Hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự hiện nay có một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của công dân và lợi ích của quốc gia, ngăn chặn những hành vi phạm tội và đảm bảo sự trật tự xã hội được ổn định. Để các cơ quan tư pháp làm tốt nhiệm vụ của mình, đạt được mục tiêu đề ra thì Luật tố tụng Hình sự Việt Nam đã có những nguyên tắc, quy định cụ thể định hướng cho hoạt động xét xử. Đặc biệt, với sự xuất hiện của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” tại Điều 26 thì hoạt động tố tụng tại nước ta đã phần nào được định hướng rõ ràng hơn. Nguyên tắc này đã đảm bảo được tính công khai, công bằng trong các phán quyết của Tòa án, góp phần bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự. Đồng thời, đây cũng là nguyên tắc góp phần vào xây dựng nhà nước pháp quyền và là những tư tưởng chỉ đạo để hoàn thiện pháp luật hình sự.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- -BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỀ TÀI:
Nội dung, ý nghĩa, sự thể hiện của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét
xử được bảo đảm” và việc hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả áp
dụng nguyên tắc này
Lớp học phần: Tố tụng hình sự – CRL 1003 2
Giảng viên: Trần Thu Hạnh, Lê Lan Chi
Sinh viên: Lã Thu Phương – 19061283
Trang 2Hà Nội - 2021
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CỦA NGUYÊN TẮC “TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM 3
1 Khái niệm tranh tụng 3
2 Nội dung của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” 3
3 Sự thể hiện của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” 4
4 Ý nghĩa của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” 6
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC “TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM” 7
1 Thực tiễn áp dụng 7
2 Một số đề xuất 8
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3MỞ ĐẦU
Hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự hiện nay có một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của công dân và lợi ích của quốc gia, ngăn chặn những hành vi phạm tội và đảm bảo sự trật tự xã hội được ổn định Để các cơ quan tư pháp làm tốt nhiệm vụ của mình, đạt được mục tiêu đề ra thì Luật tố tụng Hình sự Việt Nam đã có những nguyên tắc, quy định cụ thể định hướng cho hoạt động xét xử Đặc biệt, với sự xuất hiện của nguyên tắc
“Tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” tại Điều 26 thì hoạt động tố tụng tại nước ta đã phần nào được định hướng rõ ràng hơn Nguyên tắc này đã đảm bảo được tính công khai, công bằng trong các phán quyết của Tòa án, góp phần bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Đồng thời, đây cũng là nguyên tắc góp phần vào xây dựng nhà nước pháp quyền và là những tư tưởng chỉ đạo để hoàn thiện pháp luật hình sự
Xuất phát từ những cơ sở nêu trên, sinh viên chọn đề tài “Nội dung, ý nghĩa, sự thể hiện của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam và việc hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả
áp dụng nguyên tắc này” làm đề tài cho tiểu luận kết thúc học phần Luật tố tụng hình sự Đây
là đề tài có ý nghĩa thiết thực đối với Việt Nam, góp phần trực tiếp vào hoạt động tố tụng Song
do hạn chế về mặt kiến thức cũng như giới hạn bài viết nên bài tiểu luận chỉ tập chung vào những vấn đề cơ bản nhất của đề tài
Mục đích nghiên cứu của bài tiểu luận là làm sáng tỏ nguyên tắc “Tranh tụng trong xét
xử được bảo đảm” Trên cơ sở đó, đánh giá thực tiễn việc hoàn thiện pháp luật, từ đó đưa ra những đề xuất để nâng cao hiệu quả áp dụng
Để thực hiện được mục đích này, bài tiểu luận đã trả lời những câu hỏi:
- Khái niệm tranh tụng là gì?
- Nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” thể hiện trong Bộ luật tố tụng hình
sự 2015 như thế nào?
- Một số thực tiễn áp dụng của nguyên tắc và đề xuất
Bài tiểu luận được thực hiện chủ yếu dựa trên phương pháp tổng hợp, phân tích dựa trên các tư liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu và dựa trên nền tảng cơ sở luận của phép duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Bài tiểu luận gồm 2 chương:
1
Trang 4- Chương I: Một số vấn đề chung của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”
- Chương II: Thực tiễn áp dụng nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”
2
Trang 5CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CỦA NGUYÊN TẮC “TRANH TỤNG
TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM
1 Khái niệm tranh tụng
Có nhiều quan điểm xoay quanh khái niệm về tranh tụng, tranh tụng xuất hiện lần đầu là bắt nguồn từ ý tưởng của nhà triết học Hy Lạp – Plato Cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa chính xác, cụ thể về khái niệm này, bởi lẽ pháp luật tố tụng hình sự và quá trình
tố tụng ở mỗi quốc gia là khác nhau Theo một số định nghĩa thì tranh tụng được hiểu là “quá trình” đưa vụ việc ra Tòa án để đưa ra phán quyết hoặc là “quy trình” đưa một cuộc tranh luận giữa mọi người hay một nhóm người ra trước Tòa Một định nghĩa khác về tranh tụng là “một thủ tục hoặc biện pháp pháp lý tiến hành chống lại một người”, còn Lawrence M Friedman nhắc đến khái niệm này theo một cách hiểu thông thường là hoạt động tranh luận tại Tòa án1 Như vậy, từ những định nghĩa và quan điểm nêu trên có thể hiểu tranh tụng theo nghĩa rộng là hoạt của các bên tham gia tố tụng hình sự; các bên bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa
ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm của phía đối lập Bên cạnh đó, tranh tụng còn được xét dưới góc độ là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Nguyên tắc tranh tụng có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ hoạt động tố tụng, là
“những tư tưởng chỉ đạo, nguyên lí, các định hướng chi phối toàn bộ quá trình tố tụng” và đảm bảo tính khách quan xuyên suốt quá trình từ khi xét xử đến khi kết thúc Đặc biệt nguyên tắc
“Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” có thể coi là nền tảng cho việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta
2 Nội dung của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”
Thứ nhất, các chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng bình đẳng trong quá trình giải quyết vụ án Quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ giữa các bên được thực hiện bình đẳng xuyên suốt từ khởi tố đến giai đoạn truy tố, xét xử Khi thực hiện tranh tụng thì bên bị buộc tội có quyền được biết về chứng cứ, lập luận của bên buộc tội, đồng thời cũng phải đưa ra những cứ của mình để phản bác lại, và ngược lại Tòa án thực hiện chức năng xét xử và đảm bảo cho tranh tụng được công bằng
Thứ hai, các điều kiện để tiến hành hoạt động tranh tụng phải đầy đủ, hợp pháp; phiên tòa phải bảo đảm sự có mặt đầy đủ của các thành phần tham gia trừ trường hợp đặc biệt hoặc
do trở ngại khách quan
1 Lawrence M Friedman; Litigation and Society; Annual Reviews; 1989.
3
Trang 6Thứ ba, chứng cứ và các tình tiết áp dụng để giải quyết các vấn đề của vụ án đều phải được xem xét, tranh luận làm rõ tại phiên tòa
Thứ tư, kết quả tranh tụng tại phiên tòa là cơ sở để tòa án ra bản án và các quyết định của mình2
3 Sự thể hiện của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”
Nguyên tắc tranh tụng lần đầu tiên được ghi nhận trong một văn bản pháp lý đó là Hiến pháp 2013 và Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2015 (Điều 26) đã đánh dấu một bước tiến mới trong xây dựng pháp luật tố tụng hình sự tại Việt Nam Cụ thể, nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” được thể hiện tại Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2015 như sau:
Thứ nhất, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, các chủ thể tiến hành tố tụng
và chủ thể tham gia tố tụng đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng
cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án Như vậy, Điều 26 đã quy định về thời điểm xuất hiện tranh tụng là “trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố” Đã có rất nhiều ý kiến xoay quanh về vấn đề thời điểm xuất hiện, có những ý kiến cho rằng tranh tụng xuất hiện sau khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực, quan điểm khác lại cho rằng tranh tụng chính là tranh luận tại tòa3 Tuy nhiên, dù tranh tụng và tranh luận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau với không đồng nhất với nhau bởi lẽ tranh luận chỉ là một hoạt động trong quá trình tranh tụng Khi nhìn nhận vào bản chất của tranh tụng là tranh tụng luôn gắn liền với hoạt động tài phán thì quá trình tố tụng chỉ tiến hành khi có sự có mặt đầy đủ các chủ thể thuộc bên bào chữa, buộc tội và xét xử Với cách nhìn nhận này thì Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 đã mở rộng phạm vi và xác định rõ hơn về thời điểm tranh tụng
Điều 26 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 cũng đã có quy định cụ thể về chủ thể tranh tụng trong tố tụng hình sự đó là “Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác”, các chủ thể này đều có quyền bình đẳng trong quá trình giải quyết vụ án Viện Kiểm sát là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, còn người bào chữa,
bị cáo là chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội Tòa án ở trung lập, xem xét và đánh giá quá trình
tố tụng một cách khách quan, đưa ra phán quyết công bằng và trong quá trình tranh tụng không
2 Nguyễn Ngọc Chí, Lê Lan Chi; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam; nxb Đại học quốc gia Hà Nội; 2019
3 Theo Phạm Tiến Đại; Bàn về nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Tạp chí Tòa án Nhân dân Điện
tử; 2019
4
Trang 7làm ảnh hưởng đến các quyết định của các bên Bên bào chữa có quyền, nghĩa vụ và địa vị pháp lý ngang bằng với bên buộc tội Các bên đều có quyền thu thập, đánh giá chứng cứ và đưa
ra yêu cầu làm rõ tình tiết cho việc tham gia tố tụng của mình Đồng thời, bên bị buộc tội hoặc người bị bắt, giữ…có quyền được biết lý do mình bị khởi tố hoặc có quyền yêu cầu lý do bị bắt, giữ… Đặc biệt, tại Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 còn quy định về quyền, nghĩa vụ của người bào chữa (Điều 73) và quyền lựa chọn người bào chữa của người bị buộc tội (Điều 75) Theo đó, người bào chữa có một số quyền cơ bản như: được đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tố tụng, người giám định, người phiên dịch ; đưa ra yêu cầu đề nghị hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; đưa ra yêu cầu triệu tập người làm chứng; có mặt trong hoạt động đối chất; gặp, hỏi người bị buộc tội
Thứ hai, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ
và hợp pháp, phiên tòa xét xử phải có mặt đầy đủ các thành phần tham gia trừ trường hợp đặc biệt và Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho các bên thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình, tranh tụng dân chủ, bình đẳng Mục đích của việc đưa ra những chứng cứ hợp pháp, hạn chế sử dụng chứng cứ sai sự thật là do Tòa án sẽ ra quyết định dựa trên các cơ sở bằng chứng, tài liệu của các bên, từ đó Tòa án sẽ ra bản án chính xác, xét xử đúng người đúng, tội đúng, pháp luật Phiên tòa phải có mặt đầy đủ của các thành phần tham gia là để đảm bảo cho chất lượng tranh tụng tại phiên tòa Bởi lẽ có một số trường hợp quá ít người đến tham gia tố tụng hoặc quá đông người đến tham gia tố tụng nhưng những người cần triệu tập thì không đến, cũng không có lý do chính đáng, điều này dẫn đến việc phiên tòa phải hoãn và làm gián đoạn, chậm trễ quá trình tố tụng Tòa án phải tạo điều kiện cho phiên tòa diễn ra dân chủ, bình đẳng, tại phiên tòa sẽ không xảy ra những trường hợp vi phạm pháp luật như dùng bạo lực để làm sai lệch sự thật vụ án
Thứ ba, mọi chứng cứ xác định có tội, vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, làm
rõ tại phiên tòa Điều này đã thể hiện điều cơ bản nhất của tranh tụng đó là công khai Các chứng cứ và các tình tiết có ý nghĩa quan trọng trong các hoạt động tố tụng nói chung và tố tụng hình sự nói riêng, vì vậy để đảm bảo những nhận định của Tòa án được khách quan thì việc kiểm tra đánh giá phải được thực hiện công khai
5
Trang 8Thứ tư, bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng
cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa Quá trình đối đáp giữa các bên thể hiện sự phản đối hoặc đồng ý với quan điểm, chứng cứ của phía bên kia Tòa án là cơ quan xét xử sẽ đánh giá một cách toàn diện các chứng cứ, các tình tiết của vụ án hình sự để đưa ra những nhận định làm rõ bản chất vụ án, đưa ra phán quyết nghiêm minh, công bằng
4 Ý nghĩa của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”
Thứ nhất, nguyên tắc này đã thể hiện chính sách pháp luật Tố tụng Hình sự hiện nay của
Đảng được ghi nhận tại các nghị quyết, Hiến pháp 2013 cũng như hàng loạt các văn bản khác4
Thứ hai, vì xét xử là hoạt động trọng tâm của tố tụng hình sự nên với sự xuất hiện của
nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” thì đã góp phần quan trọng trong định hướng, xây dựng pháp luật Tố tụng Hình sự và góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Thứ ba, nguyên tắc tranh tụng này giúp đảm bảo sự thật vụ án thông qua các giai đoạn
trong quá trình tố tụng, đảm bảo cái nhìn toàn diện, khách quan của vụ án
Nhìn chung, sự ra đời của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã mở ra một hướng đi mới cho quá trình tố tụng của Việt Nam Nguyên tắc này đã đặt ra những quy định cụ thể từ thời điểm đến các chứng cứ và bản án, giúp hoạt động xét xử được diễn ra thuận lợi Bên cạnh đó, nguyên tắc này đã đảm bảo tính minh bạch, khách quan trong xét xử, bởi lẽ không bên nào được nắm giữ quyền lực cao nhất, không bên nào có ưu thế hơn bên nào Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn thì nguyên tắc này vẫn có một số bất cập mà sinh viên sẽ đề cập ở Chương II bài tiểu luận này
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC “TRANH TỤNG TRONG XÉT
XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM”
1 Thực tiễn áp dụng
4 Sđd
6
Trang 9Nhìn chung, thực tiễn áp dụng nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” vào hoạt động xét xử của nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định Tại các phiên tòa xét xử, Hội đồng xét xử đã tạo điều kiện để các hoạt động của phiên tòa diễn ra kịp thời, công khai, đồng thời tạo điều kiện cho bên bị buộc tội trình bày quan điểm của bản thân và cho họ thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình Các Tòa án đã làm tốt việc hướng dẫn các bên thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tài liệu của vụ án và tăng cường phối hợp với các cơ quan nhằm giải quyết tốt vụ án Các quyết định, bản án của Tòa án cũng đảm bảo tính khách quan công bằng, đảm bảo đúng pháp luật Theo thống kê, chất lượng tranh tụng của Tòa án, đặc biệt là các Tòa án cấp tỉnh đã có những sự thay đổi tích cực, số bản án bị hủy vì vi phạm về thủ tục và việc áp dụng pháp luật đã giảm dần: năm 2013 số lượng bản án bị hủy bỏ so với các bản án đã tuyên là 3%, tiếp theo là năm 2018, 2019 tỉ lệ này đã giảm xuống 1,14% và 1,09%5
Bên cạnh những thành tựu này thì việc áp dụng nguyên tắc vào hoạt động tố tụng vẫn còn một số bật cập sau:
Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 dù đã bổ sung các quy định để đảm bảo quyền bình đẳng của các bên trong xét xử, tuy nhiên trong một số tình hình thực tế sự bình đẳng này vẫn chưa đạt được những kết quả như mong muốn bởi lẽ quyền của người tiến hành tố tụng vẫn được coi trọng hơn bên bị buộc tội và người bào chữa Ngoài ra, quyền bình đẳng của bị cáo và các chủ thể khác cũng chưa được đảm bảo Bởi lẽ khi bị cáo vắng mặt do cố tình mà không vì trường hợp khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã, nhưng đối với các chủ thể khác như người có quyền, nghĩa vụ liên quan… thì chưa có quy định cụ thể về vấn đề này
Những điều khoản tại Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 có một số điểm chưa phát huy được hết quyền, nghĩa vụ của người bào chữa Người bào chữa có quyền gặp gỡ, hỏi người bị buộc tội; đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung; xem biên bản hoạt động tố tụng, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa… Tuy nhiên, người bào chữa muốn được hỏi người bị bắt, bị tạm giữ, bị can thì phải có sự đồng
ý của người tiến hành lấy lời khai, hỏi cung, như vậy nếu người có thẩm quyền không đồng ý thì việc lấy thông tin để phục vụ phiên tòa của người bào chữa sẽ gặp khó khăn Bên cạnh đó, các quy định cũng chưa cụ thể về những trường hợp nào thì người có thẩm quyền đồng ý và không đồng ý cho người bào chữa hỏi, vậy có phải việc đồng ý sẽ dựa vào thái độ của người có
5 Võ Quốc Tuấn; Bảo đảm quyền bình đẳng của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở Việt Nam
hiện nay; Ấn phẩm tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 03+04; Tháng 2/2021
7
Trang 10thẩm quyền đối với người bào chữa hoặc bị can hay không? Khi muốn có mặt để lấy lời khai thì cũng phải được các quan này báo về thời gian, địa điểm, nếu người bào chữa không được thông báo thì cũng đồng nghĩa với việc không có cơ hội có mặt khi các cơ quan tiến hành hoạt động điều tra Ngoài ra, hoạt động tham gia tranh tụng của luật sư trong phần xét hỏi và tranh luận vẫn còn bị hạn chế: luật sư trong khi hỏi, tranh luận thường bị chủ tọa phiên tòa ngắt lời, như vậy ảnh hưởng đến tâm lý và chất lượng tranh luận của người biện hộ6
Nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” có quy định về việc mọi chứng cứ đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa nhưng trong thực tiễn xét xử thì Hội đồng xét xử chưa thực sự chú ý đến những tình tiết chứng cứ của vụ án Bên xét xử vẫn chưa làm tròn nhiệm vụ đánh giá các chứng cứ, lời khai nên những tài liệu, chứng cứ mà có lợi cho bên bị buộc tội cũng không có ý nghĩa Đặc biệt, việc không đánh giá rõ ràng các bằng chứng được đưa lên trước Tòa thì sẽ tạo ra mâu thuẫn trong vụ án, dẫn đến các phiên tòa sẽ mất thời gian để hoãn và điều ra lại
2 Một số đề xuất
Thứ nhất, cần bổ sung những quy định cụ thể hơn về thực hiện nghĩa vụ theo giấy triệu tập của những người tham gia tố tụng khác để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong xét xử của
bị cáo và những người tham gia khác
Thứ hai, cần cân nhắc một số quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa đồng thời nâng cao nhận thức của các cơ quan khác về thực hiện nguyên tắc trang tụng, để những cơ quan đó có thể nhận thức được vai trò của mình trong quá trình tố tụng và tạo điều kiện hợp lý
để người bào chữa tiếp cận được với các chứng cứ, thông tin có lợi cho việc bào chữa cho phiên tòa
Thứ ba, cần bồi dưỡng, đào tạo nâng cao năng lực của các chủ thể tham gia tố tụng, cụ thể là: Kiểm sát viên, Thẩm phán, và người bào chữa Để việc thực hiện nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” có hiệu quả thì việc nâng cao chất lượng cán bộ của những đội ngũ này là cần thiết Qua đó tình trạng những bản án vi phạm pháp luật hoặc oan sai sẽ được giảm thiểu
6 Lê Minh Đức, Thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của Luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay;
Luận án Tiến sĩ; 2020
8