Trong đó sẽ bao hàm dòng tiền hoạt động và tích lũy phụ thuộc vào những khái niệm kể trên, thực tế BGĐ công ty sẽ đưa ra 02 cách thức nhằm thay đổi mức lợi nhuận đó là: - QTLN thực tế
Trang 1CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Cơ sở lý luận về lợi nhuận
Định nghĩa về lợi nhuận, được xem như một yếu tố đóng vai trò chính trong sự đổi mới và đi lên của DN cũng như toàn XH Đồng thời cũng là động lực quan trọng thúc đẩy DN phát triển để khẳng định hơn nữa vị thế của mình trên thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay Đối với hầu hết DN khi hoạt động trong cơ chế thị trường thì điều đáng quan tâm trước hết đó là mức lợi nhuận Đây là một tiêu chí kinh tế bao gồm nhiều nhân tố, thể hiện KQ của HĐKD, mặt khác cũng là yếu tố sống còn của DN đó Một DN muốn tồn tại và phát triển bền vững thì trước hết nó phải tạo ra được lợi nhuận, còn nếu DN HĐKD không đem tới KQ, mức thu không chi trả được các khoản phí đã bỏ ra để SXKD thì DN đó sẽ bị loại trừ và dẫn tới phá sản Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 – VAS 01 – Chuẩn mực chung cho rằng “Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu; thu nhập khác
và chi phí Doanh thu; thu nhập khác; chi phí và lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận của doanh nghiệp là số chênh lệch giữa doanh thu hay thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được
số doanh thu hay thu nhập đó”
Lợi nhuận = Doanh thu (thu nhập) – Chi phí tạo ra doanh thu (Chi phí)
2.2 Cơ sở lý luận về quản trị lợi nhuận
2.2.1 Định nghĩa về quản trị lợi nhuận
Schipper (1986) “Quản trị lợi nhuận là sự can thiệp có chủ đích với sự tính toán kỹ lưỡng về mặt số liệu kế toán, lựa chọn các quy tắc báo cáo chính xác hơn nhằm đạt được mục tiêu của nhà quản trị”
Healy and Whalen (1999) “Quản trị lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng phán đoán của mình trong sự lựa chọn ước tính kế toán hoặc thay đổi cấu trúc các
Trang 2giao dịch nội bộ, gây tác động đáng kể đến chất lượng thông tin trên BCTC công bố cho các nhà đầu tư hoặc làm ảnh hưởng đến các hợp đồng mà có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận kế toán” R Ewert and A Wagenhofer (2011) đã khẳng định rằng
“Chuẩn mực kế toán là nền tảng, nguồn gốc quyết định hành vi quản trị lợi nhuận, cung cấp và đưa ra sự lựa chọn cho nhà quản trị”
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 – VAS 01 là cơ sở và nguyên tắc đo lường Lợi nhuận kế toán theo cơ sở:
- Cơ sở dồn tích: Hầu hết những nghiệp vụ kinh tế, tài chính trong DN đều liên kết với TS; nguồn vốn CSH; nợ phải trả; chi phí; doanh thu cần phải ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán ở thời điểm diễn ra phát sinh, không dựa trên thực tế ở thời điểm thu hay chi tiền hoặc tương đương tiền
- Hoạt động liên tục: Lợi nhuận kế toán dựa trên quy tắc thực hiện liên tục, nhận định nhờ vào thời điểm quy định liên quan tới công việc tại một thời điểm cụ thể Hiểu cách khác thì, lợi nhuận sẽ được nhận định dựa vào cơ sở hoạt động liên tục
- Nguyên tắc phù hợp: Công tác ghi nhận mức doanh thu và chí phí cần phải thích hợp với nhau Khi tiến hành ghi nhận một khoản doanh thu thì cũng đồng nghĩa với việc sẽ phải ghi nhận một khoản chi phí phù hợp với doanh thu đó Với những chi phí đó sẽ có chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí cần thanh toán có mối liên hệ với doanh thu trong kỳ đó
- Nguyên tắc thận trọng kế toán: Thận trọng thực chất được xem như việc nhận định, xem xét một cách đúng đắn nhằm đưa ra được ước tính kế toán ở những hoàn cảnh chưa có sự chắc chắn Trong đó, yếu tố của thận trọng sẽ bao gồm: Cần phân tích trích lập dự phòng không quá cao; không đưa ra nhận định cao hơn mức với mức giá của TS cũng như những khoản thu khác; đồng thời cũng không đưa ra đánh giá thấp hơn mức giá trị của những khoản nợ phải trả và chi phí; DT sẽ được ghi nhận khi đưa ra được bằng chứng cho thấy đã sinh ra lợi nhuận về mặt kinh tế, mặt khác chi phí lại được ghi nhận khi đưa ra được bằng chứng có liên quan tới khả năng phát sinh
Trang 32.2.2 Mục đích của quản trị lợi nhuận
Có thể thấy việc thay đổi mức lợi nhuận thu được là một hoạt động hết sức quan trọng đối với các DN, do khi diễn ra việc thay đổi mức lợi nhuận có thể khiến cho BCTC giảm đi độ đáng tin cậy và đây là báo cáo chính để đem tới mọi thông tin liên quan tới HĐKD của công ty cho NĐT Vì sự mất cân bằng trong thông tin giữa người bên trong và ngoài của DN, nên những người bên trong DN có thể trên việc kiểm soát của họ với quyền truy cập và đưa ra được BCTC nhằm thay đổi cũng như che đi các KQ không đạt
Dựa trên nghiên cứu của TG Nguyễn Công Phương (2007) thì cơ sở để NQT tiến hành HVQTLN đó là:
- Mức độ lương, thưởng đối với NQT
- Thu hút thêm nhiều nhà tài trợ từ bên ngoài vào
- Tránh làm sai hợp đồng
- Hạn chế tối đa chi phí điều tiết của nhà nước
- Tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN
- QTLN dựa vào việc chọn ra chính sách kế toán
2.2.3 Cơ sở của quản trị lợi nhuận
Những DN trước khi lập BCTC (ngoại trừ BC lưu chuyển tiền tệ) dựa trên tiêu chuẩn kế toán quốc tế IAS1 cần thông qua cơ sở dồn tích Tại đây sẽ được tiến hành giám sát mọi giao dịch ở những kỳ khác nhau như: Nợ phải trả; TS khấu hao; nợ phải thu; dự phòng… Bên cạnh đó, tất cả những nghiệp vụ kinh tế phát sinh có liên quan tới TS, vốn CSH, nợ phải trả, doanh thu và chi phí sẽ được ghi nhận ở đúng thời điểm diễn ra việc phát sinh giao dịch, không phải thời điểm diễn ra việc giao dịch Từ đó cho ta thấy được thực chất của cơ sở dồn tích đó là nguyên tắc mang tính đơn giản nhất có thể thay đổi những phương pháp kế toán nhất định trong DN
Trang 4Lợi nhuận được xem như tiêu chí khiến những NQT có thể ưu tiên đối với hành vi điều chỉnh Trong đó sẽ bao hàm dòng tiền hoạt động và tích lũy phụ thuộc vào những khái niệm kể trên, thực tế BGĐ công ty sẽ đưa ra 02 cách thức nhằm thay đổi mức lợi nhuận đó là:
- QTLN thực tế (Real earning management - REM): Trong một nghiên cứu khác mang tính toàn diện hơn được Roychowdhury (2006) đưa ra đã cho thấy “QTLN thực chất được xem như sự mới lạ đối với mọi hoạt động đang diễn ra, nó được khích lệ dựa trên những nhu cầu của NQL, để tạo ra sự hiểu nhầm cho các bên có liên quan về tiêu chí của BCTC đã có được trong giai đoạn diễn ra HĐKD bình thường của DN”
- QTLN dồn tích (Accrual-based earning management - AEM): TG Xiong (2006) lại xem QTLN dồn tích luôn có một phần tích lũy ngược trong quá trình diễn ra HVQTLN Điều này tức là phụ thuộc vào chính sách kế toán mà NQT sẽ sử dụng các biện pháp khác nhau nhằm tạo nên sự thay đổi trong lợi nhuận giữa các kỳ, việc tăng trưởng lợi nhuận diễn ra ở thời điểm này sẽ đưa tới sự giảm lợi nhuận tại kỳ kế tiếp Mặt khác, việc giảm mức lợi nhuận tại thời điểm hiện nay sẽ hình thành nên sự gia tăng lợi nhuận ở thời điểm tiếp theo Hoạt động QTLN dựa vào phương pháp dồn tích nên sẽ không tác động tới dòng tiền của DN như REM (Cupertino, Martinez, & da Costa, 2015), phương phát trên rất dễ tiến hành và sử dụng nguồn vốn ít hơn QLLN thực tế
Tựu chung lại, dựa vào phạm vi nghiên cứu của luận văn có thể biết được QTLN được xem như STG có mục đích thông qua quyết định của NQT dựa vào việc áp dụng đúng đắn, sáng tạo của các nguyên tắc kế toán hợp pháp, luôn giữ được tính phù hợp về mặt tài chính Dựa trên những quy định kế toán đưa ra, nó có thể hạn chế hay nhân rộng hơn nhằm giúp NQT hoàn thành tiêu chí lợi nhuận QTLN được xem như công cụ hữu ích có thể thay đổi được nội dung của các thông tin, “trắng” đại diện cho sự có lợi, còn “đen” thì thể hiện sự bất lợi và “xám” là cả hai Ronen và Yaari (2008)
Trang 52.3 Một số mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận
Mọi nội dung có trong cơ sở lý thuyết liên quan tới việc nhận biết HVQTLN đều được hầu hết các TG trong và ngoài nước dựa trên nguyên tắc dồn tích của kế toán Thực chất của nguyên tắc này đó là chia mức lợi nhuận có tại kỳ mà DN đạt được thành hai loại đó là: (i) Lợi nhuận thực thu (Cash Earning) và (ii) Lợi nhuận dồn tích (Accrural Earning) Với mức Lợi nhuận thực thu giống như khoản thu thực tế thu/chi phát sinh tại kỳ của DN, khoản này thường không thể điều chỉnh được Còn Lợi nhuận dồn tích lại là khoản cần chi trả, chi phí thanh toán trước, khoản dự phòng TS giảm giá hoặc dự phòng phải trả, khấu hao v.v…Khoản này NQL có thể điều chỉnh được Chính vì vậy, những mô hình xác định HVQTLN đều đến từ khoản dồn tích, nói cách khác là khoản dồn tích trong lợi nhuận (Total accrual earning viết tắt TA)
TA = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
Tuy nhiên, không thể tính TA một cách trực tiếp vì trong TA vẫn bao gồm khoản dồn tích phù hợp, đúng với tình hình hoạt động của DN Do đó, các nhà nghiên cứu
đã tách TA thành hai phần: Các khoản dồn tích không thể điều chỉnh Discretionary accruals viết tắt NDA) và khoản dồn tích có thể điều chỉnh DA chính
(Non-là thước đo phù hợp đánh giá các nhà quản lý có điều chỉnh lợi nhuận hay không
TA = NDA + DA Suy ra: DA = TA – NDA
DA < 0: Khả năng nhà quản lý che giấu lợi nhuận
DA = 0: Không có hành vi QTLN
DA > 0: Khả năng nhà quản lý thổi phồng lợi nhuận
Để đo lường hành vi QTLN có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau
2.3.1 Mô hình của Healy (1985)
TG Healy đã cho thấy, phần không thể điều chỉnh (NDA) thực chất là TB tổng biến
kế toán dồn tích (TA) trong những năm qua chia cho giá trị TS đầu năm
Trang 6Điểm nổi bật trong nghiên cứu của Healy so với nhiều nghiên cứu khác đó là việc QTLN được thực hiện một cách chi tiết dựa trên giả định tồn tại trong những kỳ kế toán khác nhau, vì thế TA sẽ được nhận định thông qua khoản lệch về lợi nhuận kế toán trừ đi dòng tiền trong HĐKD như sau:
Khoản dồn tích không thể điều chỉnh trong kì t:
Suy ra Khoản dồn tích có thể điều chỉnh:
: Phần dồn tích không thể điều chỉnh của DN
: Phần dồn tích có thể điều chỉnh của DN
: Tổng dồn tích của DN năm t
: TTS của DN năm t-1
: số năm trong kỳ ước tính
: năm nghiên cứu về hành vi QTLN
Dựa vào mô hình của Healy, một khi không diễn ra việc thay đổi mức lợi nhuận thì
DA = 0 và TA lại chính là NDA, bằng với giá trị trung bình của TA Hiểu cách khác thì, NDA sẽ không có sự thay đổi qua các năm Điểm nổi bật của nó đó là luôn tạo
sự đơn giản trong tính toán, còn điểm hạn chế đó là biến NDA không đổi qua các năm nhưng trong thực tế khi mức độ hoạt động của DN có sự thay đổi thì sẽ dẫn tới việc NDA thay đổi theo do NDA đi đôi với hoạt động của DN Từ đó, đưa tới việc
đo lường biến dồn tích DA bị sai sót
Trang 72.3.2 Mô hình của DeAngelo (1986)
Đồng quan điểm với Healy (1985) “cho rằng khoản dồn tích có thể điều chỉnh (DA) đại diện cho điều chỉnh lợi nhuận, cách đo lường (DA) phải thông qua việc xác định khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) Mô hình của DeAngelo giả định rằng các thành phần (NDA) sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với TA của thời kỳ t-1 hay nói cách khác NDA không thay đổi qua 2 năm, do đó sự thay đổi trong TA thời kì t và t-1 được giả định là do việc điều chỉnh kế toán” Công thức cụ thể như sau:
Khoảng dồn tích không thể điều chỉnh và khoản dồn tích có thể trong kì t:
: Phần dồn tích không thể điều chỉnh của DN
: Phần dồn tích có thể điều chỉnh của DN
: Tổng dồn tích của DN năm t
: TTS của DN năm t-1
: TTS của DN năm t-1
: số năm trong kỳ ước tính
: năm nghiên cứu về hành vi QTLN
Trong mô hình Healy xuất hiện trường hợp đặc biệt đó là mô hình DeAngelo, với
kỳ ước tính mới chỉ thuộc một kì kế toán Hai mô hình trên đều dùng biến kế toán dồn tích nhằm xác định rõ việc có diễn ra sự thay đổi lợi nhuận hay không Mặc dù vậy, mô hình DeAngelo khó đạt được sự đúng đắn khi những công ty luôn có xu thế đổi mới Trong đó sẽ bao hàm cả biến kế toán dồn tích, điều này đồng nghĩa với
Trang 8việc nhân tố tăng trưởng không được đề cập tới gây ra việc nhận định KQ không chính xác
2.3.3 Mô hình của Friedlan (1994)
Biến thể Friedlan hình thành để khắc phục những hạn chế trong mô hình DeAngelo (1986) Điểm cập nhập thêm là nhận định nhân tố (i) sự thay đổi phụ thuộc vào tăng trưởng và xác định thông qua DT thường dùng khi một DN đổi mới, (ii) sự thay đổi dựa trên chọn lựa của kế toán và tổ chức phát hành Trong đó, DA sẽ được tính như sau:
: Phần dồn tích không thể điều chỉnh của DN
: Phần dồn tích có thể điều chỉnh của DN
: Tổng dồn tích của DN năm t
: TTS của DN năm t-1
: Doanh thu năm t
Điểm nổi bật trong mô hình này đó là dễ dàng tính toán Mặc dù vậy thì DT cũng không thể đại diện cho hầu hết mức độ hoạt động trong DN đó, nó bị ảnh hưởng dựa vào việc bán thiếu dẫn tới việc đo lường sẽ không đúng
2.3.4 Mô hình của Jones (1991)
Không giống như Healy (1985) và DeAngelo (1986) “cho rằng các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) là không đổi qua các năm” Mô hình Jones (1991)
“xây dựng trên cơ sở phần NDA phụ thuộc, như một hàm tuyến tính của sự thay đổi
Trang 9vào doanh thu và nguyên giá TSCĐ Do đó, mô hình Jones sử dụng mức biến động
về DTT và nguyên giá TSCĐ để tính toán NDA”:
: Nguyên giá TSCĐ cuối năm t
: số năm trong kỳ ước tính
: năm nghiên cứu về hành vi QTLN
Cho dù mô hình nghiên cứu vẫn chưa được hoàn thiện, những điểm nổi bật trong
mô hình là các thay đổi của bối cảnh kinh tế trong DN TG nhận thấy đây là thể hiện của sự thay đổi về DT thuần của DN, cho thấy thực tế cũng như quá trình HĐKD giống như một khoản thể hiện tính khách quan không bị NQL dùng vào việc điều chỉnh
Trang 102.3.5 Mô hình của Dechow và Sloan và Sweeney (1995)
Trái với mô hình Jones (1991) “giả định doanh thu là khoản không thể điều chỉnh” Dechow và Sloan và Sweeney (1995) “cung cấp bằng chứng có trường hợp điều chỉnh doanh thu, loại trừ giả thuyết về tính ổn định của biến kế toán không thể điều chỉnh NDA theo thời gian Mô hình đã đề xuất một phiên bản mới của mô hình Jones bằng việc thay thế biến động của doanh thu vì tổng các khoản dồn tích được ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ hữu hình và doanh thu được thay đổi khi điều chỉnh các khoản phải thu - biến động doanh thu bằng tiền Doanh thu bằng tiền bằng chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và khoản phải thu khách hàng”
Điểm nội bật trong mô hình của Dechow và Sloan đã xem NDA là yếu tố chung đối với hầu hết DN cùng ngành, NDA được tính toán dựa trên nghiên cứu về tình hình thực tế của ngành đang diễn ra Đó là:
Trang 11: Phải thu khách hàng năm t – Phải thu khách hàng năm (t-1)
: Nguyên giá TSCĐ cuối năm t
: số năm trong kỳ ước tính
: năm nghiên cứu về hành vi QTLN
2.3.6 Mô hình của Kasznik (1999)
Kế thừa mô hình của Dechow, Sloan và Sweeney (1995), Kasznik “đã sử dụng sự thay đổi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên TTS năm trước làm biến để tính NDA” Như vậy, NDA được tính theo phương trình hồi quy như sau:
: Phải thu khách hàng năm t – Phải thu khách hàng năm (t-1)
: Nguyên giá TSCĐ cuối năm t
Trang 12: Sự thay đổi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của DN năm t
: số năm trong kỳ ước tính
: năm nghiên cứu về hành vi QTLN
Kazsnik đã chỉ ra rằng nhằm hạn chế thấp nhất những sai lệch trong ước tính khoản dồn tích, việc có thêm những biến thay đổi trong dòng tiền từ HĐKD trên TTS để điều chỉnh mặt hạn chế trên, nó được xem như điểm nổi bật trong mô hình
2.3.7 Mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005)
Cùng kế thừa mô hình Dechow (1995) nhưng Kothari, Leone và Wasley lại quyết định sử dụng yếu tố kết quả hoạt động thay vì yếu tố sự thay đổi dòng tiền như Kasznik (1999), cụ thể là yếu tố Tỷ suất lợi nhuận trên TTS (ROA) Mô hình tính NDA được thể hiện như sau:
Trang 13: Phải thu khách hàng năm t – Phải thu khách hàng năm (t-1) : Nguyên giá TSCĐ cuối năm t
: Tỷ suất Lợi nhuận trên Tài sản năm (t-1) : số năm trong kỳ ước tính
: năm nghiên cứu về hành vi QTLN
2.4 Cơ sở lý thuyết nền
2.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory)
Jensen và Meckling (1976) trong tác phẩm “Theory of Firm: Managerial Behaviour, Agency Costs and Ownership Structure” tạm dịch là “Lý thuyết về doanh nghiệp: Hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện và cấu trúc sở hữu” đã giới thiệu các quan điểm của mình về lý thuyết người đại diện Nội dung trong lý thuyết là nghiên cứu về mối quan hệ giữa người sở hữu chính thức (cổ đông) và người đại diện (GĐ) Có thể thấy, mối quan hệ trên dựa vào việc ký HĐ, trong đó cổ đông sẽ là người chỉ thị cho GĐ thay mặt làm người đại diện DN, nhằm tiến hành việc QLDN giúp họ trong đó sẽ bao gồm việc đưa ra quyết định liên quan tới định đoạt TS của
DN Vì liên quan tới HVQTLN, lý thuyết giúp lý giải việc người đại diện tiến hành HVQTLN trong BCTC để tối đa lợi nhuận Cổ đông thường đề cập tới giá trị DN, mức giá cổ phiếu (đây là lợi nhuận của họ) Với, NQT thường không đề cập tới lợi ích của cổ đông mà hay quan tâm tới lợi ích của bản thân hơn (chế độ tiền lương, thưởng, trợ cấp, một số nguồn thu khác phụ thuộc vào vị trí CV) Đa số người bên trong sẽ nắm được các thông tin sớm và đầy đủ trước các cổ đông, do đó họ thường gặp những tình huống khó xử và có nhiều mâu thuẫn với GĐ Hai bên sẽ có những lợi ích riêng, vì thế khi DN càng lớn thì sự tách biệt sẽ càng xa, từ các điểm riêng biệt trong mối quan hệ đại diện đưa tới cách nhìn nhận đó là khả năng gian lận trong
DN niêm yết là có diễn ra
Trang 14Dựa trên lý thuyết đại diện thì, các thông tin đưa ra không đầy đủ và chưa có sự cân bằng giữa cổ động với GĐ sẽ dẫn tới những xung đột Hai đối tượng đều mang những lợi ích khác nhau, vì thế nó được hạn chế bằng cách dùng tới những giải pháp phù hợp để giảm đi việc phân hóa về lợi ích giữa cổ đông và GĐ, dựa vào việc xây dựng cách thức đãi ngộ phù hợp cho NQT Tạo ra cơ chế kiểm tra đem lại KQ cao nhằm giảm thiểu các hành vi không đúng tiêu chuẩn, mang lợi ích riêng của NQL DN Sử dụng trong mô hình nghiên cứu, nhân tố chủ yếu tác động tới HVQTLN dựa vào nhận định mức lợi ích của những bên liên quan – thành viên trong HĐQT cũng như cổ đông Qua đó đã lý giải cho những nhân tố ảnh hưởng tới HVQTLN trong DN đưa ra
2.4.2 Lý thuyết bất đối xứng (Asymmetric information)
Vấn đề bất đối xứng thông tin bắt đầu được đề cập trong một bài báo kinh điển xuất bản vào năm 1970 của nhà kinh tế học người Mỹ George Akerlof: “The Market of Lemons: Quality Uncertainty and the Market Mechanism” và “đã khẳng định được
vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế Bất đối xứng thông tin thể hiện trạng thái bất cân bằng cơ cấu thông tin giữa các chủ thể giao dịch, có mức độ nắm giữ thông tin không ngang nhau Một bên là nhà quản trị doanh nghiệp biết nhiều thông tin về nội bộ của doanh nghiêp, một bên là nhà đầu tư, cổ động lại không biết quá nhiều, họ chỉ biết trên các BCTC” Vì thế, những NQT sẽ tiến hành việc điều chỉnh mức lợi nhuận nhằm hoàn thành tiêu chí như: Thu hút thêm nhà đầu tư; phát hành CP; đưa
ra giá CP; mức lương; thưởng v.v đó được xem như hành vi tha hóa theo hướng như thế Phải kể tới đó là trên TTCK, việc bất cân xứng về thông tin có thể đem tới nhiều tác hại nghiêm trọng khi NQT cố tình tạo ra việc này DN lại không muốn mọi người biết tới những thông tin bất lợi cho mình và khoe ra những thông tin đem lại lợi ích; NĐT lại không có được các thông tin giống nhau; những kẻ xấu đưa ra tin đồn không đúng hoặc diễn ra tình trạng “làm giá” cổ phiếu
Trang 15Từ đó đưa tới việc NĐT có các quyết định đầu tư không có độ chính xác cao; tạo hiện tượng cung cầu ảo và sẽ tiềm ẩn nhiều mối nguy hại gây sụp đổ thị trường Lý thuyết bất cân xứng đã cho thấy việc có thể diễn ra HVQTLN trong những DN niêm yết trên TTCK
Nội dung trong lý thuyết bất cân xứng thông tin đó là đề cập nhiều tới những nhân
tố bên trong và ngoài của DN nắm bắt thông tin Hậu quả đem tới đối với nền kinh
tế mới ra đời và đang phát triển của nước ra, các thông tin không có sự đối xứng sẽ tạo ta nhiều tác động to lớn như: Một số thông tin có thể bị lộ ra ngoài khi thông tin
đó chưa được công khai; DN đem tới những thông tin gây bất lợi cho NĐT; nhiều tin tức thất thiệt; NĐT sẽ không đáp ứng nguồn vốn để tạo danh tiếng thu hút được nhà đầu tư Sử dụng trong mô hình nghiên cứu, lý thuyết hỗ trợ tốt việc tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới HV thay đổi lợi nhuận cũng như lý do dẫn tới HVGTLN ở DN
2.4.3 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)
Lý thuyết tín hiệu Ross (1977) “cho rằng nhà quản trị của doanh nghiệp sử dụng tín hiệu tốt về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp làm công cụ phát tín hiệu đến thị trường” Hoạt động đem tới những thông tin kế toán (TTKT) như ROA
- khả năng sinh lời; LEV - đòn bẩy tài chính; chỉ số thanh toán; ROE - tỷ lệ vốn v.v cho thị trường giúp cho đối tượng bên ngoài đưa ra nhận định đúng đắn về thực tế vấn đề tài chính cũng như HĐKD hiện nay của DN là hết sức quan trọng Một khi
DN đang HĐKD tốt thì sẽ có cho mình một hệ thống QTNL hết sức rõ ràng và đầy
đủ trong BCTC, điều này mang tới lợi ích cho TTCK cũng như các NĐT Vì điều này khiến NĐT tăng thêm cơ hội sinh lợi nhuận trên các cố phiếu đó, thực tế DN có thể huy động được khá nhiều nguồn vốn Nói cách dễ hiểu hơn thì nguồn lực về vốn trên TTCK đã được phân chia hợp lý Mặc dù vậy khi DN được NĐT đem tới thông tin về tình hình HĐKD không ổn định, NQT đã dựa ra lợi thế có được những thông tin mang tính nội bộ nhằm thực hiện hành vi đạt được lợi nhuận trong các kỳ giúp lợi nhuận trong kỳ hiện tại tăng lên, tăng thêm sự hấp dẫn cho các NĐT mới Dựa vào lý thuyết trên khi diễn ra sự mất cân đối về thông tin, lý thuyết tín hiệu sẽ mang
Trang 16tới một trạng thái cân bằng, với những đối tượng mang lợi thế về thông tin tốt hơn
là tín hiệu (ví dụ các thông tin phù hợp) cho những đối tượng khác
Lý thuyết tín hiệu đã khiến cho mô hình nghiên cứu đạt nhiều giả thuyết liên quan tới sự trung thực và rõ ràng về thông tin trên BCTC giống với tiêu chí lợi nhuận; đòn bẩy tài chính; tỷ số nợ của Tăng thêm tính hội nhập, kích thích nguồn vốn từ NĐT trong nước cũng như TG Đáp ứng mọi thông tin một cách đúng lúc về yêu cầu cung cấp thông tin phù hợp, đa dạng
2.4.4 Lý thuyết các bên có liên quan (Stakeholder theory)
Lý thuyết các bên liên quan là lý thuyết đề cập tới đạo đức và các giá trị trong quản trị tổ chức Lý thuyết ban đầu được nghiên cứu bởi Freeman (1984) “Strategic Management: A Stakeholder Approach – tạm dịch Quản trị chiến lược: Cách tiếp cận từ các bên liên quan” “Lý thuyết này cho rằng các bên liên quan bị ảnh hưởng bởi những hành động của tổ chức Mỗi bên liên quan như cổ đông; chính phủ; hiệp hội thương mại; công đoàn; cộng đồng; các doanh nghiệp liên quan; khách hàng v.v đều có nhu cầu khác nhau Do đó, vì lợi ích của mình, các bên liên quan luôn mong đợi là doanh nghiệp phải có những ứng xử phù hợp với trách nhiệm môi trường để đạt được sự hoạt động hợp pháp trong xã hội, qua đó giúp họ đạt được các lợi ích kinh tế khác Các bên có liên quan cũng sẽ đánh gía việc thực hiện trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp, thông qua các thông tin môi trường mà doanh nghiệp công bố Lý thuyết này được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá nhóm nhân tố áp lực
từ phía các bên liên quan ảnh hưởng tới khả năng áp dụng kế toán môi trường trong doanh nghiệp Những thông tin do doanh nghiệp công bố bao gồm cả thông tin tài chính và thông tin môi trường là những căn cứ quan quan trọng để các bên liên quan đánh giá hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra quyết định chấp thuận hay không đồng thuận hoạt động của doanh nghiệp Do vậy doanh nghiệp thường điều chỉnh hoạt động và công bố thông tin sao cho phù hợp với kỳ vọng”
Từ lý thuyết những bên có liên quan, thực tế DN không thể tối đa hóa được giá trị khi không giữ vững được mối quan hệ với những bên có liên quan cũng như các
Trang 17cuộc thảo luận về mục tiêu của DN đơn giản đó là tối đa hóa lợi nhuận hoặc dựa vào lợi ích thu được của những bên liên quan đang có dấu hiệu tăng mạnh Trong lý thuyết đã cho thấy sự đi lên của DN sẽ dựa vào sự bên vững trong HĐKD, điều này chỉ được biết tới khi nhận định về nhu cầu của các bên có liên quan tới Sử dụng trong mô hình nghiên cứu, lý thuyết của các bên liên quan là điều kiện giúp biết được yếu tố nào đã chi phối HVQTLN dựa theo các LĐ đang làm việc tại công ty,
có liên quan tới mô hình DN
2.4.5 Lý thuyết chi phí chính trị (Political costs theory)
Chi phí chính trị là chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra thông qua một hành vi mang tính chính trị bên ngoài tác động vào như nhà nước, nghiệp đoàn hay nhóm cộng đồng Do phải gánh chịu một khoản chi phí chính trị sẽ ảnh hưởng đến khoản lợi nhuận Lý thuyết chi phí chính trị được phát triển bởi Watts và Zimmerman (1978)
“chỉ ra rằng lợi nhuận kế toán chịu tác động bởi các chi phí chính trị như chính sách thuế, hạn chế độc quyền Những chính sách vĩ mô của nhà nước ảnh hưởng đến hành vi quản trị Nhà quản trị sẽ tìm mọi cách nhằm giảm thiểu nhất có thể những tác động bất lợi đến doanh nghiệp”
Theo nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1978) “kết lận rằng các doanh nghiệp
có quy mô và lớn nhuận lớn hơn thường che giấu nghĩa vụ đóng thuế vì lợi nhuận được coi là cơ sở tính thuế” Han và Wang (1998) “nghiên cứu về cuộc khủng hoảng vùng vịnh Ba Tư năm 1990, nhiều doanh nghiệp dầu mỏ của Hoa Kỳ đã áp dụng biện pháp giảm lợi nhuận bằng cách thay đổi chính sách kế toán và giảm giá đánh giá lại hàng tồn kho của kỳ kế toán nhằm giảm khoản thuế phải nộp cho ngân sách Do đó, lý thuyết chi phí chính trị làm cơ sở phân tích hành vi điều chỉnh lợi nhuận để tránh những bất lợi cho doanh nghiệp và nâng cao hình ảnh và thương hiệu trên thị trường”
Trong lý thuyết chi phí chính trị thường nhắc tới một số chính sách vĩ mô của nhà nước tác động tới HĐKD, khi DN có quy mô càng lớn thì sẽ mong muốn hạn chế được những nghĩa vụ đối với nhà nước
Trang 18Sử dụng trong mô hình nghiên cứu, nội dung của chi phí chính trị sẽ tạo cơ hội cho động cơ đưa tới việc thực hiện HV thay đổi mức lợi nhuận đưa ra phương thức điều chỉnh kế toán tương ứng với NQT
Trang 19KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương này trình bày các vấn đề liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận đồng thời cung cấp cho tác giả cơ sở lý thuyết làm cơ sở cho việc đo lường, đánh giá cho quá trình nghiên cứu Để đạt được mục đích đó, trong chương này tác giả đi sâu về
cơ sở đo lường, định nghĩa, mục đích và các phương pháp nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận trên thế giới Ngoài ra, tác giả cũng xem xét lý thuyết về các nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận làm cơ sở cho việc xây dựng thang đo ở Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu Bên cạnh đó để có cơ sở khoa học trong quá trình nghiên cứu, tác giả vận dụng một số lý thuyết nền tảng để phân tích và đánh giá kết quả nghiên cứu
Trang 20CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1 Quy trình thực hiện luận văn
(Nguồn: Tác giả, 2023)
Trang 21Bước 1: Thông qua các nghiên cứu đã công bố trên thế giới bao gồm các bài báo, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến hành vi quản trị lợi nhuận, kết hợp với sức nóng của Đại dịch bệnh đang hoành hành Thôi thúc tác giả tìm ra khoảng trống và xác định vấn đề nghiên cứu
Bước 2: Xác định vấn đề nghiên cứu, đây là bước quan trọng để giải vấn đề của đề tài tác giả muốn nghiên cứu Thông qua việc xác định này, làm cơ sở vững chắc để tìm vùng trọng tâm, căn nguyên của vấn đề
Bước 3: Xác định câu hỏi nghiên cứu phù hợp với trọng tâm đã nêu ở bước 2 Các câu hỏi xoay quanh quản trị lợi nhuận ở nhóm ngành Chăm sóc sức khỏe và hàng tiêu dùng thiết yếu như:
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hành vi QTLN của các DNNY thuộc nhóm ngành chăm sóc sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu tại VN?
- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi QTLN của các DNNY thuộc nhóm ngành chăm sóc sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu tại VN hiện nay như thế nào?
- Kiến nghị nào nhằm hạn chế hành vi QTLN gây tác động xấu đến các DNNY thuộc nhóm ngành chăm sóc sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu tại VN? Bước 4: Hệ thống hóa các lý thuyết và mô hình liên quan đến hành vi quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích đã công bố trên thế giới Nhằm tạo cơ sở cho các lý thuyết
và mô hình nghiên cứu của bản thân tác giả
Bước 5: Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết thuộc nhóm ngành Chăm sóc sức khỏe và ngành Hàng tiêu dùng thiết yếu tại Việt Nam giai đoạn 2015 -2020
Bước 6: Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp nhằm trả lời cho câu hỏi tiên quyết “Các doanh nghiệp niêm yết thuộc nhóm ngành Chăm sóc sức khỏe và ngành Hàng tiêu dùng thiết yếu tại Việt Nam có hành vi quản trị lợi nhuận hay không?”
Trang 22Bước 7: Phân tích, kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu chuyên sâu với các nhân tố nào ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận và mức độ tác động của mỗi nhân tố như thế nào bằng phương pháp nghiên cứu định lượng Tiến hành hồi quy, thực hiện kiểm định để chọn mô hình ước lượng phù hợp
Bước 8: Căn cứ vào kết quả của bước 7, luận văn có căn cứ đưa ra những chứng cứ dùng để thảo luận
3.2 Mô hình nghiên cứu
3.2.1 Phân tích hành vi quản trị lợi nhuận theo Kothari, Leone và Wasley
(2005)
Mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) nhằm nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận thông khoản dồn tích có thể điều chỉnh DA và khoản dồn tích không thể điều chỉnh được NDA như sau:
: Doanh thu thuần năm t – Doanh thu thuần năm (t-1)
: Phải thu khách hàng năm t – Phải thu khách hàng năm (t-1)
Trang 23: Nguyên giá TSCĐ cuối năm t
: Tỷ suất Lợi nhuận trên Tài sản năm (t-1) : số năm trong kỳ ước tính
: năm nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận
Bước 1: Tính tổng = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh Báo Cáo lưu chuyển tiền tệ
Bước 2: Tính các chỉ số
: Doanh thu thuần năm t – Doanh thu thuần năm (t-1) Báo cáo KQHĐKD
: Phải thu khách hàng năm t – Phải thu khách hàng
năm (t-1)
Bảng CĐKT
: Tỷ suất Lợi nhuận trên Tài sản năm (t-1) Bảng CĐKT
Báo cáo KQHĐKD
Bước 3: Tính các hệ số , ,
Thay các chỉ số tính toán được ở Bước 1 và Bước 2 vào phương trình và tiến hành hồi quy
Trang 24Trong đó: là sai số ước tính của doanh nghiệp trong năm t
Bước 4: Thay các hệ số , , vào phương trình tính được NDA và DA
Bước 5: Nhận định có hay không hành vi quản trị lợi nhuận
DA < 0: Khả năng nhà quản lý che giấu lợi nhuận
DA = 0: Không có hành vi quản trị lợi nhuận
DA > 0: Khả năng nhà quản lý thổi phồng lợi nhuận
Ưu điểm lựa chọn mô hình:
Mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) được kế thừa từ các mô hình trước với công thức khá bao quát như sử dụng các yếu tố Tổng tài sản; Doanh thu thuần; Phải thu khách hàng và Nguyên giá tái sản Điểm đặc biệt mô hình sự dụng thêm yếu tố kết quả hoạt động cụ thể là ROA là một yếu tố vô cùng cần thiết để đánh giá hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty Đây cũng là cơ cở để đánh giá có hay không hành vi Quản trị lợi nhuận
Trang 253.2.2 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi
nhuận
Dựa trên lý thuyết nền và kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước để thiết lập
mô hình trên cơ sở đã xem xét phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
EMit = a0+ a1GROUPit+ a2SIZEit+ a3BOARDit+ a4BIG4it + a5ROAit+ a6LEVit + εit
Trong đó:
- a1 đến a6 là các hệ số hồi quy
- εit là phần nhiễu ngẫu nhiên
3.2.3 Giả thiết nghiên cứu
(1) Nhóm ngành
Nhóm ngành được xem là ngành hàng với đặc thù kinh doanh của các DN thuộc nhóm ngành thương mại hay sản xuất Tùy theo từng nhóm ngành khác nhau sẽ có những đặc thù khác nhau về nguồn vốn, tài sản, dây chuyền sản xuất, công nghệ
Trang 26ứng dụng trong từng loại hình doanh nghiệp Do đó, theo từng nhóm ngành khác nhau sẽ ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp khác nhau Trong nghiên cứu này tác giả nghiên cứu trong phạm vi các DNNY thuộc nhóm ngành chăm sóc sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu tại VN Do đó, tác giả chia 2 nhóm ngành gồm nhóm ngành thương mại và nhóm ngành sản xuất
H1: Nhân tố Nhóm ngành có mối tương quan với hành vi Quản trị lợi nhuận
(2) Quy mô doanh nghiệp
Quy mô DN thể hiện vị thế, tiềm lực tài chính, thị trường hoạt động của DN DN càng lớn thì quy mô hoạt động càng rộng và ngược lại Và tùy thuộc vào quy mô của các DN khác nhau sẽ ảnh hưởng đến hành vi QTLN của các DN Theo Farzaneh Nassirzadeh, Mahdi salehi & Sayed Mohammad Alaei (2012) thì “các nhà đầu tư sẽ
có xu hướng xem xét đầu tư vào các công ty có tài sản lớn vì họ cho rằng, các công
ty có quy mô tài sản lớn sẽ có ít rủi ro hơn so với các công ty có ít tài sản Và trong một số nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng, các công ty lớn thường có động cơ rất lớn trong việc thực hiện HVQTL nhiều hơn các công ty có quy mô nhỏ Các công ty lớn
để duy trì hình ảnh và sự tin tưởng của các nhà đầu tư, họ sẽ có xu hướng quản trị lợi nhuận của mình nhằm thổi phồng quy mô, hiệu quả kinh doanh của DN để tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư” Farzaneh Nassirzadeh, Mahdi salehi & Sayed Mohammad Alaei (2012) trong nghiên cứu nhóm tác giả đã chứng minh quy mô của
DN có ảnh hưởng tích cực đến quản lý thu nhập ở Iran Ủng hộ quan điểm này Fauziah Sri Maharani Sugeng Putri (2016) cũng cho thấy quy mô DN ảnh hưởng cùng chiều đến quản lý thu nhập ở các công ty sản xuất công khai ở Indonesia Henny Wirianata (2020) cũng cho thấy quy mô và tốc độ tăng trưởng có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến quản lý thu nhập Tại VN, Nguyễn Vĩnh Khương & Phùng Anh Thư (2017) lại chứng minh quy mô DN ảnh hưởng ngược chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên TTCKVN Ủng hộ kết quả này, Nguyễn Đỗ Quyên & Trần Quốc Hoàng (2018) cũng chứng minh quy mô của DN ảnh hưởng ngược chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm
Trang 27yết trên TTCKVN Phạm Nguyễn Đình Tuấn, Hồ Thị Thúy Hằng, Lê Thị Thu Ngân
& Mai Như Phương (2020) trong nghiên cứu của mình nhóm tác giả cũng cho thấy quy mô của DN ảnh hưởng ngược chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công
ty đại chúng chưa niêm yết tại Việt Nam
H2: Nhân tố quy mô doanh nghiệp có mối tương quan với hành vi Quản trị lợi nhuận
(3) Quy mô hội đồng quản trị
Quy mô hội đồng quản trị cho thấy số lượng thành viên hội đồng quản trị của một
DN Nếu quy mô lớn thì số lượng hội đồng thành viên quản trị càng cao và ngược lại Fauziah Sri Maharani Sugeng Putri (2016) chứng minh số lượng của hội đồng quản trị ảnh hưởng ngược chiều đến quản lý thu nhập của các công ty sản xuất công khai ở Indonesia Vera Jessia (2020) chứng minh quy mô ban điều hành ảnh hưởng tiêu cực đến quản trị lợi nhuận của tất cả các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Indonesia (IDX) trong giai đoạn 2014 – 2018 Tại VN, Đào Phương Thảo, Lê Thị Hà, Nguyễn Thị Minh Đào & Lê Thị Thu Hà (2022) cũng chứng minh Quy mô HĐQT ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp thực phẩm niêm yết trên SGDCK TP HCM
H3: Nhân tố quy mô hội đồng quản trị có mối tương quan với hành vi Quản trị lợi nhuận
(4) Kiểm toán độc lập
“Đối với các công ty niêm yết, việc công bố thông tin kế toán là yêu cầu bắt buộc
và để xác định được sự chính xác, minh bạch trong thông tin kế toán các báo cáo này phải thông qua ý kiến của kiểm toán Các công ty được kiểm toán bởi các công
ty kiểm toán lớn trong nhóm Big4 (Công ty kiểm toán KPMG, Ernst & Young, Deloitte, PWC) có đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp, với trình độ chuyên môn cao, độc lập, minh bạch và có kinh nghiệm thì mức độ thông tin trong báo cáo tài chính của DN đáng tin cậy hơn so với các công ty kiểm toán khác” (Fauziah Sri
Trang 28Maharani Sugeng Putri, 2016) Vera Jessia (2020) trong nghiên cứu cũng chứng minh đơn vị kiểm toán có ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận của tất cả các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Indonesia (IDX) trong giai đoạn 2014 – 2018 Tại VN, Nguyễn Đỗ Quyên & Trần Quốc Hoàng (2018) cũng đã chứng minh kiểm toán Big 4 ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCKVN Lê Thị Nga (2021) cũng cho thấy chất lượng kiểm toán ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCKVN Ủng hộ các kết quả trên Đào Phương Thảo, Lê Thị Hà, Nguyễn Thị Minh Đào & Lê Thị Thu Hà (2022) cũng chứng minh kiểm toán độc lập ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp thực phẩm niêm yết trên SGDCK TP HCM
H4: Nhân tố kiểm toán độc lập có mối tương quan với hành vi Quản trị lợi nhuận
(5) Khả năng sinh lời (ROA)
“Đối với các nhà đầu tư để đưa ra một quyết định đầu tư, họ thường có xu hướng quan tâm đến chỉ tiêu lợi nhuận của DN đã đạt được Vì vậy, một chỉ tiêu để đánh giá mức độ hoạt động của DN mà nhà đầu tư quan tâm đó là chỉ tiêu khả năng sinh lời (ROA) của DN” (Aziatul Waznah Ghazali, Nur Aima Shafie, Zuraidah Mohd Sanusi, 2015) Biến ROA thể hiện cho các nhà đầu tư thấy mức độ hiệu quả khi sử dụng tài sản của DN ROA càng cao mức độ sử dụng tài sản của DN càng tốt (Henny Wirianata, 2020) Nguyễn Vĩnh Khương & Phùng Anh Thư (2017) cũng đã chứng minh ROA ảnh hưởng cùng chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các công
ty niêm yết trên TTCKVN Tương tự, Đặng Ngọc Hùng, Hoàng Thị Việt Hà & Trần Mạnh Dũng (2018) cũng cho thấy hiệu quả HĐKD ảnh hưởng đến quản lý lợi nhuận Phạm Nguyễn Đình Tuấn, Hồ Thị Thúy Hằng, Lê Thị Thu Ngân & Mai Như Phương (2020) cũng cho thấy ROA ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty đại chúng chưa niêm yết tại Việt Nam Ủng hộ kết quả nghiên cứu trên còn có nghiên cứu của Lê Thị Nga (2021); Đào Phương Thảo, Lê Thị Hà, Nguyễn Thị Minh Đào & Lê Thị Thu Hà (2022)
Trang 29H5: Nhân tố khả năng sinh lời có mối tương quan với hành vi Quản trị lợi nhuận
(6) Đòn bẩy tài chính
“Đòn bẩy tài chính là hoạt động liên quan đến việc sử dụng các khoản nợ đi vay, thay vì sử dụng vốn chủ sở hữu để mua sắm tài sản nhằm thu về lợi ích cho DN Các DN sử dụng mức đòn bẩy cao, tỷ lệ nợ của DN đó càng lớn và ngược lại Các nhà đầu tư sẽ không rót vốn cho những công ty có mức đòn bẩy cao, vì họ cho rằng những công ty này sẽ gặp rủi ro tài chính cao như khủng hoảng tài chính, khả năng thanh toán các khoản nợ và nguy cơ phá sản cao” (Fauziah Sri Maharani Sugeng Putri, 2016) “Để tránh tình trạng này xảy ra, các DN có tỷ lệ đòn bẩy cao thường
có xu hướng thực hiện quản trị lợi nhuận” (Đặng Ngọc Hùng, Hoàng Thị Việt Hà & Trần Mạnh Dũng, 2018) Nguyễn Đỗ Quyên & Trần Quốc Hoàng (2018) cũng chứng minh đòn bẩy tài chỉnh ảnh hưởng ngược chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCKVN Lê Thị Nga (2021) cũng cho thấy đòn bẩy tài chính ảnh hưởng ngược chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCKVN Đào Phương Thảo, Lê Thị Hà, Nguyễn Thị Minh Đào & Lê Thị Thu Hà (2022) cũng chứng minh đòn bẩy tài chính ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp thực phẩm niêm yết trên SGDCK TP HCM
H6: Nhân tố đòn bẩy tài chính có mối tương quan với hành vi Quản trị lợi nhuận
Bảng 3.1 Mô tả biến
STT Ký hiệu Biến nghiên cứu Cách tính
Kỳ vọng dấu
Nguồn dữ liệu Biến phụ thuộc
nghiệp Log (Tổng tài sản) -
Báo cáo tài chính
Trang 30STT Ký hiệu Biến nghiên cứu Cách tính
Kỳ vọng dấu
Nguồn dữ liệu
3 BOARD Quy mô hội đồng
quản trị
Số lượng hội đồng thành viên (Người) -
Báo cáo thường niên
4 BIG4 Kiểm toán độc lập
1: Được kiểm toán độc lập
0: Không được kiểm toán độc lập
- Báo cáo thường
niên
Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân (%)
+ Báo cáo tài
3.3 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
3.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu được thu thập là báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các công ty được chọn mẫu Nguồn BCTC được sử dụng từ nguồn gián tiếp từ các website sàn giao dịch chứng khoán HOSE; HNX và nguồn trực tiếp từ các công ty
Báo cáo tài chính được sử dụng bao gồm báo cáo của các công ty thành viên và các công ty liên doanh của một công ty hay TCTC Dựa vào dữ liệu BCTC năm 2015 –
2020 với tổng cộng 57 doanh nghiệp Như vậy cỡ mẫu N = 6*57=342 mẫu, tác giả lấy số liệu về Lợi nhuận sau thuế, dòng tiền từ HĐKD, Doanh thu thuần, Nợ phải thu thuần, Nguyên giá TSCĐ….Báo cáo thường niên giúp tác giả thu thâp các thông tin về quy mô doanh nghiệp, quy mô hội đồng quản trị, đơn vị kiểm toán độc lập, đòn bẩy tài chính, cấu trúc sở hữu doanh nghiệp nhằm phục vụ mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN của các DNNY thuộc nhóm ngành chăm sóc sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu tại VN
3.3.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
“Bước 1: Tìm hiểu về các biến và các dữ liệu đã thu thập thu thập được bằng mô hình thống kê mô tả
Trang 31Thông qua phương pháp thống kê mô tả dữ liệu sẽ giúp cho người đọc hiểu được tính chất cơ bản của bộ dữ liệu bằng việc mô tả sơ lược và vắn tắt các thông số trong bộ dữ liệu Bộ dữ liệu sẽ được mô tả qua một số đo lường như: Giá trị trung bình, cỡ mẫu, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, độ lệch chuẩn của nghiên cứu và một số biến đo lường đặc trưng khác tùy theo đặc thù của dữ liệu nghiên cứu
Bước 2: Kiểm tra đa cộng tuyến bằng hai phương pháp ma trận tương quan và hệ số phóng đại phương sai VIF
Để kiểm định mô hình có xảy ra tình trạng đa cộng tuyến hay không thì có thể sử dụng hai phương pháp đó là ma trận tương quan và kiểm định hệ số đại phương sai VIF Nhưng trong hai phương pháp này thì ma trận tương quan ít được sử dụng hơn, cách phổ biến nhất để kiểm tra đa cộng tuyến là sử dụng kiểm định VIF
Ma trận tương quan:
Phân tích tương quan được xem là một phương pháp sử dụng thước đo để đo độ lớn
về các mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng Với phương pháp và thước đo này giúp người nghiên cứu khoa học xác định được mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và biến độc lập trong mô hình nghiên cứu Dựa trên kết quả về một khoảng tin cậy nhất định được xác định từ trước làm
cơ sở kiểm tra mối tương quan giữa các biến đại diện trong mô hình nghiên cứu Khoảng giá trị của hệ số tương quan chạy trong đoạn giá trị -1 đến 1 là biểu hiện hai biến này có mối quan hệ tuyệt đối và về 0 chứng tỏ hay biến không có mối quan hệ
gì với nhau Dấu của hệ số tương quan nói lên tính liên hệ thuận nghịch giữa các biến, có nghĩa là giữa hai đối tượng nghiên cứu nếu đồng biến thì hai đối tượng sẽ cũng tăng, còn nghịch biến là một biến càng tăng thì biến còn lại sẽ giảm Mô hình
ma trận tương quan phản ánh tính chất tuyến tính của mô hình hồi quy Nếu hệ số tương quan lớn hơn 0,8 thì chứng minh được mô hình có đa cộng tuyến
Trang 32Kiểm định VIF:
Kiểm định VIF được sử dụng trong mô hình hồi quy, trong mô hình hồi quy nếu như biến độc lập có quan hệ tuyến tính với biến phụ thuộc, có mối quan hệ chặt chẽ, tương quan với nhau sẽ xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, được xem là hiện tượng
mà biến độc lập và biến phụ thuộc có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và được trình bày dưới dạng là một phương trình, hàm số Do đó, để kiểm chứng mô hình nghiên cứu không xảy ra hiện tượng đa công tuyến tác giả thực hiện kiểm định mô hình nghiên cứu qua hệ số VIF với các giả thuyết được đặt ra như sau:
Nếu hệ VIF > 10 thì mô hình chắc chắn có đa cộng tuyến
Nếu 2 < VIF < 10 thì mô hình bắt đầu có dấu hiệu đa cộng tuyến
Cuối cùng, VIF < 2 thì có thể chứng minh được mô hình không có đa cộng tuyến (Bùi Duy Phú, 2018)
Bước 3: Sử dụng Kiểm định Hausman Test và F- Test để tìm ra phương pháp lựa chọn nghiên cứu phù hợp nhất cho đề tài của của bài nghiên cứu
Trong đó ba phương pháp được lựa chọn bao gồm:
Thứ nhất, phương pháp bình phương tối thiểu dạng gộp (Pooled Ordinary least squares – Pooled OLS) là phương pháp kém hiệu quả vì nó không kiểm soát được từng những đặc điểm riêng của các đối tượng được lựa chọn nghiên cứu
Thứ hai, phương pháp tác động cố định (Fixed Effects Model - FEM): là phương pháp được tạo ra dựa theo phương pháp Pooled OLS và thay đổi những khuyết điểm
có phương pháp Pooled OLS bằng cách kiểm soát được những sự khác nhau của các biến, đối tượng được lựa chọn nghiên cứu trong bài nghiên cứu Quan trọng hơn hết phương pháp này có sự tương quan giữ biến độc lập và thành phần ngẫu nhiên Thứ ba, phương pháp tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM): cũng giống như FEM thì REM cũng được tạo ra dựa theo phương pháp Pooled OLS và
có những nét tương đồng như phương pháp FEM đó là kiểm soát sự khác nhau của
Trang 33các biến, đối tượng nghiên cứu Nhưng có sự khác biệt so với FEM thì phương pháp REM đối tượng nghiên cứu không có mối quan hệ tương quan với nhau giữa biến độc lập và thành phần ngẫu nhiên
Thông qua sử dụng kiểm định Hausman Test và F-Test để tìm ra phương pháp lựa chọn nghiên cứu phù hợp nhất cho đề tài của bài nghiên cứu thì tác giả có những giả thuyết để lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp như sau:
Kiểm định F- test với hai giả thuyết:
H0: Lựa chọn mô hình Pooled OLS
H1: Lựa chọn mô hình FEM
Nếu giá trị kiểm định Prob < α (5%) Bác bỏ H0 và lựa chọn H1, mô hình FEM phù hợp với mô hình nghiên cứu
Nếu giá trị kiểm định Prob > α (5%) Chấp nhận H0 có nghĩa là không có bằng chứng cho thấy các đặc điểm riêng khác nhau nên mô hình Pooled OLS phù hợp Kiểm định Hausman Test với hai giả thuyết:
H0: Lựa chọn mô hình REM và không có sự tương quan giữa biến độc lập và các thành phần ngẫu nhiên
H1: Lựa chọn mô hình FEM và có sự tương quan giữa các biến độc lập và các thành phần ngẫu nhiên
Nếu giá trị kiểm định Prob < α (5%) Bác bỏ H0 và lựa chọn H1
Nếu giá trị kiểm định Prob > α (5%) Chấp nhận H0
Bước 4: Kiểm định phương sai thay đổi và tự tương quan
Kiểm định phương sai thay đổi:
Kiểm định này giúp phát hiện được liệu phương pháp nghiên cứu có bị phương sai thay đổi hay không
Trang 34Với kiểm định này sẽ có hai giả thuyết được đưa ra:
H0: Mô hình có phương sai không đổi
H1: Mô hình có phương sai thay đổi
Nếu giá trị kiểm định Prob < α (5%) Bác bỏ H0, chấp nhận H1, do đó mô hình có phương sai thay đổi
Nếu giá trị kiểm định Prob > α (5%) Chấp nhận H0, mô hình không có phương sai thay đổi
Kiểm định tự tương quan:
Kiểm định tự tương giúp phát hiện được liệu mô hình nghiên cứu có bị tương quan hay không
Với kiểm định tự tương quan cũng sẽ có hai giả thuyết:
H0: Mô hình không có tự tương quan
H1: Mô hình có tự tương quan
Nếu giá trị kiểm định Prob < α (5%) Bác bỏ H0, chấp nhận H1, do đó mô hình có tự tương quan
Nếu giá trị kiểm định Prob > α (5%) Chấp nhận H0, mô hình không có tự tương quan
Bước 5: Sử dụng phương pháp ước lượng ngẫu nhiên FGLS để chữa lỗi phương sai thay đổi và tự tương quan
Mô hình FGLS được sử dụng trong bài nghiên cứu bởi mô hình FGLS có thể kiểm soát được phương sai thay đổi và tự tương quan Theo đó mô hình FGLS sẽ ước lượng ngẫu nhiên theo mô hình theo phương pháp OLS, với cách làm này ngay cả khi mô hình OLS có tồn tại cả phương sai thay đổi và tự tương quan Mô hình FGLS được dùng để chữa các sai số được rút ra từ mô hình sẽ được dùng để ước
Trang 35tính ma trận phương sai, hiệp phương sai của sai số Cuối cùng, sử dụng ma trận này để chuyển đổi các biến ban đầu và ước tính giá trị các tham số cần tìm trong trong mô hình Ở phương pháp này ta sẽ kiểm tra các nhân tố ảnh hưởng đến hành
vi QTLN của các DNNY thuộc nhóm ngành chăm sóc sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu tại VN qua ba cấp độ ý nghĩa thống kê tương ứng với mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5%, 10%” (Phạm Xuân Giang và cs., 2013)
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Chương này tác giả trình bày các bước thực hiện nghiên cứu, mô hình nghiên cứu
và mô tả các biến trong mô hình gồm biến phụ thuộc và biến độc lập, các bước xử
lý dữ liệu của nghiên cứu để làm cơ sở thảo luận kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN của các DNNY thuộc nhóm ngành chăm sóc sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu tại VN được trình bày ở Chương 4 của luận văn
Trang 37CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
4.1 Thống kê mô tả các yếu tố
Tác giả thực hiện mô tả đặc điểm về 6 yếu tố độc lập và 1 yếu tố phụ thuộc trong
mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN của các DNNY thuộc nhóm ngành chăm sóc sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu tại VN theo đặc điểm về cỡ mẫu (N), giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất, lớn nhất, độ lệch chuẩn của dữ liệu, đơn vị tính của các yếu tố trong mô hình nghiên cứu
Bảng 4.1 Thống kê cơ bản mô tả các biến trong mô hình
vị/Thang đo
Trung bình
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Độ lệch chuẩn
Quan sát
SIZE
Quy
mô doanh
nghiệp
Logarit tự nhiên tổng tài
chính
(%) 0.465 0.027 1.463 0.268 342
Trang 38ngành
Biến giả nhận giá trị bằng 1 trong trường hợp ngành thương mại, ngược lại bằng 0 ngành sản xuất
toán
độc lập
Biến giả nhận giá trị bằng 1 trong trường hợp được kiểm toán độc lập, ngược lại bằng 0 không được kiểm toán độc lập
Không kiểm toán độc lập
Kiểm toán độc lập
(Nguồn: Trích từ phụ lục và phân tích của tác giả)
Thống kê mô tả mẫu của các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN của các DNNY thuộc nhóm ngành chăm sóc sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu tại VN có những đặc điểm sau:
Quy mô doanh nghiệp (SIZE) của 57 doanh nghiệp niêm yết nhóm ngành chăm
sóc sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu trên Sở giao dịch chứng khoản Hồ Chí Minh (HoSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) từ năm từ năm 2015 đến năm 2020: Chỉ số này có giá trị trung bình là 13.682 đơn vị, giá trị nhỏ nhất là 11.125 đơn vị và lớn nhất là 17.938 đơn vị Giá trị standard deviation của biến này
Trang 39là 1.277 cho thấy có sự khác biệt về quy mô của doanh nghiệp giữa các doanh nghiệp được khảo sát
Quy mô hội đồng quản trị (BOARD) của 57 doanh nghiệp niêm yết nhóm ngành
chăm sóc sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu trên Sở giao dịch chứng khoản Hồ Chí Minh (HoSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) từ năm từ năm 2015 đến năm 2020: Chỉ số này có giá trị trung bình là 5.35 người, giá trị nhỏ nhất là 3 người và lớn nhất là 11 người Trong đó, tập trung nhiều nhất là 5 thành viên với số lượng doanh nghiệp là khoảng 40 doanh nghiệp
Khả năng sinh lời (ROA) của 57 doanh nghiệp niêm yết nhóm ngành chăm sóc
sức khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu trên Sở giao dịch chứng khoản Hồ Chí Minh (HoSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) từ năm từ năm 2015 đến năm 2020: Chỉ số này có giá trị trung bình là 7.5%, giá trị nhỏ nhất là -99.6% và lớn nhất là 94.3% Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt lớn về ROA giữa các doanh nghiệp trong giai đoạn nghiên cứu
Đòn bẩy tài chính (LEV) của 57 doanh nghiệp niêm yết nhóm ngành chăm sóc sức
khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu trên Sở giao dịch chứng khoản Hồ Chí Minh (HoSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) từ năm từ năm 2015 đến năm 2020: Chỉ số này có giá trị trung bình là 46.5%, giá trị nhỏ nhất là 2.7% và lớn nhất là 146.3% Cho thấy có sự khác biệt lớn về việc sử dụng đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp ngành chăm sóc sức khỏe và ngành hàng thiết yếu tại Việt Nam
Quản trị lợi nhuận (DA) của 57 doanh nghiệp niêm yết nhóm ngành chăm sóc sức
khỏe và ngành hàng tiêu dùng thiết yếu trên Sở giao dịch chứng khoản Hồ Chí Minh (HoSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) từ năm từ năm 2015 đến năm 2020: Chỉ số này có giá trị trung bình là -0.242 tỷ đồng, giá trị nhỏ nhất là -13.384 tỷ đồng và lớn nhất là 14.164 tỷ đồng Với trung bình mang dấu âm cho thấy còn một số doanh nghiệp có hành vi che dấu lợi nhuận do giá trị DA
Trang 404.2 Phân tích tương quan các biến
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, (2011) thì “Ma trận hệ số tương quan cho chúng ta biết mối quan hệ giữa hai biến trong mô hình Đầu tiên là giải thích các hệ số tương quan giữa yếu tố phụ thuộc với các biến độc lập trong mô hình Để kiểm tra có sự tương quan giữa các biến với nhau hay không ta xem xét
ma trận hệ số tương quan giữa các biến” Với nghiên cứu sử dụng DA làm yếu tố phụ thuộc và 6 yếu tố độc lập gồm: GROUP; SIZE; BOARD; BIG4; ROA; LEV được đưa vào mô hình thông qua vectơ X được thể hiện qua bảng 4.2 sau:
Bảng 4.2 Kết quả phân tích tương quan giữa các yếu tố độc lập và phụ thuộc trong
mô hình nghiên cứu