1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021

96 11 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện Vinmec Times City năm 2021
Tác giả Hà Thị Thúy
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Tuyến
Trường học Trường Đại học Thăng Long
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN (12)
    • 1.1. Tổng quan về suy tim (12)
      • 1.1.1. Định nghĩa (12)
      • 1.1.2. Phân loại (13)
      • 1.1.3. Nguyên nhân (15)
      • 1.1.4. Các yếu tố thúc đẩy suy tim (15)
      • 1.1.5. Triệu chứng lâm sàng (16)
      • 1.1.6. Thăm dò cận lâm sàng (16)
      • 1.1.7. Tiếp cận chẩn đoán suy tim (18)
      • 1.1.8. Điều trị (20)
    • 1.2. Các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch đối với người Việt Nam (22)
    • 1.3. Tuân thủ điều trị của người bệnh (23)
    • 1.4. Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh (24)
      • 1.4.1 Kiến thức (24)
      • 1.4.2. Hành vi tự chăm sóc của người bệnh (25)
    • 1.5. Tình hình kiến thức và thực hành của người bệnh suy tim trên thế giới và tại Việt Nam (27)
      • 1.5.1. Trên thế giới (27)
      • 1.5.2. Tại Việt Nam (29)
    • 1.6. Giới thiệu về bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City (31)
  • Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh (32)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (32)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (32)
      • 2.2.1. Thời gian nghiên cứu (32)
      • 2.2.2. Địa điểm nghiên cứu (32)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (32)
      • 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu (32)
      • 2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu (32)
      • 2.3.3. Phương pháp chọn mẫu (33)
    • 2.4. Phương pháp và công cụ thu thập số liệu (33)
      • 2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu (0)
      • 2.4.2. Nội dung và biến số nghiên cứu (0)
      • 2.4.3. Công cụ thu thập thông tin (34)
      • 2.4.4. Các bước tiến hành thu thập thông tin (35)
    • 2.6. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (39)
    • 2.7. Đạo đức trong nghiên cứu (39)
    • 2.8. Hạn chế của nghiên cứu (40)
    • 2.9. Sai số và biện pháp khắc phục sai số (40)
    • 2.10. Khung lý thuyết của nghiên cứu (41)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (42)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (42)
      • 3.1.1. Đặc điểm về nhân khẩu học (42)
      • 3.1.2. Đặc điểm về yếu tố xã hội (44)
      • 3.1.3. Đặc điểm về tình trạng bệnh (44)
      • 3.1.4. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng (45)
    • 3.2. Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim (49)
      • 3.2.1. Kiến thức của NB suy tim (0)
      • 3.2.2. Hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim (54)
      • 3.2.3. Hoạt động giáo dục sức khoẻ cho NB (0)
    • 3.3. Mối liên quan đến kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim (58)
      • 3.3.1. Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học với kiến thức của NB (58)
      • 3.3.2. Mối liên quan giữa tình trạng bệnh với kiến thức của NB (59)
      • 3.3.3. Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học với hành vi tự chăm sóc của (60)
      • 3.3.4. Mối liên quan giữa tình trạng bệnh với hành vi tự chăm sóc của NB (0)
      • 3.3.5. Mối liên quan giữa tư vấn của điều dưỡng với kiến thức và thực hành của (0)
  • Chương 4 BÀN LUẬN ................................................ Error! Bookmark not defined. DỰ KIẾN KẾT LUẬN (64)

Nội dung

TỔNG QUAN

Tổng quan về suy tim

Theo Hội tim mạch châu Âu ESC (2016), suy tim là hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi các triệu chứng điển hình như khó thở, phù chân và mệt mỏi, cùng với các dấu hiệu như tĩnh mạch cổ nổi, ran phổi và phù ngoại vi Suy tim xảy ra do các bất thường về cấu trúc hoặc chức năng của tim, gây ra giảm cung lượng tim hoặc tăng áp lực trong buồng tim, cả khi nghỉ ngơi và khi gắng sức.

Tim và hệ tuần hoàn thường xuyên điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu oxy của cơ thể trong các điều kiện hoạt động hàng ngày Khi tim suy yếu, nó không còn khả năng cung cấp đủ máu và oxy theo nhu cầu của cơ thể Suy tim được định nghĩa là tình trạng bệnh lý trong đó cung lượng tim không đủ để đáp ứng nhu cầu oxy của cơ thể trong mọi hoàn cảnh sinh hoạt của bệnh nhân.

Hình 1.1 Hình ảnh suy tim

Nguồn: www.soyte.namdinh.gov.vn

Có nhiều cách để phân loại suy tim khác nhau, dựa trên cơ sở [19]:

- Theo tình trạng tiến triển của bệnh: suy tim cấp và suy tim mạn

Theo hình thái định khu, suy tim được chia thành các dạng chính gồm suy tim trái, suy tim phải và suy tim toàn bộ Đây là phân loại phổ biến trong lâm sàng, giúp bác sĩ xác định chính xác vị trí tổn thương và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp Việc hiểu rõ các dạng suy tim theo hình thái định khu là yếu tố quan trọng để tối ưu hóa hiệu quả chăm sóc bệnh nhân.

- Theo lưu lượng tim: suy tim giảm lưu lượng và suy tim tăng lưu lượng

- Suy tim do tăng tiền gánh và suy tim do tăng hậu gánh

- Theo mức độ suy tim:

Có nhiều cách để đánh giá mức độ suy tim, nhưng trong thực tế lâm sàng, có

Theo Hội Tim mạch học New York (NYHA), suy tim được phân loại dựa trên khả năng hoạt động thể lực và các triệu chứng cơ năng của bệnh nhân Phân giai đoạn suy tim dựa trên tiêu chuẩn của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA/ACC) đã được công nhận và áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán và điều trị suy tim Các phương pháp phân loại này giúp bác sĩ đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh nhằm đưa ra chiến lược điều trị phù hợp.

Bảng 1.1: Phân loại mức độ suy tim theo NYHA Độ Đặc điểm

I NB có bệnh tim nhưng không có triệu chứng cơ năng nào, vẫn sinh hoạt và hoạt động thể lực gần như bình thường

II Các triệu chứng cơ năng chỉ xuất hiện khi gắng sức nhiều

NB bị giảm nhẹ các hoạt động về thể lực

III Các triệu chứng cơ năng xuất hiện kể cả khi gắng sức rất ít, làm hạn chế nhiều các hoạt động thể lực

IV Các triệu chứng cơ năng tồn tại một cách thường xuyên, kể cả lúc NB nghỉ ngơi không làm gì cả

Bảng 1.2: Phân giai đoạn suy tim theo AHA/ACC (2016) [8]

Nguy cơ bị suy tim của bệnh nhân Nhồi máu cơ tim (NB) còn cao, tuy nhiên chưa có bằng chứng rõ ràng về tổn thương cấu trúc hoặc chức năng tim Hiện tại, bệnh nhân chưa xuất hiện các triệu chứng lâm sàng của suy tim, nhưng cần theo dõi chặt chẽ để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường Việc kiểm tra định kỳ và quản lý nguy cơ góp phần giảm thiểu nguy cơ phát triển suy tim trong tương lai.

Các bệnh nhân tăng huyết áp, xơ vữa mạch, đái tháo đường, béo phì, hội chứng chuyển hoá

B Có bằng chứng về tổn thương cấu trúc và chức năng tim nhưng chưa có triệu chứng suy tim trên lâm sàng

Nhồi máu cơ tim cũ, phì đại cơ tim thất trái, giảm EF, tổn thương van tim

C Có bằng chứng về tổn thương cấu trúc và chức năng tim, có triệu chứng suy tim trên lâm sàng (tiền sử/ triệu chứng nhập viện lần đầu)

NB có bệnh tim cấu trúc và chức năng trước đó và kèm theo các triệu chứng của suy tim

D Suy tim không đáp ứng với điều trị

NB có các triệu chứng suy tim rõ ràng khi chỉ gắng sức nhẹ hoặc khi nghỉ ngơi/ các bệnh nhân phải nhập viện vì suy tim

Bảng 1.3: Phân loại suy tim theo ACC/AHA tương ứng với NYHA Theo cấu trúc tim – ACC/AHA Theo triệu chứng NYHA

A - Có nguy cơ suy tim cao

- Cấu trúc tim bình thường

- Không có triệu chứng ST

B - Có bệnh tim thực thể (Bất thường tâm thu thất trái, nhồi máu cơ tim, bệnh van tim)

- Không có triệu chứng ST

I Có bệnh tim nhưng không bị hạn chế vận động thể lực

C - Có bệnh tim thực thể

- Có triệu chứng ST (hiện tại hoặc trước đây)

II Có bệnh tim làm hạn chế nhẹ hoạt động thể lực (suy tim nhẹ) III Có bệnh tim gây hạn chế hoạt động thể lực rõ rệt

D - Triệu chứng suy tim kháng trị cần điều trị can thiệp đặc biệt

IV Có bệnh tim gây mất khả năng hoạt động thể lực

Nguyên nhân gây suy tim trái bao gồm các bệnh lý như tăng huyết áp động mạch, các bệnh van tim như hở hoặc hẹp van động mạch chủ và van hai lá Ngoài ra, tổn thương cơ tim do nhồi máu cơ tim, viêm cơ tim hoặc bệnh cơ tim cũng là những yếu tố chính gây suy tim trái Các rối loạn nhịp như cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, nhịp nhanh thất và bloc nhĩ – thất hoàn toàn cũng góp phần làm suy giảm chức năng tim trái Bên cạnh đó, một số bệnh tim bẩm sinh như hẹp eo động mạch chủ hoặc còn ống động mạch cũng có thể dẫn đến suy tim trái.

Suy tim phải có nguyên nhân chủ yếu từ các vấn đề phổi và dị dạng lồng ngực, cột sống như hen phế quản, viêm phế quản, gù vẹo cột sống Bên cạnh đó, các nguyên nhân tim mạch như hẹp van phía trong (VHL) và viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn cũng góp phần gây suy tim phải.

- Nguyên nhân gây suy tim toàn bộ: suy tim trái tiển triển, các bệnh cơ tim giãn, cường giáp trạng, thiếu máu nặng…[19]

1.1.4 Các yếu tố thúc đẩy suy tim

Trên cơ sở một số bệnh lý tim mạch, một số nguyên nhân làm khởi phát, tăng nặng hoặc thúc đẩy suy tim nhanh hơn như:

Điều trị không phù hợp, như giảm liều hoặc bỏ thuốc lợi tiểu hoặc chế độ ăn quá nhiều muối, là yếu tố khiến bệnh nhân suy tim diễn biến xấu đi Chính vì vậy, việc giáo dục bệnh nhân và người nhà về tuân thủ điều trị đúng cách, đặc biệt là kiểm soát chế độ ăn và sử dụng thuốc hợp lý, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quản lý bệnh hiệu quả và giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm.

- Rối loạn nhịp tim: rung nhĩ

- Thiếu máu cơ tim hoặc nhồi máu cơ tim

- Nhiễm trùng: nhiễm trùng hô hấp là nguyên nhân phổ biến

- Thiếu máu: gây nên tình trạng tăng cung lượng tim dẫn đến suy tim mất bù

- Các thuốc sử dụng phối hợp: thuốc gây mê, thuốc chống viêm không steroid gây giữ muối nước…

- Thuyên tắc động mạch phổi [20]

Các triệu chứng của ST gây ra do hai cơ chế chính là do giảm cung lượng tim và do quá tải dịch, bao gồm:

- Các triệu chứng do quá tải dịch:

• Ở tuần hoàn phổi: Khó thở khi gắng sức, khó thở khi nằm, khó thở khi nghỉ ngơi, cơn khó thở kịch phát về đêm

Trong tuần hoàn ngoại vi, phù chân là triệu chứng cần được xem xét kỹ lưỡng vì có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như huyết khối, viêm tĩnh mạch hoặc các bệnh lý khác gây tích tụ dịch Ngoài ra, các dấu hiệu kèm theo như gan to và tĩnh mạch cổ nổi cũng có thể chỉ ra các vấn đề về tuần hoàn và gan cần được chẩn đoán chính xác để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

- Các triệu chứng do giảm cung lượng tim:

• Mệt mỏi, gầy sút cân

• Đau tức ngực, cảm giác nặng ngực hoặc đánh trống ngực

- Các rối loạn về hệ tiêu hoá thứ phát do suy tim sung huyết ví dụ: chướng bụng, chán ăn, buồn nôn, táo bón

- Các rối loạn về hệ sinh dục tiết niệu thứ phát do giảm tưới máu thận: thiểu niệu hoặc vô niệu, tiểu nhiều lần, tiểu về đêm

Các triệu chứng thần kinh trung ương thứ phát do giảm tưới máu não và rối loạn điện giải bao gồm lú lẫn, giảm trí nhớ, đau đầu và rối loạn hành vi Những triệu chứng này thường xuất hiện khi não không nhận đủ oxy và dinh dưỡng cần thiết, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng thần kinh Điều trị kịp thời các tình trạng giảm tưới máu não và cân bằng điện giải đóng vai trò quan trọng trong việc tránh các biến chứng nghiêm trọng Việc nhận biết sớm các triệu chứng này giúp cải thiện kết quả điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

- Các triệu chứng thần kinh cơ: Chuột rút, gout [20]

1.1.6 Thăm dò cận lâm sàng

Peptid lợi niệu BNP và NT-proBNP là các hormone quan trọng được giải phóng từ tim, chủ yếu từ tâm thất, đóng vai trò trong việc điều hòa chức năng tim và cân bằng dịch Chúng bắt nguồn từ chuỗi peptid proBNP trong các tế bào cơ tim, khi được phóng thích vào máu sẽ bị thủy phân tạo thành NT-proBNP và BNP, nhấn mạnh vai trò của chúng trong chẩn đoán bệnh tim mạch.

NT-proBNP có thời gian bán huỷ dài hơn và ổn định hơn BNP, giúp nâng cao độ nhạy trong chẩn đoán suy tim Đây là xét nghiệm được sử dụng phổ biến trong lâm sàng để phát hiện bệnh sớm và chính xác hơn Giá trị ngưỡng NT-proBNP để xác định suy tim mạn là 125 pg/ml, và 300 pg/ml đối với suy tim cấp tính, với khả năng dự báo âm tính đạt tới 94-98%, giúp loại trừ bệnh nhanh chóng và tin cậy.

Siêu âm tim là phương pháp thăm dò quan trọng nhất và bắt buộc đối với bệnh nhân suy tim, giúp đánh giá chính xác chức năng tâm thu và tâm trương của thất trái Ngoài ra, siêu âm tim còn rất hữu ích trong chẩn đoán nguyên nhân gây suy tim cũng như phát hiện các biến chứng của bệnh, góp phần định hướng điều trị hiệu quả hơn.

• Nhịp nhanh xoang hoặc rối loạn nhịp

Các triệu chứng trên ĐTĐ có thể xuất hiện do nguyên nhân như sóng Q hoại tử cơ tim, phì đại thất trái liên quan đến tăng huyết áp hoặc hẹp chủ động mạch, rối loạn nhịp tim, bloc nhánh trái hoặc các yếu tố khởi phát đợt cấp mất bù của ST như rung nhĩ và thiếu máu cơ tim Những dấu hiệu này cần được chẩn đoán chính xác để hướng điều trị phù hợp và kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường.

• Triệu chứng của ST phải: trục phải, tăng gánh thất phải

• Triệu chứng của ST trái: tăng gánh cả hai buồng thất

- Chẩn đoán hình ảnh tim mạch:

• Chụp tim phổi thẳng: bóng tim to, cung dưới trái giãn trong trường hợp

ST trái, hình ảnh ứ máu ở phổi…

• Chụp động mạch vành: tìm tổn thương hẹp động mạch vành và xét tái thông mạch

• Chụp cộng hưởng từ tim: phát hiện các bệnh lý bất thường cấu trúc cơ tim

• Chụp xạ hình cơ tim: đánh giá mức độ thiếu máu, mức độ sống còn của cơ tim, thâm nhiễm cơ tim

• Chụp buồng tim đánh giá chức năng thất trái, sinh thiết cơ tim

- Thăm dò huyết động (thông tim):

• Cho phép đánh giá mức độ ST trái thông qua việc đo cung lượng tim và chỉ số tim

• Đánh giá mức độ nặng nhẹ của một số bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh

- Thăm dò khả năng gắng sức: test đi bộ 6 phút

- Sắc kí giấc ngủ: Chẩn đoán hội chứng ngưng thở khi ngủ

- Xét nghiệm máu cơ bản khác: công thức máu, sinh hoá máu [2]

1.1.7 Tiếp cận chẩn đoán suy tim

Chẩn đoán suy tim bao gồm 2 tiêu chuẩn chính hoặc 1 tiêu chuẩn chính và 2 tiêu chuẩn phụ [2]:

• Cơn khó thở kịch phát về đêm

• Giảm 4,5 kg trong 5 ngày điều trị suy tim

• Phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính

• Áp lực tĩnh mạch trung tâm lớn hơn 16 cm nước

• Thời gian tuần hoàn kéo dài trên 25 giây

• Bóng tim to trên Xquang ngực thẳng

• Bằng chứng phù phổi, ứ máu tạng hoặc tim to khi giải phẫu tử thi

• Khó thở khi gắng sức vừa phải

• Giảm dung tích sống 1/3 so với dung tích sống tối đa của NB

• Tần số tim nhanh (trên 120 chu kỳ/phút)

• Phù mắt cá chân hai bên

1.1.7.2 Theo Hội tim mạch châu Âu 2008 (ESC)

Suy tim là một bệnh lý dựa trên những dấu hiệu sau [28]:

• NB có triệu chứng đặc hiệu của suy tim: khó thở khi gắng sức, mệt mỏi, phù…

• Có dấu hiệu thực thể của suy tim: nhịp tim nhanh, thở nhanh, có ran trong phổi, tĩnh mạch cổ nổi, phù ngoại biên, gan to…

Có bằng chứng khách quan về tổn thương cấu trúc và chức năng của tim khi nghỉ, bao gồm các dấu hiệu như tim to, tiếng thứ ba, tiếng thổi tâm thu, các bất thường được phát hiện qua siêu âm tim và mức Pro-BNP tăng trong xét nghiệm máu.

Các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch đối với người Việt Nam

Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2016), bệnh tim mạch chiếm khoảng 33% tổng số ca tử vong tại Việt Nam, trở thành nguyên nhân hàng đầu gây tử vong quốc gia Những nhóm người có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch bao gồm những người sống trong điều kiện căng thẳng, làm việc căng thẳng kéo dài, người bị béo phì, đái tháo đường, và có thói quen xấu như hút thuốc lá, uống rượu bia, tiêu thụ nhiều đồ ăn nhanh và đồ đông lạnh, góp phần làm tăng tỷ lệ mắc bệnh tim mạch tại Việt Nam.

Theo số liệu của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, có đến 90% các trường hợp đột quỵ (ST) liên quan đến tiền sử bệnh tăng huyết áp (THA), và điều trị hiệu quả bệnh THA có thể giảm tới 50% nguy cơ mắc đột quỵ Nguy cơ gặp phải đột quỵ ở nam giới bị THA gấp đôi so với người bình thường, trong khi đó, ở nữ giới, nguy cơ tăng gấp ba lần so với những người có huyết áp bình thường Nghiên cứu của Viện Tim mạch Quốc gia năm 2019 cho thấy gần 50% người trưởng thành tại Việt Nam mắc bệnh THA, đặt ra vấn đề cấp thiết về kiểm soát huyết áp để giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm như đột quỵ.

Hút thuốc lá là nguyên nhân thứ hai gây bệnh tim mạch sau tăng huyết áp, chiếm tỷ lệ đáng kể trong các yếu tố nguy cơ chính Theo dữ liệu khảo sát toàn cầu năm 2015, Việt Nam nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ hút thuốc lá cao, góp phần gia tăng các bệnh về tim mạch tại nước ta Việc giảm thiểu thói quen hút thuốc là một trong những biện pháp quan trọng để phòng ngừa các bệnh tim mạch hiệu quả.

15 nước có số người hút thuốc lá cao hàng đầu thế giới với khoảng 15.3 triệu người

Theo WHO, tỷ lệ người hút thuốc lá thụ động tại nhà chiếm đến 67,6%, trong khi tại nơi làm việc là 49%, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng Việt Nam hàng năm ghi nhận khoảng 40.000 ca tử vong do các bệnh liên quan đến thuốc lá, và con số này dự kiến sẽ tăng lên 70.000 ca vào năm 2030, đòi hỏi các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt hơn để giảm thiểu tác động của thuốc lá tới sức khỏe cộng đồng.

Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường Nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở người trưởng thành mắc đái tháo đường cao gấp 1,7 lần so với người không mắc bệnh, chủ yếu do đột quỵ và nhồi máu cơ tim Nguy cơ này tăng gấp 1-3 lần ở nam giới và 2-5 lần ở nữ giới so với những người không bị đái tháo đường Nguy cơ này xuất hiện ở cả nam và nữ, cho thấy sức ảnh hưởng lớn của bệnh lý tim mạch đối với bệnh nhân đái tháo đường.

Theo WHO, người Việt Nam tiêu thụ trung bình 10-12g muối mỗi ngày, gấp 2-3 lần so với mức khuyến cáo, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe Nghiên cứu Step (2015) cho thấy Việt Nam có mức tiêu thụ rượu bia cao nhất Đông Nam Á, trong khi việc uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ đột quỵ sớm Năm 2012, tạp chí y khoa The Lancet xác nhận rằng người Việt Nam đứng đầu về tỷ lệ tiêu thụ rượu bia trong khu vực, tăng nguy cơ các bệnh mãn tính và ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống.

Theo nghiên cứu, Việt Nam nằm trong top 10 nhóm người lười vận động nhất thế giới Để nâng cao sức khỏe và giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, người Việt cần duy trì ít nhất 150 phút vận động thể lực cường độ vừa mỗi tuần hoặc 75 phút vận động cường độ cao Việc luyện tập đều đặn giúp cải thiện sức khỏe tổng thể và phòng ngừa các bệnh lý mãn tính.

Tuân thủ điều trị của người bệnh

Người bệnh tim mạch thường có nhiều bệnh lý đi kèm, dẫn đến việc sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc điều trị, ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị Ngoài ra, nhóm bệnh nhân trên 65 tuổi gặp khó khăn trong việc ghi nhớ thời gian dùng thuốc, điều này cũng tác động tiêu cực đến kết quả điều trị bệnh tim mạch.

Nghiên cứu của Nguyễn Bá Tâm (2016) chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc bệnh nhân không tuân thủ điều trị thuốc, bao gồm tuổi tác, kiến thức về bệnh tật, trầm cảm và sự hỗ trợ của điều dưỡng Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị là giảm chức năng hoạt động của tim, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và gia tăng nguy cơ tái nhập viện Ngoài ra, việc tuân thủ thuốc còn bị tác động bởi các thói quen sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân.

Người Việt Nam hiện chưa có thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ và tự mua thuốc tại các nhà thuốc tư nhân, chỉ đến bệnh viện khi có triệu chứng ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, dẫn đến các bệnh nhân (NB) phải điều trị lâu dài, gây quá tải cho các bệnh viện và tăng chi phí điều trị Điều này khiến công tác chăm sóc và phục vụ bệnh nhân của đội ngũ y tế gặp nhiều áp lực Khi bệnh nhân trở lại cộng đồng, vai trò của điều dưỡng trong tư vấn giáo dục sức khoẻ và theo dõi bệnh nhân suy tim ngày càng bị hạn chế do kiến thức của bệnh nhân về sức khỏe và bệnh tật còn hạn chế Nhiều bệnh nhân tự tìm hiểu thông tin qua internet, báo chí, truyền hình nhưng thường nhận được những thông tin chưa đầy đủ và còn hạn chế, gây ảnh hưởng đến khả năng tự chăm sóc bản thân.

Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh

Hiểu biết y tế ngày càng được công nhận là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến quyết định về sức khỏe của người bệnh (NB) Trước đây, việc cung cấp thông tin y tế thường theo hình thức một chiều, do bác sĩ truyền đạt và giải thích cho NB và gia đình, phụ thuộc vào kiến thức của người cung cấp Tuy nhiên, nhờ vào sự phát triển của trình độ học vấn và công nghệ, quá trình trao đổi thông tin trở nên hai chiều, tôn trọng sự tự chủ của NB trong việc quản lý sức khỏe Đặc biệt, với sự gia tăng của các bệnh mạn tính, sự tham gia tích cực của NB vào quá trình chăm sóc sức khỏe đã trở thành yếu tố then chốt giúp quản lý bệnh thành công, nâng cao hiệu quả điều trị và giảm lo lắng.

Hiện nay, có nhiều định nghĩa về hiểu biết y tế, nhưng chưa có định nghĩa nào được công nhận là toàn diện và đầy đủ Tuy nhiên, hai định nghĩa phổ biến nhất được các nhà nghiên cứu sử dụng là theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1998): "Hiểu biết y tế là khả năng của cá nhân để tiếp cận, hiểu và sử dụng thông tin nhằm nâng cao và duy trì sức khoẻ tốt."

Hiểu biết y tế, theo Viện Y học Hoa Kỳ (2004), được định nghĩa là khả năng của cá nhân trong việc tìm kiếm, xử lý và hiểu các thông tin và dịch vụ y tế cơ bản cần thiết để đưa ra quyết định y tế phù hợp Đây là yếu tố quan trọng giúp người dân có thể tự quản lý sức khỏe và tham gia tích cực vào quá trình chăm sóc y tế của chính mình Nâng cao kiến thức y tế giúp cải thiện kết quả sức khỏe cộng đồng và giảm thiểu những rủi ro liên quan đến thiếu hiểu biết về y tế.

Kiến thức về y tế giúp người bệnh cải thiện tình trạng sức khỏe, giảm chi phí chăm sóc, giảm tỷ lệ nhập viện và sử dụng dịch vụ y tế Người có kiến thức y tế tích cực, biết tự chăm sóc bản thân và tuân thủ điều trị, nâng cao chất lượng cuộc sống; trong khi đó, những người có hiểu biết y tế chưa đầy đủ thường phải nhập viện nhiều hơn và chi tiêu cao hơn cho chăm sóc sức khỏe Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, việc cải thiện kiến thức y tế đã tiết kiệm được hàng trăm tỷ USD vào năm 2006 Nghiên cứu của Dương Văn Tuyền và cộng sự (2015) cho thấy kiến thức y tế liên quan đến trình độ học vấn, ý thức tập thể dục, tham gia hoạt động cộng đồng và theo dõi truyền hình về sức khỏe Các yếu tố xã hội và cá nhân như mắc bệnh mãn tính, thể trạng, tuổi tác và nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến hiểu biết y tế của người dân.

1.4.2 Hành vi tự chăm sóc của người bệnh

Tự chăm sóc là hoạt động cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện nhằm nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật và phục hồi sức khỏe, dựa trên kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm tích lũy Theo WHO, tự chăm sóc giúp tăng cường khả năng tự quản lý sức khỏe và phòng bệnh hiệu quả Artinian và cộng sự nhấn mạnh rằng tự chăm sóc bản thân là hành động có ý thức của cá nhân nhằm duy trì cuộc sống, cải thiện sức khỏe, nâng cao hạnh phúc và phát triển bản thân Các hoạt động tự chăm sóc đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng.

Tự chăm sóc cho người bệnh suy tim là quá trình ra quyết định dựa trên các hành động tự nhiên của người bệnh nhằm duy trì sự ổn định của bệnh và ngăn ngừa các đợt cấp Việc tự quản lý chăm sóc giúp người bệnh theo dõi triệu chứng, tuân thủ điều trị, phòng tránh hậu quả về thể chất và tâm lý, cũng như điều chỉnh lối sống phù hợp với bệnh mạn tính Người bệnh cần trang bị kiến thức về bệnh suy tim để tự đưa ra các quyết định chăm sóc phù hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể Ngoài ra, người bệnh cần hiểu rõ các dấu hiệu tăng nặng của suy tim, cách phòng ngừa biến chứng, tuân thủ thuốc điều trị và không bỏ lỡ các buổi thăm khám định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ.

Chăm sóc bản thân hàng ngày là yếu tố quan trọng để duy trì sức khỏe, bao gồm việc không hút thuốc lá, hạn chế uống rượu bia và ăn giảm muối Việc phòng ngừa cúm và các bệnh nhiễm trùng là cần thiết để bảo vệ hệ miễn dịch Đồng thời, duy trì chế độ nghỉ ngơi hợp lý, tránh căng thẳng và tập luyện phù hợp với tình trạng bệnh giúp hỗ trợ quá trình hồi phục và nâng cao sức đề kháng.

Các chương trình giáo dục bệnh nhân tự chăm sóc đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao lợi ích sức khỏe và giảm chi phí cho bệnh nhân mắc bệnh mãn tính cũng như gia đình họ Những chương trình này giúp tăng cường tuân thủ điều trị, cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm tỷ lệ tử vong, giảm số lần nhập viện và số ngày nằm viện, đồng thời giảm chi phí sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe [20].

Bảng 1.4: Giáo dục bệnh nhân suy tim kỹ năng và thói quen tự chăm sóc (theo ESC 2008)

Chủ đề giáo dục Kỹ năng và thói quen tự chăm sóc

1 Định nghĩa và nguyên nhân của suy tim

- Hiểu được nguyên nhân của suy tim và vì sao xuất hiện các triệu chứng

2 Triệu chứng và dấu hiệu của suy tim

- Theo dõi và ghi nhận các triệu chứng và dấu hiệu

- Ghi theo dõi cân nặng hàng ngày và phát hiện tình trạng tăng cân nhanh

- Hiểu cách thức và biết khi nào cần thông báo cho bác sĩ điều trị

- Sử dụng linh hoạt liều lợi tiểu nếu có thể

3 Điều trị nội khoa - Hiểu chỉ định, liều và tác dụng không mong muốn của mỗi thuốc điều trị

- Ghi nhận tác dụng phụ phổ biến của mỗi thuốc

- Hiểu được tầm quan trọng của việc bỏ thuốc lá

- Theo dõi huyết áp nếu có tăng huyết áp

- Duy trì kiểm soát đường huyết nếu có bệnh đái tháo đường

5 Chế độ ăn - Hạn chế muối nếu được chỉ định

- Tránh đưa vào cơ thể quá nhiều dịch

- Hạn chế tối đa sử dụng rượu bia

- Theo dõi và tránh tình trạng thiếu dinh dưỡng

- Cảm thấy an tâm và thoải mái về hoạt động thể lực

- Hiểu biết lợi ích của rèn luyện thể lực

- Duy trì các bài tập thể lực thường xuyên

- Thảo luận các vấn đề tình dục với chuyên gia

- Đánh giá lại nhu cầu ham muốn tình dục và hiểu được các vấn đề về tình dục cụ thể

8 Tiêm phòng - Tiêm phòng cúm hàng năm

- Tiêm phòng phế cầu mỗi 5 năm

9 Rối loạn giấc ngủ và nhịp thở

- Hướng dẫn các biện pháp dự phòng như giảm cân ở bệnh nhân béo phì, cai thuốc lá, bỏ rượu

- Can thiệp điều trị nếu cần

- Hiểu được tầm quan trọng của tuân thủ chế độ điều trị

- Thúc đẩy việc duy trì tuân thủ điều trị

Nhận thức về các triệu chứng suy nhược và rối loạn tâm lý là điều giản đơn nhưng vô cùng cần thiết ở bệnh nhân suy tim, giúp nâng cao khả năng nhận biết và điều trị kịp thời Việc hiểu rõ tầm quan trọng của hỗ trợ xã hội đóng vai trò then chốt trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh Các triệu chứng như mệt mỏi, lo âu, trầm cảm thường xuất hiện, ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình hồi phục và khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân suy tim Hỗ trợ xã hội không chỉ giúp giảm thiểu các triệu chứng tâm lý mà còn tăng cường khả năng kiểm soát bệnh lý, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và duy trì sức khỏe tâm thần ổn định Do đó, việc tăng cường nhận thức cộng đồng và xây dựng mạng lưới hỗ trợ xã hội mạnh mẽ là ý nghĩa thiết thực trong quản lý bệnh suy tim.

- Can thiệp điều trị nếu cần

12 Tiên lượng - Nhận thực được các yếu tố tiên lượng và đưa ra những quyết định thiết thực

- Tìm kiếm sự hỗ trợ về mặt tâm lý nếu có thể

1.4.3 Mối liên quan giữa kiến thức với khả năng tự chăm sóc người bệnh

Hiện nay, nhiều bệnh nhân (NB) có thể tra cứu thông tin sức khỏe và tác dụng của thuốc qua mạng internet, báo chí và truyền hình, nhưng thường gặp khó khăn trong việc hiểu hết các thông tin y tế này, do trình độ giáo dục, khả năng ngôn ngữ, tuổi tác và thể chất tinh thần ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu kiến thức y tế Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 27% đến 54% NB suy tim có kiến thức y tế thấp, điều này có thể ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc và điều trị Thành viên trong gia đình có kiến thức về bệnh giúp hỗ trợ chăm sóc NB tốt hơn và giảm thiểu rủi ro liên quan đến hiểu biết y tế hạn chế Các nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sàng lọc bệnh nhân để xác định những người có kiến thức y tế kém nhằm đưa ra các can thiệp phù hợp, nâng cao nhận thức và kỹ năng tự quản lý sức khỏe cho NB.

Tình hình kiến thức và thực hành của người bệnh suy tim trên thế giới và tại Việt Nam

Nghiên cứu của Đại học Linkoping Thụy Điển trên gần 6.000 người bệnh suy tim từ 15 quốc gia cho thấy, bệnh nhân thường thực hiện các hành vi chăm sóc sức khỏe kém như tiêm chủng cúm hàng năm, hạn chế muối, theo dõi cân nặng và tăng cường vận động Trong đó, Việt Nam là một trong ba quốc gia có tỷ lệ người bệnh không tuân thủ chế độ ăn hạn chế muối thấp nhất, phản ánh những thách thức trong quản lý bệnh suy tim tại địa phương.

Nghiên cứu của Lee CS và cộng sự đã khảo sát mô hình tự chăm sóc và các biến cố lâm sàng ở 459 bệnh nhân suy tim mạn tại Ý trong vòng 1 năm sử dụng thang đo hành vi tự chăm sóc của Châu Âu Kết quả cho thấy tuổi trung bình là 71,8 ± 12,1, trong đó tỷ lệ nam chiếm 54,9% Có ba kiểu hành vi tự chăm sóc được xác định bao gồm phản ứng với triệu chứng kém, phản ứng với triệu chứng tốt và hành vi duy trì Bệnh nhân có hành vi phản ứng tốt với triệu chứng gặp ít biến cố lâm sàng hơn, trong khi những người có hành vi phản ứng kém thường xuyên đối mặt với các biến cố lâm sàng hơn Ngoài ra, các bệnh nhân phản ứng kém và hành vi duy trì có tần suất biến cố lâm sàng tương tự nhau Nghiên cứu nhấn mạnh rằng tự chăm sóc có ảnh hưởng đáng kể đến các biến cố lâm sàng và việc đánh giá định kỳ, giảm thiểu rào cản cùng các biện pháp can thiệp phù hợp là cần thiết để giảm thiểu các biến cố này ở bệnh nhân suy tim.

Nghiên cứu tổng hợp 19 nghiên cứu về can thiệp thúc đẩy tự chăm sóc cho bệnh nhân suy tim cho thấy các cơ chế can thiệp nhận thức hành vi thường xuyên được sử dụng để nâng cao khả năng tự quản lý của bệnh nhân Các kết quả nghiên cứu đều chứng minh rằng các can thiệp này cải thiện rõ rệt hành vi tự chăm sóc và duy trì việc quản lý bệnh lý của người bệnh suy tim Nhóm đối tượng nhận can thiệp đều ghi nhận mức độ kiến thức về tự chăm sóc bản thân liên quan đến suy tim cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng Điều này cho thấy, việc tăng cường giáo dục về suy tim qua các chiến lược nhận thức — hành vi như tư vấn và đào tạo dựa trên bằng chứng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả sức khỏe của bệnh nhân.

Nghiên cứu của Jaarsma và cộng sự trên 15 quốc gia cho thấy dù đa số bệnh nhân tự chăm sóc đúng việc dùng thuốc, việc theo dõi cân nặng và tập thể dục vẫn còn hạn chế, với hơn 50% người bệnh có mức độ tập thể dục thấp và chưa đến một nửa tự cân thường xuyên Sự khác biệt lớn giữa các quốc gia liên quan đến việc tự chăm sóc như tiêm phòng cúm và chế độ ăn ít muối Trong nghiên cứu của Wu, J.R và cộng sự dựa trên 113 cặp bệnh nhân – người nhà, phát hiện rằng kiến thức về suy tim và sự tuân thủ tự chăm sóc thấp hơn ở những người bệnh có tình trạng sức khỏe kém, đồng thời mức natri máu cao hơn và kiến thức của người nhà cũng ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuốc Do đó, nâng cao nhận thức về sức khỏe cho bệnh nhân và người nhà là yếu tố quan trọng trong thiết kế các chương trình can thiệp thúc đẩy tự chăm sóc hiệu quả.

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Huyền (2011) tại Bệnh viện Đa khoa Thái Nguyên cho thấy 50,9% người cao tuổi mắc suy tim có mức độ tự chăm sóc bản thân thấp Trong đó, kiến thức về tự chăm sóc vẫn còn hạn chế, chủ yếu do phần lớn người cao tuổi có trình độ văn hoá thấp, ảnh hưởng đến hành vi tự chăm sóc bệnh suy tim của họ Nâng cao kiến thức và ý thức tự chăm sóc đúng cách là yếu tố quan trọng giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người già mắc suy tim.

Theo nghiên cứu của Đinh Thị Thúy Hà và Trần Thị Ngọc Anh (2016), chỉ có 19% bệnh nhân suy tim thực hiện việc theo dõi cân nặng hàng ngày, cho thấy khả năng thực hành tự chăm sóc của họ còn hạn chế Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và kỹ năng tự quản lý bệnh suy tim để giảm các biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Nghiên cứu của Phạm Thị Hồng Ngọc (2019) cho thấy tỷ lệ người bệnh thiếu hiểu biết y tế lên đến 86.6%, ảnh hưởng lớn đến khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân suy tim Việc nâng cao kiến thức y tế cho người bệnh giúp cải thiện khả năng tự quản lý bệnh, giảm biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống Do đó, đào tạo và tuyên truyền về kiến thức y tế là cần thiết để hỗ trợ người bệnh trong việc chăm sóc sức khỏe hiệu quả hơn.

Nghiên cứu của Phạm Thị Hồng Nhung và cộng sự đánh giá kiến thức và thực hành tự chăm sóc của 90 người bệnh suy tim mạn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định trước và sau can thiệp Sử dụng bộ câu hỏi đánh giá Atlanta, nghiên cứu cho thấy mức độ nhận thức và kỹ năng tự chăm sóc của bệnh nhân đã được cải thiện rõ rệt sau can thiệp Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của các hoạt động giáo dục sức khỏe trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng quản lý bệnh suy tim mạn cho bệnh nhân Nghiên cứu góp phần cung cấp thông tin giúp các cơ sở y tế xây dựng các chương trình chăm sóc bệnh nhân suy tim hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Trước can thiệp, kiến thức tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn trong phạm vi nghiên cứu còn thấp, với điểm trung bình chỉ đạt 10,41 ± 3,54 trên tổng 22 điểm, nhưng sau can thiệp, điểm kiến thức đã tăng lên đáng kể, đạt 19,38 ± 2,16 và duy trì ở mức cao 17,92 ± 2,52 sau 1 tháng (p < 0,001) Tỷ lệ người bệnh có kiến thức đúng theo từng nội dung can thiệp cũng cải thiện rõ rệt và duy trì sau can thiệp một tháng Về thực hành, điểm chăm sóc của người bệnh suy tim mạn trong ba lĩnh vực (duy trì chăm sóc, quản lý chăm sóc, sự tự tin) đều thấp trước can thiệp, nhưng tăng rõ rệt sau can thiệp 1 tháng, với các số liệu trung bình lần lượt là: duy trì chăm sóc từ 41,52 ± 20,51 lên 53,90 ± 20,03; quản lý chăm sóc từ 35,56 ± 15,21 lên 52,96 ± 15,08; và sự tự tin từ 50,45 ± 16,11 lên 59,31 ± 14,68 (p < 0,001).

Nghiên cứu về kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn sau chương trình giáo dục sức khỏe tại Bệnh viện Đa khoa Hợp Lực tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện trên 86 bệnh nhân từ tháng 12/2019 đến tháng 8/2020 Kết quả cho thấy, trình độ kiến thức của người bệnh có sự cải thiện rõ rệt sau can thiệp, với điểm trung bình từ 10,0 ± 2,89 trước can thiệp tăng lên 19,6 ± 3,01 sau 1 tuần, và duy trì ở mức cao 18,6 ± 4,00 sau 1 tháng; sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Ngoài ra, điểm trung bình về thực hành tự chăm sóc, đánh giá qua 3 lĩnh vực gồm duy trì chăm sóc, quản lý chăm sóc và tự tin chăm sóc, cũng có sự nâng cao rõ rệt tại các thời điểm trước và sau can thiệp.

1 tuần và sau can thiệp 1 tháng lần lượt là: 35,1 ± 17,5 điểm, 54,9 ± 12,4 điểm và 57,6 ± 12,2 điểm; 47,2 ± 14,63 điểm, 64,5 ± 13,3 điểm và 68,4 ± 13,4 điểm; 41,3 ± 15,39 điểm, 57,6 ± 15,2 và 62,5 ± 16,6 điểm; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p

Nghiên cứu của Đào Thị Phương năm 2021 tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Quảng Ninh đánh giá kiến thức và thực hành tự chăm sóc của 120 người bệnh suy tim mạn, cho thấy khả năng tự chăm sóc của người bệnh còn hạn chế khi điểm trung bình kiến thức là 11,1 ± 2,1 trên tổng 22 điểm, trong đó 40,0% người bệnh có kiến thức khá và 60,0% trung bình, không có ai đạt mức tốt hoặc kém Công tác tự chăm sóc thực hành của người bệnh cũng chưa cao, với điểm trung bình về duy trì chăm sóc là 51,1 ± 19,5 điểm (chỉ 19,2% đạt duy trì), về quản lý chăm sóc là 49,4 ± 19,8 điểm (22,5% đạt quản lý), và về tự tin là 50,5 ± 16,1 điểm (17,5% tự tin trong tự chăm sóc), cho thấy cần nâng cao kiến thức và kỹ năng tự chăm sóc cho bệnh nhân suy tim mạn.

Nghiên cứu định tính trên 20 người bệnh suy tim tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định do Phạm Thị Thu Hương và cộng sự thực hiện cho thấy hạn chế thể lực và áp lực tâm lý là những vấn đề phổ biến, ảnh hưởng đến khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân Người bệnh gặp khó khăn trong tuân thủ chế độ dinh dưỡng, tập luyện, thuốc men và nhận diện các dấu hiệu bệnh cũng như cách xử trí phù hợp Một số phương pháp giúp bệnh nhân thích nghi với bệnh tật đã được đề cập, tuy nhiên, các rào cản này dẫn đến việc tự chăm sóc còn hạn chế và tỷ lệ tái nhập viện cao Các nhà nghiên cứu đề xuất các giải pháp trong giáo dục và tư vấn để nâng cao hiệu quả chăm sóc, đồng thời khuyến nghị các nghiên cứu tương lai dựa trên kết quả này nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh suy tim.

Giới thiệu về bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City

Bệnh viện Vinmec Times City là bệnh viện quốc tế 5 sao hàng đầu tại Việt Nam, có quy mô 500 giường bệnh và đầy đủ các chuyên khoa Trung tâm Tim mạch của bệnh viện là trung tâm mũi nhọn, với 40 giường, đã khám và điều trị hàng trăm nghìn bệnh nhân mỗi năm, thực hiện nhiều thủ thuật và can thiệp như can thiệp mạch vành, thay van ĐMC qua da, bắc cầu chủ vành Trong năm nay, khoa Tim mạch đang triển khai Phòng khám chuyên sâu suy tim nhằm tăng cường hiệu quả trong điều trị bệnh nhân suy tim.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là 143 người bệnh thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ

- Người bệnh có tiền sử hoặc hiện tại có các tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim từ giai đoạn B theo AHA/ACC 2016

- Người bệnh suy tim mạn tính ổn định

- Người bệnh từ 18 tuổi trở lên và không phân biệt giới tính

- Người bệnh tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Người bệnh mắc kèm các bệnh lý cấp tính khác (nhiễm trùng, tiêu chảy, TBMN, xuất huyết…)

- Người bệnh có kèm các rối loạn về tâm thần, hạn chế nghe nói

- Người bệnh có các dấu hiệu của suy tim cấp mất bù: khó thở liên tục, thay đổi tri giác, lú lẫn, mất tập trung…

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Khoa Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City, số 458 Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức ước tính tỷ lệ trong quần thể nghiên cứu hạn chế, với mức độ tin cậy 95% và sai số ước lượng là 0,05 Công thức tính cỡ mẫu là n = [N×Z²(1-α/2)×p×q] : [d²×(N-1) + Z²(1-α/2)×p×q], giúp xác định số lượng mẫu cần thiết để đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy trong nghiên cứu Việc áp dụng công thức này đảm bảo tính chính xác trong kết quả nghiên cứu và phù hợp với các yêu cầu về thống kê và phân tích dữ liệu.

Trong đó: n: cỡ mẫu cần nghiên cứu

N: tổng số người bệnh đến khám tại khoa Tim mạch trong một năm (tổng số người bệnh trong năm 2020 là 5300 => N = 5300) α: mức ý nghĩa thống kê là 0,05 với độ tin cậy 95%, Z1-α/2 tương ứng là 1,96 d: khoảng sai lệch mong muốn giữa mẫu và quần thể, d = 0,05 p: tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc Lấy p = 0,9 theo nghiên cứu của tác giả Trần Thị Ngọc Anh năm 2016 q = (1 – p)

Như vậy: n = 134 người bệnh, trong thời gian nghiên cứu có 143 người bệnh đủ tiêu chuẩn lựa chọn nên lấy tất cả mẫu Vậy n = 143

Chọn mẫu dựa trên kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện để đảm bảo tính khả thi và tiết kiệm thời gian Nghiên cứu đã chọn tất cả bệnh nhân suy tim ngoại trú đang điều trị tại khoa Tim mạch – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ tháng 01 đến tháng 08 năm 2021 Các đối tượng tham gia phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn và không thuộc nhóm tiêu chuẩn loại trừ đã được xác định rõ ràng.

Mỗi đối tượng nghiên cứu được đo các chỉ số và nhận định đặc điểm lâm sàng qua quá trình phỏng vấn một lần, dựa trên bộ câu hỏi đã được giải thích rõ ràng để đảm bảo tính chính xác và nhất quán trong dữ liệu thu thập.

Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

2.4.1 Nội dung và biến số nghiên cứu

Mục tiêu 1: Mô tả đặc điểm: NB, lâm sàng, cận lâm sàng

- Về nhân khẩu học (biến độc lập): Giới, tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, kinh tế gia đình

- Về tình trạng bệnh (biến độc lập): Nguyên nhân suy tim, mức độ suy tim theo NYHA, nhóm bệnh kèm theo, số lần nằm viện…

- Các chỉ số lâm sàng (biến độc lập): Mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, cân nặng, chiều cao…

- Các triệu chứng lâm sàng liên quan bệnh (biến độc lập): Khó thở, ho, phù, đau ngực, mệt mỏi

- Các chỉ số cận lâm sàng (biến độc lập): xét nghiệm NT-proBNP, siêu âm tim

EF, Hồng cầu, Bạch cầu, Tiểu cầu, Bộ mỡ máu, Bộ xét nghiệm kiểm tra về chức năng gan, thận, đường máu…

Công cụ thu thập số liệu: nghiên cứu viên trực tiếp lấy thông tin từ hồ sơ bệnh án của NB (phần A, B trong Bệnh án nghiên cứu)

Mục tiêu 2: Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc và phân tích một số yếu tố liên quan

Bệnh suy tim là tình trạng tim không thể bơm đủ lượng máu cần thiết cho cơ thể, đòi hỏi người bệnh phải nắm vững kiến thức về triệu chứng và nguyên nhân để chủ động kiểm soát tình hình Hiểu biết về các phương pháp điều trị suy tim như sử dụng thuốc, phẫu thuật hoặc các biện pháp hỗ trợ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm thiểu biến chứng Chế độ ăn phù hợp, giàu dinh dưỡng, hạn chế muối và chất béo là yếu tố quan trọng giúp kiểm soát bệnh hiệu quả Ngoài ra, việc theo dõi cân nặng hàng ngày là cách quan trọng để phát hiện sớm các dấu hiệu phù nề hoặc phù chân, từ đó điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời.

Hành vi tự chăm sóc đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe, bao gồm thực hành đúng chế độ ăn uống cân đối và phù hợp Việc theo dõi cân nặng đều đặn giúp đánh giá hiệu quả các phương pháp chăm sóc sức khỏe cá nhân Tuân thủ chế độ tập luyện đúng cách hỗ trợ nâng cao thể lực và duy trì vóc dáng lý tưởng Ngoài ra, sử dụng thuốc đúng hướng dẫn và theo dõi cẩn thận là yếu tố quan trọng để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình điều trị và chăm sóc sức khỏe cá nhân.

- Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi tự chăm sóc của

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án và phỏng vấn trực tiếp người bệnh do các điều dưỡng đã được tập huấn thực hiện Quá trình phỏng vấn được ghi nhận chính xác bằng cách sử dụng bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn, đảm bảo tính thống nhất và độ tin cậy của dữ liệu thu thập.

2.4.3 Công cụ thu thập thông tin

Phần C trong bệnh án nghiên cứu (Phụ lục)

Bạn cần xây dựng một bộ câu hỏi bao gồm các thông số hành chính như mã số, họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ, trình độ học vấn, thời gian chẩn đoán suy tim, nguyên nhân suy tim và số lần nhập viện Đồng thời, cần tích hợp các thông số lâm sàng và cận lâm sàng từ phần mềm quản lý của bệnh viện để đảm bảo dữ liệu đầy đủ và chính xác hơn trong quá trình đánh giá bệnh nhân suy tim Điều này giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và quản lý điều trị bệnh lý tim mạch.

- Triệu chứng lâm sàng của NB được coi là tốt khi có dưới ≤ 4/8 triệu chứng lâm sàng Tương ứng mức từ 50% triệu chứng lâm sàng trở xuống

- Thu thập các thông tin về kiến thức của bệnh nhân suy tim: dựa vào bộ câu hỏi

Chương trình kiểm tra kiến thức về suy tim ở Atlanta (AHFKT – V2), do tác giả Carolyn Miller Reilly phát triển vào năm 2009, gồm 30 câu hỏi trắc nghiệm chia thành 5 nhóm kiến thức chính về bệnh lý, chế độ dinh dưỡng, hành vi tự chăm sóc, kiểm soát triệu chứng và kiến thức về thuốc Để phù hợp với đối tượng nghiên cứu là người Việt Nam, chúng tôi đã chọn sử dụng 22 câu hỏi, loại bỏ một số câu về chế độ dinh dưỡng hoặc quá chuyên sâu về thuốc dựa trên nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Anh năm 2016 Phần mềm tính điểm theo nguyên tắc: mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, sai thì 0 điểm, tổng điểm tối đa là 22 điểm.

Từ 0 – 5 điểm là kiến thức kém; 6 – 11 điểm là kiến thức trung bình; 12 – 17 điểm là kiến thức khá; 18 – 22 điểm là kiến thức tốt [14] Bệnh nhân sẽ được nghiên cứu viên phỏng vấn để hoàn thành bộ câu hỏi

- Thu thập các thông tin về hành vi tự chăm sóc: qua bộ câu hỏi Self-care of

Heart Failure Index (SCHFI V6.2), do tác giả Reigel B phát triển năm 2009, gồm 22 câu hỏi chia thành ba phần chính: duy trì tự chăm sóc, quản lý tự chăm sóc và sự tự tin trong chăm sóc Bộ công cụ này được phép sử dụng miễn phí và đã được nghiên cứu tại nhiều quốc gia như Trung Quốc, Bồ Đào Nha và Việt Nam, giúp đánh giá khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân suy tim một cách toàn diện.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng 10 câu hỏi trong thang đo tự chăm sóc phù hợp với người Việt Nam để đảm bảo tính khả thi và chính xác trong thời gian nghiên cứu ngắn Mỗi câu hỏi được đánh giá theo thang điểm Likert 4 mức, từ 1 (không bao giờ hoặc hiếm khi) đến 4 (luôn luôn hoặc hàng ngày), với tổng điểm tối đa là 40 điểm Dựa trên điểm số tổng thể, mức tự chăm sóc của người bệnh được xếp hạng: dưới 30 điểm cho thấy tự chăm sóc chưa tốt, trong khi từ 30 điểm trở lên cho thấy tự chăm sóc của người bệnh ở mức tốt.

- Mỗi một phiếu phỏng vấn được coi là hoàn thiện khi tỷ lệ bỏ trống, không trả lời không quá 10% số câu hỏi trong mỗi phiếu

2.4.4 Các bước tiến hành thu thập thông tin

Vào ngày NB đến khám tại Phòng khám Tim mạch, bệnh viện Vinmec Times City, các điều dưỡng được tập huấn sẽ tiếp xúc với bệnh nhân để giải thích về nghiên cứu và lấy phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu tại Phòng tư vấn trong Phòng khám Tim mạch.

- Bước 2: Khai thác thông tin chung, tiền sử và bệnh sử của đối tượng nghiên cứu

• Giới, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, bảo hiểm y tế, kinh tế gia đình, người sống cùng

• Nguyên nhân suy tim, nhóm bệnh kèm theo…

• Toàn thân: Mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, phù…

• Đo chiều cao, cân nặng

• Tim mạch: tần số tim, đau ngực

• Hô hấp: xác định tần số thở, mức độ khó thở (nếu có), ho

Bước 4 trong quá trình nghiên cứu liên quan đến việc các điều dưỡng đã được đào tạo sẽ tiến hành phỏng vấn đối tượng nghiên cứu Họ sử dụng bộ câu hỏi cùng thang đo sức khỏe đã được lựa chọn và điều chỉnh phù hợp để đảm bảo thu thập dữ liệu chính xác và đáng tin cậy Quá trình phỏng vấn này giúp khảo sát chính xác tình trạng sức khỏe của đối tượng nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng của nghiên cứu.

- Bước 5: Lấy kết quả chỉ số cận lâm sàng tại hồ sơ bệnh án của đối tượng nghiên cứu

2.5 Một số khái niệm, tiêu chuẩn chẩn đoán, phân loại, đánh giá, thước đo trong nghiên cứu

- Tuổi: là tuổi tại thời điểm khám (bằng năm hiện tại trừ đi năm sinh)

Đo chiều cao của bé yêu bằng cách để bé đứng thẳng, nhìn về phía trước, hai gót chân sát mặt đất Sử dụng thước đo đặt đứng thẳng và vuông góc với mặt đất để đảm bảo kết quả chính xác Đặt cây thước gỗ song song với mặt đất, nhẹ nhàng đặt sát đầu bé để đo chiều cao chính xác đến 1 centimet, đơn vị đo là centimet (cm).

- Cân nặng: Sử dụng cân có đối chiếu với cân khác, cân được đặt ở vị trí cân bằng và ổn định, cân có độ chính xác đến 0,1 kg

- Mạch: bình thường từ 60 - 100 lần/phút, nhanh trên 100 lần/phút, chậm dưới

60 lần/phút Kiểm tra mạch bằng thiết bị đo SpO2

Bảng 2.1: Phân độ THA ở người lớn theo ESH và Hội THA Việt Nam 2016

Phân độ HAtt (mmHg) hoặc/và HAttr(mmHg)

THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và < 90

Bệnh nhân được chẩn đoán huyết áp cao (THA) khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên Ngược lại, huyết áp thấp được xác định khi huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hoặc huyết áp tâm trương dưới 60 mmHg Để đảm bảo kết quả chính xác, kỹ thuật đo huyết áp yêu cầu bệnh nhân nghỉ ngơi khoảng 10-15 phút trước khi thực hiện Tư thế đo huyết áp phù hợp cũng là yếu tố quan trọng để có số đo chính xác.

- Nhiệt độ: bình thường 36,5 – < 37,5 o C, cao (sốt) khi từ 37,5 o C trở lên, thấp dưới 36,5 o C Đo nhiệt độ ở hõm nách

Nhịp thở bình thường của người trưởng thành là từ 16 đến 22 lần mỗi phút Để đo nhịp thở chính xác, cần đếm sau khi đã đo mạch và thực hiện đếm đủ 1 phút mỗi lần Trong trường hợp nghi ngờ có vấn đề về hô hấp, nên thực hiện đếm nhịp thở trong 2 phút để đánh giá chính xác hơn Nếu nhịp thở chậm dưới 16 lần/phút hoặc nhanh trên 22 lần/phút, cần chú ý theo dõi hoặc tham khảo ý kiến bác sĩ để xử lý kịp thời.

Triệu chứng lâm sàng là những biểu hiện bất thường của người bệnh, được bác sĩ và điều dưỡng nhận định thông qua quá trình phỏng vấn, khám lâm sàng bao gồm các phương pháp nhìn, sờ, gõ, nghe để xác định chính xác tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

- Chỉ số cận lâm sàng bình thường:

Chỉ số cận lâm sàng Đơn vị Giá trị bình thường

- Kiến thức chung về bệnh suy tim được coi là Đạt khi số câu trả lời đúng từ 2 trên 3 câu trở lên, tương đương với điểm AHFKT >=2 điểm

Kiến thức về thuốc và việc tuân thủ dùng thuốc điều trị được xem là đạt yêu cầu khi người bệnh trả lời đúng ít nhất 3 trong 4 câu hỏi, tương đương với điểm AHFKT ≥3 điểm Điều này đồng nghĩa với tỷ lệ đúng đáp án trên 75%, thể hiện sự hiểu biết và tuân thủ điều trị tốt của người bệnh Việc nâng cao kiến thức về thuốc không chỉ giúp đảm bảo quá trình điều trị hiệu quả mà còn giảm thiểu các rủi ro liên quan đến sử dụng thuốc không đúng cách Do đó, đánh giá mức độ hiểu biết dựa trên tỷ lệ câu trả lời đúng là phương pháp quan trọng để đảm bảo hiệu quả trong hành trình chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân.

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Các số liệu được nhập liệu bằng phần mềm excel, xử lý và phân tích phần mềm SPSS 25.0

- Trong quá trình xử lý, các số liệu bị thiếu, vô lý, ngoại lai được kiểm tra và khắc phục

Các biến định lượng được kiểm tra để xác định phân phối chuẩn Nếu biến có phân phối chuẩn, chúng sẽ được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn (SD) và so sánh bằng các kiểm định tham số Trong trường hợp phân phối không chuẩn, sẽ sử dụng phân tích phi tham số để đảm bảo tính chính xác của kết quả Để đo lường mức độ tương quan giữa điểm kiến thức và điểm thực hành, chúng tôi tính hệ số tương quan Pearson R và hệ số xác định R², giúp đánh giá mức độ liên kết và độ phù hợp của mô hình.

- Các biến định tính sẽ được mô tả bằng tần suất, tỷ lệ và so sánh bằng kiểm định χ 2 hoặc Fisher exact test (giữa 2 hoặc nhiều tỷ lệ)

- Ý nghĩa thống kê cho sự khác biệt được xác định với ngưỡng α= 0,05

- Phân tích các yếu tố liên quan bằng phép hồi quy logistic sau khi đã chuyển biến phụ thuộc sang biến nhị phân với điểm cắt tối thiểu bằng 60%.

Đạo đức trong nghiên cứu

Trước khi tham gia nghiên cứu, tất cả các đối tượng đều được cung cấp thông tin rõ ràng về mục tiêu và nội dung nghiên cứu, đảm bảo sự minh bạch và hiểu rõ Thêm vào đó, các đối tượng nghiên cứu tham gia một cách tự nguyện, không bị ép buộc hay ảnh hưởng, nhằm đảm bảo tính đạo đức và độ tin cậy của quá trình nghiên cứu.

- Các thông tin thu thập được từ các đối tượng chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, hoàn toàn được giữ bí mật

- Đối tượng được quyền dừng sự tham gia nghiên cứu bất cứ lúc nào

Nghiên cứu này đã được triển khai sau khi nhận được phê duyệt từ Hội đồng xét duyệt đề cương của trường Đại học Thăng Long cùng với Hội đồng đạo đức của bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City, đảm bảo tuân thủ các quy trình nghiên cứu chính thống và đạo đức y tế.

Hạn chế của nghiên cứu

- Trong khuôn khổ của một đề tài tốt nghiệp, nghiên cứu của chúng tôi vẫn tồn tại một số hạn chế: cỡ mẫu nhỏ, thời gian nghiên cứu ngắn…

- Kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện cho cỡ mẫu nhỏ sẽ ảnh hưởng tới khả năng khái quát kết quả cho những quần thể khác

Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế mô tả cắt ngang, giúp đánh giá các vấn đề tại thời điểm cụ thể của nghiên cứu Phương pháp này phù hợp để khảo sát tình hình hiện tại, tuy nhiên, không thể xác định rõ mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố Do đó, kết luận về mối liên hệ nhân quả cần được xác nhận qua các nghiên cứu có thiết kế phù hợp hơn, như nghiên cứu theo chiều dọc hoặc nghiên cứu thử nghiệm.

Sai số và biện pháp khắc phục sai số

Sai số ngẫu nhiên có thể xảy ra do nghiên cứu viên chưa hiểu rõ đối tượng nghiên cứu hoặc hiểu sai về mục đích của nghiên cứu Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu cũng có thể chưa hiểu rõ câu hỏi, dẫn đến kết quả nghiên cứu thiếu chính xác Việc đảm bảo sự hiểu biết đầy đủ về đối tượng và câu hỏi nghiên cứu là rất quan trọng để giảm thiểu sai số ngẫu nhiên trong quá trình thu thập dữ liệu.

Các biện pháp kiểm soát sai số trong khảo sát bao gồm xin ý kiến chuyên gia, chuẩn hóa bộ câu hỏi qua điều tra thử nghiệm, đào tạo điều tra viên một cách kỹ lưỡng, giám sát chặt chẽ quá trình thu thập dữ liệu, đồng thời giải thích rõ ý nghĩa từng câu hỏi để đối tượng nghiên cứu hiểu rõ và trả lời chính xác.

Trong quá trình nhập số liệu, bộ dữ liệu được kiểm tra chặt chẽ bằng cách nhập lại 10% số phiếu để đảm bảo tính chính xác và hạn chế tối đa sai sót trong dữ liệu nhập vào Việc kiểm tra định kỳ giúp nâng cao độ chính xác của thông tin, giảm thiểu rủi ro sai sót và đảm bảo quá trình xử lý dữ liệu diễn ra hiệu quả Tăng cường kiểm tra năng lực nhập liệu góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu và đảm bảo kết quả chính xác, tin cậy cho các mục đích phân tích và báo cáo.

Khung lý thuyết của nghiên cứu

Truyền thông, tư vấn chăm sóc cho NB

Kiến thức về tuân thủ điều trị và tự chăm sóc của NB

Thực hành tuân thủ điều trị và tự chăm sóc của NB Đặc điểm

NB Đặc điểm LS,CLS

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm về nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 3.1: Phân bố theo giới tính

Nhận xét: Trong nghiên cứu này, tỷ lệ điều dưỡng là nam giới chiếm 67,1%; nữ giới chiếm 32,9%

Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 68,18 ±13,6 tuổi Người bệnh trẻ tuổi nhất là 25, cao tuổi nhất là 90 tuổi Trong đó nhóm người bệnh

X trên 60 tuổi chiếm 76,9%; nhóm người bệnh từ 41-60 tuổi chiếm 18,2% còn lại 4,9% người bệnh thuộc nhóm 18-40 tuổi

Biểu đồ 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn

Trong tổng số người bệnh, tỷ lệ những người có trình độ THPT và cao đẳng, đại học chiếm lần lượt là 46,2% và 44,1%, cho thấy trình độ học vấn trung bình đến cao khá phổ biến Bên cạnh đó, tỷ lệ người có trình độ sau đại học đạt 9,1%, thể hiện sự nâng cao trình độ học vấn trong cộng đồng Tuy nhiên, vẫn còn 0,7% người bệnh không biết chữ, phản ánh vẫn còn gặp phải những hạn chế về giáo dục trong một bộ phận dân cư.

Không biết chữ THPT CĐ,ĐH Sau ĐH

Công nhân, viên chức Nông dân Nội trợ, buôn bán nhỏGià/hưu trí/mất sức Khác

Biểu đồ 3.3 thể hiện phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm nghề nghiệp, trong đó có thể thấy rằng 63,6% người bệnh là người già, mất sức, hưu trí Tiếp theo, 24,5% là công nhân viên chứng, 7,0% là nông dân, và còn lại gồm 3,5% nội trợ, buôn bán và 1,4% làm các công việc khác Thống kê này giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm nghề nghiệp của nhóm người bệnh trong nghiên cứu.

3.1.2 Đặc điểm về yếu tố xã hội của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.2: Đặc điểm về các yếu tố xã hội của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Số lượng n

Kinh tế gia đình Hộ nghèo 10 7,0

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ người bệnh thuộc hộ nghèo và cận nghèo lần lượt là 7,0% và 14,0% Về tình hình kinh tế của bản thân, có đến 37,8% người bệnh không phụ thuộc, 37,1% phụ thuộc một phần và 25,2% phụ thuộc hoàn toàn vào hỗ trợ tài chính.

3.1.3 Đặc điểm về tình trạng bệnh của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.3: Đặc điểm về tình trạng bệnh của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Số lượng

Loại nguyên nhân suy tim (ns)

Bệnh tim mạch + Bệnh khác

Nhập viện vì suy tim trước đây (n3)

Kết quả cho thấy, có đến 49% người bệnh không biết nguyên nhân gây suy tim Trong số những người biết nguyên nhân, 84,9% cho biết suy tim bắt nguồn từ các bệnh tim mạch, trong khi 11,0% mắc các bệnh kết hợp gây suy tim và 4,1% còn lại gặp phải nguyên nhân khác.

3.1.4 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Bảng 3.4: Đặc điểm sinh hiệu của đối tượng Biến số nghiên cứu Kết quả lần khám gần ngày phỏng vấn nhất n %

Kết quả khảo sát cho thấy, gần ngày phỏng vấn nhất, tỷ lệ người bệnh cao huyết áp chiếm 67,8%, biểu hiện rõ ràng trong các lần khám bệnh Ngoài ra, có 9,8% bệnh nhân bị mạch nhanh, trong đó có 01 trường hợp sốt và 04 trường hợp có nhịp thở nhanh, chiếm tỷ lệ 2,8% Những số liệu này phản ánh tình trạng sức khỏe của người bệnh và đặc điểm lâm sàng liên quan đến các vấn đề tim mạch và hô hấp.

Bảng 3.5: Triệu chứng lâm sàng của đối tượng

Mức độ biểu hiện Không có n (%)

Nhận định chung* Tốt = 81 (57,0%) Không tốt = 61 (43,0%)

*Nhận định chung: Tốt khi có dưới 5 triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng mệt mỏi là biểu hiện phổ biến nhất ở người bệnh, với 51% người mắc cảm giác nhẹ, 14% có mức độ vừa phải, 5,6% mức độ nghiêm trọng, trong khi 29,4% không gặp phải triệu chứng này Ngoài ra, có tới 28,7% bệnh nhân xuất hiện phù ở các mức độ khác nhau Khoảng 45,5% bệnh nhân gặp khó thở từ nhẹ đến nặng, trong đó 27,3% bị khó thở nhẹ, 15,4% mức độ vừa, 2,1% nhiều và 0,7% rất nhiều Đánh giá tổng thể tình trạng bệnh, có đến 57% bệnh nhân có tình trạng tốt do số lượng triệu chứng lâm sàng dưới 5, trong khi 43% còn lại có tình trạng không tốt do có nhiều triệu chứng hơn.

Bảng 3.6: Kết quả xét nghiệm cận lâm sàng

Kết quả xét nghiệm lần khám gần ngày phỏng vấn nhất n SL %

Dựa trên kết quả xét nghiệm cận lâm sàng, có đến 67,4% bệnh nhân cho kết quả bất thường về chỉ số Ure, trong khi 55,4% có chỉ số Creatinin không bình thường Ngoài ra, tỷ lệ người bệnh có chỉ số Na và K bất thường lần lượt là 17,2% và 3,1%, cho thấy có sự ảnh hưởng đáng kể đến chức năng thận và cân bằng điện giải Các chỉ số máu như Hồng cầu, Hemoglobin, Bạch cầu và Tiểu cầu cũng có tỷ lệ bất thường lần lượt là 57,4%; 60,1%; 17,2% và 8,2%, phản ánh tình trạng sức khoẻ toàn diện của bệnh nhân.

Bảng 3.7: Thời gian chẩn đoán suy tim và chỉ số cận lâm sàng Đặc điểm n Giá trị nhỏ nhất

Thời gian chẩn đoán suy tim

Chỉ số phân suất tống máu EF gần nhất

Thời gian chẩn đoán suy tim trung bình của bệnh nhân là 17,9 tháng, với thời gian chẩn đoán lâu nhất lên đến 10 năm, cho thấy quá trình phát hiện bệnh kéo dài và cần tăng cường công tác khám sức khỏe định kỳ Chỉ số phân suất tống máu EF trung bình của bệnh nhân là 53,3%, trong đó thấp nhất là 23% và cao nhất là 76%, phản ánh mức độ suy giảm chức năng tim khác nhau ở các bệnh nhân Mức độ BNP NT-ProBNP trung bình gần nhất là 2223,73 pg/ml, giúp đánh giá mức độ nặng nhẹ của suy tim và hỗ trợ quá trình chẩn đoán cũng như theo dõi điều trị hiệu quả.

Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim

3.2.1 Kiến thức của đối tượng

Bảng 3.8 Kiến thức chung về bệnh suy tim

Kiến thức của đối tượng về suy tim

B3.1 Suy tim là tình trạng tim không có đủ khả năng bơm máu Đúng 88 61,5

Suy tim không thể chữa khỏi nhưng có thể kiểm soát được Đúng 85 59,4

NB suy tim bị tăng 1 – 2 kg trong vài ngày thì có nghĩa là bị thừa nước trong cơ thể Đúng 53 37,1

Tỷ lệ trả lời các câu hỏi kiến thức thông thường về suy tim: Đạt* 39 27,3

*Đạt khi số câu trả lời đúng > 2 câu tương ứng với AFHKT > 2

Kết quả khảo sát cho thấy vẫn còn nhiều bệnh nhân thiếu kiến thức chung về suy tim, với 24,5% người bệnh hoàn toàn không biết về khái niệm này Trong đó, 61,5% người bệnh trả lời đúng, còn 14,0% trả lời sai về định nghĩa suy tim Ngoài ra, 59,4% bệnh nhân hiểu rằng suy tim không thể chữa khỏi nhưng có thể kiểm soát triệu chứng Một phần lớn người bệnh còn hiểu đúng về dấu hiệu tăng cân do tích nước, với 37,1% nhận biết rằng tăng 1-2 kg trong vài ngày là dấu hiệu của thừa nước trong cơ thể Tuy nhiên, tỷ lệ người bệnh trả lời đúng về kiến thức chung về suy tim chỉ đạt 27,3%, cho thấy cần nâng cao nhận thức và kiến thức cho người bệnh về bệnh lý này.

Bảng 3.9: Kiến thức về thuốc và tuân thủ dùng thuốc điều trị

Kiến thức về thuốc và tuân thủ dùng thuốc điều trị

B3.7 Bỏ thuốc suy tim khi thấy khoẻ hơn Đúng 19 13, 3

Thuốc điều trị suy tim giúp cho tim khoẻ hơn nhờ ức chế ảnh hưởng xấu của hormone gây stress Đúng 0 0,0

B3.10 NB suy tim sử dụng thuốc lợi tiểu cần biết sử dụng thêm thuốc bù kali Đúng 8 5,6

B3.21 Nếu Ông/bà bị quên uống thuốc thì cần phải uống thuốc ngay khi nhớ ra Đúng 67 46, 9

Chung về thuốc và tuân thủ dùng thuốc điều trị Đạt * 3 2,1

*Đạt khi trả lời đúng ³ 3 câu tương ứng với AFHKT > 3

Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 13,3% người bệnh nhận thức đúng về việc không nên bỏ thuốc suy tim khi cảm thấy khỏe hơn Chỉ 5,6% người bệnh hiểu rõ rằng việc sử dụng lợi tiểu cần kết hợp với thuốc bù kali để đảm bảo hiệu quả điều trị an toàn Trong khi đó, 46,9% người bệnh biết rằng khi quên uống thuốc, cần uống ngay khi nhớ ra để duy trì điều trị liên tục Tuy nhiên, tỷ lệ người có kiến thức đúng về thuốc qua các câu hỏi đánh giá chung rất thấp, chỉ đạt 2,1% khi trả lời đúng từ 3 câu trở lên, cho thấy còn nhiều hạn chế trong nhận thức của bệnh nhân về việc sử dụng thuốc đúng cách để đạt hiệu quả điều trị tối ưu.

Bảng 3.10: Kiến thức về tự chăm sóc, theo dõi tình trạng bệnh

Kiến thức tự chăm sóc, theo dõi tình trạng bệnh

B3.12 NB suy tim cần tự cân hàng ngày Đúng 71 49,7

B3.13 Thời gian tốt nhất để cân là vào buổi sáng, khi vừa ngủ dậy Đúng 81 56,6

NB suy tim nên gọi cho BS hoặc ĐD khi có các dấu hiệu tăng 1-2 kg trong 1-2 ngày, tăng phù ở mắt cá chân, bụng, khó thở. Đúng 36 25,2

B3.15 NB suy tim nên tập thể dục hàng ngày Đúng 88 61,5

NB suy tim cần dừng ngay các hoạt động thể chất khi khó thở, đau ngực hoặc nặng ngực, hoa mắt chóng mặt Đúng 85 59,4

Người bị suy tim nên tiêm phòng cúm hàng năm, tiêm phế cầu hàng năm và đi khám đúng hẹn Đúng 52 36,4

Chung về tự chăm sóc theo dõi Đạt* 86 60,1

*Đạt khi trả lời đúng > 4câu tương ứng với AFHKT > 4

Kết quả khảo sát cho thấy, 49,7% người bệnh có kiến thức đúng về việc người bệnh suy tim cần tự cân hàng ngày, trong đó 56,6% biết thời điểm tốt nhất để cân là vào buổi sáng ngay sau khi thức dậy Khoảng 25,2% đáp ứng đúng về việc người bệnh suy tim nên liên hệ với bác sĩ hoặc điều dưỡng khi có dấu hiệu tăng cân nhanh, phù nề mắt cá chân, bụng hoặc gặp khó thở Ngoài ra, 61,5% người bệnh hiểu rằng người suy tim cần tập thể dục hàng ngày, và 59,4% biết dừng các hoạt động thể chất khi xuất hiện triệu chứng như khó thở hoặc đau ngực Chỉ có 36,4% người bệnh nhận thức đúng về việc tiêm phòng cúm, phế cầu hàng năm và đi khám định kỳ đúng hẹn Tuy nhiên, tỷ lệ câu trả lời đúng từ 4 câu trở lên đạt 60,1%, cho thấy kiến thức chăm sóc bệnh suy tim vẫn còn cần được nâng cao.

Bảng 3.11: Kiến thức về dinh dưỡng cho người bệnh suy tim

Kiến thức về dinh dưỡng

B3.5 Không hút thuốc lá Đúng 136 95,1

B3.6 Uống rượu bia hàng ngày Đúng 12 8,4

Thực phẩm chứa nhiều muối: thực phẩm chế biến sẵn, thịt đã qua chế biến, muối ăn Đúng 17 11,9

B3.18 Loại thực phẩm chứa ít muối nhất là trái cây tươi Đúng 68 47,6

B3.19 Loại thực phẩm nào chứa nhiều Đúng 19 13,3 muối nhất trong một số thực phẩm là thịt đỏ

Những thực phẩm nào sau đây được coi là chất lỏng: nước, sữa, kem, sữa chua, cháo, súp Đúng 73 51,0

Chung về ăn uống Đạt* 2 1,4

*Đạt khi trả lời đúng 8 câu tương ứng với AHFKT = 8 điểm

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có đến 93,7% người bệnh trả lời đúng về hạn chế muối, cho thấy nhận thức về vấn đề này khá cao Tuy nhiên, chỉ có 57,3% người bệnh hiểu rằng không nên uống nhiều nước khi mắc suy tim, phản ánh sự thiếu hiểu biết về quản lý bệnh Đáng chú ý, chỉ có 11,9% người bệnh nhận biết các loại thực phẩm chứa nhiều muối, trong khi 47,6% nhận diện đúng về trái cây tươi là thực phẩm chứa ít muối nhất Tỷ lệ trả lời đúng tất cả 8 câu hỏi là rất thấp, chỉ đạt 1,4%, cho thấy cần nâng cao kiến thức và ý thức phòng ngừa các bệnh liên quan đến chế độ ăn uống.

Trong nghiên cứu này, biểu đồ 3.4 cho thấy chỉ có 9,8% người bệnh có kiến thức đạt yêu cầu, trong khi phần lớn còn lại, chiếm 90,2%, có kiến thức chưa đạt yêu cầu Điều này cho thấy mức độ hiểu biết của người bệnh về vấn đề nghiên cứu còn khá thấp, cần được cải thiện để nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị.

3.2.2 Hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim

Bảng 3.12: Kết quả hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim

Hành vi tự chăm sóc

4 (2,8%) B4.2.Kiểm tra xem có bị sưng mắt cá chân

1 (0,7%) B4.3.Cố gắng tránh để bị ốm (ví dụ như tiêm phòng cúm hoặc tránh tiếp xúc với người bị ốm)

B4.4.Có hoạt động thể chất như đi lại, lau nhà

3 (2,1%) B4.5.Có ăn chế độ ăn giảm muối

9 (6,3%) B4.6.Có giữ đúng lịch hẹn với bác sỹ hoặc điều dưỡng

B4.7.Có tập thể dục trong vòng 30 phút

0 (0,0%) B4.8.Có quên uống thuốc theo đơn

1 (0,7%) B4.9.Có gọi đồ ăn ít muối khi ăn ở ngoài

B4.10.Có sử dụng cách gì đó như hộp thuốc, nhắc hẹn…để nhớ uống thuốc

Kết quả khảo sát cho thấy 25,2% người bệnh ít khi tự đo cân nặng hàng ngày và 37,8% ít khi kiểm tra xem có bị phù mắt cá chân hay không, điều này ảnh hưởng đến quản lý bệnh hiệu quả Trong khi đó, 24,5% người bệnh cố gắng thường xuyên tránh bị ốm, và 23,1% thực hiện hàng ngày để phòng tránh bệnh Có tới 30,1% ít tham gia các hoạt động thể chất như đi lại hay lau nhà, làm giảm khả năng duy trì sức khỏe Đồng thời, 32,2% ít áp dụng chế độ ăn giảm muối, và 65,7% ít gọi đồ ăn ít muối khi ăn ngoài, góp phần kiểm soát nồng độ muối trong cơ thể Về việc sử dụng thuốc, 62,2% không quên uống thuốc theo đơn, nhưng 35,0% thỉnh thoảng quên, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.

Bảng 3.13: Mức độ hành vi tự chăm sóc của người bệnh

Mức độ hành vi tự chăm sóc Kết quả n %

Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy 37,1% người bệnh có mức độ hành vị tự chăm sóc ở mức tốt, 62,9% người bệnh có mức độ ở mức chưa tốt

Hình 3.1: Tương quan giữa điểm kiến thức và điểm thực hành

Nhận xét: Giữa điểm kiến thức và điểm thực hành có mối tương quan thuận, mức độ tương quan trung bình ( R = 0,61 ; p=5 trên 7 câu: đạt; < 5 câu đúng: không đạt

Theo khảo sát, 32,9% người bệnh chưa được tư vấn về bệnh, điều này cho thấy cần nâng cao công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe để giúp người bệnh hiểu rõ tình trạng của mình Khoảng 33,6% người bệnh chưa nhận được hướng dẫn về các biến chứng có thể xảy ra tại nhà cũng như chế độ nghỉ ngơi phù hợp hàng ngày, góp phần giảm thiểu rủi ro biến chứng Ngoài ra, có tới 32,2% người bệnh chưa được hướng dẫn về lợi ích của việc tuân thủ chế độ ăn uống hợp lý, trong khi 30,8% bỏ lỡ thông tin về lợi ích của việc tuân thủ uống thuốc và duy trì hoạt động thể lực đúng cách Cuối cùng, 31,5% người bệnh chưa nhận được đầy đủ thông tin về quy trình điều trị và chăm sóc, điều này ảnh hưởng đến việc người bệnh chủ động trong quá trình hồi phục.

Số người trả lời đúng >=5 câu chiếm tỷ lệ 36,4% Nguyện vọng của người bệnh được tư vấn để hiểu được tốt và thực hành tốt hơn là 59,5% (= 18,9+40,6 )

Biều đồ 3.5: Mức độ tư vấn của điều dưỡng

Theo kết quả khảo sát, có 36,4% người bệnh đánh giá mức độ tư vấn của điều dưỡng ở mức tốt, cho thấy chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại đây hiện vẫn còn nhiều tiềm năng cải thiện Trong khi đó, 63,6% người bệnh cho rằng chất lượng tư vấn của điều dưỡng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu, chỉ rõ sự cần thiết tăng cường đào tạo và nâng cao kỹ năng tư vấn của đội ngũ nhân viên y tế để nâng cao mức hài lòng của bệnh nhân.

Mối liên quan đến kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim

Bảng 3.15: Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học với kiến thức

OR (CI 95%) p Đạt Chưa đạt n % n %

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức giữa các nhóm người bệnh dựa trên độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và nhóm nghề nghiệp.

3.3.2 Mối liên quan giữa tình trạng bệnh với kiến thức của NB

Bảng 3.16: Mối liên quan giữa nhập viện với kiến thức của NB

Kiến thức về tự chăm sóc OR

Nhập viện vì suy tim

Không có sự khác biệt đáng kể về mức độ kiến thức giữa nhóm bệnh nhân đã từng nhập viện vì suy tim và nhóm chưa từng nhập viện, cho thấy kiến thức về bệnh suy tim cần được tăng cường cho tất cả các nhóm bệnh nhân Việc nâng cao nhận thức về suy tim là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ nhập viện và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh Các chương trình giáo dục sức khỏe cần tập trung vào toàn diện, không phân biệt lịch sử nhập viện, nhằm nâng cao kiến thức và quản lý bệnh hiệu quả hơn.

Bảng 3.17: Mối liên quan giữa NB có bệnh đồng mắc với kiến thức của NB

OR (CI 95%) p Đạt Chưa đạt n % n %

Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức giữa nhóm người bệnh có bệnh đồng mắc và không có bệnh đồng mắc

Bảng 3.18: Mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh suy tim với kiến thức của NB

Kiến thức p Đạt Chưa đạt n % n %

Thời gian mắc bệnh suy tim

Kết quả phân tích cho thấy nhóm người bệnh có thời gian suy tim dưới 1 năm có kiến thức kém nhất, với tỷ lệ chỉ 3,4% Trong khi đó, nhóm mắc từ 2–5 năm lại có tỷ lệ kiến thức đạt cao nhất, đạt tới 18,2% Tuy nhiên, các khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê khi p > 0,05.

Bảng 3.19: Mối liên quan giữa tư vấn của ĐD với kiến thức của NB

OR (CI 95%) p Đạt Chưa đạt n % n %

Kết quả cho thấy, nhóm người bệnh nhận được tư vấn ở mức tốt có kiến thức y học rõ ràng và toàn diện hơn, mức độ hiểu biết khá cao so với nhóm bệnh nhân đánh giá chất lượng tư vấn chưa tốt Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc cung cấp dịch vụ tư vấn chất lượng cao trong việc nâng cao kiến thức và nhận thức của người bệnh Chất lượng tư vấn tốt không chỉ giúp người bệnh nắm bắt thông tin chính xác mà còn góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe Do đó, nâng cao chất lượng tư vấn y tế là yếu tố then chốt để nâng cao kiến thức và sự hài lòng của bệnh nhân.

Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (19,2% so với 4,4%; OR= 5,19; p 0,05), cho thấy hành vi tự chăm sóc không ảnh hưởng đáng kể đến phân suất tống máu trong nhóm này.

Ngày đăng: 16/08/2023, 13:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Ngọc Anh (2016), Kiến thức và thực hành về tự chăm sóc ở nhà của người bệnh suy tim mạn tại Viện Tim mạch Việt Nam năm 2016, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Y tế cộng cộng, trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và thực hành về tự chăm sóc ở nhà của người bệnh suy tim mạn tại Viện Tim mạch Việt Nam năm 2016
Tác giả: Trần Thị Ngọc Anh
Năm: 2016
2. Bộ Y tế (2020), Quyết định số 1762, “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị suy tim mạn tính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị suy tim mạn tính
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2020
3. Ngô Quý Châu (2012), “Suy tim”, Bệnh học nội khoa, tập 1, Nhà xuất bản Y học, trang 202 – 226 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy tim”, "Bệnh học nội khoa
Tác giả: Ngô Quý Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2012
4. Trương Việt Dũng (2017), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả: Trương Việt Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản y học Hà Nội
Năm: 2017
5. Trương Việt Dũng (2019), “Tóm tắt thống kê ứng dụng trong nghiên cứu y sinh học”, Giáo trình học phần thống kê y sinh, Trường Đại học Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt thống kê ứng dụng trong nghiên cứu y sinh học”, "Giáo trình học phần thống kê y sinh
Tác giả: Trương Việt Dũng
Năm: 2019
6. Kiều Thị Thu Hằng (2011), “Bước đầu ứng dụng thang điểm SCHFI đánh giá vấn đề tự chăm sóc của bệnh nhân suy tim được điều trị tại Viện Tim mạch Việt Nam”, trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu ứng dụng thang điểm SCHFI đánh giá vấn đề tự chăm sóc của bệnh nhân suy tim được điều trị tại Viện Tim mạch Việt Nam
Tác giả: Kiều Thị Thu Hằng
Năm: 2011
7. Nguyễn Trọng Hiếu (2009) “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim tâm trương điều trị tại bệnh viện đa khoa Trung Ương Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa Học và Công Nghệ, 89 (01)/1, tr. 100-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim tâm trương điều trị tại bệnh viện đa khoa Trung Ương Thái Nguyên”, "Tạp chí Khoa Học và Công Nghệ
8. Phạm Thị Thu Hương và cs (), “Những khó khăn trong tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện Đa khoa Tỉnh Nam Định”, Khoa học Điều dưỡng, Tập 1 (số 01), tr. 53-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khó khăn trong tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện Đa khoa Tỉnh Nam Định”, "Khoa học Điều dưỡng
9. Mai Thị Huyền (2019), Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh suy tim tại Viện Tim Mạch Bạch Mai năm 2019, Luận văn Thạc sỹ Điều dưỡng, trường Đại học Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh suy tim tại Viện Tim Mạch Bạch Mai năm 2019
Tác giả: Mai Thị Huyền
Năm: 2019
10. Nguyễn Ngọc Huyền (2013), “Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc của người già suy tim tại bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên”, Tạp chí Tim mạch Học Việt Nam – Số 64, trang 26-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc của người già suy tim tại bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Ngọc Huyền
Năm: 2013
12. Phạm Thị Hồng Ngọc (2019), Đánh giá hiểu biết y tế và chỉ số tự chăm sóc của người bệnh suy tim, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Điều dưỡng, trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiểu biết y tế và chỉ số tự chăm sóc của người bệnh suy tim
Tác giả: Phạm Thị Hồng Ngọc
Năm: 2019
13. Phạm Thị Hồng Nhung (2018), “Thay đổi thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại khoa Nội Tim mạch bệnh viện Đa khoa Tỉnh Nam Định”, Khoa học Điều dưỡng tập 2 số 3, trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại khoa Nội Tim mạch bệnh viện Đa khoa Tỉnh Nam Định
Tác giả: Phạm Thị Hồng Nhung
Năm: 2018
16. Vũ Văn Thành (2020) Kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn sau giáo dục sức khỏe tại bệnh viện Đa khoa Hợp Lực tỉnh Thanh Hóa, Khoa học Điều dưỡng – Tập 04 – Số 02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn sau giáo dục sức khỏe tại bệnh viện Đa khoa Hợp Lực tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Vũ Văn Thành
Nhà XB: Khoa học Điều dưỡng
Năm: 2020
17. Đỗ Bích Thuỷ (2018), “Tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần thực tế của người bệnh suy tim tại bệnh viện Tim Hà Nội”, Luận văn tốt nghiệp cử nhân dinh dưỡng, trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần thực tế của người bệnh suy tim tại bệnh viện Tim Hà Nội
Tác giả: Đỗ Bích Thuỷ
Năm: 2018
18. Nguyễn Lân Việt (2015), “Suy tim”, Thực hành bệnh tim mạch, Nhà xuất bản Y học, trang 393 - 428 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy tim”, "Thực hành bệnh tim mạch
Tác giả: Nguyễn Lân Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2015
19. Nguyễn Lân Việt (2019), “Suy tim”, Lâm sàng bệnh học Tim mạch, Nhà xuất bản Y học, trang 464 - 503 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy tim”, "Lâm sàng bệnh học Tim mạch
Tác giả: Nguyễn Lân Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2019
20. Phạm Nguyễn Vinh và các cs (2008), “Khuyến cáo 2008 về chẩn đoán và điều trị suy tim”, Khuyến cáo 2008 của Hội tim mạch học Việt Nam về các bệnh lý tim mạch và chuyển hoá, Nhà xuất bản y học, Thành phố Hồ Chí Minh, trang 438- 450.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo 2008 về chẩn đoán và điều trị suy tim”, "Khuyến cáo 2008 của Hội tim mạch học Việt Nam về các bệnh lý tim mạch và chuyển hoá
Tác giả: Phạm Nguyễn Vinh và các cs
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2008
21. Aleksandra Jovicic (2006), “Effects of self – management intervention on health outcomes of patients with heart failure: a systematic review of randomized controlled trials”, pubmed.gov Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of self – management intervention on health outcomes of patients with heart failure: a systematic review of randomized controlled trials
Tác giả: Aleksandra Jovicic
Năm: 2006
22. Artinian, N.T., et al. (2002), “Self – care of behaviors among patients with heart failure”, Heart Lung, 31 (3), p.161-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Self – care of behaviors among patients with heart failure
Tác giả: Artinian, N.T., et al
Năm: 2002
23. Baker, D.W (2006), “The meaning and the measure of health literacy”, Journal of General Internal Medicine, 21 (8), p. 878-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The meaning and the measure of health literacy
Tác giả: Baker, D.W
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Phân loại suy tim theo ACC/AHA tương ứng với NYHA  Theo cấu trúc tim – ACC/AHA  Theo triệu chứng NYHA - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 1.3 Phân loại suy tim theo ACC/AHA tương ứng với NYHA Theo cấu trúc tim – ACC/AHA Theo triệu chứng NYHA (Trang 14)
Bảng 1.3: Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim theo ESC 2016  Tiêu - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim theo ESC 2016 Tiêu (Trang 19)
Bảng 2.1: Phân độ THA ở người lớn theo ESH và Hội THA Việt Nam 2016 - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 2.1 Phân độ THA ở người lớn theo ESH và Hội THA Việt Nam 2016 (Trang 37)
Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi (Trang 42)
Bảng 3.4: Đặc điểm sinh hiệu của đối tượng  Biến số nghiên cứu  Kết quả lần khám gần ngày phỏng vấn nhất - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 3.4 Đặc điểm sinh hiệu của đối tượng Biến số nghiên cứu Kết quả lần khám gần ngày phỏng vấn nhất (Trang 45)
Bảng 3.8. Kiến thức chung về bệnh suy tim - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 3.8. Kiến thức chung về bệnh suy tim (Trang 49)
Bảng 3.9: Kiến thức về thuốc và tuân thủ dùng thuốc điều trị - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 3.9 Kiến thức về thuốc và tuân thủ dùng thuốc điều trị (Trang 50)
Bảng 3.10: Kiến thức về tự chăm sóc, theo dõi tình trạng bệnh - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 3.10 Kiến thức về tự chăm sóc, theo dõi tình trạng bệnh (Trang 51)
Bảng 3.12: Kết quả hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 3.12 Kết quả hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim (Trang 54)
Hình 3.1:  Tương quan giữa điểm kiến thức và điểm thực hành - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Hình 3.1 Tương quan giữa điểm kiến thức và điểm thực hành (Trang 56)
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa nhập viện với kiến thức của NB - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa nhập viện với kiến thức của NB (Trang 59)
Bảng 3.17: Mối liên quan giữa NB có bệnh đồng mắc với kiến thức của NB - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa NB có bệnh đồng mắc với kiến thức của NB (Trang 59)
Bảng 3.19: Mối liên quan giữa tư vấn của ĐD với kiến thức của NB - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tư vấn của ĐD với kiến thức của NB (Trang 60)
Bảng 3.21: Mối liên quan giữa số lần nhập viện với hành vi tự chăm sóc của NB - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa số lần nhập viện với hành vi tự chăm sóc của NB (Trang 62)
Bảng 3.22:Liên quan giữa biểu hiện lâm sàng với hành vi tự chăm sóc của NB - Đánh giá kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim tại bệnh viện vinmec times city năm 2021
Bảng 3.22 Liên quan giữa biểu hiện lâm sàng với hành vi tự chăm sóc của NB (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w