1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình trạng trầm cảm, lo âu, căng thẳng của các cặp vợ chồng thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (ivf) và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec times city năm 2021 (tóm tắt)

25 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tình trạng trầm cảm, lo âu, căng thẳng của các cặp vợ chồng thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2021 (tóm tắt)
Tác giả Đinh Kim Oanh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng
Trường học Trường Đại học Thăng Long
Chuyên ngành Điều Dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sĩ Điều dưỡng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ĐINH KIM OANH – C01309 ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG TRẦM CẢM, LO ÂU, CĂNG THẲNG CỦA CẶP VỢ CHỒNG THỰC HIỆN THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM IVF TẠI BỆNH VIỆN VINMEC TIMES CI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

ĐINH KIM OANH – C01309

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG TRẦM CẢM, LO ÂU,

CĂNG THẲNG CỦA CẶP VỢ CHỒNG THỰC HIỆN THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM (IVF) TẠI BỆNH VIỆN

VINMEC TIMES CITY NĂM 2021

Chuyên ngành : Điều Dưỡng

Mã số : 8720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vô sinh, hiếm muộn là chẩn đoán làm ảnh hưởng lớn đến các cặp vợ chồng trong cuộc sống, đó cũng là một bước ngoặt trong cuộc sống của các cặp vợ chồng Cặp vợ chồng không có khả năng sinh sản là thường gặp các chấn thương về tâm lý: hình ảnh bản thân thường trở nên tiêu cực và nó có thể được đặc trưng bởi cảm xúc lo

âu và trạng thái trầm cảm và căng thẳng Vô sinh có thể là nguyên phát hoặc thứ phát với người vợ hay người chồng hoặc cả vợ và chồng Vô sinh không những làm tăng gánh nặng về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến tinh thần gây ra sự trầm cảm, lo âu, căng thẳng cho cả người vợ và người chồng

Vô sinh hiếm muộn còn đang dần trẻ hóa và diễn biến phức tạp, gây nhiều khó khăn, áp lực lên quá trình hỗ trợ và điều trị Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dự báo: vô sinh và hiếm muộn là vấn đề nguy hiểm thứ 3, chỉ đứng sau ung thư và bệnh tim mạch ở thế kỷ 21 và căn bệnh này dần trở nên phổ biến ở các nước Châu Á trong đó

có Việt Nam Một thống kê mới nhất từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết Việt Nam đang là một trong những quốc gia tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương có tỷ

lệ sinh thấp nhất nhưng tỷ lệ vô sinh thì lại cao nhất Theo kết quả khảo sát của Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương thực hiện năm 2009 trên 14.300 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ từ 14 đến 49 ở 8 tỉnh thành đại diện cho 8 vùng sinh thái nước ta ước tính rằng có khoảng 1 triệu cặp vợ chồng mắc vô sinh hiếm muộn, 50% cặp vợ chồng ở

độ tuổi dưới 30 Có 7,7% tỷ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ Hằng năm, số cặp vợ chồng điều trị hỗ trợ sinh sản tăng lên, về cả chẩn đoán vô sinh hiếm muộn và họ có thể phải trải qua quá trình điều trị dài hạn, nhưng đem lại một kết quả chưa chắc chắn thành công, điều này có liên quan tới các vấn đề về tâm

lý Người bệnh trải qua quá trình điều trị hỗ trợ sinh sản thường phải trải qua tình trạng lo âu và trầm cảm Tình trạng lo âu và trầm cảm có ảnh hưởng tới kết quả điều trị hỗ trợ sinh sản hay không cũng đang là một vấn đề được bàn luận trong thời gian gần đây Tuy nhiên, mối quan hệ rõ ràng giữa lo âu, trầm cảm và vô sinh; hoặc tình trạng tâm lý có ảnh hưởng hay không tới kết quả mang thai sau khi điều trị hỗ trợ sinh sản chưa được làm rõ

Để đánh giá mối liên quan giữa tình trạng lo âu, trầm cảm, căng thẳng của các

cặp đôi thực hiện IVF, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá tình trạng trầm

cảm, lo âu, căng thẳng của các cặp vợ chồng thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2021” với hai mục tiêu:

1 Mô tả tinh trạng trầm cảm, lo âu, căng thẳng của cặp vợ chồng thực hiện IVF tại Bệnh viện Vinmec Times City năm 2021

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng tâm lý của cặp vợ chồng thực hiện IVF tại tại Bệnh viện Vinmec Times City năm 2021

Bản sao lưu trữ

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Vô sinh

1.1.1 Định nghĩa vô sinh

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) một cặp vợ chồng gọi là vô sinh khi chung sống với nhau từ 1 năm trở lên, quan hệ tình dục đều và không dùng bất cứ biện pháp tránh thai nào mà không có thai

Theo hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (2006),

vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống, có quan hệ tình dục trung bình 2 – 3 lần/ tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai (nếu người vợ > 35 tuổi, thời gian này chỉ tính 6 tháng) Khi vô sinh có nguyên nhân rõ ràng thì yếu tố thời gian không cần đặt ra

Theo nguyên nhân, vô sinh được chia thành 2 loại: Vô sinh nguyên phát và vô sinh thứ phát Vô sinh nguyên phát là cặp vợ chồng chưa có thai lần nào Vô sinh thứ phát là cặp vợ chồng đã từng có thai ít nhất một lần, nhưng sau đó không thể có thai lại mặc dù đang sống với nhau trên một năm và có dùng các biện pháp tránh thai

1.1.2 Tình hình vô sinh

Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ vô sinh trên thế giới trung bình là 6 – 12 % và khu vực châu Á – Thái Bình Dương là nơi có tỷ lệ sinh thấp nhất và tỷ lệ vô sinh cao nhất Ước tính có khảng 30 triệu cặp vợ chồng vô sinh trong đó khoảng 20% không

rõ nguyên nhân, 40% là vô sinh nữ và 40% là vô sinh nam Tại Anh, số vô sinh chiếm khoảng 1/7 các cặp vợ chồng và vô sinh nữ chiếm 50%, vô sinh nam và vô sinh chưa rõ nguyên nhân bằng nhau và bằng 25%

Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra dân số năm 2009, tỷ lệ vô sinh chiếm 13%1 Theo Đỗ Thị Hằng Nga (2012) nghiên cứu trên 289 trường hợp vô sinh tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương thấy 47,3% trường hợp là vô sinh nữ, 7,2% trường hợp là vô sinh nam, 41,2% là vô sinh chưa rõ nguyên nhân Trong vô sinh nữ 50,3%

do rối loạn phóng noãn, 31,5% do tổn thương vòi tử cung, 18,2% do dính buồng trứng, lạc nội mạc tử cung và các nguyên nhân khác Nguyễn Viết Tiến (2009) nghiên cứu trên 14.396 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh để, tuổi từ 15 – 49 tuổi, tại 8 tỉnh đại diện cho 8 vùng sinh thái của cả nước cho thấy tỉ lệ vô sinh chung trên phạm

vi toàn quốc là 7,7%, trong đó vô sinh nguyên phát là 3,9% và vô sinh thứ phát là 3,8% Tỷ lệ vô sinh cao nhất là ở tỉnh Khánh Hòa (13,9%) và thấp nhất là ở tỉnh Hải Phòng (3,8%) và Quảng Ninh (3,9%)

1.2 Thụ tinh trong ống nghiệm

1.2.1 Định nghĩa

Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong đó tinh trùng cho thụ tinh với noãn trong đĩa cấy (Đĩa Petri) Phôi thu được sẽ chuyển vào buồng tử cung để làm tổ hoặc sẽ được đông lạnh để chuyển vào những chu kỳ sau

Tuy nhiên, phương pháp IVF cổ điển chỉ có hiệu quả cho những trường hợp vô sinh do nữ khi chất lượng tinh trùng vẫn đảm bảo cho quá trình thụ tinh Đối với

Trang 4

những trường hợp vô sinh do suy giảm nghiêm trọng chất lượng tinh trùng thì IVF cổ điển không khả quan Do đó, phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI: Intra – Cytoplasmic Sperm Injection) ra đời – là phương pháp mang lại hiệu quả thụ tinh cao với tỷ lệ thụ tinh thành công khoảng 60% - 85% Khác với IVF cổ điển, kỹ thuật ICSI chỉ có một tinh trùng duy nhất được tiêm trực tiếp vào noãn và tinh trùng được lựa chọn là tinh trùng tốt nhất về mặt hình thái cũng như khả năng di động Trước đây, những trường hợp vô sinh nam thường không điều trị được và kỹ thuật IVF cổ điển bị thất bại ở khâu thụ tinh Phương pháp ICSI ra đời nhằm khắc phục tình trạng tỷ lệ thụ tinh thấp hoặc không thụ tinh khi thực hiện TTTON do bất thường quá trình thụ tinh hay chất lượng tinh trùng thấp Đây được xem như là một cuộc cách mạng trong điều trị vô sinh do nguyên nhân ở nam giới

1.2.2 Chỉ định thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm:

Theo thông tư 12/2012 của Bộ Y Tế, TTTON được thực hiện với các chỉ định sau:

- Các trường hợp vô sinh do tắc vòi tử cung

- Vô sinh do lạc nội mạc tử cung

- Vô sinh do bất thường về phóng noãn (không phóng noãn, kém phóng noãn, buồng trứng đa nang, người bệnh lớn tuổi)

- Vô sinh do tinh dịch đồ bất thường

- Vô sinh không rõ nguyên nhân

- Đã áp dụng bơm tinh trùng vào buồng tử cung nhưng không có kết quả

1.3 Rối loạn trầm cảm, lo âu, căng thẳng, căng thẳng

Lo âu, trầm cảm hay căng thẳng đều là những vấn đề về tâm lý mà tất cả mọi người đều có thể gặp phải Có thể xếp theo thứ tự mức độ tăng dần lần lượt là lo âu – căng thẳng - trầm cảm

Rối loạn lo âu là trạng thái của tâm lý khi bị ảnh hưởng bởi cảm xúc nhận thức

và cả hành vi Đây là cảm giác sợ hãi, phiền muộn khi bị căng thẳng khiến tâm lý của mọi người không thoải mái Lo âu kéo dài được xem như tác nhân gây căng thẳng

Căng thẳng theo một cách đơn giản chính là phản ứng của cơ thể mỗi người

trước những áp lực của cuộc sống, yếu tố đe dọa đến tinh thần con người Căng thẳng không chỉ xuất hiện khi gặp những sự việc tiêu cực mà còn có thể đến từ những điều tích cực trong cuộc sống Hầu hết mọi người đều trải qua cảm giác căng thẳng ít nhất một lần trong đời Đây có thể coi là cơ chế bảo vệ tự nhiên cũng như một phần bình thường trong cuộc sống, tuy nhiên căng thẳng kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Trầm cảm là một căn bệnh phổ biến về tinh thần, gây rối loạn sức khỏe tâm

thần, khi con người xuất hiện cảm giác bị cô lập hay tuyệt vọng Cảm xúc này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến suy nghĩ cũng như hành động của người bệnh Nó còn khiến người bệnh mất đi mọi hứng thú trong cuộc sống, ảnh hưởng đến sinh hoạt thường ngày Trầm cảm là mức độ nghiêm trọng nhất, nó còn nghiêm trọng hơn cả căng thẳng, vì có thể khiến người bệnh tự làm tổn thương bản thân, thậm chí có suy nghĩ tự tử

1.3.1 Trầm cảm

Trầm cảm điển hình là một quá trình ức chế toàn bộ các hoạt động tâm thần thể hiện qua cảm xúc, tư duy và hành vi biểu hiện bằng các triệu chứng sau:

Trang 5

+ Cảm xúc bị ức chế: Khí sắc trầm, buồn rầu, ủ rũ, mất thích thú cũ, nhìn xung quanh thấy ảm đạm

+ Tư duy bị ức chế: Suy nghĩ chậm chạp, liên tưởng khó khăn, tự cho mình hèn kém, bi quan về tương lai, mất tin tưởng vào bản thân Trong trường hợp nặng có hoang tưởng bị tội hay tự buộc tội, ảo thanh nghe tiếng nói tố cảo tội lỗi của mình hay báo trước về những hình phạt sẽ xảy đến với mình… làm cho bệnh nhân xuất hiện ý tưởng hoặc hành vi tự sát

+ Vận động bị ức chế: bệnh nhân ít hoạt động, ít nói, ăn kém, thường hay ngồi hoặc nằm lâu ở một tư thế, trường hợp nặng có thể bất động

1.3.2 Lo âu

Lo âu thường thể hiện với 3 nhóm các dấu hiệu:

- Dấu hiệu chủ quan: Cảm giác khó chịu vùng thượng vị, bồn chồn, khó tả

- Các triệu chứng có thể như tăng trương lực cơ, rối loạn thực vật như mạch nhanh, vã mồ hôi

- Các biến đổi về hành vi: hiện tượng né tránh các hoàn cảnh hay gặp lo âu, ngại tiếp xúc chốn đông người

Phân loại các rối loạn lo âu:

- Rối loạn lo âu ám ảnh sợ: Thường biểu hiện dưới hai hình thức, ý tưởng ám ảnh (tư duy ám ảnh) và những nghi thức (hành vi ám ảnh) là rối loạn tiến triển dai dẳng và hay gặp trầm cảm kèm theo

1.3.3 Căng thẳng

Trên thế giới, có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về căng thẳng Theo Richard Larazus, căng thẳng là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi có các yêu cầu đòi hỏi từ bên ngoài hoặc bên trong, có tính chất đe dọa, có hại, vượt quá nguồn lực có thể huy động được

1.4 Mối liên quan giữa tình trạng lo âu, trầm cảm, căng thẳng với vô sinh

Một trong những lĩnh vực gây tranh cãi nhất trong lĩnh vực y học sinh sản là tác động tiềm tàng của yếu tố tâm lý đối với tỷ lệ mang thai Đã có hàng chục nghiên cứu điều tra mối quan hệ giữa các triệu chứng tâm lý trước và trong chu kỳ hỗ trợ sinh sản

và tỷ lệ mang thai sau đó, với kết quả trái ngược nhau Một số chỉ ra rằng phụ nữ càng phiền muộn trước và trong khi điều trị, tỷ lệ mang thai càng thấp, tuy nhiên một

số nghiên cứu không chỉ ra điểm này Phụ nữ vô sinh được ghi nhận các vấn đề về lo

âu, trầm cảm nên có thể việc vô sinh gây ra tình trạng lo âu, trầm cảm, căng thẳng Nhưng còn điều ngược lại là liệu răng lo âu, trầm cảm, căng thẳng có gây ra tình trạng vô sinh hay không

1.4.1 Ảnh hưởng của lo âu, căng thẳng và trầm cảm với vô sinh ở nữ giới

Một báo cáo cho thấy, tỷ lệ lưu hành triệu chứng tâm lý học ở nhóm hiếm muộn dao động từ 25% - 60%; tình trạng lo âu, trầm cảm của họ cao hơn có ý nghĩa thống

kê so với nhóm chứng là nhóm có thể sinh sản bình thường Bệnh nhân càng tiếp tục điều trị, họ càng có nhiều triệu chứng trầm cảm và lo âu Bệnh nhân thất bại trong một lần điều trị có mức độ lo lắng cao hơn đáng kể và bệnh nhân hai lần thất bại bị trầm cảm nhiều hơn khi so sánh với những người không điều trị

Trang 6

1.4.2 Ảnh hưởng của lo âu, trầm cảm, căng thẳng với nam giới

Khi một người đàn ông được chẩn đoán là vô sinh, y tá cần chuẩn bị cho những phản ứng cực đoan Mayor (1995) nói rằng đối với một số nam giới bị vô sinh có thể khiến họ cảm thấy bị suy yếu trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Ban đầu, họ có thể phản ứng và đối phó với vấn đề theo nhiều cách khác nhau và phát triển một số cơ chế đối phó để giúp anh ta đối mặt với chẩn đoán này Một số nam giới có thể tìm cách quan hệ tình dục với phụ nữ khác, uống nhiều rượu hơn hoặc họ có thể chú trọng hơn vào công việc của mình

1.5 Một số nghiên cứu tình trạng lo âu, trầm cảm, căng thẳng trên nhóm bệnh nhân điều trị IVF

1.5.1 Nghiên cứu về tình trạng lo âu, trầm cảm, căng thẳng trên thế giới

Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới, thực hiện đánh giá thang điểm lo âu, trầm cảm, căng thẳng ảnh hưởng tới kết quả điều trị TTTON

Guopeng Li và cộng sự cho thấy, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 yếu tố tuổi, trình độ học vấn, thời gian vô sinh với tình trạng lo âu, trầm cảm, cẳng thẳng và khả năng tự hồi phục (khả năng tự hồi phục là khả năng trở lại trạng thái tâm

lý ban đầu) (28,4 so với 30,4 và 30,9; p < 0,05), thời gian vô sinh ngắn hơn (2,7 so với 3,6 và 4,6; p < 0,05) Tương tự như vậy, nhóm gặp tình trạng trầm cảm mạn tính

có trình độ học vấn thấp hơn (p < 0,05)

Nghiên cứu của Maria Koumparou, đánh giá tình trạng lo âu, trầm cảm, căng thẳng của người tham gia thực hiện IVF bằng 3 thang điểm PSS – 14 (perceived căng thẳng scale – thang đo cảm nhận căng thẳng), DASS 21, thang điểm FPI, cho thấy có

sự khác biệt giữa mức độ lo âu, trầm cảm, căng thẳng của người mang thai thành công sau khi được thực hiện IVF với phụ nữ không có thai (Nhóm thụ thai thành công so với thất bại: Điểm trầm cảm: 6,57 và 5,59; điểm lo âu: 5,63 và 4,54; điểm căng thẳng: 9,11 và 7,52; điểm DASS chung giữa 2 nhóm: 21,3 và 17,8) Tuy nhiên, các sự khác biệt này đều không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Elvira và cộng sự cho thấy, đánh giá mối liên quan giữa tình trạng căng thẳng

và tình trạng vô sinh của nam giới như chất lượng tinh trùng, tình trạng rối loạn cương dương Nam giới vô sinh trải qua nhiều tình trạng căng thẳng trong cuộc sống, tuy nhiên, không có sự khác biệt về triệu chứng căng thẳng so với nhóm nam giới sinh sản bình thường ở cùng độ tuổi Các sự kiện căng thẳng và đau khổ trong cuộc sống không liên quan đến việc giảm chức năng sinh sản ở nam giới Tuy nhiên, căng thẳng là yếu tố làm giảm nghiêm trọng chức năng của tinh hoàn, dẫn tới vô sinh Mặc

dù vậy, mức độ thống kê trong nghiên cứu còn thấp và cần nhiều hơn những nghiên cứu khác để chứng minh ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý đến kết quả điều trị IVF

1.5.2 Nghiên cứu về tình trạng lo âu, trầm cảm, căng thẳng tại Việt Nam

Đã có nhiều thống kê, nghiên cứu về tình trạng vô sinh ở các cặp vợ chồng hiếm muộn Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu

tố tới tình trạng vô sinh

Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Hùng, “Nghiên cứu tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến vô sinh ở các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại Huyện Ba Vì – Thành

Trang 7

được phát hiện là 11,02%, trong đó tỷ lệ vô sinh nguyên phát chiếm 31,91%, tỷ lệ vô sinh thứ phát chiếm 68,02% Vô sinh do vợ chiếm 39,1%; do chồng chiếm 37,5%; do

cả 2 chiếm 18,3%; không biết chiếm 5,1%

Nghiên cứu của Nguyễn Trần Chung, thực hiện tìm hiểu chất lượng tinh trùng

ở người chồng vô sinh hiếm muộn “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người chồng ở những cặp vợ chồng đến điều trị vô sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương” Kết quả nghiên cứu cho thấy, một số yếu tố tới chất lượng tinh trùng như mặc quần lót bó chặt thường xuyên, tinh hoàn teo nhỏ, bệnh nhân bị teo tinh hoàn, …

Nghiên cứu của Nguyễn Viết Tiến, Nghiên cứu thực trạng vô sinh ở Việt Nam theo các vùng sinh thái, Bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2009 Nghiên cứu của

Lê Thị Mỹ Hạnh, thực hiện đánh giá căng thẳng và các yếu tố liên quan ở những cặp

vợ chồng vô sinh tại Bệnh viện Hùng Vương, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020; tác giả sử dụng thang đo FPI tiếng Việt Kết quả cho thấy, tình trạng căng thẳng ở nữ giới cao hơn nam giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp là nông dân, thời gian mong muốn có con kéo dài và chưa từng điều trị IVF thất là các yếu tố làm gia tăng tình trạng căng thẳng của người thực hiện IVF

Nghiên cứu của Vũ Thị Mỹ Hạnh, thực hiện nghiên cứu: “Một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm” Trong 189 phụ

nữ TTTON có 33 người bệnh có rối loạn trầm cảm Tác giả chỉ ra một số yếu tố liên quan tới tình trạng rối loạn trầm cảm ở phụ nữ thực hiện IVF là tiền sử thất bại IUI, IVF, tuổi ≥ 37 tuổi, thời gian điều trị hỗ trợ sinh sản trên 3 năm là các yếu tố nguy cơ của rối loạn trầm cảm Nguyên nhân vô sinh do chồng, đã có con là các yếu tố “bảo vệ” bệnh nhân điều trị IVF khỏi rối loạn trầm cảm

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Quốc tế Vinmec Times City

- Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2021

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu

Đối tượng tham gia có đầy đủ các điều kiện dưới đây:

- Người vợ hoặc người chồng hoặc cả 2 đã được chẩn đoán vô sinh theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế sthees giới WHO năm 2010: Cặp vợ chồng khi chung sống với nhau từ 1 năm trở lên, quan hệ tình dục đều và không dùng bất cứ biện pháp tránh thai nào mà không có thai

- Đã hoặc đang điều trị hỗ trợ sinh sản tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Quốc tế Vinmec Times City trong tối đa 3 tháng gần đây

- Sẵn sàng trả lời câu hỏi và đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

 Bệnh nhân mang thai hộ

Trang 8

 Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc tự ý rút lui khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào

 Bệnh nhân đã điều trị lo âu, trầm cảm, căng thẳng trước khi điều trị IVF

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

+ Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Phương pháp thu thập thông tin nghiên cứu:

+ Mời người tham gia phỏng vấn bằng phiếu thu thập dữ liệu Online

+ Phỏng vấn trực tiếp tại viện

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu

2.3.2.1 Chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện Lựa chọn 64 cặp vợ chồng thực hiện IVF đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu từ 01 tháng 5 đến 01 tháng 10 năm 2021

2.4 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin

2.4.1 Công cụ thu thập thông tin

+ Bản đồng thuận tham gia nghiên cứu

+ Bộ câu hỏi về đặc điểm chung của người tham gia nghiên cứu bao gồm: Đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm về tình trạng vô sinh của người tham gia

+ Đánh giá tình trạng trầm cảm, lo âu bằng thang điểm đánh giá lo âu trầm cảm bệnh viện (HADS)

+ Đánh giá tình trạng căng thẳng bằng thang điểm PSS 10 (Perceived căng thẳng scale-10 Thang đo tự đánh giá về căng thẳng cảm xúc)

Số liệu được thu thập khi gặp tư vấn và mời người bệnh đồng thuận tham gia nghiên cứu Người tham gia có thể là các cặp vợ chồng đến tư vấn tại trung tâm hoặc riêng vợ hoặc chồng tham gia nghiên cứu

2.4.2 Bệnh án nghiên cứu

 Phần hành chính

 Phần kết quả điều trị IVF

 Bộ câu hỏi đánh giá tình trạng lo âu, trầm cảm, căng thẳng

Thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn bệnh nhân theo bộ câu hỏi Có thai trên lâm sàng được xác định có tim thai, đo trên siêu âm từ tuần 6 – 8

2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu

2.5.1 Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu

Biến số và chỉ số nghiên cứu Mục tiêu Nhóm

Giới Tỷ lệ % nam và nữ:

Tuổi Tỷ lệ %: tỷ lệ BN từng nhóm tuổi trên tổng số

BN tham gia NC

Trình độ học vấn

Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng nhóm trình độ học vấn trên tổng số BN tham gia NC

Trang 9

Nghề nghiệp Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng loại nghề nghiệp

trên tổng số BN tham gia NC

Thông tin về tình trạng bệnh

Phân loại vô sinh

Tỉ lệ %: theo từng nhóm vô sinh: Vô sinh nguyên phát, vô sinh thứ phát

Các nguyên nhân gây vô sinh ở nữ giới

- Tắc ống đẫn trứng hoặc thông hạn chế ống dẫn trứng

Nguyên nhân vô sinh ở nam giới + Giãn tĩnh mạch thừng tinh + Bệnh lý tại tinh hoàn (viêm tinh hoàn, viêm mào tinh hoàn, biến chứng quai bị, )

+ Không có ống dẫn tinh + Không rõ nguyên nhân Thời gian

được chẩn đoán bệnh

Tỷ lệ %: tỷ lệ các nhóm khoảng thời gian vô sinh

Các phương pháp điều trị

Tỷ lệ %: tỷ lệ các nhóm phương pháp điều trị

ở các BN trên tổng số BN tham gia NC

Chia sẻ cảm xúc

Chia sẻ cảm xúc với gia đình và bạn bè

- Không chia sẻ

- Chia sẻ Kết quả điều

Trang 10

- Các số liệu được xử lý và phân tích sử dụng phần mềm SPSS 16.0

- Trong quá trình xử lý, các số liệu bị thiếu, vô lý, ngoại lai được kiểm tra

- Các thống kê mô tả và thống kê suy luận thực hiện thông qua tính toán giá trị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn cho các biến định lượng và tỷ số, tỷ lệ cho các biến định tính

- Phân tích được thực hiện thông qua các test thống kê thích hợp

- Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 được áp dụng

2.7 Khống chế sai số trong nghiên cứu

- Các biện pháp khống chế sai số được áp dụng bao gồm:

+ Chuẩn hoá bộ câu hỏi thông qua các tài liệu trước đó về bộ câu hỏi HADS và

bộ câu hỏi PSS – 10

+ Điều tra thử đối với 10 người tham gia

+ Người phỏng vấn được tập huấn một cách kỹ lưỡng

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Trước khi tham gia nghiên cứu, tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được cung cấp thông tin rõ ràng liên quan đến mục tiêu và nội dung nghiên cứu Đối tượng được thông báo là tự nguyện quyết định tham gia vào nghiên cứu hay không

- Việc phỏng vấn phải được tiến hành vào thời điểm thuận tiện cho người bệnh

- Các thông tin thu thập được từ các đối tượng chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, hoàn toàn được giữ bí mật

- Đối tượng được quyền dừng sự tham gia hoặc rút khỏi nghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đánh giá đặc điểm chung của người bệnh vô sinh thực hiện IVF

Bảng 3.1: Đặc điểm chung của người tham gia nghiên cứu

Độ tuổi của người tham gia Nam giới Nữ giới Chung

Tuổi trung bình (tuổi) 36,3 ± 5,7 32,4 ± 4,6 33,9 ± 4,8

Nhận xét: - Trong nghiên cứu, tỷ lệ người tham gia đa số dưới 35 tuổi chiếm 56,3%

Độ tuổi trung bình của nam giới là 36,3 ± 5,7 tuổi; nữ giới là 32,4 ± 4,6 tuổi

Biểu đồ 3.1: Nghề nghiệp của người tham gia nghiên cứu Nhận xét: Về nghề nghiệp: Đa số người tham gia có công việc ổn định chiếm 69,5%

Biểu đồ 3.2: Thời gian vô sinh của các cặp vợ chồng trong NC (n = 64) Nhận xét: Đa số, thời gian vô sinh của các cặp vợ chồng dưới 5 năm chiếm 65,6%

Trang 12

Biểu đồ 3.3: Số lần đã thực hiện IVF của các cặp vợ chồng trong NC (n = 64) Nhận xét: 67,2% chưa từng thực hiện IVF chiếm, đã có 32,8% đã từng thực hiện IVF

Biểu đồ 3.4: Nguyên nhân vô sinh của các cặp vợ chồng trong NC (n = 64) Nhận xét: Nguyên nhân do nữ chiếm 31,3%, do nam chiếm 23,4%, do cả 2 phía

chiếm 28,1%, chưa rõ nguyên nhân chiếm 17,2%

Biểu đồ 3.5: Nguyên nhân vô sinh của nữ giới (n = 64)

77%

11%

09%03%

Chưa từng thực hiện Lần 1

Lần 2 Lần ≥ 3

31.3

23.428.1

Vô sinh do nam giới

Vô sinh do cả hai Chưa rõ nguyên nhân

Buồng trứng đa nang

Dính vùng tiểu khung

Lạc nội mạc tử cung

Không rõ nguyên nhân

Số người bệnh

Ngày đăng: 16/08/2023, 12:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm