Kết quả này cho thấy công tác y tế và chăm sóc trẻ sơ sinh đang ngày càng được nâng cao, đảm bảo an toàn và sức khỏe cho các bé.
Trong quá trình chăm sóc và xử lý sự cố, tỷ lệ các hoạt động liên quan rất cao, lên tới 90,7%, thể hiện sự chú trọng của nhân viên y tế đối với an toàn bệnh nhân Trong khi đó, hoạt động thông báo và giải thích trước khi thực hiện chăm sóc và dùng thuốc chiếm tỷ lệ thấp hơn, chỉ đạt 83,7%, cho thấy vẫn còn khoảng cách cần cải thiện trong việc đảm bảo sự hiểu biết và phối hợp của bệnh nhân.
Hoạt động theo dõi và thực hiện y lệnh trong chăm sóc trẻ sơ sinh đạt tỷ lệ thực hiện tốt khá cao Tuy nhiên, vẫn còn trên 10% các trường hợp thực hiện không tốt sau sinh, đặc biệt là việc thông báo và giải thích trước khi chăm sóc và dùng thuốc cho trẻ, chiếm tới 16,3% (49 trường hợp) Nguyên nhân chủ yếu là do công tác đào tạo và tập huấn liên tục về theo dõi sau sinh và thực hiện y lệnh chưa được đầy đủ, khiến kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên y tế chưa thường xuyên, liên tục.
Trong nghiên cứu y khoa, việc theo dõi và thực hiện y lệnh tuân thủ đúng hướng dẫn tại Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 là rất quan trọng Người bệnh đến khám sẽ được điều dưỡng viên hoặc hộ sinh viên thực hiện đánh giá ban đầu để sắp xếp khám theo mức độ ưu tiên Các nhân viên y tế phối hợp với bác sĩ điều trị để đánh giá, phân cấp chăm sóc phù hợp với từng bệnh nhân, đảm bảo thực hiện các can thiệp chăm sóc phù hợp Bệnh viện quy định rõ về quy trình theo dõi, ghi nhận kết quả theo dõi dấu hiệu sinh tồn và các can thiệp điều dưỡng phù hợp với từng chuyên khoa Trong quá trình chăm sóc, người bệnh được đánh giá và theo dõi diễn biến bệnh liên tục; nếu phát hiện dấu hiệu bất thường, nhân viên y tế phải hành động kịp thời trong phạm vi chuyên môn và báo cáo cho bác sĩ điều trị để xử lý nhanh chóng.
Nghiên cứu của Đỗ Thị Thủy tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng kế hoạch đào tạo lại đội ngũ hộ sinh để nâng cao năng lực và hiệu quả công tác Tăng cường tần suất kiểm tra, giám sát giúp đảm bảo việc thực hiện các quy trình đạt chuẩn chất lượng Ngoài ra, việc tham mưu cho phòng tổ chức cán bộ xây dựng đề án nhân lực phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân trong mùa sinh đẻ là cấp thiết Các hộ sinh cần tuân thủ nghiêm quy trình, có ý thức tự giám sát và hỗ trợ đồng nghiệp trong quá trình chăm sóc, điều trị để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc với đặc điểm chung
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ có ý nghĩa giữa tuổi thai, phương thức sinh và hoạt động tư vấn, GDSK với kết quả tổng thể của quy trình chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh Cụ thể, nhóm trẻ sơ sinh dưới 37 tuần tuổi có tỷ lệ chăm sóc đạt mức tốt đạt 53,3%, cho thấy những yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng chăm sóc và sức khỏe của trẻ.
Khoảng 46,7% các kết quả chăm sóc còn chưa tốt, trong đó tỷ lệ này đặc biệt cao ở nhóm tuổi thai từ 37 tuần trở lên, với lần lượt 88,8% không đạt kết quả tốt và 11,2% đạt kết quả tốt Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi thai và kết quả chăm sóc chung, với p < 0,05, cho thấy tuổi thai ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng chăm sóc Trong nhóm sinh thường, tỷ lệ kết quả chăm sóc tốt chiếm tới 96,8%, trong khi chỉ có 3,2% không đạt yêu cầu, còn ở nhóm sinh mổ, tỷ lệ này là 76,2% kết quả tốt và 23,8% chưa tốt, phản ánh sự khác biệt rõ ràng về chất lượng chăm sóc giữa hai phương pháp sinh.
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa phương pháp đẻ và kết quả chăm sóc chung của trẻ sơ sinh, với p < 0,05, cho thấy phương pháp đẻ ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng chăm sóc Nhóm tư vấn tốt đạt tỷ lệ kết quả chăm sóc tốt lên đến 83,8%, trong khi chỉ 29,8% trong nhóm tư vấn không tốt có kết quả tốt; ngược lại, nhóm tư vấn không tốt có tỷ lệ kết quả chưa tốt là 97,2%, trong khi nhóm tư vấn tốt chỉ 2,8% Suy hô hấp của trẻ sơ sinh cũng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả chăm sóc chung, với p < 0,05, cho thấy tình trạng suy hô hấp ảnh hưởng đến hiệu quả chăm sóc Tuy nhiên, không có mối liên hệ ý nghĩa nào giữa đặc điểm giới tính, cân nặng, bảo hiểm y tế, nơi cư trú, bệnh lý của trẻ hoặc của mẹ với kết quả chung của quy trình chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh khi p > 0,05.
Tuổi thai khi sinh khác nhau dẫn đến sự khác biệt trong chăm sóc Theo tổ chức
Y tế thế giới ghi nhận tỷ lệ sinh non chiếm khoảng 5% đến 15% tổng số ca đẻ, với nguy cơ cao đối với trẻ sơ sinh, đặc biệt là tỷ lệ tử vong chu sản tăng lên khi tuổi thai còn non Trẻ đẻ non có nguy cơ cao mắc các di chứng thần kinh, với tỷ lệ khoảng 1/3 khi sinh trước 32 tuần, 1/5 từ 32-35 tuần và 1/10 từ 35 đến 37 tuần Các trẻ này cần được chăm sóc đặc biệt, thường đi kèm chi phí lớn, và đối mặt với những di chứng tâm thần kinh về lâu dài, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Chăm sóc trẻ sinh thường khác biệt rõ rệt so với trẻ sinh mổ, vì trẻ sinh thường có chỉ số sinh học tốt hơn nhờ vào quá trình sinh tự nhiên Trong sinh thường, mẹ tiết ra endorphins – hormone giảm đau nội sinh giúp tăng đề kháng và khả năng thích nghi của trẻ với môi trường ngoài bụng mẹ Trẻ sinh thường ít gặp nguy cơ ngạt thở hơn do quá trình kích thích nang phổi mở rộng và đẩy dịch ra ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho hô hấp tự nhiên Ngoài ra, sinh thường hạn chế tiếp xúc với máy móc và thuốc gây mê, giảm thiểu tác dụng phụ cho mẹ và bé Ngược lại, trẻ sinh mổ thường không được bú sữa non vì thuốc gây mê có trong sữa của mẹ, làm ảnh hưởng đến lượng kháng thể cần thiết để phát triển hệ miễn dịch của trẻ Do đó, trẻ sinh mổ cần được chăm sóc và theo dõi kỹ càng hơn để đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh như trẻ sinh thường.
Hoạt động tư vấn hiệu quả giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sau sinh bằng cách tăng cường tương tác và trao đổi thông tin giữa cán bộ y tế và sản phụ, đồng thời cung cấp kiến thức và kinh nghiệm cần thiết để sản phụ yên tâm và tự tin hơn trong quá trình chăm sóc sau sinh Nghiên cứu cho thấy, những nơi không thực hiện tư vấn hoặc chưa giới thiệu phương pháp da kề da vẫn có tỷ lệ áp dụng thấp, đặc biệt tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội, nơi phương pháp này hầu như không được áp dụng do chưa có đủ tư vấn, đào tạo và hỗ trợ từ cán bộ y tế Sự thiếu hiểu biết đầy đủ về lợi ích của phương pháp da kề da dẫn đến chênh lệch giữa kiến thức và thực hành của các sản phẩmên.
Ngoài các yếu tố đã đề cập, còn có những yếu tố không thể quan sát trong nghiên cứu nhưng lại ảnh hưởng đến kết quả chăm sóc sơ sinh, như thái độ và kỹ năng của hộ sinh, tình trạng quá tải, cơ sở hạ tầng hạn chế và các quy định hiện hành chưa phù hợp Thái độ và kỹ năng của hộ sinh về quy trình, cùng với các hạn chế về đào tạo và cập nhật kiến thức y khoa liên tục, đều ảnh hưởng lớn đến thao tác trong thực hành Bên cạnh đó, sự hợp tác của gia đình sản phụ cũng đóng vai trò quan trọng, tác động đến việc thực hiện đúng quy trình chăm sóc trẻ sơ sinh.