1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021

109 17 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện Bạch Mai năm 2020 – 2021
Tác giả Lê Thị Hương
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Hà An
Trường học Trường Đại Học Thăng Long
Chuyên ngành Chăm sóc điều trị người bệnh tâm thần phân liệt
Thể loại Luận văn thạc sỹ điều dưỡng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (16)
    • 1.1. Bệnh tâm thần phân liệt (16)
      • 1.1.1. Khái niệm (16)
      • 1.1.2. Nguyên nhân (16)
      • 1.1.3. Triệu chứng lâm sàng của bệnh tâm thần phân liệt (18)
      • 1.1.4. Chẩn đoán tâm thần phân liệt (21)
      • 1.1.5. Điều trị bệnh nhân tâm thần phân liệt (21)
    • 1.2. Hoạt động chăm sóc (22)
    • 1.3. Quy trình Điều Dưỡng (22)
      • 1.3.1 Nhận định tình trạng bệnh nhân (22)
      • 1.3.2. Vấn đề cần chăm sóc (23)
      • 1.3.3. Kết quả mong đợi đối với các vấn đề chăm sóc (23)
      • 1.3.4. Lập kế hoạch đối với các vấn đề chăm sóc (24)
      • 1.3.5. Thực hiện kế hoạch đối với các vấn đề chăm sóc (25)
      • 1.3.6. Lượng giá thực hiện kế hoạch chăm sóc (27)
    • 1.4. Tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị (28)
      • 1.4.1. Khái niệm tuân thủ điều trị (28)
      • 1.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị (28)
    • 1.5 Khái niệm về tự chăm sóc (31)
    • 1.6. Các học thuyết điều dưỡng (32)
      • 1.6.1. Học thuyết King (32)
      • 1.6.2. Học thuyết Peplau’s (32)
      • 1.6.3. Học thuyết Henderson (33)
      • 1.6.4. Học thuyết về Orem’s (33)
      • 1.6.5. Học thuyết Newman (33)
      • 1.6.6. Học thuyết Nightingale (33)
    • 1.7. Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài (34)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (35)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn (35)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (39)
    • 2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (40)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (40)
    • 2.4. Cỡ mẫu (40)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (40)
    • 2.6. Biến số nghiên cứu (40)
    • 2.7. Công cụ nghiên cứu (43)
    • 2.8. Kế hoạch nghiên cứu (44)
    • 2.9. Phương pháp thu thập số liệu (44)
    • 2.10. Phân tích và xử lý số liệu (45)
    • 2.11. Đạo đức trong nghiên cứu (45)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (47)
    • 3.1 Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu (47)
    • 3.2 Đặc điểm về bệnh tâm thần phân liệt của bệnh nhân khi mới vào viện (51)
    • 3.3 Các vấn đề điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân (56)
    • 3.4 Kết quả chăm sóc, điều trị (58)
      • 3.4.1 Kết quả chăm sóc, điều trị triệu chứng (58)
      • 3.4.2. Kết quả chăm sóc, điều trị giấc ngủ (58)
      • 3.4.3. Kết quả chăm sóc, điều trị ăn uống (59)
      • 3.4.4. Kết quả chăm sóc, điều trị chung (59)
      • 3.4.5 Đặc điểm thời gian điều trị nội trú (59)
    • 3.5. Một số thang đánh giá trên lâm sàng (60)
      • 3.5.1. Đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân bằng thang điểm SF-36 (60)
    • 3.6 Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc điều trị ở nhóm bệnh nhân trên (61)
      • 3.6.1 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và kết quả chăm sóc điều trị (0)
      • 3.6.2 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và kết quả chăm sóc điều trị (0)
      • 3.6.3 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và kết quả chăm sóc điều trị (0)
      • 3.6.4 Mối liên quan giữa thời gian bị bệnh và kết quả chăm sóc điều trị (0)
      • 3.6.5 Mối liên quan giữa thể bệnh và kết quả chăm sóc điều trị (0)
      • 3.6.6 Mối liên quan giữa giấc ngủ và kết quả chăm sóc điều trị (0)
      • 3.6.7 Mối liên quan giữa ăn uống và kết quả chăm sóc điều trị (0)
      • 3.6.8 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị và kết quả chăm sóc điều trị (0)
      • 3.6.9 Mối liên quan giữa sự hỗ trợ của gia đình kết quả chăm sóc điều trị (0)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (66)
    • 4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (66)
      • 4.1.1 Đặc điểm giới (66)
      • 4.1.2 Đặc điểm tuổi (66)
      • 4.1.3 Đặc điểm nhân khẩu học (67)
    • 4.2 Các đặc điểm triệu chứng bệnh tâm thần phân liệt (68)
      • 4.2.1 Đặc điểm tiền sử bệnh (68)
      • 4.2.2 Đặc điểm về thể bệnh (69)
      • 4.2.3 Đặc điểm thời gian mắc bệnh (69)
      • 4.2.4 Đặc điểm tuân thủ điều trị (70)
      • 4.2.5 Tác dụng phụ trong điều trị hóa dược (71)
      • 4.2.6 Đặc điểm triệu chứng bệnh (72)
      • 4.2.7 Đặc điểm giấc ngủ (72)
      • 4.2.8 Đặc điểm ăn uống (73)
    • 4.3 Sự chăm sóc của điều dưỡng (73)
      • 4.3.1 Điều dưỡng làm tâm lí cho bệnh nhân (73)
      • 4.3.2 Sự chăm sóc của điều dưỡng (74)
    • 4.4 Kết quả chăm sóc điều trị (75)
      • 4.4.1 Kết quả điều trị chung (75)
      • 4.4.2 Kết quả điều trị theo các thang đánh giá (75)
    • 4.5 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc, điều trị (76)
      • 4.5.1 Một số yếu tố nhân khẩu học (76)
      • 4.5.2 Kinh tế gia đình (77)
      • 4.5.3 Thời gian mắc bệnh (77)
      • 4.5.4 Mối liên quan với thể bệnh (0)
      • 4.5.5 Mối liên quan với giấc ngủ (0)
      • 4.5.6 Mối liên quan với dinh dưỡng (0)
      • 4.5.7 Mối liên quan với tuân thủ điều trị (0)
  • KẾT LUẬN (81)
  • PHỤ LỤC (88)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

- Các bệnh nhân được chẩn đoán xác định là bệnh tâm thần phân liệt theo tiêu chuẩn ICD – 10 (1992) của Tổ Chức Y tế Thế giới

F20: Bệnh tâm thần phân liệt

F20.0-F20.3 Các tiêu chuẩn chung đối với bệnh tâm thần phân liệt thể paranoid, thể thanh xuân, thế căng trương lực và thể không biệt định

Trong giai đoạn loạn thần, ít nhất một trong các hội chứng, triệu chứng đã được liệt kê trong mục (1), hoặc ít nhất hai trong số các triệu chứng và dấu hiệu của mục (2), cần xuất hiện liên tục trong phần lớn thời gian của giai đoạn này Thời gian của giai đoạn ít nhất là 1 tháng, có thể xảy ra trong hầu hết các ngày của giai đoạn đó, nhằm đảm bảo tính chẩn đoán chính xác và phù hợp với tiêu chuẩn y học.

(1) Ít nhất một trong các triệu chứng sau phải có mặt:

(a) Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hoặc bị đánh cắp hoặc tư duy bị phát thanh

Các loại hoang tưởng thường liên quan đến cảm giác bị kiểm tra, bị chi phối hoặc bị động, đặc biệt là liên quan đến vận động thể chất, các chi hoặc những ý nghĩ, hành vi và cảm giác đặc biệt Những hoang tưởng này thường thể hiện sự trải nghiệm về sự kiểm soát hoặc bị kiểm soát từ bên ngoài, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm trạng và hành vi của người bệnh Hiểu rõ mối liên hệ giữa hoang tưởng và các triệu chứng vận động, cảm giác giúp chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả các rối loạn tâm thần liên quan.

Ảo thanh lời nói bàn luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hoặc thảo luận với nhau về bệnh nhân, gây ảnh hưởng đáng kể đến tâm lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh Ngoài ra, còn xuất hiện các loại ảo thanh khác xuất phát từ một bộ phận nào đó của cơ thể, làm tăng thêm độ phức tạp của các triệu chứng tâm thần liên quan Hiểu rõ về đặc điểm của các ảo thanh này là yếu tố quan trọng trong quá trình chẩn đoán và điều trị hiệu quả.

Các loại hoang tưởng dai dẳng như khả năng điều khiển thời tiết hoặc tiếp xúc với người ở thế giới khác là những dạng suy nghĩ cố chấp, không phù hợp với tiêu chuẩn văn hóa và không có căn cứ thực tế.

(2) Hoặc ít nhất hai trong các triệu chứng sau:

Ảo giác kéo dài liên tục ít nhất một tháng, xuất hiện hàng ngày và kèm theo hoang tưởng có thể thoáng qua hoặc không rõ ràng, thường không đi kèm với nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc ý tưởng đánh giá quá mức dai dẳng, là triệu chứng đáng chú ý trong chẩn đoán các rối loạn tâm thần.

(b) Từ bịa đặt, tư duy gián đoạn hoặc thêm từ khi nói, đưa đến lời nói không liên quan hoặc không thích hợp;

(c) Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng hay uốn sáp, phủ định, không nói hay sững sờ

Các triệu chứng “âm tính” bao gồm vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các phản ứng cảm xúc cùn mòn hoặc không thích hợp, cần phân biệt rõ ràng đây không phải do trầm cảm hoặc tác dụng của thuốc an thần gây ra.

G2 Các tiêu chuẩn loại trừ hay được sử dụng nhất:

Nếu bệnh nhân đáp ứng các tiêu chuẩn của giai đoạn hứng cảm (F30.-) hoặc giai đoạn trầm cảm (F32.-), thì các tiêu chuẩn trong mục G1(1) và G1(2) phải được xác định rõ trước khi các rối loạn khí sắc này xuất hiện.

Rối loạn này không liên quan đến bệnh não thực tổn (nhóm mã F00-F09), cũng không phải do nhiễm độc rượu hoặc ma túy (F1x.0), nghiện (F1x.2), hoặc trạng thái cai (F1x.3 và F1x.4).

F20.0 Tâm thần phân liệt thể paranoid

A Các tiêu chuẩn chung của bệnh tâm thần phân liệt (F20.0 -F20.3)

B Các hoang tưởng hoặc ảo giác phải chiếm ưu thế (như hoang tưởng bị truy hại, hoang tưởng liên hệ, dòng dõi cao sang, sứ mệnh đặt biệt, cơ thể biến hình, hoặc ghen tuông; các ảo thanh de dọa hoặc ra lệnh, các ảo giác về khứu giác hoặc vị giác, ảo giác về tình dục hoặc các cảm giác cơ thể khác)

C Các triệu chứng: cảm xúc cùn mòn hoặc không thích hợp, các triệu chứng căng trương lực, hoặc lời nói không mạch lạc không được chiếm ưu thế trong bệnh cảnh lâm sàng, mặc dù chúng có thể biểu hiện ở mức độ nhẹ

F20.1 Tâm thần phân liệt thể thanh xuân

A Các tiêu chuẩn chung của bệnh tâm thần phân liệt (F200 F203) phải được đáp ứng

B Một trong hai triệu chứng sau phải có mặt:

(1) Cảm xúc hời hợt hoặc cùn mòn rõ và kéo dài

(2) Cảm xúc không thích hợp hoặc không phù hợp rõ và kéo dài

C Một trong hai triệu chứng sau phải có mặt:

(1) Hành vi không có mục đích và không gắn với mục tiêu được định hướng

(2) Rối loạn tư duy rõ, biểu hiện qua lời nói rời rạc, lộn xộn, hoặc không mạch lạc,

D các hoang tưởng hoặc ảo giác không được chiếm ưu thế trong bệnh cảnh lâm sàng, mặc dù chúng có thể biểu hiện ở mức độ nhẹ

F20.2 Tâm thần phân liệt thế căng trương lực

A Các tiêu chuẩn chung bệnh tâm thần phân liệt (F20.0 - F20.3) phải được đáp ứng, mặc dù lúc đầu điều này có thể khó xác định do bệnh nhân không giao tiếp được

B Trong một giai đoạn ít nhất 2 tuần, một hoặc nhiều hơn các hành vi căng trương lực sau phải nổi trội:

(1) Sững sờ (giảm đáng kể các phản ứng đối với môi trường và giảm các cử động và hoạt động tự phát) hoặc không nổi

(2) Kích động (các hành động không có mục đích, không chịu tác động của các kích thích bên ngoài)

(3) Tư thể bất thường (tự ý chấp nhận và duy trì một tư thể không thích hợp hoặc kỳ quặc)

Phủ định thể hiện sự phản kháng không có lý do rõ ràng đối với các chỉ dẫn hoặc nỗ lực di chuyển bệnh nhân Người bệnh có thể chống đối hoặc cử động ngược lại nhằm phản kháng lại các thao tác điều trị hoặc di chuyển Tình trạng này thường gặp trong quá trình sơ cứu hoặc chăm sóc y tế, ảnh hưởng đến quá trình xử lý và hồi phục của bệnh nhân Hiểu rõ về phản ứng phủ định giúp điều dưỡng và nhân viên y tế có phương pháp xử lý phù hợp, đảm bảo an toàn cho cả bệnh nhân và người thực hiện.

(5) Sự cứng đờ (duy trì một tư thế co cứng chống lại mọi nỗ lực nhằm di chuyển bệnh nhân)

(6) Uốn sáp (duy trì các chi hoặc cơ thể ở những tư thế vị trí bị người ngoài áp đặt)

(7) Vâng lời tự động (tự động làm theo những chỉ dẫn)

F20.3 Tâm thần phân liệt thể không biệt định

A Các tiêu chuẩn chung của bệnh tâm thần phân liệt (F20.0 - F20.3) phải được đáp ứng

Một trong hai nhóm sau phải được áp dụng:

(1) Không dù triệu chứng để đáp ứng các tiêu chuẩn đối với bất kỳ mục nào trong số các mục F20.0, F20.1, F20.2, F20.4, hoặc F20.5;

Có nhiều triệu chứng đa dạng đến mức có thể phù hợp với tiêu chuẩn của nhiều hơn một trong các mục đã liệt kê trong phần trên, cho thấy mức độ phức tạp và đa dạng của tình trạng này.

F20.4 Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt

A Các tiêu chuẩn chung của bệnh tâm thần phân liệt (F20.0-F20.3) phải được đáp ứng trong vòng 12 tháng trước đây, nhưng không được đáp ứng ở thời điểm hiện tại

B Một trong các tình trạng bệnh trong tiêu chuẩn G1(2) a, b, c hoặc d đối với mục F20.0-F20.3 vẫn phải có mặt

C Các triệu chứng trầm cảm phải đủ lâu, đủ trầm trọng, và mở rộng để ít nhất phải đáp ứng các tiêu chuẩn đối với một giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32.0)

F20.5 Tâm thần phân liệt thể di chứng

A Các tiêu chuẩn chung của bệnh tâm thần phân liệt (F20.0 - F20.3), phải được đáp ứng trong một khoảng thời gian nào đó trong quá khứ, nhưng hiện tại không được đáp ứng

B Ít nhất bốn trong số các triệu chứng “âm tính” sau đây đã xuất hiện trong suốt thời gian 12 tháng trước đó:

(1) Chậm chạp tâm thần vận động hoặc giảm hoạt động

(2) Cảm xúc cùn mòn rõ

(3) Bị động và thiếu sáng kiến

(4) Lời nói nghèo nàn về nội dung hoặc số lượng từ

(5) Nghèo nàn trong sự giao tiếp không lời bằng biểu hiện của cá mặt, sự tiếp xúc qua ánh mắt, ngữ điệu giọng nói hoặc điều bỏ

(6) Kém chăm sóc cá nhân và kém hoạt động xã hội

F20.6 Tâm thần phân liệt thể đơn thuần

A Có sự tiến triển chậm nhưng tăng dần, trong khoảng thời gian nhất một năm, của tất cả ba nhóm triệu chứng sau:

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai

Thiết kế nghiên cứu

Mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

Mục tiêu 2 là sử dụng phương pháp mô tả tiến cứu để theo dõi và chăm sóc người bệnh một cách toàn diện Quá trình này bao gồm việc tìm hiểu các yếu tố liên quan tại các thời điểm quan trọng như khi bệnh nhân bắt đầu nhập viện (T0) và trước khi bệnh nhân ra viện (T1) Việc này giúp đánh giá quá trình điều trị, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh nhân, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc và phục vụ người bệnh hiệu quả hơn.

Cỡ mẫu

Nghiên cứu sẽ lấy toàn bộ bệnh nhân tâm thần phân liệt thỏa mãn tiêu chuẩn nghiên cứu Và chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 153 người bệnh.

Phương pháp chọn mẫu

- Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ

Biến số nghiên cứu

Nhóm biến số Biến số Chỉ số - Định nghĩa Phân loại biến

Phương pháp TTSL Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Tuổi Năm hiện tại- năm sinh(năm tuổi) Liên tục Phỏng vấn thông qua bệnh án nghiên cứu

Nơi ở Thành thị hoặc nông thôn Nhị phân

Dân tộc Kinh hoặc dân tộc khác Biến danh mục

Tôn giáo Có hoặc không Nhị phân

Mù chữ, Tiểu học, THCS, THPT, Đại học, Sau ĐH Thứ hạng

Nông dân, công nhân, viên chức, hssv, hưu trí, kinh doanh, tự do, thất nghiệp

Nhóm biến số Biến số Chỉ số - Định nghĩa Phân loại biến

Hoàn cảnh kinh tế Nghèo, trung bình, khá giả Biến danh mục

Giới Nam hoặc Nữ Biến nhị phân

Hỗ trợ nhà nước Có hoặc không Biến nhị phân Tình trang hôn nhân Độc thân, đã lập gia đình, li dị/ li thân, góa

Quá trình mang thai của mẹ

Bình thường hoặc bất thường Danh mục

Có hoặc không Biến nhị phân Phát triển thể chất

Bình thường hoặc bất thường Biến danh mục Phát triển tâm thần

Bình thường hoặc bất thường Biến danh mục Sang chấn thời thơ ấu

Có hoặc không Biến nhị phân Tiền sử bệnh Có hoặc không

Biến nhị phân Tiền sử dùng chất tác động tâm thần

Có hoặc không Biến nhị phân đặc điểm bệnh tâm thần phân

Thời gian diễn biến bệnh

Năm hiện tại – năm khởi phát Biến liên tục

Nhóm biến số Biến số Chỉ số - Định nghĩa Phân loại biến

Phương pháp TTSL liệt Số đợt tái phát

Tổng số lần đợt bệnh không ổn định

Tổng số lần phải nhập viện điều trị nội trú

Không tuân thủ, một phần, hoàn toàn

Biến danh mục Thuốc điều trị

Các thuốc đang dùng để điều trị ngoại trú

Biến danh mục Đáp ứng điều trị

Không đáp ứng, đáp ứng một phần, đáp ứng hoàn toàn

Sinh hoạt hoặc công việc hiện tại Ổn định, không ổn định Biến nhị phân

Tác dụng phụ Liệt kê các tác dụng phụ đã biết của các thuốc điều trị

Biến danh mục Đặc điểm đợt bệnh hiện tại

Các triệu chứng để bệnh nhân phải nhập viện

Biến danh mục Rối loạn cảm giác tri giác

Các loại rối loạn tri giác bệnh nhân có

Biến danh mục Rối loạn tư duy

Các rối loạn tư duy bệnh nhân có

Biến danh mục Rối loạn cảm xúc

Các rối loạn cảm xúc bệnh nhân có

Có hoặc không Biến nhị phân Rối loạn ăn Có hoặc không Biến nhị

Nhóm biến số Biến số Chỉ số - Định nghĩa Phân loại biến

Phương pháp TTSL uống phân

Có hoặc không Biến nhị phân Lạm dụng chất

Có hoặc không Biến nhị phân

Bệnh cơ thể đồng diễn

Có hoặc không Biến nhị phân Sang chấn tâm lý thúc đẩy

Có hoặc không Biến nhị phân Đánh giá kết quả chăm sóc và điều trị chung:

Sau khi điều trị, bệnh nhân đã hoàn toàn bình phục với các triệu chứng lâm sàng chủ yếu thuyên giảm rõ rệt Người bệnh hợp tác tích cực trong quá trình điều trị, biết tự chăm sóc và vệ sinh cá nhân đúng cách, duy trì chế độ ăn ngủ hợp lý Không có dấu hiệu nhiễm khuẩn, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và sự hài lòng từ người bệnh cùng gia đình Bệnh nhân xuất viện sau hai tuần điều trị thành công, đảm bảo quá trình phục hồi tốt và tiếp tục theo dõi tại nhà.

Thuyên giảm là giai đoạn các triệu chứng lâm sàng giảm từ 50% - 70%, nhờ vào việc người bệnh tuân thủ đúng chế độ điều trị Gia đình thường hài lòng với công tác chăm sóc của đội ngũ điều dưỡng trong giai đoạn này Tuy nhiên, người bệnh vẫn còn gặp phải rối loạn hoạt động bản năng, cần tiếp tục theo dõi và hỗ trợ để đạt được sự phục hồi tốt nhất.

- Không thuyên giảm hoàn toàn: Người bệnh còn tác dụng phụ của thuốc, còn phụ thuộc vào chăm sóc, còn rối loạn hoạt động bản năng.

Công cụ nghiên cứu

• Sử dụng bệnh án nghiên cứu được thiết kế riêng cho nghiên cứu

• Tham khảo hồ sơ bệnh án của NB

• Thang đánh giá chất lượng cuộc sống SF-36

SF-36 gồm tám vùng nhỏ được chia tỷ lệ dựa trên tổng trọng số của các câu hỏi trong từng phần Mỗi thang điểm được chuyển đổi trực tiếp thành dạng điểm từ 0 đến 100, giả định rằng tất cả các câu hỏi đều có trọng số bằng nhau Điểm số thấp hơn phản ánh mức độ khuyết tật cao hơn, giúp đánh giá chính xác chất lượng cuộc sống và sức khỏe của người tham gia Các dưới nhóm của SF-36 bao gồm các lĩnh vực quan trọng như chức năng thể chất, sức khỏe tinh thần, và các yếu tố liên quan khác, hỗ trợ chẩn đoán và theo dõi tiến trình điều trị một cách hiệu quả.

• Đau đớn về thể xác

• Nhận thức chung về sức khỏe

• Vai trò vật lý hoạt động

• Vai trò cảm xúc hoạt động

• Vai trò xã hội hoạt động

• Sức khỏe tinh thần Đánh giá kết quả:

Từ 0 − 25: Chất lượng cuộc sống kém

Từ 26 – 50: Chất lượng cuộc sống trung bình kém

Từ 51 – 75: Chất lượng cuộc sống trung bình khá

Từ 76 – 100: Chất lượng cuộc sống khá, tốt.

Kế hoạch nghiên cứu

TT NỘI DUNG THỜI GIAN DỰ KIẾN

1 Thông qua tên đề tài, viết tổng quan và bảo vệ đề cương Tháng 11/ 2020

2 Sửa và hoàn thiện đề cương theo ý kiến hội đồng và nộp về Trường ĐH Thăng Long Tháng 12/2020

3 Thu thập số liệu Từ tháng 12/2020 – 8/2021

4 Nhập và phân tích số liệu, viết kết quả, bàn luận, hoàn thiện đề tài Tháng 9,10/2021

5 Bảo vệ, kết thúc nghiên cứu Tháng 11 /2021

Phương pháp thu thập số liệu

Việc xây dựng và sử dụng mẫu bệnh án chuyên biệt phù hợp với mục tiêu nghiên cứu là rất cần thiết để đảm bảo thu thập dữ liệu chính xác và hiệu quả Dữ liệu tham khảo được lấy từ các hồ sơ bệnh án bệnh nhân chẩn đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt, đã điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 10 năm 2021 Việc này giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu, hỗ trợ phân tích các yếu tố liên quan và cải thiện điều trị cho bệnh nhân tâm thần phân liệt.

- Các bước thu thập số liệu:

Bước 1: Số liệu được tiến hành thu thập qua 2 thời điểm:

• T0 là lúc bệnh nhân vào viện

• T1 là lúc bệnh nhân ra viện

Bước 2: Khi NB mới vào viện (T0): được chẩn đoán xác định Tâm thần phân liệt

• Làm thủ tục với NB và gia đình NB đồng ý tham gia nghiên cứu

• Đánh giá và ghi nhận vào mẫu bệnh án nghiên cứu

• Làm các trắc nghiệm tâm lý cho NB (bằng phỏng vấn)

• Ghi chép vào mẫu bệnh án nghiên cứu

Bước 3: thu thập thông tin ở thời điểm T1

• Đánh giá và ghi nhận vào mẫu bệnh án nghiên cứu

• Làm các trắc nghiệm tâm lý cho NB (bằng phỏng vấn)

• Ghi chép vào mẫu bệnh án nghiên cứu

Bước 4: Nhập và xử lý số liệu

Phân tích và xử lý số liệu

Các số liệu sau khi được thu thập sẽ được kiểm tra, làm sạch, xử lý bằng phần mềm thống kê y học SPSS 20.0

+ Tiến hành phân tích thống kê mô tả, tính các giá trị trung bình, tần suất, phương sai, độ lệch chuẩn

+ Tính tỷ lệ %, tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn

Sử dụng kiểm định “Khi bình phương” (χ²) và kiểm định Fisher để so sánh tỷ lệ phần trăm giữa các nhóm và xác định mối liên hệ giữa chúng Nếu giá trị p > 0,05, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, trong khi nếu p < 0,05, sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê và đủ để kết luận về mối liên hệ giữa các nhóm.

Đạo đức trong nghiên cứu

Tuân thủ 3 nguyên tắc: tự nguyện – lợi ích – bảo mật

Nghiên cứu đã được thông qua đề cương số 20110208/QĐ – ĐHTL ngày 2/11/2020 của Hội đồng khoa học Trường Đại học Thăng Long

Nghiên cứu nhằm phục vụ công tác khoa học và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc bệnh nhân Đây là nghiên cứu mô tả, trong đó nghiên cứu viên đóng vai trò quan sát để đảm bảo tính khách quan của kết quả Việc không tác động vào quá trình điều trị giúp duy trì tính khách quan và độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu.

Bệnh nhân được cung cấp đầy đủ thông tin về mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, đảm bảo quyền tự nguyện tham gia và có thể rút khỏi bất cứ lúc nào Các thông tin cá nhân của bệnh nhân và người thân được bảo mật nghiêm ngặt để đảm bảo quyền riêng tư Tất cả số liệu, thông tin và kết quả điều tra đều được giữ bí mật, chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu nhằm đảm bảo tính bảo mật và độ chính xác của dữ liệu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn với 52,3%, thể hiện đặc điểm giới tính của nhóm đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, sự khác biệt về giới tính không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả tổng thể của nghiên cứu.

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi trong nhóm đối tượng (N3)

Nhóm bệnh nhân nghiên cứu có tuổi trung bình là 32,71 ± 10,82, trong đó trẻ nhất là 15 tuổi và lớn nhất là 64 tuổi Phân tích theo nhóm tuổi, tỷ lệ lớn nhất thuộc nhóm trên 20-25 tuổi với 21,4% Tuy nhiên, phân bố các nhóm tuổi trong nghiên cứu khá đồng đều, với tỷ lệ gần như nhau giữa các nhóm tuổi khác nhau.

Bảng 3.2 Đặc điểm trình độ học vấn (N3)

Số lượng Trình độ học vấn n Tỷ lệ (%)

Trung học phổ thông 52 34 Đại học và sau đại học 55 35,9

Về trình độ học vấn, phần lớn bệnh nhân có trình độ đại học và sau đại học, chiếm tỷ lệ cao nhất là 35,9%, cho thấy trình độ học vấn của nhóm này khá cao Tiếp theo, trình độ THPT đứng thứ hai với tỷ lệ gần tương đương, khoảng 34%, phản ánh rằng nhiều bệnh nhân chỉ hoàn thành trung học phổ thông Trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân học tiểu học và không biết chữ thấp hơn nhiều, lần lượt là 9,8% và 1,3%, cho thấy đa số người bệnh có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên.

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm khu vực sinh sống (N3)

Thành thịNông thônMiền núi

Nhận xét: Đa số các bệnh nhân trong nghiên cứu sống ở nông thôn, chiếm tỷ lệ

50,3%, xếp thứ 2 là khu vực thành thị (45,1%)

Bảng 3.3 Đặc điểm tình trạng hôn nhân

Số lượng Tình trạng hôn nhân n Tỷ lệ (%) Độc thân 78 51 Đã lập gia đình 48 31,3

Nhận xét: Những bệnh nhân độc thân chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong nghiên cứu với

51%, tỷ lệ ly hôn, ly dị cũng khá cao với 17%

Bảng 3.4 Đặc điểm hoàn cảnh sống

Số lượng Hoàn cảnh sống n Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Số bệnh nhân sống cùng bố mẹ chiếm tỷ lệ lớn nhất với 61,4%, số bệnh nhân sống với người quen chiếm tỷ lệ thấp nhất (2%)

Biểu đồ 3.3 Đặc điểm nghề nghiệp (N3)

Trong khảo sát, tỷ lệ bệnh nhân làm nghề tự do, không cố định chiếm khoảng 29,4% Tuy nhiên, phân bổ các nhóm nghề nghiệp của bệnh nhân nghiên cứu cho thấy sự phân bố khá đồng đều, với tỷ lệ gần như nhau giữa các nhóm nghề khác nhau.

Bảng 3.5 Đặc điểm kinh tế của đối tượng nghiên cứu và sự hỗ trợ của nhà nước

Hỗ trợ của nhà nước

Sự hỗ trợ của nhà nước

Kinh tế gia đình của bệnh nhân nghiên cứu chủ yếu ở mức trung bình (60,1%) Phần ít cần hoặc có được sự hỗ trợ của nhà nước về kinh tế (30,7%)

Viên chức Học sinh, sinh viên

Đặc điểm về bệnh tâm thần phân liệt của bệnh nhân khi mới vào viện

Bảng 3.6 Đặc điểm tiền sử bệnh Đặc điểm n

Trong nghiên cứu, tuổi khởi phát trung bình của các bệnh nhân là 25,1±7,4, với khoảng tuổi khởi phát dao động từ 10 đến 60 tuổi Số lần tái phát trung bình là 4,0±2,6, trong đó có bệnh nhân tái phát nhiều nhất tới 15 lần.

Trong nghiên cứu, phần lớn bệnh nhân mắc thể bệnh Paranoid, chiếm tới 90,1%, cho thấy đây là dạng bệnh phổ biến nhất Các thể bệnh khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ và gần như bằng nhau, phản ánh sự đa dạng của các biểu hiện bệnh trong nhóm đối tượng nghiên cứu.

Paranoid Đơn thuần Thanh xuân Trầm cảm sau phân liệt

Bảng 3.7 Đặc điểm thời gian mắc bệnh trong nhóm đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh từ 5 đến 10 năm cao nhất, chiếm 29,4% tổng số bệnh nhân Tiếp theo là nhóm bệnh nhân mắc bệnh trên 10 năm, chiếm 22,9%, thể hiện thời gian mắc bệnh kéo dài ảnh hưởng đáng kể đến tình hình bệnh lý của nhóm này.

Bảng 3.8 Đặc điểm tiền sử tuân thủ điều trị của đối tượng nghiên cứu

Tuân thủ điều trị Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Đa số các bệnh nhân nghiên cứu ở nhà chỉ tuân thủ điều trị một phần, chiếm tỷ lệ 56,2% Số bệnh nhân tuân thủ hoàn toàn chỉ chiếm 31,4%

Bảng 3.9 Đặc điểm tuân thủ tái khám

Tái khám đúng hẹn Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Đa số bệnh nhân tuân thủ tái khám theo hẹn, chiếm tỷ lệ 83,7%

Bảng 3.10: Đặc điểm tuân thủ tái khám

Lý do không tuân thủ điều trị Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Gặp tác dụng không mong muốn 33 31,4

Bệnh nhân cho rằng mình khỏi bệnh 52 49,5

Gia đình cho rằng bệnh nhân khỏi bệnh 42 40

Không đủ điều kiện kinh tế 11 10,5 Điều trị bệnh cơ thể, dừng thuốc 9 8,6

Bệnh nhân không muốn mọi người biết mình phải điều trị

Nhận xét cho thấy lý do phổ biến nhất khiến bệnh nhân không tuân thủ điều trị là do họ và gia đình nghĩ rằng bệnh đã khỏi, chiếm lần lượt 49,5% và 40% Ngoài ra, một phần bệnh nhân ngưng thuốc do điều kiện kinh tế không đủ khả năng chi trả, chiếm tỷ lệ 10,5%.

Bảng 3.11 Đặc điểm thuốc sử dụng điều trị

An thần kinh đơn thuần 36 23,5

An thần kinh+ chỉnh khí sắc 15 9,8

An thần kinh + chống trầm cảm 26 17,0

Tất cả các bệnh nhân đều được sử dụng thuốc an thần kinh trong quá trình điều trị Trong đó, tỷ lệ sử dụng kết hợp an thần kinh và benzodiazepin chiếm đến 48,4%, thể hiện mức độ phổ biến cao trong quản lý triệu chứng Việc sử dụng đồng thời các loại thuốc này đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các tình trạng tâm thần, làm tăng hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

Bảng 3.12 Tác dụng không mong muốn trong quá trình dùng thuốc (n = 151)

Tác dụng không mong muốn Số lượng Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Trong quá trình dùng thuốc, đa số bệnh nhân bị bồn chồn, bất an với tỷ lệ

27,5% Các tác dụng không mong muốn khác gặp phải với tỷ lệ thấp hơn nhiều và gần tương đương nhau

Bảng 3.13 Đặc điểm triệu chứng bệnh Đặc điểm n %

Không rối loạn 47 30,7 Ảo giác 102 66,7 Ảo tưởng 11 7,2

Hoang tưởng 123 80,4 Ám ảnh 26 17,0 Định kiến 19 12,4

Số bệnh nhân mắc ảo giác chiếm tỷ lệ đáng kể, lên tới 66,7%, cho thấy mức độ phổ biến cao của triệu chứng này Tình trạng hoang tưởng là vấn đề tư duy phổ biến nhất, với tỷ lệ lên đến 80,4%, phản ánh mức độ nghiêm trọng của các yếu tố tâm lý liên quan Đa số bệnh nhân cảm thấy lo lắng và căng thẳng, chiếm 69,9%, gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống Ngoài ra, hành vi kích động cũng xuất hiện với tỷ lệ khá cao là 27,5%, đặt ra thách thức trong việc quản lý và điều trị bệnh.

Bảng 3.14 Đặc điểm giấc ngủ Đặc điểm n %

Nhận xét: Đa số bệnh nhân biểu hiện ngủ kém hơn trước (54,9%), xếp thứ 2 là những bệnh nhân mất ngủ hoàn toàn (17%)

Bảng 3.15 Đặc điểm ăn uống Đặc điểm n %

Chán ăn/ Ăn kém 104 68,0 Ăn nhiều 20 13,0

Nhận xét: Trong nghiên cứu, số bệnh nhân chán ăn/ăn kém chiếm tỷ lệ khá cao với

Bảng 3.16 Hỗ trợ từ gia đình Đặc điểm n %

Sự hỗ trợ từ gia đình trong quá trình điều trị

Trong quá trình điều trị bệnh, phần lớn bệnh nhân nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, chiếm tỷ lệ 62,1%, giúp quá trình hồi phục thuận lợi hơn Tuy nhiên, vẫn có một số ít bệnh nhân không nhận được sự hỗ trợ này, với tỷ lệ thấp nhất chỉ khoảng 15,7%, cho thấy vẫn còn khoảng cách trong sự hỗ trợ gia đình đối với việc điều trị bệnh nhân.

Biểu đồ 3.3 cho thấy mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân tại thời điểm nhập viện, trong đó đa số các bệnh nhân có xu hướng tuân thủ tốt hơn Cụ thể, có đến 45,8% bệnh nhân tuân thủ điều trị hoàn toàn, trong khi đó 41,2% bệnh nhân tuân thủ điều trị một phần Điều này cho thấy khả năng tuân thủ điều trị của bệnh nhân cải thiện rõ rệt khi nhập viện, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và kiểm soát bệnh tốt hơn.

Các vấn đề điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân

Bảng 3.17 Điều dưỡng làm tâm lí cho bệnh nhân Đặc điểm n % Điều dưỡng trị liệu tâm lí cho bệnh nhân

Mức độ điều dưỡng tiếp xúc bệnh nhân

Thường xuyên nói chuyện, giải thích động viên

Nhận xét: Đa số các bệnh nhân được điều dưỡng trị liệu tâm lí ≤ 3 lần/ ngày, chiếm

Mức độ điều dưỡng tiếp xúc dưới 4 lần/ngày chiếm tỷ lệ cao nhất (62,1%), cho thấy sự tương tác thường xuyên của điều dưỡng với bệnh nhân Đây là yếu tố quan trọng giúp tăng cường sự gắn kết giữa điều dưỡng và bệnh nhân, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc Ngoài ra, việc điều dưỡng thường xuyên gần gũi, trò chuyện, giải thích và động viên bệnh nhân yên tâm điều trị đạt tỷ lệ cao (82,4%), thể hiện vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường điều trị tích cực và nâng cao tâm lý bệnh nhân.

Không tuân thủ Tuân thủ một phần Tuân thủ tốt

Bảng 3.18 Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân Đặc điểm n %

Cho người bệnh uống thuốc tận dạ dày 149 97,4

Giúp NB tắm, gội, vệ sinh cá nhân,thay quần áo 80 52,3

Hướng dẫn chế độ ăn 135 88,2

Có biển cảnh báo ở những vị trí dễ trơn trượt 152 99,3

Hướng dẫn NB luyện tập thể dục,thể thao 125 81,7

Khuyến khích NB tắm, gội hàng ngày 129 84,3

Trong nghiên cứu, đa số bệnh nhân được điều dưỡng hướng dẫn uống thuốc đúng dạ dày, chiếm 52,3% Hỗ trợ tắm gội, vệ sinh cá nhân và thay quần áo được thực hiện cho 52,3% số bệnh nhân, trong khi 88,2% được hướng dẫn chế độ ăn hợp lý Gần như tất cả các vị trí dễ trơn trượt đều có biển cảnh báo, đạt tỷ lệ 99,3% Điều dưỡng cũng thường xuyên hướng dẫn bệnh nhân tập luyện thể dục thể thao (81,7%) và khuyến khích tắm gội hàng ngày (84,3%) để nâng cao sức khỏe và phòng tránh tai nạn.

Kết quả chăm sóc, điều trị

3.4.1 Kết quả chăm sóc, điều trị triệu chứng

Bảng 3.19 Kết quả chăm sóc, điều trị triệu chứng bệnh (N3) Đặc điểm

Tri giác Ảo giác 102 66,7 3 2,0 Ảo tưởng 11 7,2 0 0

Hoang tưởng 123 80,4 6 3,9 Ám ảnh 26 17,0 0 0 Định kiến 19 12,4 2 1,3

Quá trình điều trị cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong tỷ lệ các triệu chứng rối loạn tri giác, tư duy, cảm xúc và hành vi giữa thời điểm nhập viện và trước khi xuất viện Điều này cho thấy hiệu quả rõ rệt của quá trình điều trị đối với các triệu chứng tâm thần của bệnh nhân Việc theo dõi diễn biến lâm sàng giúp đánh giá chính xác tiến trình hồi phục và điều chỉnh phương pháp điều trị phù hợp Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý chặt chẽ các triệu chứng trong quá trình điều trị tâm thần.

3.4.2 Kết quả chăm sóc, điều trị giấc ngủ

Bảng 3.20 Kết quả chăm sóc, điều trị giấc ngủ Đặc điểm T0 T1 n % n %

Kết quả điều trị cho thấy, trước khi ra viện, bệnh nhân có chất lượng giấc ngủ tốt hơn so với khi mới nhập viện, với nhiều bệnh nhân phản ánh tăng số giờ ngủ trong ngày Sự cải thiện này có ý nghĩa thống kê rõ rệt (p0,05

3.6.5 Mối liên quan giữa thể bệnh và kết quả chăm sóc điều trị

Bảng 3.32 Mối liên quan giữa thể bệnh và kết quả chăm sóc điều trị

Không thuyên giảm hoàn toàn OR

Nhận xét: Bệnh nhân với thể bệnh Paranoid có tỷ lệ thuyên giảm không khác biệt so với các thể bệnh khác (p>0,05)

3.6.6 Mối liên quan giữa giấc ngủ và kết quả chăm sóc điều trị

Bảng 3.33 Mối liên quan giữa giấc ngủ và kết quả chăm sóc điều trị

Không thuyên giảm hoàn toàn OR

Bệnh nhân bị rối loạn giấc ngủ có tỷ lệ thuyên giảm hoàn toàn cao hơn gấp 1,96 lần so với nhóm không gặp rối loạn giấc ngủ Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với giá trị p>0,05, cho thấy sự ảnh hưởng chưa rõ ràng của rối loạn giấc ngủ đến kết quả điều trị.

3.6.7 Mối liên quan giữa ăn uống và kết quả chăm sóc điều trị

Bảng 3 34 Mối liên quan giữa ăn uống và kết quả chăm sóc điều trị

Không thuyên giảm hoàn toàn OR

Bệnh nhân mắc rối loạn ăn uống có tỷ lệ thuyên giảm hoàn toàn là 0,92 lần so với nhóm không gặp rối loạn ăn uống Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p>0,05, cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm về khả năng thuyên giảm hoàn toàn.

3.6.8 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị và kết quả chăm sóc điều trị

Bảng 3.35 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị và kết quả chăm sóc điều trị

Không thuyên giảm hoàn toàn OR

Bệnh nhân tuân thủ điều trị hoàn toàn có tỷ lệ thuyên giảm cao gấp 2,3 lần so với nhóm không tuân thủ hoặc chỉ tuân thủ một phần Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, với p=0,046 và khoảng tin cậy 95% (CI: 1,05-2,72), nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị để nâng cao hiệu quả điều trị.

3.6.9 Mối liên quan giữa sự hỗ trợ của gia đình kết quả chăm sóc điều trị

Bảng 3 36 Mối liên quan giữa sự hỗ trợ của gia đình kết quả chăm sóc điều trị

Không thuyên giảm hoàn toàn OR

Bệnh nhân nhận được sự hỗ trợ của gia đình có tỷ lệ thuyên giảm là 0,38 lần so với nhóm không nhận hỗ trợ hoặc chỉ nhận hỗ trợ một phần Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê với p=0,044 và khoảng tin cậy 95% là 0,14-0,91, cho thấy hỗ trợ gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả điều trị.

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam và nữ bằng nhau, lần lượt là 52,3% và 47,7%, tương đồng với tỷ lệ trong nghiên cứu của Tôn Thất Hưng và cộng sự năm 2011 tại Huế, với tỷ lệ nam là 54,1% và nữ là 45,9% Tuy nhiên, nhóm nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn trong các bệnh nhân nội trú, phù hợp với đặc điểm bệnh lý, khi nghiên cứu cho thấy nam giới và phụ nữ có sự khác biệt về tuổi khởi phát, triệu chứng, mức độ nghiêm trọng và số lần nhập viện điều trị Nam giới thường khởi phát bệnh sớm hơn, có nhiều triệu chứng âm tính hơn, suy giảm chức năng xã hội nhiều hơn và gặp phải các vấn đề liên quan đến sử dụng chất gây nghiện, trong khi phụ nữ thường khởi phát bệnh muộn hơn kèm theo các biểu hiện trầm cảm Những đặc điểm này phần nào giải thích cho kết quả của nghiên cứu của chúng tôi.

Theo kết quả nghiên cứu, nhóm tuổi 20-25 chiếm tỷ lệ cao nhất với 22,9%, trong khi nhóm dưới 40 tuổi chiếm đến 81,4%, phản ánh giai đoạn tuổi trẻ nhiệt huyết, năng động, tích cực tham gia vào các hoạt động tạo ra của cải và tích lũy kinh nghiệm Tuy nhiên, các đợt cấp của bệnh ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, khả năng học tập, làm việc và sức khỏe tinh thần của bệnh nhân, đặc biệt trong độ tuổi kết hôn và sinh con Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp điều trị hiện có như thuốc, liệu pháp tâm lý, điều trị não, chăm sóc điều dưỡng tích cực là cần thiết để giúp bệnh nhân sớm hòa nhập xã hội trở lại Trong đó, công tác điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ bệnh nhân nhanh hồi phục, tuân thủ điều trị và tham gia các hoạt động phục hồi chức năng, giúp bệnh nhân nhanh chóng hòa nhập cộng đồng sau điều trị.

4.1.3 Đặc điểm nhân khẩu học

Khối vực sinh sống của đối tượng nghiên cứu chủ yếu là vùng nông thôn và miền núi, chiếm tỷ lệ 54,9%, phù hợp với số liệu của nghiên cứu của Đoàn Văn Sỹ và cộng sự năm 2021 (57,3%), phản ánh tình hình kinh tế xã hội chung của đất nước khi khu vực nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn Nghề nghiệp phổ biến nhất là lao động tự do như cắt tóc, xe ôm, bán hàng tạp hóa, cùng với tỷ lệ nông dân khá cao; những đặc điểm này cho thấy đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người lao động giản đơn, đồng thời là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hòa nhập sau điều trị Bệnh tật gây ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm việc làm và sức khỏe chung của người bệnh, do đó, cần hướng dẫn các liệu pháp lao động trị liệu tại bệnh viện để giúp bệnh nhân sau khi ra viện có thể trở lại công việc, nâng cao thu nhập và đóng góp cho gia đình, xã hội.

Nhóm nghiên cứu có tỷ lệ cao những người đã học từ trung học cơ sở trở lên, chiếm 89,9%, phù hợp với tỷ lệ học từ trung học cơ sở trở lên năm 2020 tại Việt Nam là 92,8% Trình độ học vấn tốt của nhóm đối tượng nghiên cứu cho thấy là yếu tố dự báo tích cực, vì những người có trình độ học vấn cao thường dễ tiếp nhận kiến thức, thực hiện các liệu pháp tâm lý và hướng dẫn điều dưỡng một cách hiệu quả hơn.

Vấn đề tài chính, kinh tế

Kết quả nghiên cứu cho thấy 87,6% người bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) trong nhóm nghiên cứu tự đánh giá mức thu nhập là nghèo hoặc trung bình, phản ánh ảnh hưởng nặng nề của bệnh tới bệnh nhân và gia đình Theo nghiên cứu của Đoàn Văn Sỹ và cộng sự (2021) tại Trung tâm chăm sóc người bệnh tâm thần Hà Nội, có đến 78,3% bệnh nhân tâm thần phân liệt cần và nhận sự hỗ trợ kinh tế từ nhà nước Việc nâng cao nhận thức về kinh tế gia đình của nhóm đối tượng là rất quan trọng, giúp xây dựng kế hoạch điều trị phù hợp, thúc đẩy quá trình hòa nhập cộng đồng và giảm gánh nặng cho gia đình, xã hội Đồng thời, hướng dẫn bệnh nhân hòa nhập cộng đồng không chỉ giúp giảm gánh nặng xã hội mà còn tạo động lực để bệnh nhân tuân thủ điều trị hiệu quả.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, có đến 68,7% bệnh nhân không có vợ hoặc chồng, tương đồng với kết quả của Đoàn Văn Sỹ và cộng sự (2021) với 75,7% Đồng thời, có 61,4% bệnh nhân hiện đang sống cùng bố mẹ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục sức khỏe cho người thân trong việc chăm sóc và phát hiện các triệu chứng bất thường của bệnh nhân Việc người nhà hiểu rõ bệnh, quan tâm chia sẻ, cùng nhau giảm kỳ thị, hạn chế xa lánh đối tượng bệnh là yếu tố then chốt trong quá trình điều trị Ngoài ra, theo nghiên cứu của Phạm Công Huân (2021), đến 66,6% bệnh nhân tâm thần phân liệt tự sát tại nhà riêng, do đó, việc hướng dẫn, giải thích cho người nhà trong công tác điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường an toàn và hỗ trợ chăm sóc tốt hơn cho bệnh nhân.

Các đặc điểm triệu chứng bệnh tâm thần phân liệt

4.2.1 Đặc điểm tiền sử bệnh

Theo các nghiên cứu của chúng tôi và các tác giả khác, tuổi khởi phát trung bình của bệnh là khoảng 25-26 tuổi, thường tập trung trong độ tuổi 15-35, đặc biệt là cuối tuổi vị thành niên và đầu tuổi trưởng thành Tuổi khởi phát sớm được xem là yếu tố dự báo có tiên lượng xấu, liên quan đến đáp ứng điều trị kém, số lần tái phát cao và tiến triển nặng của các triệu chứng âm tính Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy không có mối liên hệ rõ ràng giữa tuổi khởi phát và kết quả lâm sàng chung, dù có một mối liên quan nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê giữa tuổi khởi phát thấp hơn và số lần nhập viện nhiều hơn, cùng các triệu chứng toàn diện kém hơn Giới tính nam cũng ảnh hưởng đến các kết quả này, khi tỷ lệ nam giới cao hơn trong mẫu nghiên cứu, mối liên hệ giữa tuổi khởi phát sớm và kết quả kém trở nên rõ ràng hơn, cho thấy nam giới khởi phát sớm có thể có tiên lượng lâm sàng kém hơn.

4.2.2 Đặc điểm về thể bệnh

Các bệnh nhân mắc hội chứng tâm thần phân liệt thể paranoid chiếm tỷ lệ cao nhất, lên đến 90,1%, phù hợp với các nghiên cứu trước đó như của Bùi Phương Thảo và Đỗ Xuân Tĩnh năm 2021, trong đó thể paranoid chiếm 87,5% trong số 72 bệnh nhân nội trú Đặc điểm của thể paranoid thường gồm các triệu chứng hoang tưởng, ảo giác, gây rối loạn cảm xúc và hành vi, dễ dẫn đến ý tưởng tự sát hoặc hành động kích động do cảm giác bị hại hoặc đe dọa Trải nghiệm hoang tưởng và ảo giác rất xâm nhập và khó hiểu, khiến bệnh nhân cảm thấy cô đơn, sợ hãi và không thể tin tưởng người khác, gây cản trở trong việc xây dựng các mối quan hệ, duy trì việc làm và sinh hoạt hàng ngày Một trong những thách thức lớn nhất trong điều trị là thiếu nhận thức về tình trạng bệnh, làm giảm khả năng tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời và đúng cách.

Trong quá trình chăm sóc và điều trị bệnh nhân, việc giải thích tận tình và chu đáo là rất quan trọng để giúp bệnh nhân yên tâm và hiểu rõ về tình trạng sức khỏe của mình Sự quan tâm chăm sóc tận tâm không chỉ nâng cao trải nghiệm của bệnh nhân mà còn thúc đẩy họ tuân thủ tốt hơn các hướng dẫn điều trị, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe.

4.2.3 Đặc điểm thời gian mắc bệnh

Trong nhóm nghiên cứu, hơn 52,4% bệnh nhân mắc bệnh trên 5 năm, phù hợp với độ tuổi trung bình là 32,71±10,82, chủ yếu khởi phát từ 18-25 tuổi Thời gian mắc bệnh càng lâu, tiên lượng càng xấu nếu không được chẩn đoán và điều trị đúng cách, gây ảnh hưởng đến kết quả điều trị, số lần nhập viện trung bình là 4,0±2,6, nhiều nhất đến 15 lần, ảnh hưởng đến khả năng làm việc và phục hồi chức năng của bệnh nhân Đặc điểm của bệnh gồm cảm xúc cùn mòn, tư duy nghèo nàn, giảm năng lượng tâm thần, gọi chung là các triệu chứng âm tính, xuất hiện sớm hay muộn tùy từng thể bệnh và là yếu tố quan trọng để dự đoán tiến triển bệnh cũng như trong phương pháp điều trị Các triệu chứng còn bao gồm trầm cảm, loạn thần, rối loạn nhận thức về bệnh tật, ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động hàng ngày Ngoài ra, các yếu tố như rối loạn chuyển hóa, bệnh tim, bệnh phổi và di chứng chức năng cũng ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày của bệnh nhân, mặc dù chưa được nghiên cứu đầy đủ và còn hạn chế trong việc xác định mức độ ảnh hưởng của chúng đối với cuộc sống hàng ngày.

4.2.4 Đặc điểm tuân thủ điều trị

Kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 68,4% đối tượng không tuân thủ điều trị, phù hợp với nghiên cứu của Lý Thị Kim Chi và cộng sự năm 2021, trên 230 bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị ngoại trú, trong đó 39,6% tuân thủ tốt, 20,4% trung bình và 40,0% kém Sự tuân thủ điều trị chủ yếu liên quan đến điều trị hóa dược, và các yếu tố liên quan như yếu tố bệnh tật, đặc điểm cá nhân, yếu tố xã hội học, và thuốc điều trị ảnh hưởng lớn đến mức độ tuân thủ của bệnh nhân Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến không tuân thủ là do người bệnh và người nhà cho rằng bệnh đã khỏi, không tiếp tục điều trị duy trì; ngoài ra, tác dụng phụ của thuốc và khó khăn về kinh tế cũng là những yếu tố gây cản trở việc tuân thủ điều trị.

Tuân thủ điều trị bao gồm việc tuân thủ lịch tái khám đúng hẹn, qua đó giúp phát hiện sớm các đợt bệnh mới và hạn chế tình trạng tự ý bỏ thuốc hoặc giảm liều khi bệnh chưa thuyên giảm Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ tuân thủ tái khám đạt 83,7%, cho thấy tầm quan trọng của việc hướng dẫn bệnh nhân thực hiện đúng hướng dẫn của bác sĩ Bác sĩ điều trị cần nhấn mạnh vai trò của việc theo dõi định kỳ để đảm bảo hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ tái phát bệnh.

4.2.5 Tác dụng phụ trong điều trị hóa dược

Nghiên cứu được thực hiện tại Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia – cơ sở tuyến cuối của chuyên ngành tâm thần – nhằm đánh giá các tác dụng phụ của thuốc trong quá trình điều trị tâm thần Mặc dù có nhiều kinh nghiệm trong sử dụng thuốc và chăm sóc bệnh nhân, vẫn gặp phải các tác dụng không mong muốn như tăng cân, loạn trương lực cơ, rối loạn tiêu hóa, bồn chồn bất an, dị ứng, và hội chứng Parkinson giả, trong đó phổ biến nhất là bồn chồn và bất an với tỷ lệ 27,5% Các hậu quả này ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và đặt ra thách thức cho quá trình điều trị hiệu quả.

Việc sử dụng thuốc chống loạn thần mang lại lợi ích trong việc giảm các triệu chứng loạn thần, nhưng đi đôi với nguy cơ gặp phải các tác dụng phụ nghiêm trọng, thậm chí là rút ngắn tuổi thọ Các loại thuốc chống loạn thần thế hệ thứ hai, như clozapine và olanzapine, thường gây ra nhiều vấn đề liên quan đến hội chứng chuyển hóa, bao gồm béo phì và đái tháo đường type 2 Thuốc chống loạn thần thế hệ thứ nhất, đặc biệt là các thuốc liên kết chặt với thụ thể dopaminergic như haloperidol, dễ gây rối loạn vận động, trong khi các thuốc liên kết yếu hơn như chlorpromazine ít gây ra tác dụng này hơn Tác dụng kháng cholinergic nổi bật nhất ở các thuốc thế hệ thứ nhất liên kết chặt hơn, nhưng vẫn xuất hiện ở các thuốc thế hệ thứ hai như clozapine Tất cả các loại thuốc chống loạn thần đều có khả năng gây ra các tác dụng phụ như tăng cảm giác buồn ngủ, rối loạn chức năng tình dục, hạ huyết áp tư thế, rối loạn nhịp tim và nguy cơ đột tử do tim.

Trong điều trị tâm thần phân liệt hiện nay, liệu pháp hóa dược đóng vai trò quan trọng và phổ biến, đặc biệt hiệu quả trong xử lý các trạng thái loạn thần cấp tính và ngăn ngừa tái phát bệnh mạn tính Các thuốc chống loạn thần thường được sử dụng rộng rãi trong nhiều nhóm bệnh nhân, phù hợp với từng thể bệnh khác nhau Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc có thể gây ra các tác dụng không mong muốn như buồn nôn, nôn, tăng tiết nước bọt và mồ hôi, co cứng, run chân tay, phát ban, xuất huyết dưới da, buồn ngủ, giảm tập trung, đau đầu, chóng mặt và khó giữ thăng bằng Do đó, cần chú ý khám định kỳ để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, đảm bảo xử lý kịp thời trong quá trình điều trị và chăm sóc bệnh nhân.

4.2.6 Đặc điểm triệu chứng bệnh

Dựa trên nghiên cứu, có đến 66,7% bệnh nhân mắc các ảo giác, trong đó 80,4% thể hiện các triệu chứng hoang tưởng và ảo giác ảnh hưởng tiêu cực đến cảm xúc và hành vi của họ Tỉ lệ cảm xúc ổn định chỉ đạt 11,8%, trong khi hành vi không rối loạn chiếm 21,6%, cho thấy sự suy giảm rõ rệt trong khả năng kiểm soát cảm xúc và hành vi ở bệnh nhân Các triệu chứng hoang tưởng, ảo giác, đặc biệt các triệu chứng dương tính, thường là đặc điểm nhận diện của bệnh, nhưng đi kèm với suy giảm nhận thức khiến bệnh nhân gặp khó khăn trong việc đưa ra quyết định đúng đắn Trong các đợt cấp, một số bệnh nhân có thể tấn công người khác do ảo thanh xui khiến và chi phối hoang tưởng, gây ấn tượng không tích cực với cộng đồng Vì vậy, việc chăm sóc và điều trị phù hợp là cực kỳ cần thiết để giúp bệnh nhân đạt được sự ổn định về cảm xúc và hành vi.

Nghiên cứu cho thấy có đến 88,2% bệnh nhân mắc rối loạn giấc ngủ, chủ yếu là ngủ ít hơn so với bình thường Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Đoàn Văn Sỹ năm 2020, ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân tâm thần phân liệt mắc rối loạn giấc ngủ lên đến 94% Điều này cho thấy rối loạn giấc ngủ là vấn đề phổ biến ở bệnh nhân tâm thần phân liệt, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và quá trình điều trị.

Giấc ngủ bị gián đoạn có mối liên hệ chặt chẽ với bệnh tâm thần phân liệt và thường xuất hiện ở các cá nhân trước khi bệnh khởi phát Rối loạn giấc ngủ, đặc biệt là mất ngủ, là triệu chứng phổ biến trong giai đoạn tiền căn và là yếu tố dự đoán khả năng xuất hiện loạn thần Trong số các bệnh nhân tâm thần phân liệt, chất lượng giấc ngủ kém thường được ghi nhận, đặc biệt ở các bệnh nhân mãn tính, khi so sánh với nhóm khỏe mạnh Rối loạn giấc ngủ còn liên quan đến mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, cho thấy chức năng giấc ngủ không tối ưu là một khía cạnh quan trọng của bệnh lý này Những bất thường về giấc ngủ đôi khi đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn giấc ngủ, làm nổi bật mối liên hệ phức tạp, nguy cơ và khả năng quản lý giữa tâm thần phân liệt và rối loạn giấc ngủ, là chủ đề quan trọng cho nghiên cứu lâm sàng và điều trị.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có tới 81% bệnh nhân mắc rối loạn ăn uống, trong khi đó theo nghiên cứu của Đoàn Văn Sỹ và cộng sự năm 2020, tỷ lệ này là 94%, có thể do đặc điểm của nhóm bệnh nhân là bệnh nhân nội trú khác với bệnh nhân tại trung tâm chăm sóc người tâm thần Hà Nội Kết quả này phù hợp với thực tế bởi tỷ lệ rối loạn cảm xúc là 88,2% và rối loạn hành vi là 78,4%, các yếu tố này góp phần làm tình trạng rối loạn ăn uống nặng hơn, do các rối loạn tri giác và tư duy đi kèm Ăn uống là hoạt động bản năng giúp con người tồn tại và phát triển, tuy nhiên, ở bệnh nhân mắc rối loạn tâm thần do nhiều yếu tố tác động như hoang tưởng, ảo giác, sử dụng thuốc an thần kinh hay tác dụng phụ tăng trương lực cơ vùng miệng gây khó nhai, nuốt, đều gây rối loạn ăn uống.

Sự chăm sóc của điều dưỡng

4.3.1 Điều dưỡng làm tâm lí cho bệnh nhân

Trong nghiên cứu tại Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia, vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc bệnh nhân tâm thần rất quan trọng Đa số bệnh nhân nhận được liệu pháp tâm lý từ điều dưỡng ít nhất 3 lần/ngày (63,4%) và tiếp xúc với điều dưỡng dưới 4 lần/ngày (62,1%) để được tư vấn, động viên và giải thích về quá trình điều trị, giúp bệnh nhân yên tâm và tuân thủ điều trị tốt hơn (82,4%) Ở các quốc gia phát triển, vai trò của điều dưỡng được xác định là hỗ trợ phản ứng của bệnh nhân đối với bệnh tật và thúc đẩy thích ứng xã hội trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nơi ảnh hưởng của bệnh có thể thay đổi cuộc sống của bệnh nhân và gia đình Trong khi các bác sĩ chủ yếu tập trung vào nguyên nhân bệnh từ góc độ thần kinh, điều dưỡng lại đóng vai trò thiết yếu trong việc thay đổi chính sách chăm sóc phù hợp, nâng cao nhận thức về tình trạng bệnh, đối phó với sự kỳ thị xã hội, giảm thiểu các tác động tiêu cực như mất việc làm và thiếu thu nhập, đồng thời giúp bệnh nhân cảm thấy được chia sẻ, giảm căng thẳng, tuân thủ điều trị lâu dài, từ đó góp phần giúp bệnh ổn định và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tâm thần.

4.3.2 Sự chăm sóc của điều dưỡng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh nhân được điều dưỡng hỗ trợ uống thuốc tận dạ dày (52,3%) và được hướng dẫn chế độ ăn chiếm tỷ lệ cao nhất (88,2%), giúp nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe cá nhân Gần như tất cả các vị trí dễ trơn trượt đều có biển cảnh báo (99,3%), đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Điều dưỡng thường xuyên hướng dẫn bệnh nhân tập luyện thể dục thể thao (81,7%) và khuyến khích tắm gội hàng ngày (84,3%), góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và tạo thói quen sinh hoạt lành mạnh.

Trong quá trình điều trị nội trú, việc bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc đóng vai trò then chốt để đạt được hiệu quả điều trị thành công, đặc biệt trong các trường hợp mắc bệnh tâm thần phân liệt Khi bệnh nhân không nhận thức được tình trạng bệnh hoặc bị chi phối bởi hoang tưởng, ảo giác, sự thiếu hợp tác trong việc dùng thuốc có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hồi phục Do đó, sự quan tâm sát sao của điều dưỡng và sự theo dõi chặt chẽ của gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo bệnh nhân tuân thủ điều trị, giúp kiểm soát triệu chứng và nâng cao khả năng hồi phục nhanh chóng.

Trong quá trình điều trị, việc hỗ trợ người bệnh vệ sinh cá nhân như tắm gội, thay quần áo và sử dụng các bảng hướng dẫn là vô cùng cần thiết để phòng tránh các bệnh truyền nhiễm và bệnh da liễu Sự hướng dẫn của điều dưỡng về vệ sinh cá nhân và tập thể dục không chỉ giúp người bệnh vượt qua các khó khăn do tác dụng phụ của thuốc gây mệt mỏi, cứng cơ, run tay chân mà còn giúp họ chủ động hơn trong quá trình điều trị tại cộng đồng Điều này giúp người bệnh tự lập trong chăm sóc bản thân, giảm gánh nặng cho xã hội và tăng cường sự tự tin để họ có thể hòa nhập trở lại cộng đồng một cách tích cực.

Kết quả chăm sóc điều trị

4.4.1 Kết quả điều trị chung

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ các triệu chứng rối loạn tri giác, tư duy, cảm xúc, hành vi, giấc ngủ và ăn uống ở thời điểm nhập viện so với trước khi ra viện Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi các triệu chứng này trong quá trình điều trị để cải thiện kết quả phục hồi cho bệnh nhân Điều chỉnh phương pháp điều trị dựa trên sự thay đổi của các triệu chứng có thể giúp nâng cao chất lượng chăm sóc và giảm tỷ lệ tái nhập viện.

Kết quả này cho thấy rằng việc kết hợp đa dạng các phương pháp điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia mang lại những thành tựu khoa học vượt trội Nhờ đó, bệnh nhân nhanh chóng ổn định tâm lý, giảm thời gian nằm viện, và có khả năng xuất viện để tiếp tục hòa nhập vào các hoạt động hàng ngày Phương pháp điều trị toàn diện giúp nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe tâm thần, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.

4.4.2 Kết quả điều trị theo các thang đánh giá

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số bệnh nhân nhập viện có CLCS trung bình kém, chiếm tỷ lệ 41,2%, trong khi nhóm có CLCS trung bình khá chiếm 37,3% Sau quá trình điều trị, mức độ CLCS trung bình khá chiếm tỷ lệ cao nhất (54,2%), tiếp theo là nhóm có CLCS khá, tốt với 22,9%, cho thấy sự cải thiện rõ rệt về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau điều trị (p0,05), nhưng các nghiên cứu khác cho thấy nam giới thường gặp các triệu chứng âm tính nặng hơn Một số nghiên cứu đã phát hiện rằng đàn ông có điểm cao hơn trong các rối loạn tư duy và triệu chứng tiêu cực liên quan đến tâm thần phân liệt Ngược lại, trong một mẫu lớn bệnh nhân mắc rối loạn tâm thần, phụ nữ thường có tỷ lệ triệu chứng trầm cảm cao hơn và tỷ lệ triệu chứng âm tính thấp hơn, đồng thời tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở nữ giới đã được ghi nhận cao hơn trong các nghiên cứu trước đó.

Bệnh nhân có kinh tế gia đình từ trung bình trở lên có tỷ lệ thuyên giảm hoàn toàn cao gấp 2,9 lần so với nhóm có gia đình nghèo, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,025; 95% CI: 1,11-7,46) Kinh tế gia đình thường đi kèm với nhiều yếu tố hỗ trợ như sự giúp đỡ từ gia đình, khả năng tiếp cận các cơ sở y tế tốt hơn và tâm lý yên tâm trong quá trình điều trị Điều kiện kinh tế tốt giúp bệnh nhân yên tâm và tuân thủ điều trị tốt hơn, góp phần cải thiện kết quả điều trị.

Trong nghiên cứu này, không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ thuyên giảm hoàn toàn và không hoàn toàn giữa hai nhóm trên 5 năm và dưới 5 năm Tâm thần phân liệt là một rối loạn không đồng nhất với diễn biến lâu dài và tiên lượng khác nhau giữa các bệnh nhân Mặc dù một số nghiên cứu ghi nhận 27% bệnh nhân đạt thuyên giảm triệu chứng trong vòng 4 tuần và 45% trong vòng 5 năm sau khi bắt đầu điều trị, tỷ lệ kháng trị vẫn chiếm từ 20-30% Ngay cả khi bệnh nhân thuyên giảm lần đầu, tỷ lệ tái phát vẫn rất cao, làm nổi bật tính chất phức tạp của bệnh lý này.

Khoảng 35% bệnh nhân tâm thần phân liệt bị tái phát trong vòng 2 năm, và 74% trong vòng 5 năm sau khi khởi phát Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân khởi phát cấp tính có khả năng điều trị thành công cao hơn so với những bệnh nhân không khởi phát cấp tính, bất kể mức độ nặng nhẹ của các triệu chứng ban đầu Các kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, cho rằng khởi phát cấp tính dự đoán tiên lượng tốt hơn, trong khi khởi phát ngấm ngầm liên quan đến tiên lượng kém hơn Hiện tại, các triệu chứng dương tính ban đầu không được xem là yếu tố dự đoán chính cho tiên lượng bệnh Điều này phản ánh quan điểm phổ biến rằng thuốc chống loạn thần có hiệu quả rõ rệt hơn đối với các triệu chứng tích cực trong đợt đầu của bệnh và/hoặc ở các giai đoạn sau Do đó, thời gian khởi phát bệnh không đóng vai trò quan trọng trong dự đoán tiên lượng dựa trên triệu chứng ban đầu hay triệu chứng hiện tại.

4.5.4 Mối liên quan với thể bệnh

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về khả năng hồi phục giữa các thể bệnh tâm thần phân liệt Hiện nay, các thể bệnh lâm sàng của bệnh được đặc trưng bởi sự khác nhau trong các triệu chứng nổi bật của từng đợt bệnh, nhưng cơ chế sinh bệnh của bệnh đã được làm rõ phần nào, cho thấy dù các triệu chứng có khác nhau, nhưng chung quy vẫn liên quan đến biến đổi các chất sinh hóa trong não Tâm thần phân liệt là một rối loạn tâm thần phức tạp, mãn tính, với triệu chứng tiêu biểu bao gồm hoang tưởng, ảo giác, lời nói hoặc hành vi vô tổ chức, cùng với suy giảm khả năng nhận thức như chú ý, trí nhớ làm việc hoặc chức năng điều hành Khuyết tật thường xuất phát từ cả các triệu chứng tiêu cực và nhận thức, trong đó các triệu chứng tiêu cực làm mất khả năng hoặc thâm hụt, còn các triệu chứng nhận thức gây suy giảm khả năng chú ý và trí nhớ Tái phát bệnh có thể xảy ra do các triệu chứng tích cực như hoang tưởng, nghi ngờ, ảo giác Tính không đồng nhất của bệnh khiến cho việc xác định tiêu chuẩn chẩn đoán, căn nguyên và sinh lý bệnh trở nên phức tạp Tuy nhiên, mặc dù có sự khác biệt giữa các thể bệnh, mức độ phục hồi thường không quá chênh lệch.

4.5.5 Mối liên quan với giấc ngủ

Bệnh nhân mắc rối loạn giấc ngủ có tỷ lệ thuyên giảm hoàn toàn cao hơn gấp 1,96 lần so với nhóm không gặp rối loạn giấc ngủ Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p>0,05, cho thấy không có sự khác biệt rõ ràng giữa hai nhóm trong nghiên cứu của chúng ta.

Khó khăn trong duy trì hoặc bắt đầu giấc ngủ thường xuyên gặp phải ở bệnh nhân tâm thần phân liệt, với tỷ lệ rối loạn giấc ngủ dao động từ 30-80% tùy vào mức độ triệu chứng loạn thần Rối loạn giấc ngủ đi kèm với các triệu chứng loạn thần rõ ràng hơn, nhưng những triệu chứng này thường dễ nhận biết, giúp bệnh nhân đến khám và điều trị sớm hơn, từ đó cải thiện kết quả điều trị Để nâng cao độ chính xác trong nghiên cứu, cần thực hiện các khảo sát với quy mô lớn hơn và sử dụng các phương tiện đánh giá giấc ngủ khách quan.

4.5.6 Mối liên quan với dinh dưỡng

Bệnh nhân mắc rối loạn ăn uống có tỷ lệ thuyên giảm hoàn toàn thấp hơn so với nhóm không mắc rối loạn ăn uống, với tỷ lệ gấp 0,92 lần Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê khi p>0,05 Điều đó cho thấy rằng, mặc dù có sự khác biệt giữa hai nhóm, nhưng chưa đủ để kết luận rối loạn ăn uống ảnh hưởng rõ ràng đến tỷ lệ thuyên giảm hoàn toàn Các kết quả này cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà nghiên cứu và bác sĩ trong việc đánh giá hiệu quả điều trị cho bệnh nhân mắc rối loạn ăn uống.

Gần đây, nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của dinh dưỡng trong bệnh tâm thần phân liệt, ảnh hưởng đến sự phát triển và quản lý bệnh Lĩnh vực tâm thần dinh dưỡng đang phát triển nhanh chóng, hỗ trợ việc xem xét các thay đổi chế độ ăn uống hoặc bổ sung dinh dưỡng trong phòng ngừa và điều trị các rối loạn tâm thần Các báo cáo cho thấy chế độ ăn uống lành mạnh, giàu rau, ngũ cốc, trái cây, quả hạch và cá có mối liên hệ nghịch với nguy cơ phát triển các rối loạn sức khỏe tâm thần Các chiến lược và can thiệp chế độ ăn uống đang được nghiên cứu để cải thiện sức khỏe tâm thần, hoạt động qua các con đường sinh học như stress oxy hóa, viêm nhiễm và hình thành thần kinh Ngoài ra, dinh dưỡng còn ảnh hưởng trực tiếp đến các yếu tố nguy cơ sức khỏe tâm thần như hệ vi sinh vật đường ruột, hormone nội sinh tiêu hóa, chất dẫn truyền thần kinh và neuropeptide Điều này phần nào giải thích vì sao những bệnh nhân không mắc rối loạn ăn uống có tỷ lệ thuyên giảm cao hơn so với nhóm có rối loạn ăn uống.

4.5.7 Mối liên quan với tuân thủ điều trị

Bệnh nhân tuân thủ điều trị hoàn toàn có tỷ lệ thuyên giảm cao gấp 2,3 lần so với nhóm không tuân thủ hoặc chỉ tuân thủ một phần, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,046) Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc áp dụng các liệu pháp nhận thức và tâm lý nhằm nâng cao mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân để đạt hiệu quả tốt nhất.

Các yếu tố nguy cơ không tuân thủ điều trị bao gồm: lịch sử không tuân thủ trước đó, hiểu biết kém, thái độ tiêu cực hoặc phản ứng tiêu cực với điều trị, phụ thuộc vào thuốc trong quá khứ hoặc hiện tại, mối quan hệ kém với bác sĩ điều trị, thời gian mắc bệnh ngắn, xuất viện không có kế hoạch hoặc thiếu môi trường theo dõi phù hợp, lo lắng về tác dụng phụ cụ thể hoặc sợ chung các tác dụng phụ, hiệu quả điều trị không phù hợp với các triệu chứng kéo dài, và niềm tin rằng không cần dùng thuốc nữa Các yếu tố nguy cơ này thường được phân loại thành yếu tố liên quan đến bệnh nhân, môi trường, bác sĩ và phương pháp điều trị, do đó, nâng cao hiệu quả điều trị cần tập trung loại trừ các yếu tố nguy cơ gây không tuân thủ.

Ngày đăng: 16/08/2023, 13:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Eaton W.W và Chen C (2006). Epidemiology. Textbook of Schizophrenia. American Psychiatric Publishing, Arlington, 17–37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Psychiatric Publishing, Arlington
Tác giả: Eaton W.W và Chen C
Năm: 2006
3. Nguyễn Kim Việt (2016). Bệnh tâm thần phân liệt. Giáo trình bệnh học tâm thần. Nhà xuất bản y học, 74–79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản y học
Tác giả: Nguyễn Kim Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản y học"
Năm: 2016
5. Lindenmayer J.P (2010). The Pathophysiology of Agitation. J Clin Psychiatry, (61), 5–10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Clin Psychiatry
Tác giả: Lindenmayer J.P
Năm: 2010
6. Millan M.J., Andrieux A., Bartzokis G. và cộng sự. (2016). Altering the course of schizophrenia: progress and perspectives. Nat Rev Drug Discov, 15(7), 485–515 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nat Rev Drug Discov
Tác giả: Millan M.J., Andrieux A., Bartzokis G. và cộng sự
Năm: 2016
7. Sadock B.J, Sadock V.A, và Ruiz P (2015). Schizophrenia Spectrum and Other Psychotic Disorders. Kaplan and Sadock’s Synopsis of Psychiatry. Wolters Kluwer, 11th ed, 300–346 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wolters Kluwer
Tác giả: Sadock B.J, Sadock V.A, và Ruiz P
Năm: 2015
8. Stahl S.H (2014). Deconstructing violence as a medical syndrome: mapping psychotic, impulsive, and predatory subtypes to malfunctioning brain circuits. CNS Spectrums, 19, 357–365 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNS Spectrums
Tác giả: Stahl S.H
Năm: 2014
9. Nguyễn Việt (1984). Rối loạn tư duy. Tâm thần học. Nhà xuất bản Y học, 34–44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản Y học
Tác giả: Nguyễn Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học"
Năm: 1984
10. Del Bene V.A, Foxe J.J, và Ross L.A (2016). Neuroanatomical Abnormalities in Violent Individuals with and without a Diagnosis of Schizophrenia. Plos One, 11, 68–100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plos One
Tác giả: Del Bene V.A, Foxe J.J, và Ross L.A
Năm: 2016
11. Volavka J (2002). Neurobiology of Violence, 2nd ed, American Psychiatric Publishing,. Washington DC, 36–37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Washington DC
Tác giả: Volavka J
Năm: 2002
12. Wang Y, Fang Y, và Shen Y (2010). Analysis of association between the catechol- O-methyltransferase (COMT) gene and negative symptoms in chronic schizophrenia. Psychiatry Res, 179, 147–150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychiatry Res
Tác giả: Wang Y, Fang Y, và Shen Y
Năm: 2010
13. Perkins D.O, Andersen L.M, và Lieberman J.A (2006). Natural History and Predictors of Clinical Course. Textbook of Schizophrenia, 290–301 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Textbook of Schizophrenia
Tác giả: Perkins D.O, Andersen L.M, và Lieberman J.A
Năm: 2006
14. Bleuler (1985). A 23 year longitudinal study of 208 schizophrenia, the transmission of schizophrenia, Pergamon press. Oxford, 3–12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxford
Tác giả: Bleuler
Năm: 1985
15. Veerman S.R.T, Schulte P.F.J, và de Haan L (2017). Treatment for Negative Symptoms in Schizophrenia: A Comprehensive Review. Drugs, 77, 1423–1459 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drugs
Tác giả: Veerman S.R.T, Schulte P.F.J, và de Haan L
Năm: 2017
16. Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Viết Thiêm, và Lã Thị Bưởi (2005). Đặc điểm ảo giác trong bệnh tâm thần phân liệt. Tạp chí Y học thực hành, 3, 75–77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Viết Thiêm, và Lã Thị Bưởi
Năm: 2005
17. Fervaha G, Foussias G, và Agid O (2015). Motivational deficits in early schizophrenia: prevalent, persistent, and key determinants of functional outcome.Schizophr Res166, 9–16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Schizophr Res166
Tác giả: Fervaha G, Foussias G, và Agid O
Năm: 2015
18. Kecbicôp O.V, Cockina M.V, và Natgiarôp R.A (1980). Bệnh tâm thần phân liệt. Tâm thần học, dịch từ tiếng Nga, người dịch: Phạm Văn Đoàn, Nguyễn Văn Siêm.Matxcơva, 242–248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Matxcơva
Tác giả: Kecbicôp O.V, Cockina M.V, và Natgiarôp R.A
Năm: 1980
19. World Health Organization (1992). Schizophrenia. The ICD-10 Classification of Mental and Behavioural Disorders - Clinical Descriptions and Diagnostic Guidelines. Geneva, 76–78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Geneva
Tác giả: World Health Organization
Năm: 1992
20. Lehman A, Lieberman J.A, và Dixon L.B Practice Guideline for the Treatment of Patients with Schizophrenia, 2nd ed. Washington DC, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Washington DC
23. 4 Vos T., Barber R.M., Bell B., et al. (2015). Global, regional, and national incidence, prevalence, and years lived with disability for 301 acute and chronic diseases and injuries in 188 countries, 1990–2013: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2013. The Lancet, 386(9995), 743–800 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global, regional, and national incidence, prevalence, and years lived with disability for 301 acute and chronic diseases and injuries in 188 countries, 1990–2013: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2013
Tác giả: Vos T., Barber R.M., Bell B., et al
Nhà XB: The Lancet
Năm: 2015
27. John W.Stanifer, Elizabeth L.Turner and et al,…(2016).Knowledge, Attitudes and Practices Associated with Chronic Disease in Northern Tanzania A Community – Based study Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge, Attitudes and Practices Associated with Chronic Disease in Northern Tanzania A Community – Based study
Tác giả: John W. Stanifer, Elizabeth L. Turner
Năm: 2016

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi trong nhóm đối tượng (N=153) - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi trong nhóm đối tượng (N=153) (Trang 47)
Bảng 3.4. Đặc điểm hoàn cảnh sống - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.4. Đặc điểm hoàn cảnh sống (Trang 49)
Bảng 3.3. Đặc điểm tình trạng hôn nhân - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.3. Đặc điểm tình trạng hôn nhân (Trang 49)
Bảng 3.5. Đặc điểm kinh tế của đối tượng nghiên cứu và sự hỗ trợ của nhà nước - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.5. Đặc điểm kinh tế của đối tượng nghiên cứu và sự hỗ trợ của nhà nước (Trang 50)
Bảng 3.13. Đặc điểm triệu chứng bệnh - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.13. Đặc điểm triệu chứng bệnh (Trang 54)
Bảng 3.16. Hỗ trợ từ gia đình - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.16. Hỗ trợ từ gia đình (Trang 55)
Bảng 3.15. Đặc điểm ăn uống - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.15. Đặc điểm ăn uống (Trang 55)
Bảng 3.18. Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.18. Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân (Trang 57)
Bảng 3.19. Kết quả chăm sóc, điều trị triệu chứng bệnh (N=153) - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.19. Kết quả chăm sóc, điều trị triệu chứng bệnh (N=153) (Trang 58)
Bảng 3.21. Kết quả chăm sóc, điều trị ăn uống - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.21. Kết quả chăm sóc, điều trị ăn uống (Trang 59)
Bảng 3.30. Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và kết quả chăm sóc điều trị - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.30. Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và kết quả chăm sóc điều trị (Trang 62)
Bảng 3.29. Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và kết quả chăm sóc điều trị - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.29. Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và kết quả chăm sóc điều trị (Trang 62)
Bảng 3.31. Mối liên quan giữa thời gian bị bệnh và kết quả chăm sóc điều trị - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3.31. Mối liên quan giữa thời gian bị bệnh và kết quả chăm sóc điều trị (Trang 63)
Bảng 3. 34. Mối liên quan giữa ăn uống và kết quả chăm sóc điều trị - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3. 34. Mối liên quan giữa ăn uống và kết quả chăm sóc điều trị (Trang 64)
Bảng 3. 36. Mối liên quan giữa sự hỗ trợ của gia đình kết quả chăm sóc điều trị - Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt và một số yếu tố liên quan tại viện sức khỏe tâm thần – bệnh viện bạch mai năm 2020 – 2021
Bảng 3. 36. Mối liên quan giữa sự hỗ trợ của gia đình kết quả chăm sóc điều trị (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm