1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021

111 7 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai năm 2020 2021
Tác giả Nguyễn Phương Ngân
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Bạch Mai
Trường học Trường Đại học Thăng Long
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1. Một số khái niệm trong nghiên cứu (15)
      • 1.1.1. Khái niệm về ngộ độc do rắn cắn (15)
    • 1.2. Triệu chứng người bệnh bị rắn độc cắn (16)
      • 1.2.1. Triệu chứng lâm sàng (16)
      • 1.2.2. Triệu chứng cận lâm sàng (18)
    • 1.3. Chẩn đoán (19)
      • 1.3.1. Chẩn đoán xác định (19)
      • 1.3.2. Chẩn đoán phân biệt (20)
    • 1.4. Điều trị rắn cắn (21)
      • 1.4.1. Huyết thanh kháng nọc rắn (21)
      • 1.4.2. Điều trị triệu chứng (22)
    • 1.5. Các học thuyết điều dưỡng (23)
    • 1.6. Chăm sóc dinh dưỡng người bệnh ngộ độc (24)
      • 1.6.1. Đường nuôi dưỡng (25)
      • 1.6.2. Hậu quả của suy dinh dưỡng (28)
      • 1.6.3. Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng (28)
    • 1.7. Chăm sóc người bệnh ngộ độc do rắn cắn (31)
    • 1.8. Một số nghiên cứu ngộ độc do rắn cắn ở Việt Nam và trên Thế giới (0)
      • 1.8.1. Trên thế giới (34)
      • 1.8.2. Tại Việt Nam (35)
    • 1.9. Vài nét về Trung tâm chống độc – Bệnh viện Bạch Mai (36)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (37)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (37)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (37)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (37)
      • 2.3.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu (38)
    • 2.4. Tiến hành nghiên cứu: trong vòng 48h sau khi nhập viện (38)
      • 2.4.1. Nhân trắc (38)
      • 2.4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng (39)
      • 2.4.3. Đánh giá sàng lọc dinh dưỡng SGA: theo phụ lục 1 (39)
      • 2.4.4. Đánh giá sàng lọc dinh dưỡng BBT: theo phụ lục 2 (39)
      • 2.4.5. Đánh giá nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày và/hoặc tĩnh mạch: bằng khẩu phần ăn hàng ngày theo bệnh án và thực tế (39)
    • 2.5. Các biến số nghiên cứu và các tiêu chí đánh giá (40)
    • 2.6. Phương pháp phân tích số liệu (45)
    • 2.7. Sai số và cách khống chế (46)
    • 2.8. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (46)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (48)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (48)
    • 3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh bị rắn độc cắn (53)
      • 3.2.1. Đặc điểm lâm sàng (53)
      • 3.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng của người bệnh bị rắn độc cắn (58)
    • 3.3. Mô tả thực trạng nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn (60)
      • 3.3.1. Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh rắn cắn khi vào viện (60)
      • 3.3.2. Thực trạng dinh dưỡng của người bệnh rắn cắn ăn đường miệng (61)
      • 3.3.3. Thực trạng nuôi dưỡng NB rắn cắn ăn qua ống sonde dạ dày (63)
    • 3.4. Phân tích kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng (66)
      • 3.4.1. Chăm sóc người bệnh rắn cắn không thở máy (66)
      • 3.4.2. Chăm sóc người bệnh bị rắn độc cắn thở máy (68)
      • 3.4.3. Kết quả chăm sóc điều dưỡng và một số yếu tố liên quan (69)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (71)
    • 4.1. Đặc điểm chung của người bệnh trong nghiên cứu (71)
      • 4.1.1. Phân loại bệnh nhân theo nhóm tuổi (71)
      • 4.1.3. Về loại rắn (71)
      • 4.1.4. Xử trí trước khi đến viện (72)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng của người bệnh bị rắn cắn khi vào viện (72)
      • 4.2.1. Thời gian nhập viện sau khi bị rắn độc cắn (72)
      • 4.2.2. Vị trí bị rắn độc cắn (73)
      • 4.2.3. Dấu hiệu sinh tồn khi vào viện (73)
      • 4.2.4. Nhóm triệu chứng yếu, liệt cơ khi vào viện (74)
      • 4.2.5. Tình trạng xuất huyết khi vào viện (75)
      • 4.2.6. Đặc điểm tại chỗ (75)
    • 4.3. Đặc điểm cận lâm sàng (77)
      • 4.3.1. Điều trị đặc hiệu (79)
    • 4.4. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và nuôi dưỡng người bệnh (80)
      • 4.4.1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh (80)
      • 4.4.2. Chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh (80)
    • 4.5. Phân tích kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn (85)
      • 4.5.1. Kết quả chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh ngộ độc do rắn cắn (85)
      • 4.5.2. Kết quả chăm sóc điều dưỡng và kết quả khi ra viện (87)
      • 4.5.3. Một số yếu tố liên quan tới kết quả chăm sóc điều dưỡng (88)
  • KẾT LUẬN (89)
  • PHỤ LỤC (109)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Gồm tất cả bệnh nhân nhập viện do rắn độc cắn vào Trung tâm Chống độc – Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2021 – tháng 11/2021 đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn

Bệnh nhân bị rắn cắn được điều trị tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2021 đến tháng 11/2021 Để đạt được tiêu chuẩn chẩn đoán, cần xác định được loại rắn cắn thông qua các phương pháp như xác định bằng phương pháp lâm sàng hoặc xét nghiệm phù hợp Việc xác định chính xác loại rắn giúp đảm bảo quản lý và điều trị độc tố hiệu quả, nâng cao tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai đã triển khai nhiều phương pháp chuẩn xác để đảm bảo chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời các trường hợp rắn cắn.

+ Mang rắn đến và được chuyên gia (bác sĩ Trung tâm Chống độc xác định được loại rắn)

+ Bệnh nhân hoặc người nhà bị rắn cắn mô tả đúng sau đó nhận định được mẫu rắn

- Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên

- Bệnh nhân bị rắn thường cắn.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 1/2021 – 11/2021 Địa điểm: Trung tâm Chống độc – Bệnh viện Bạch Mai.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu

2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

❖ Cỡ mẫu được tính dựa trên công thức ước lượng cho 1 tỷ lệ: n = 𝑍 (1− 𝛼

+ α là mức ý nghĩa thống kê (trong nghiên cứu này lấy α=0,05)

2 tương ứng với mức ý nghĩa thống kê mong muốn, Z=1,96 (tương đương α=0,05)

Tỷ lệ ước tính về chăm sóc bệnh nhân bị rắn độc cắn đạt 89%, dựa trên nghiên cứu của Dương Thị Lương Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng tỷ lệ này để đánh giá hiệu quả chăm sóc y tế đối với người bệnh rắn độc cắn Tỷ lệ chăm sóc tốt là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả điều trị và giảm thiểu biến chứng liên quan đến độc tố rắn cắn Sử dụng tỷ lệ 89% giúp cung cấp dữ liệu chính xác hơn về mức độ chăm sóc y tế và khả năng kiểm soát tình trạng bệnh nhân trong cộng đồng.

+ d là sai số tuyệt đối Trong nghiên cứu này chúng tôi lấy d = 0,06

- Thay vào công thức, ta có cỡ mẫu tối thiểu n = 105

- Để tránh trường hợp mẫu không đạt yêu cầu, chúng tôi thực hiện lựa chọn 151 người bệnh tham gia nghiên cứu

Cách chọn mẫu: Mẫu sẽ được chọn thuận tiện cho đến khi đủ cỡ mẫu.

Tiến hành nghiên cứu: trong vòng 48h sau khi nhập viện

Các bệnh nhân bị rắn độc cắn được đánh giá các thông số theo bệnh án nghiên cứu Các thông số chính là:

Cân nặng (khi vào viện, định kỳ 3 ngày/lần và khi ra viện): Sử dụng cân nằm

Để đo chiều cao bệnh nhân, sử dụng thước chuyên dụng khi bệnh nhân không thể đứng dậy, đảm bảo bệnh nhân nằm thẳng đầu bằng trên giường Chỉnh thước song song với cơ thể, đặt điểm 0 cm ở gan chân và đọc số đo ngang mức đỉnh đầu, sau đó trừ đi 0,7-1cm để có kết quả chính xác Để cân trọng lượng, đặt tấm bạt của bộ cân đúng vị trí, đảm bảo bệnh nhân nằm vững giữa tấm bạt và móc 4 móc vào đúng vị trí, sau đó bơm thủy lực nâng tấm bạt lên mặt giường mà không vướng vào vật gì Bấm nút “ON” trên cân để lấy số cân chính xác, rồi hạ thấp tấm bạt, tháo móc, lấy lại tấm bạt rồi chỉnh giường về vị trí cũ Trong trường hợp bệnh nhân có thể đứng vững, thực hiện đo trọng lượng bằng cân di động của khoa để đảm bảo kết quả chính xác.

2.4.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

Các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng được thu thập theo mẫu phụ lục 3 tại thời điểm nhập viện và hàng ngày nếu có dấu hiệu rối loạn Các xét nghiệm công thức máu và sinh hóa máu đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình trạng bệnh nhân Việc theo dõi các chỉ số này giúp chẩn đoán chính xác và theo dõi diễn biến bệnh hiệu quả Đồng thời, các kết quả xét nghiệm giúp cung cấp thông tin cần thiết để lập kế hoạch điều trị phù hợp, nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe.

- Công thức máu, đông máu cơ bản, điện giải đồ, cpk, bilirubin TP, bilirubin

- Protein toàn phần, albumin, prealbumin, vào viện, 5 ngày/lần (đối với bệnh nhân nuôi dưỡng bằng sonde và tĩnh mạch)

Các xét nghiệm được làm tại khoa Sinh hóa và khoa xét nghiệm Huyết học bệnh viện Bạch Mai

2.4.3 Đánh giá sàng lọc dinh dưỡng SGA: theo phụ lục 1

2.4.4 Đánh giá sàng lọc dinh dưỡng BBT: theo phụ lục 2

2.4.5 Đánh giá nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày và/hoặc tĩnh mạch: bằng khẩu phần ăn hàng ngày theo bệnh án và thực tế

- Lượng Kcalo/ngày và lượng Kcalo/ ngày ước tính

- Số bữa nhịn ăn / ngày

- Thời gian bắt đầu nuôi ăn kể từ lúc nhập viện

- Thời gian nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày và/hoặc tĩnh mạch.

Các biến số nghiên cứu và các tiêu chí đánh giá

Bảng 2.1 Các chỉ số nghiên cứu chính

STT Biến số Chỉ số/Định nghĩa PP thu thập

I Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Tuổi tính theo dương lịch

Giới tính Nam, Nữ Bệnh án Địa dư

Nơi sinh ra và lớn lên

Nghề nghiệp Nghề nghiệp hiện tại của bệnh nhân Bệnh án

II Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, thực trạng nuôi dưỡng người bệnh

Loại rắn cắn khiến bệnh nhân nhập viện:

Họ rắn hổ: - Rắn hổ mang

- Rắn cạp nong, cạp nia

Vị trí rắn cắn Vị trí bệnh nhân bị rắn cắn:

Khoảng thời gian khi bị cắn → vào

Khoảng thời gian NB bị rắn cắn đến khi vào

Trung tâm Chống độc Phỏng vấn, bệnh án

Bệnh nhân được sơ cứu trước khi vào trung tâm: có, không Nếu có, cụ thể bằng biện pháp gì?

- Không được xử trí gì

STT Biến số Chỉ số/Định nghĩa PP thu thập

Triệu chứng lâm sàng tại thời điểm nhập viện và sau 3 ngày nằm viện

Tại thời điểm nhập viện bệnh nhân có biểu hiện các triệu chứng như:

- Sưng nề, hoại tử tại chỗ

Glasgow Glasgow tại thời điểm nhập viện, theo dõi hàng ngày Bệnh án

Mạch Mạch tại thời điểm nhập viện, theo dõi hàng ngày Bệnh án

Huyết áp Huyết áp tại thời điểm nhập viện, theo dõi hàng ngày Bệnh án

Nhiệt độ Nhiệt độ tại thời điểm nhập viện, theo dõi hàng ngày Bệnh án

Chỉ số: Đông máu cơ bản, Công thức máu tại thời điểm nhập viện và hàng ngày khi có rối loạn

Chỉ số điện giải đồ, Ure, Glucose, Creatinin, CPK, GOT, GPT… tại thời điểm nhập viện và hàng ngày khi có rối loạn

< 35 g/l Suy dinh dưỡng Bệnh án

< 65 g/l Suy dinh dưỡng Bệnh án

< 20 g/l Suy dinh dưỡng Bệnh án

< 120 g/l Suy dinh dưỡng Bệnh án BMI

BMI = 16000 UI/L có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng như rối loạn điện giải và toan chuyển hóa Các trường hợp tăng CK cao ≥ 16000 UI/L thường liên quan đến các envenomation nhớ rắn độc như rắn cạp nia, rắn hổ chúa, rắn hổ thường, rắn lục xanh, rắn lục núi và rắn khô mộc Nghiên cứu của Đỗ Thị Băng cho thấy, có tới 30,1% bệnh nhân tăng CK trong khoảng 6000 – 16000 UI/L, cho thấy mức độ phổ biến của tình trạng này trong các ca rắn cắn.

16000 U/L; có 5 trường hợp tăng > 16000 U/L, đều do rắn hổ mang cắn [2]

Trong nghiên cứu của Bùi Thị Việt Nga, có 61,3% bệnh nhân (100/163 BN) có hoạt độ CK trong huyết tương tăng ≥ 200 UI/l, phản ánh mối liên hệ giữa mức độ tăng enzym và tình trạng bệnh Ngoài ra, có 8 bệnh nhân có hoạt độ CK rất cao > 10.000 UI/l, trong đó 5 trường hợp do rắn hổ mang thường, còn lại là do rắn cạp nia, rắn lục và rắn hổ chúa cắn; đồng thời, phân tích cho thấy một bệnh nhân có mức trung bình, 4 bệnh nhân ở mức nặng, và 3 bệnh nhân tử vong, cho thấy tăng enzym CK liên quan đến mức độ nghiêm trọng và tử vong của bệnh nhân Nghiên cứu này chứng minh mối liên quan rõ rệt giữa tăng hoạt độ CK trong huyết tương và tình trạng bệnh nặng, thậm chí tử vong.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có hai trường hợp tăng ure máu được ghi nhận Theo nghiên cứu của Bùi Thị Việt Nga, trong số 157 trường hợp rắn độc cắn có 22 ca tăng creatinin, trong đó 13 ca do rắn hổ mang, 3 ca do rắn lục, 5 ca rắn cạp nia, và 1 ca do rắn hổ chúa cắn Nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên hệ đáng kể giữa mức độ tăng ure huyết và mức độ nặng của bệnh nhân (p < 0,05), giúp hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của độc tố rắn cắn đến chức năng thận.

NC của Đỗ Thị Băng, đánh giá ở 2 loại rắn hổ mang thường và rắn hổ chúa; có 28/83 (33,7%) BN tăng Ure > 7,5 mmol/l [2]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 12 trường hợp tăng Creatinin máu, trong đó Bùi Thị Việt Nga ghi nhận 6/157 trường hợp tăng Creatinin Các nguyên nhân chính gồm có 4 trường hợp do rắn hổ mang thường cắn, 1 trường hợp do rắn hổ chúa cắn, và 1 trường hợp do rắn cạp nia cắn, cho thấy tác động đáng kể của các loại rắn độc đến chức năng thận.

4.3.1.1 Người bệnh rắn độc cắn có sử dụng HTKNR:

Huyết thanh kháng nọc rắn độc là biện pháp điều trị đặc hiệu quan trọng trong xử lý rắn độc cắn Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% bệnh nhân bị rắn lục hoặc rắn hổ mang cắn đều đã được sử dụng huyết thanh này để giảm thiểu các biến chứng Tuy nhiên, hiện tại tại trung tâm điều trị chưa có huyết thanh kháng nọc dành riêng cho nhóm bệnh nhân bị rắn cạp nong và cạp nia cắn.

Truyền HTKNR là điều trị đặc hiệu, làm trung hòa nọc độc của rắn cứu sống nhiều người bệnh và rút ngắn thời gian điều trị

Nghiên cứu của Phạm Duệ (2017) cho thấy việc sử dụng HTKNR cạp nong, cạp nia là phương pháp mới, hiệu quả trong điều trị bệnh nhân, với chỉ 21 trên 242 bệnh nhân được áp dụng Kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về khả năng phục hồi lâm sàng giữa nhóm bệnh nhân được sử dụng HTKNR và nhóm không sử dụng, khi thời gian thở máy trung bình là 2,75 ngày so với 9,72 ngày ở nhóm không dùng phương pháp này.

Trong quá trình truyền HTKNR, có 5 trường hợp nghi dị ứng với thuốc, biểu hiện ban đầu gồm ngứa toàn thân, mẩn đỏ và mề đay Một số bệnh nhân còn xuất hiện các triệu chứng nghiêm trọng hơn như tức ngực, khó thở và đau bụng, buộc phải ngừng truyền HTKNR để đảm bảo an toàn.

4.3.1.2 Người bệnh rắn độc cắn có thở máy

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 20,8% bệnh nhân (26/125 người) bị rắn độc cắn và cần thiết phải đặt nội khí quản (NKQ) và thở máy, trong đó đa số là do rắn cạp nia gây ra với 19 ca, tiếp theo là rắn hổ mang với 5 ca, và rắn lục với 2 ca.

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và nuôi dưỡng người bệnh

4.4.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh

+ Đánh giá qua chỉ số BMI khi vào viện

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh nhân khi nhập viện có chỉ số BMI từ 18,5 đến 22,9, với 9,93% người có BMI dưới 18,5 và 26,5% có BMI từ 23 trở lên, cho thấy tỷ lệ thiếu cân là 9,93%, làm tăng nguy cơ SDD Tuy nhiên, chỉ số cân nặng và BMI không hoàn toàn đáng tin cậy trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng khi nằm viện do bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như lượng dịch và quá trình dị hóa Nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nhập viện có SDD theo tiêu chuẩn BMI chiếm 16,9%, trong khi số này đối với bệnh nhân thừa cân là 10,4% Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Thị Trang năm 2018 chỉ ra rằng tỷ lệ bệnh nhân cao tuổi nhập viên ICU tại Bệnh viện Lão Khoa Trung Ương là 38%, phản ánh tình hình dinh dưỡng phức tạp ở nhóm bệnh nhân này.

Bạch Mai Boston Tool (BBT) là bộ công cụ hợp tác giữa Bệnh viện Bạch Mai và Trường Đại học Boston nhằm rút ngắn thời gian đánh giá tình trạng dinh dưỡng của chuyên gia y tế dựa trên các yếu tố như mức độ ăn đường miệng hàng ngày, giảm cân trong 3 tháng gần nhất và chỉ số BMI Thang điểm này tập trung vào các triệu chứng lâm sàng như giảm cân và giảm khẩu phần ăn, không tính điểm phù mà dựa trên tình trạng ăn uống của bệnh nhân Ban đầu, 100% bệnh nhân thở máy có nguy cơ suy dinh dưỡng nặng không tự ăn qua đường miệng; sau 7 ngày, tỷ lệ bệnh nhân không có nguy cơ suy dinh dưỡng là 15,4%, nguy cơ nhẹ/vừa là 23,1%, và nguy cơ nặng là 61,5% Trong nghiên cứu, nhóm bệnh nhân cấp cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng theo thang điểm BBT sau 3 ngày cũng có xu hướng giảm, từ 97,4% xuống còn 90,9%, phản ánh hiệu quả của phương pháp đánh giá này trong theo dõi tiến triển của bệnh nhân.

4.4.2 Chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh

4.4.2.1 Người bệnh có thể ăn uống bình thường Đây là nhóm NB có các triệu chứng tại chỗ hoặc một số biểu hiện toàn thân Đối với người bệnh có thể ăn uống qua đường miệng, có một số nguy cơ làm cho người bệnh ăn uống kém, bỏ bữa như vết cắn đau, nhức hoại tử, lan xa; các triệu chứng toàn thân sau khi bị rắn cắn như nôn, đau bụng, tiêu chảy; quá trình rối loạn đông máu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 127 bệnh nhân ăn đường miệng được đánh giá bằng thang điểm BBT, trong đó 21,6% người bệnh khi nhập viện có nguy cơ suy dinh dưỡng nhẹ.

Tỷ lệ này giảm sau 7 ngày (14,4%)

Về suất ăn, có 72,8% người bệnh tự mua suất ăn và 27,2% đặt suất ăn tại viện, trong đó đa số người bệnh lựa chọn ăn cơm (61,6%) và còn lại là cháo, bún, phở (38,4%) Về số bữa ăn hàng ngày, 9,6% người bệnh chỉ ăn được 2 bữa/ngày Tỷ lệ ăn hết suất ăn đạt 37,6%, trong khi 42,4% ăn từ 75% trở lên và 20% ăn dưới 50%, phản ánh khả năng ăn uống của bệnh nhân Những bệnh nhân có thể ăn uống bình thường qua đường miệng có nguy cơ bị SDD thấp hơn nhiều so với nhóm phải thở máy hoặc ăn qua ống thông dạ dày.

4.4.2.2 Người bệnh được nuôi dưỡng qua sonde dạ dày

Chăm sóc dinh dưỡng sớm qua đường tiêu hóa trong 48 giờ đầu có vai trò quan trọng trong việc giảm thiếu hụt dinh dưỡng, tỷ lệ tử vong và thời gian thở máy ở trẻ sơ sinh nặng Theo nghiên cứu của Nguyễn Phương Thảo, 82,5% bệnh nhân cần thở máy khi vào viện được nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa sớm trong 48 giờ đầu, giúp cải thiện tình trạng sức khỏe và giảm thời gian nằm máy thở Nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Nhân cho thấy thời gian sử dụng ống thông ở bệnh nhân ICU trung bình là 6,51 ± 1,34 ngày, phản ánh hiệu quả của việc nuôi dưỡng qua sonda dạ dày trong quá trình hồi phục Đặc biệt, trong nhóm 26 bệnh nhân thở máy, ban đầu tất cả đều nguy cơ suy dinh dưỡng nặng do không thể tự ăn bằng đường miệng; sau 7 ngày, tỷ lệ bệnh nhân nguy cơ SDD giảm còn 61,5% theo thang đánh giá SGA, trong khi đó theo bảng theo dõi bệnh tật (BBT), tỷ lệ không có nguy cơ SDD là 15,4%, nhẹ/vừa là 23,1%, còn nguy cơ SDD nặng là 61,5%, cho thấy việc nuôi dưỡng hợp lý giúp cải thiện khả năng hồi phục và giảm nguy cơ biến chứng.

NC của , ở nhóm bệnh nhân cấp cứu, tỷ lệ SDD theo thang điểm BBT sau 3 ngày cũng có xu hướng giảm (97,4% → 90,9%)

Các nghiên cứu về bệnh nhân thở máy cho thấy, sau 5 ngày thở máy, có đến 26,31% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng nặng theo thang SGA Trong một nghiên cứu khác, tỷ lệ bệnh nhân bị suy dinh dưỡng sau 1 tuần điều trị tăng từ 35,7% lên 78,6%, phản ánh sự nặng thêm của tình trạng dinh dưỡng Ngoài ra, tỷ lệ bệnh nhân SDD do ngộ độc mức độ nặng tại thời điểm nhập viện lên tới 98,7%, trong khi sau 3 ngày điều trị, 100% người bệnh có nguy cơ SDD, trong đó 63,6% ở mức nhẹ và 36,4% ở mức nặng, cho thấy tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ngày càng nặng khi nhập viện và trong quá trình điều trị.

Tình trạng ăn thiếu bữa trong ngày

Bảng 3.20 cho thấy: Số lượng NB ăn đủ 6 bữa trong ngày theo chỉ định: Ngày 2: 14/23 (60,8%); ngày 3: 14/21 (66,7%); ngày 5: 12/19(63,2%), ngày 10: 8/12 (66,7%), Ngày 15: 5/7 (71,4%) Số bữa ăn trung bình là 4,74 ± 2,95 bữa/ ngày

Kết quả của Nguyễn Thị Thu cho thấy trung bình mỗi ngày bệnh nhân ăn khoảng 4,48 ± 1,95 bữa, với lượng thức ăn trung bình mỗi bữa là 213,1 ± 103 gam Trong khi đó, nghiên cứu của Trần Ngọc Hân đánh giá chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân thở máy, với tỷ lệ bệnh nhân ăn qua ống thông dạ dày đạt 56,6% ở mức 6 lần/ngày, nhưng vẫn còn có đến 43,4% bệnh nhân được cho ăn 5 lần/ngày.

Nguyên nhân chính gây ăn thiếu bữa trong ngày là do 100% bệnh nhân chưa tiêu hóa hết bữa trước, khiến chưa thể tiếp tục cho ăn Khoảng 42,3% bệnh nhân cần thực hiện xét nghiệm hoặc thủ thuật để đánh giá tình trạng sức khỏe Không có trường hợp nào xảy ra do thay hoặc đặt lệch sonde dạ dày Để đảm bảo an toàn, cần tránh cho ăn quá nhiều hoặc nhanh qua sonde, đặc biệt trong 1-3 ngày đầu Đồng thời, việc kiểm tra dịch dạ dày là rất quan trọng; nếu lượng dịch còn >150 ml, cần ngưng cho ăn, và nếu lượng dịch >100 ml, nên giảm lượng thức ăn nhằm hạn chế các biến chứng.

Trong nhóm bệnh nhân thở máy, việc không đủ số bữa ăn hàng ngày thường gặp phổ biến hơn so với các nhóm chăm sóc khác Theo dữ liệu của Nguyễn Hữu Hoan, tỷ lệ bệnh nhân nuôi dưỡng qua đường ống thông bị gián đoạn ăn chiếm đến 85,1% Nguyên nhân chính gây gián đoạn gồm tồn dư dịch dạ dày cao (68,4%), thực hiện các thủ thuật y tế (34%), cùng các nguyên nhân khác như huyết động không ổn định, phẫu thuật tiêu hóa, trào ngược dạ dày (chiếm 5%).

Theo nghiên cứu của Adam S (1997), nguyên nhân chính gây gián đoạn việc ăn qua đường ruột bao gồm tồn dư dịch dạ dày và các thủ thuật can thiệp y tế Trong khi đó, theo De Jonghe và cộng sự (2001), có ba lý do chính khiến bệnh nhân ICU không đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng: biến chứng dạ dày ruột như tiêu chảy, buồn nôn và căng bụng; các thủ tục chẩn đoán hoặc điều trị làm gián đoạn quá trình nuôi dưỡng, chẳng hạn như đặt ống khí管理, chụp X-quang ngoài giờ chăm sóc; và thất bại trong việc nuôi dưỡng do các vấn đề về thiết bị hoặc lệch vị trí đặt ống nuôi Đặc thù chăm sóc người thở máy xâm nhập gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì dinh dưỡng liên tục, gây ảnh hưởng lớn đến việc đáp ứng nhu cầu năng lượng của bệnh nhân ICU Theo hướng dẫn của ASPEN 2016, mức năng lượng khuyến nghị khi bệnh nhân nhập viện là một yếu tố quan trọng để xây dựng chế độ dinh dưỡng phù hợp.

Trong các ngày theo dõi, số lượng người bệnh đạt chuẩn dinh dưỡng lần lượt là: ngày thứ 2 có 3/16 người, ngày thứ 5 có 3/16 người, ngày 10 có 2/11 người và ngày 15 có 1/5 người bệnh đạt chuẩn Mức năng lượng hàng ngày do chúng tôi cung cấp trung bình hơn 1500 Kcal, cho thấy kết quả chăm sóc dinh dưỡng của chúng tôi vượt trội so với các nghiên cứu khác Điều này là nhờ vào trung tâm dinh dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Bạch Mai, nơi chuẩn bị kỹ lưỡng dung dịch nuôi ăn cho người bệnh, đảm bảo chất lượng và hiệu quả điều trị.

Trong NC của Nguyễn Phương Thảo (n 3), mức năng lượng trung bình hằng ngày ở nhóm bệnh nhân thở máy tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa là xấp xỉ 1000 Kcal

[29] Tại ngày 1, tỷ lệ người bệnh thở máy đạt 70 -110% năng lượng khuyến nghị là 41,2%; tại ngày 3 là 42,4%, tại ngày 5 là 56,2% NC của Nguyễn Hữu Hoan năm

2015, năng lượng được cung cấp hằng ngày là 1465,6 ± 514,5 Kcal/ ngày, Nguyễn Thị Trang, 1327,4 ± 207,8 Kcal/ ngày [13], [33]

Tỷ lệ đạt chuẩn thấp có thể do chỉ số 30 Kcal/kg * cân nặng cao hơn so với nhu cầu năng lượng thực tế của người bệnh [35] Trong thực tế lâm sàng, có nhiều phương pháp khác nhau để xác định nhu cầu năng lượng nghỉ của bệnh nhân, như sử dụng công thức 25 Kcal/kg * cân nặng hoặc đo năng lượng tiêu hao khi nghỉ, phù hợp với từng điều kiện cụ thể của bệnh nhân hơn là chỉ dựa trên nhu cầu năng lượng hàng ngày theo cân nặng [35], [7] Đánh giá sự thay đổi cân nặng là một phần quan trọng trong quá trình theo dõi và điều chỉnh chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân.

Chúng tôi đánh giá sự thay đổi cân nặng của các bệnh nhân thở máy vào các ngày 3, 5, 10, và 15 so với ngày nhập viện ban đầu Vào ngày thứ 3, có 4 bệnh nhân không thay đổi cân nặng, 9 trường hợp tăng cân từ 1 đến 3 kg, và 7 trường hợp giảm cân từ 1 đến 3 kg Đến ngày thứ 5, số bệnh nhân tăng cân từ 1 đến 3 kg là 8 người, trong khi đó có 11 bệnh nhân giảm cân, trong đó 10 trường hợp giảm từ 1 đến 3 kg và 1 trường hợp giảm 1 kg.

Vào ngày thứ 10, đa số bệnh nhân đã được rút thở máy, thể hiện sự tiến triển tích cực trong quá trình điều trị Tính đến ngày 15, số ca giảm cân đã tăng lên, trong đó có 6 trường hợp giảm cân rõ rệt Ngoài ra, có 3 bệnh nhân thăng cân từ 1 đến 3 kg so với ban đầu, trong khi một số khác giảm cân từ 1 đến 3 kg hoặc giảm đến 4 kg Những thay đổi này cho thấy quá trình hồi phục và điều chỉnh trọng lượng của bệnh nhân diễn ra khá linh hoạt trong quá trình điều trị.

Phân tích kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn

4.5.1 Kết quả chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh ngộ độc do rắn cắn

4.5.1.1 Đối với bệnh nhân không hôn mê và không thở máy

- Ở nhóm người bệnh tỉnh táo, tri giác tốt: có 78,4% người bệnh đánh giá được chăm sóc, động viên, hỗ trợ tâm lý và giải thích về tình trạng bệnh

Chúng tôi theo dõi chặt chẽ các triệu chứng bệnh như phản ứng dị ứng, tình trạng chảy máu sau khi bị rắn cắn và các dấu hiệu liên quan khác Đồng thời, việc kiểm tra tình trạng nước tiểu là vô cùng quan trọng để phát hiện sớm các vấn đề như tiểu máu hay vô niệu, giúp đảm bảo chẩn đoán chính xác và chăm sóc kịp thời cho bệnh nhân.

Trong quá trình truyền huyết thanh và theo dõi chặt chẽ, 100% người bệnh đều được cung cấp huyết thanh phù hợp Có 5 trường hợp ghi nhận nghi ngờ dị ứng với huyết thanh kháng nọc rắn (HTKNR), với các triệu chứng ban đầu gồm ngứa toàn thân, mẩn đỏ và nổi mề đay Ngoài ra, có 2 người bệnh xuất hiện các dấu hiệu nghiêm trọng như tức ngực, khó thở và đau bụng, buộc phải ngừng truyền HTKNR để đảm bảo an toàn cho người bệnh.

Khoảng 71,2% người bệnh thực hiện thay băng hàng ngày để đảm bảo vệ sinh và hỗ trợ quá trình lành thương Đặc biệt, đối với các vết thương do rắn cắn, hoại tử lớn, lan tỏa, gây đau nhiều và có nhiều bọng nước, việc chăm sóc vết thương hàng ngày đóng vai trò then chốt để ngăn ngừa nhiễm trùng và thúc đẩy quá trình hồi phục Điều này đặc biệt quan trọng khi các dấu hiệu toàn thân chưa diễn biến nặng, giúp kiểm soát tình trạng tổn thương hiệu quả.

Các vết thương được rửa sạch và cắt lọc hoại tử (nếu có) để ngăn ngừa nhiễm khuẩn, đặc biệt trong các trường hợp do rắn hổ mang cắn Sau đó, tại khoa Chống độc, việc thay băng vết thương được thực hiện từ 1 đến 2 lần trong ngày để đảm bảo vệ sinh và phục hồi nhanh chóng Khi người bệnh ổn định, các vết thương sâu và tổn thương diện rộng sẽ được chuyển đến trung tâm phẫu thuật tạo hình để tiếp tục xử lý vết cắn hiệu quả Theo nghiên cứu của Dương Thị Lương, 100% bệnh nhân được thay băng trong ngày, và 82,1% số người được thay băng dưới 2 lần mỗi ngày, đảm bảo quá trình chăm sóc vết thương phù hợp và tối ưu.

Chăm sóc và giáo dục sức khỏe cho người bệnh bị rắn cắn chưa nhận được sự chú trọng đủ mức; chỉ có 70,4% người bệnh được hướng dẫn về chế độ ăn phù hợp Trong khi đó, việc hướng dẫn về giữ gìn sức khỏe và phòng ngừa các biến chứng còn chưa được phổ biến rộng rãi, với chỉ 62,4% người bệnh nhận được hướng dẫn GDSK đúng cách.

4.5.1.2 Đối với bệnh nhân thở máy

Thời gian điều trị cho bệnh nhân thở máy do rắn độc cắn có thể kéo dài hàng tháng, dẫn đến quá trình chăm sóc dài ngày và chi phí điều trị tăng cao Các biện pháp chăm sóc điều dưỡng cho nhóm bệnh nhân này chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ hệ hô hấp qua máy thở trong suốt quá trình điều trị Quản lý chăm sóc đúng quy trình giúp giảm thiểu biến chứng và nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

- Theo dõi DHST hằng ngày, theo dõi lượng dịch vào ra hằng ngày:

Theo dõi tình trạng của người bệnh ít nhất hai lần mỗi ngày là cần thiết để đảm bảo phát hiện sớm các bất thường Đặc biệt đối với người hôn mê đang thở máy, việc theo dõi liên tục các dấu hiệu lâm sàng là vô cùng quan trọng để báo cáo kịp thời các bất thường Bên cạnh đó, việc kiểm tra lượng dịch vào ra hàng ngày giúp bác sĩ quản lý chính xác lượng dịch truyền và theo dõi các triệu chứng thiểu niệu hoặc vô niệu, từ đó đưa ra các chỉ định điều trị phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh.

- Chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh

Trong chương trình chăm sóc của chúng tôi, 100% người bệnh nhận được chăm sóc vệ sinh thân thể và hỗ trợ chăm sóc răng miệng, mũi, mắt, cùng với việc chăm sóc ống dẫn lưu và sonde tiểu ít nhất hai lần mỗi ngày để đảm bảo vệ sinh và phòng ngừa nhiễm khuẩn Đặc biệt, công tác chăm sóc mắt bao gồm nhỏ dung dịch nước mắt, giúp người bệnh bị rắn cắn hoặc liệt mi mắt, đồng thời nhắm mắt không kín để phòng ngừa khô mắt và viêm loét giác mạc.

Trong nghiên cứu của Hoàng Thị Hoa, tỷ lệ tuân thủ quy trình chăm sóc răng miệng bằng bàn chải cho bệnh nhân thở máy còn thấp, chỉ đạt 29% Trong khi đó, nghiên cứu của Dương Thị Ngân cho thấy 100% bệnh nhân thở máy được hút đờm hàng ngày, trong đó 16,7% được hút ít hơn 5 lần, 73,8% được hút từ 5 đến 7 lần, và 9,5% được hút trên 7 lần, phản ánh mức độ chăm sóc và theo dõi bệnh nhân khác nhau.

Dương Thị Lương cho thấy, chỉ có 33,1% người bệnh được chăm sóc răng miệng, mặt và chân ống thông ≤ 2 lần/ngày, trong khi đó, 23,4% người bệnh được đặt và chăm sóc sonda tiểu Điều này phản ánh mức độ quan tâm và thực hành chăm sóc hỗ trợ y tế chưa triển khai đầy đủ, ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

Hỗ trợ lăn trở là biện pháp bắt buộc để phòng ngừa loét tỳ đè ở bệnh nhân nằm lâu ngày Trong thời gian chăm sóc, 100% bệnh nhân của chúng tôi được thực hiện lăn trở ít nhất 3 lần mỗi ngày, giúp giảm áp lực lên da và ngăn ngừa tổn thương Việc vệ sinh, lau người hàng ngày cùng với lăn trở còn góp phần giảm thiểu nguy cơ phát triển các vết loét tì đè do mảng bám bụi bẩn và ướt át tích tụ trên da.

Nghiên cứu của Dương Thị Ngân cho thấy đa số bệnh nhân thở máy tại khoa Phẫu thuật Thần kinh, Bệnh viện Việt Đức, có số lần lăn trở trong ngày dưới 6 lần (90,5%) và tỷ lệ được vỗ rung đạt 47,6% Trong khi đó, nghiên cứu của Dương Thị Lương ghi nhận có 5 trong số 11 bệnh nhân thở máy được lăn trở, với số lần thực hiện rất thấp, chỉ từ 1 đến 2 lần mỗi ngày.

- Chăm sóc trang thiết bị, dụng cụ, máy thở:

100% người bệnh được chăm sóc bộ ống NKQ, hút đờm dãi (≥ 2 lần: 76,9%; <

Việc chăm sóc hệ thống dây dẫn như ruột gà, bẫy nước, bình làm ẩm là rất quan trọng để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp và tổn thương hệ thống niêm mạc ở người thở máy, đặc biệt trong các trường hợp thực hiện từ 2 lần trở lên (53,8%) so với dưới 2 lần (46,2%) Các hoạt động hút đờm dãi và chăm sóc hệ thống dây dẫn thường xuyên hàng ngày đóng vai trò then chốt trong việc giữ vệ sinh, phòng ngừa các biến chứng nhiễm trùng đường hô hấp ở bệnh nhân thở máy [30], [4].

So sánh kết quả với NC cuả Dương Thị Lương, 100% người bệnh thở máy được chăm sóc ống NKQ hút đờm dãi ≤ 2 lần/ngày [17]

Việc chăm sóc người bệnh thở máy, bao gồm thay băng NKQ, MKQ giúp duy trì vệ sinh đường thở, giảm nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện và đảm bảo hệ thống dây dẫn cũng như cuff được chăm sóc đúng cách Khi điều trị, việc kiểm tra áp lực cuff là rất quan trọng; nếu cuff quá căng, sẽ gây thiếu máu nuôi dưỡng tại vị trí đặt cuff, còn nếu quá thấp, sẽ tăng nguy cơ bội nhiễm phổi Nghiên cứu cho thấy, quá trình chăm sóc cuff có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện ở nhóm bệnh nhân thở máy [4], [30], [10], [24].

NC của Đặng Tuyết Thoa và Lê Thị Bình cho thấy, tần suất chăm sóc các hệ thống dây dẫn, ống NKQ/MKQ, cuff (p < 0,05), cùng với chăm sóc răng miệng, mắt, mũi và ống thông thức ăn có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng viêm phổi bệnh viện.

Ngày đăng: 16/08/2023, 13:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Thị Hân và Lê Thị Bình ( 2020). Nhiễm khuẩn mắc phải trên người bệnh thở máy xâm lấn và một số yếu tố liên quan đến chăm sóc tại các khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa Kiên Giang năm 2020. Tạp chí Y học Việt Nam, Tập 491 tháng 6 số 1 năm 2020, 60–64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm khuẩn mắc phải trên người bệnh thở máy xâm lấn và một số yếu tố liên quan đến chăm sóc tại các khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa Kiên Giang năm 2020
Tác giả: Nguyễn Thị Hân, Lê Thị Bình
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2020
12. Hoàng Thị Hoa (2015), Thực trạng kiến thức, thái độ và tuân thủ vệ sinh răng miệng bằng bàn chải cho bệnh nhân thở máy của điều dưỡng tại khoa phẫu thuật thần kinh Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2015, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại Học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thái độ và tuân thủ vệ sinh răng miệng bằng bàn chải cho bệnh nhân thở máy của điều dưỡng tại khoa phẫu thuật thần kinh Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2015
Tác giả: Hoàng Thị Hoa
Nhà XB: Đại Học Y Hà Nội
Năm: 2015
13. Nguyễn Hữu Hoan (2015), Tình trạng nuôi dưỡng và thực trạng nuôi dưỡng người bệnh tại Điều trị tích cực Bệnh viện Bạch Mai năm 2015, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học y Hà Nội., Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng nuôi dưỡng và thực trạng nuôi dưỡng người bệnh tại Điều trị tích cực Bệnh viện Bạch Mai năm 2015
Tác giả: Nguyễn Hữu Hoan
Nhà XB: Đại học y Hà Nội
Năm: 2015
14. Đỗ Mạnh Hùng và Phạm Duệ (2013), Đặc điểm lâm sàng - cận lâm sàng và điều trị bệnh nhân bị rắn cạp nia cắn tại trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai (năm 2005 - 2013), Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Đại Học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng - cận lâm sàng và điều trị bệnh nhân bị rắn cạp nia cắn tại trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai (năm 2005 - 2013)
Tác giả: Đỗ Mạnh Hùng, Phạm Duệ
Nhà XB: Đại Học Y Hà Nội
Năm: 2013
15. Hà Trần Hưng và Đặng Thị Xuân (2016). Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân bị rắn lục cắn. Tạp chí Y học Việt Nam, 438, 86–96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân bị rắn lục cắn
Tác giả: Hà Trần Hưng, Đặng Thị Xuân
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2016
16. Nguyễn Thị Lâm (2016). Vai trò của dinh dưỡng điều trị và các giải pháp cải thiện công tác chăm sóc dinh dưỡng trong bệnh viện. Tạp chí Dinh Dưỡng &amp;Thực Phẩm, 12 (3), 1-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của dinh dưỡng điều trị và các giải pháp cải thiện công tác chăm sóc dinh dưỡng trong bệnh viện
Tác giả: Nguyễn Thị Lâm
Nhà XB: Tạp chí Dinh Dưỡng & Thực Phẩm
Năm: 2016
17. Dương Thị Lương (2020), Đặc điểm người bệnh bị rắn cắn và một số yếu tố liên quan đến chăm sóc tại trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai năm 2020, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm người bệnh bị rắn cắn và một số yếu tố liên quan đến chăm sóc tại trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai năm 2020
Tác giả: Dương Thị Lương
Nhà XB: Đại học Thăng Long
Năm: 2020
18. Ngô Ngọc Quang Minh (2003), Đặc điểm bệnh lý rắn độc cắn ở bệnh nhân nhập viện Nhi đồng I năm 2003, Luận văn thạc sĩ Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm bệnh lý rắn độc cắn ở bệnh nhân nhập viện Nhi đồng I năm 2003
Tác giả: Ngô Ngọc Quang Minh
Nhà XB: Luận văn thạc sĩ Y học
Năm: 2003
19. Bùi Thị Việt Nga, Nguyễn Hoài Nam, Trần Khánh Chi (2013), Nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ số hóa sinh máu ở bệnh nhân bị rắn độc cắn điều trị tại bệnh viện Bạch Mai 8 tháng đầu năm 2013, Đại Học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ số hóa sinh máu ở bệnh nhân bị rắn độc cắn điều trị tại bệnh viện Bạch Mai 8 tháng đầu năm 2013
Tác giả: Bùi Thị Việt Nga, Nguyễn Hoài Nam, Trần Khánh Chi
Nhà XB: Đại Học Y Hà Nội
Năm: 2013
21. Nguyễn Long An (2017), Nghiên cứu đặc điểm của rối loạn đông cầm máu ở bệnh nhân bị rắn lục cắn tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại Học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm của rối loạn đông cầm máu ở bệnh nhân bị rắn lục cắn tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Nguyễn Long An
Nhà XB: Đại Học Y Hà Nội
Năm: 2017
22. Nguyễn Ngọc Hiển (2017), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điện cơ ở bệnh nhân liệt cơ do rắn độc cắn, Luận văn bác sỹ chuyên khoa cấp II, Đại Học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điện cơ ở bệnh nhân liệt cơ do rắn độc cắn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hiển
Nhà XB: Đại Học Y Hà Nội
Năm: 2017
23. Huỳnh Ngọc Nhân (2020), Diễn biến tình trạng dinh dưỡng liên quan đến chăm sóc người bệnh nuôi dưỡng qua ống thông tại khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2020, Luận văn tốt nghiệp Thạc Sĩ, Đại học Thăng Long, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến tình trạng dinh dưỡng liên quan đến chăm sóc người bệnh nuôi dưỡng qua ống thông tại khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2020
Tác giả: Huỳnh Ngọc Nhân
Nhà XB: Đại học Thăng Long
Năm: 2020
24. Trần Thị Nhung (2017). Thực trạng viêm phổi thở máy và một số yếu tố liên quan đến chăm sóc của điều dưỡng tại khoa hồi sức cấp cứu viện tim mạch bệnh viện Bạch Mai năm 2016. Tạp chí Y học Việt Nam, 452(Tháng 3-Số chuyên đề 2017), 151–156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng viêm phổi thở máy và một số yếu tố liên quan đến chăm sóc của điều dưỡng tại khoa hồi sức cấp cứu viện tim mạch bệnh viện Bạch Mai năm 2016
Tác giả: Trần Thị Nhung
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2017
25. Nguyễn Hải Phương, Nguyễn Thị Dụ (2007). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị liệt cơ do rắn hổ cắn tại trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại Học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị liệt cơ do rắn hổ cắn tại trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Nguyễn Hải Phương, Nguyễn Thị Dụ
Nhà XB: Luận văn thạc sĩ Y học
Năm: 2007
26. Lê Xuân Quý (2018). Đặc điểm lâm sàng, vi khuẩn học của thương tổn tại chỗ và mô mềm do rắn hổ mang cắn, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại Học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng, vi khuẩn học của thương tổn tại chỗ và mô mềm do rắn hổ mang cắn
Tác giả: Lê Xuân Quý
Nhà XB: Đại Học Y Hà Nội
Năm: 2018
27. Nguyễn Mộc Sơn (2012), Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhaan nằm tại khoa HSTC Bệnh viện Bạch Mai bằng thang điểm sàng lọc nguy cơ dinh dưỡng SGA, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ Y khoa, Đại Học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhaan nằm tại khoa HSTC Bệnh viện Bạch Mai bằng thang điểm sàng lọc nguy cơ dinh dưỡng SGA
Tác giả: Nguyễn Mộc Sơn
Nhà XB: Đại Học Y Hà Nội
Năm: 2012
28. Mai Đức Thảo, Nguyễn Thị Dụ (2004), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh nhân bị rắn lục cắn ở khoa chống độc bệnh viện Bạch Mai năm 2004, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại Học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh nhân bị rắn lục cắn ở khoa chống độc bệnh viện Bạch Mai năm 2004
Tác giả: Mai Đức Thảo, Nguyễn Thị Dụ
Nhà XB: Đại Học Y Hà Nội
Năm: 2004
29. Nguyễn Phương Thảo. (2019), Tình trạng dinh dưỡng và chế độ nuôi dưỡng của người bệnh thở máy tại khoa hồi sức tích cực - chống độc Bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 2019, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y khoa, Đại Học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và chế độ nuôi dưỡng của người bệnh thở máy tại khoa hồi sức tích cực - chống độc Bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 2019
Tác giả: Nguyễn Phương Thảo
Nhà XB: Đại Học Y Hà Nội
Năm: 2019
31. Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Thu Hiền, Trương Việt Dũng (2020). Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân nặng tại khoa hồi sức truyền nhiễm tại bệnh viện trung ương quân đội 108. Khoa học Điều dưỡng - Tập 01 - Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân nặng tại khoa hồi sức truyền nhiễm tại bệnh viện trung ương quân đội 108
Tác giả: Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Thu Hiền, Trương Việt Dũng
Nhà XB: Khoa học Điều dưỡng
Năm: 2020
32. Lê Thị Phương Thúy, Nguyễn Phương Thảo, Đinh Trọng Hiếu (2019). Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh thở máy tại khoa hồi sức tích cực - chống độc bệnh viện đa khoa Đống Đa năm 2019. Tạp chí nghiên cứu Y học, 146(10)-2021, 55–63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh thở máy tại khoa hồi sức tích cực - chống độc bệnh viện đa khoa Đống Đa năm 2019
Tác giả: Lê Thị Phương Thúy, Nguyễn Phương Thảo, Đinh Trọng Hiếu
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Y học
Năm: 2019

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Hình 1.1. Nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày (Trang 26)
Hình 1.2. Nuôi dưỡng tĩnh mạch trung tâm  Bảng 1.1. Ưu nhược điểm các đường nuôi dưỡng - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Hình 1.2. Nuôi dưỡng tĩnh mạch trung tâm Bảng 1.1. Ưu nhược điểm các đường nuôi dưỡng (Trang 27)
Hình 1.3. Quy trình 5 bước chăm sóc bệnh nhân ngộ độc - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Hình 1.3. Quy trình 5 bước chăm sóc bệnh nhân ngộ độc (Trang 31)
Bảng 2.1. Các chỉ số nghiên cứu chính - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Bảng 2.1. Các chỉ số nghiên cứu chính (Trang 40)
Bảng 3.2 cho thấy, khi vào viện đa số người bệnh bị rắn hổ cắn, trong đó đa số - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Bảng 3.2 cho thấy, khi vào viện đa số người bệnh bị rắn hổ cắn, trong đó đa số (Trang 50)
Bảng 3.8: Đặc điểm vết rắn cắn của NB rắn độc cắn khi vào viện - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Bảng 3.8 Đặc điểm vết rắn cắn của NB rắn độc cắn khi vào viện (Trang 55)
Bảng 3.9: Dấu hiệu sinh tồn của NB sau 3 ngày nằm viện - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Bảng 3.9 Dấu hiệu sinh tồn của NB sau 3 ngày nằm viện (Trang 56)
Bảng 3.12: Bảng xét nghiệm công thức máu khi NB nhập viện - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Bảng 3.12 Bảng xét nghiệm công thức máu khi NB nhập viện (Trang 58)
Bảng 3.14: Đánh giá chỉ số BMI của NB khi vào viện - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Bảng 3.14 Đánh giá chỉ số BMI của NB khi vào viện (Trang 60)
Bảng  3.17  cho  thấy:  Tỷ  lệ  SDD  theo  thang  điểm  SGA  sau  7  ngày   là  12%  →  14,4%  người  bệnh.Tỷ  lệ  không  có  nguy  cơ  SDD  theo  BBT  sau  7  ngày  là  78,4%  →  85,6% - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
ng 3.17 cho thấy: Tỷ lệ SDD theo thang điểm SGA sau 7 ngày là 12% → 14,4% người bệnh.Tỷ lệ không có nguy cơ SDD theo BBT sau 7 ngày là 78,4% → 85,6% (Trang 61)
Bảng 3.17: Bảng đánh giá người bệnh ăn đường miệng (n = 125) - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Bảng 3.17 Bảng đánh giá người bệnh ăn đường miệng (n = 125) (Trang 62)
Bảng 3.19: Bảng đánh giá thời gian nuôi ăn NB qua đường sonde dạ dày - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Bảng 3.19 Bảng đánh giá thời gian nuôi ăn NB qua đường sonde dạ dày (Trang 63)
Bảng  3.20  cho  thấy:  Nguyên  nhân  người  bệnh  ăn  không  đủ  số  bữa  thường  do  chưa tiêu hóa hết bữa ăn trước (100%), một số nguyên nhân khác như thời điểm bệnh  nhân ăn trùng với thời gian xét nghiệm, làm thủ thuật chiếm 42,3% - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
ng 3.20 cho thấy: Nguyên nhân người bệnh ăn không đủ số bữa thường do chưa tiêu hóa hết bữa ăn trước (100%), một số nguyên nhân khác như thời điểm bệnh nhân ăn trùng với thời gian xét nghiệm, làm thủ thuật chiếm 42,3% (Trang 64)
Bảng 3.27 cho thấy: Trong hoạt động chăm sóc của điều dưỡng viên đối với người  bệnh  thở  máy  số  lần  chăm  sóc  ống  NKQ,  hút  đờm  dãi  ≥  2lần/ngày  chiếm  chiếm  tỷ  lệ  76,9%,  số  lần  chăm  sóc ống NKQ,  hút đờm  dãi  &lt;  2  lần/ngày  chiếm   - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Bảng 3.27 cho thấy: Trong hoạt động chăm sóc của điều dưỡng viên đối với người bệnh thở máy số lần chăm sóc ống NKQ, hút đờm dãi ≥ 2lần/ngày chiếm chiếm tỷ lệ 76,9%, số lần chăm sóc ống NKQ, hút đờm dãi &lt; 2 lần/ngày chiếm (Trang 68)
Bảng 3.28: Bảng đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh rắn cắn - Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng người bệnh bị rắn độc cắn và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai năm 2020 2021
Bảng 3.28 Bảng đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh rắn cắn (Trang 69)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w