BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM Nguyễn Minh Khôi NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ KHẢM SÀNH SỨ TRÊN KIẾN TRÚC THỜI KHẢI ĐỊNH (1916 1925) TẠI QUẦN T[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Nguyễn Minh Khôi
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ KHẢM SÀNH SỨ
TRÊN KIẾN TRÚC THỜI KHẢI ĐỊNH (1916 - 1925)
TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Hà Nội - 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Nguyễn Minh Khôi
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ KHẢM SÀNH SỨ
TRÊN KIẾN TRÚC THỜI KHẢI ĐỊNH (1916 - 1925)
TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản Luận án tiến sĩ Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ
trên kiến trúc thời Khải Định (1916 – 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế là
công trình nghiên cứu do tôi viết và chưa công bố Các kết quả nghiên cứu cũng như kết luận trong luận án này là trung thực Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã kế thừa nguồn tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước và thực hiện trích dẫn cũng như ghi nguồn đầy đủ theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận án
Nguyễn Minh Khôi
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.1.1 Những nghiên cứu liên quan đến Quần thể di tích Cố đô Huế dưới thời Khải Định (1916-1925) 9
1.1.2 Những nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật trang trí triều Nguyễn 14
1.1.3 Những nghiên cứu liên qua đến nghệ thuật trang trí khảm sành sứ triều Nguyễn 19
1.2 Cơ sở lý luận 26
1.2.1 Khái niệm và thuật ngữ 26
1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu 38
1.3 Khái quát về đối tượng nghiên cứu 43
1.3.1 Bối cảnh (lịch sử, văn hóa) hình thành đối tượng nghiên cứu 43
1.3.2 Hệ thống trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định 48
Tiểu kết 56
Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ KHẢM SÀNH SỨ TRÊN KIẾN TRÚC THỜI KHẢI ĐỊNH (1916 – 1925) TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ 58
2.1 Đề tài, kiểu thức sử dụng trong trang trí 59
2.1.1 Đề tài trang trí 60
2.1.2 Kiểu thức trang trí 60
2.2 Bố cục tổng thể của hệ thống trang trí 66
2.2.1 Vị trí trên kiến trúc của các đồ án trang trí 67
2.2.2 Sắp xếp đề tài, kiểu thức của các đồ án trang trí trên kiến trúc 71
2.2.3 Hướng của các đồ án trang trí 76
Trang 52.3 Tổ chức không gian tổng thể của hệ thống trang trí 80
2.3.1 Tổ chức không gian trang trí ngoại thất 81
2.3.2 Tổ chức không gian trang trí nội thất 84
2.4 Hình thức biểu đạt của đồ án trang trí 87
2.4.1 Tạo hình trang trí 88
2.4.2 Chất liệu và màu sắc 96
2.4.3 Thủ pháp thể hiện 101
Tiểu kết 107
Chương 3 ĐẶC TRƯNG, GIÁ TRỊ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ BÀN LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ KHẢM SÀNH SỨ TRÊN KIẾN TRÚC THỜI KHẢI ĐỊNH (1916 – 1925) TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ 109
3.1 Đặc trưng 109
3.1.1 Sự cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống 109
3.1.2 Sử dụng yếu tố phương Tây trong hình thức biểu đạt 120
3.1.3 Sự sáng tạo và sự tinh xảo 125
3.2 Giá trị văn hóa nghệ thuật 131
3.2.1 Giá trị văn hóa 131
3.2.2 Giá trị nghệ thuật 135
3.3 Bàn luận về nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 – 1925) tại Quần thể di tích cố đô Huế 145
3.3.1 Sự kế thừa 145
3.3.2 Sự phát huy giá trị 148
Tiểu kết 153
KẾT LUẬN 155
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 158
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 158
TÀI LIỆU THAM KHẢO 159
PHỤ LỤC LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT 172
Trang 6Bulletin des Amis du Vieux Hue (Tạp chí Những người bạn cố đô Huế) Bảo tồn di tích
Bê tông cốt thép Hình
Hội đồng quốc gia Khoa học công nghệ Kiến trúc cung đình Nghiên cứu sinh Nghệ thuật trang trí Nhà xuất bản
Phụ lục
Từ điển bách khoa Thành phố
Trang Trang trí kiến trúc Trang trí khảm sành sứ Quần thể di tích
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quần thể kiến trúc cung đình (KTCĐ) triều Nguyễn, còn gọi là Quần thể di tích Cố đô Huế (QTDT Cố đô Huế), trang trí kiến trúc (TTKT) đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành giá trị nghệ thuật của mỗi công trình Bên cạnh chức năng thẩm mỹ, TTKT trong KTCĐ triều Nguyễn còn mang theo những thông điệp của người xưa với những đồ án trang trí mà theo tác giả Nguyễn Hữu Thông, chứa đựng “tinh thần, tâm lý, phong cách, chất biểu cảm, biểu lý và những gởi gắm thể hiện trong ngôn ngữ hình họa” [99, tr.7]
Năm 1916, vua Khải Định lên ngôi trong bối cảnh quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam Dưới triều đại của mình,
từ 1916 - 1925, ông đã cho tu bổ và xây dựng nhiều công trình trong QTDT Cố
đô Huế, mà trong đó, có sự xuất hiện của các công trình kiến trúc phương Tây với kết cấu BTCT Cùng với đó, về mặt TTKT, đa phần các công trình này sử dụng hình thức trang trí khảm sành sứ (TTKSS) Theo các tác giả Trần Đức Anh Sơn và Phan Thanh Hải, các KTCĐ triều Nguyễn giai đoạn Khải Định - Bảo Đại (1916 - 1945) đã “góp phần tạo nên một diện mạo mới cho quần thể
di tích kiến trúc ở kinh đô” [87]
Trong thời gian gần đây, nhiều công trình quan trọng có liên quan đến vua Khải Định đã và đang được quan tâm phục hồi, tu bổ như điện Kiến Trung, điện Thái Hòa và trong tương lai có thể là điện Cần Chánh hay Cửu Tư Đài
Do đó, bên cạnh các lĩnh vực kiến trúc, kết cấu, đòi hỏi cần phải có các nghiên cứu về mỹ thuật, đặc biệt là hệ thống TTKSS, để xây dựng cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn Các yêu cầu thực tiễn cho thấy, các vấn đề cần quan tâm, chú
ý đối với hệ thống TTKSS thời Khải Định bao gồm: những yếu tố chính trị, xã hội, văn hóa ảnh hưởng đến nghệ thuật trang trí (NTTT) cung đình triều Nguyễn những năm đầu thế kỷ XX; đề tài, kiểu thức trang trí, sự kết hợp và hình thức
Trang 8biểu đạt của các đồ án trang trí trên công trình
Trên cơ sở các yêu cầu nghiên cứu trên, NCS đã tiến hành tổng hợp và đối chiếu các công trình nghiên cứu về mỹ thuật Huế theo ba hướng: thứ nhất, những nghiên cứu liên quan đến QTDT Cố đô Huế ở giai đoạn 1916-1925 dưới thời Khải Định; thứ hai, những nghiên cứu liên quan đến NTTT triều Nguyễn; thứ ba, những nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật TTKSS triều Nguyễn Từ
những công trình nghiên cứu này, NCS nhận thấy chưa có nghiên cứu nào đi
sâu về những đặc trưng TTKT cung đình triều Nguyễn giai đoạn 1916 - 1945 trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây, trong đó có nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định với các vấn đề nghiên cứu cần giải quyết đó là:
bối cảnh hình thành, sự kết hợp, cách bài trí và hình thức biểu đạt (tạo hình, chất liệu, màu sắc, thủ pháp…) của hệ thống TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định Để qua những nghiên cứu này, xác định đặc trưng, giá trị văn hóa nghệ thuật cũng như sự kế thừa và phát triển của loại hình nghệ thuật này trong
QTDT Cố đô Huế Chính vì vậy, NCS lựa chọn đề tài Nghệ thuật trang trí khảm
sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 – 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế nhằm giải quyết, làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu đã trình bày, đồng thời
tạo cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn di sản và đóng góp một phần tư liệu cho bề dày nghiên cứu mỹ thuật truyền thống Huế
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án làm rõ những đặc trưng, giá trị và sự kế thừa, phát triển của nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại QTDT Cố đô Huế trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây trên cơ sở nghiên cứu sự kết hợp và hình thức biểu đạt của các đồ án TTKT cung đình triều Nguyễn ở giai đoạn này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng hợp, phân tích các tài liệu nghiên cứu để làm rõ tình hình nghiên cứu và các vấn đề cần tiếp tục giải quyết, cơ sở lý luận, đồng thời xác định bối
Trang 9cảnh hình thành và khái quát về nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định (1916 – 1925) tại QTDT Cố đô Huế
Khảo sát điền dã kết hợp với phân tích, đối chiếu tư liệu để từ đó hệ thống hóa các biểu hiện của nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại QTDT Cố đô Huế ở các nội dung: sự kết hợp, cách bài trí và hình thức biểu đạt của các đồ án trang trí
Phân tích, xác định các đặc trưng, từ đó nhận diện, đánh giá giá trị, sự kế thừa và phát triển của nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại QTDT Cố đô Huế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định (1916 – 1925) tại QTDT Cố đô Huế thông qua phân tích, nghiên cứu hệ thống các đồ án TTKSS trên những công trình KTCĐ được vua Khải Định cho xây dựng và tu bổ từ năm 1916 đến năm 1925
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian nghiên cứu chính: là các công trình KTCĐ thuộc QTDT Cố đô Huế, nơi chứa đựng các đồ án trang trí
Phạm vi thời gian nghiên cứu: là giai đoạn 1916 - 1925, khoảng thời gian
mà các hệ thống đồ án TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định tại QTDT Cố đô Huế được hình thành Để làm rõ các nội dung nghiên cứu, luận án sẽ mở rộng phạm vi thời gian xuyên suốt lịch sử hình thành của QTDT Cố đô Huế Trong
đó, lưu ý đến giai đoạn 1885 - 1916 (đời Đồng Khánh - Duy Tân), là khoảng thời gian chuyển tiếp trước thời Khải Định
Trang 104 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Nghệ thuật TTKSS biểu hiện như thế nào trên KTCĐ thời
Khải Định?
- Câu hỏi 2: Nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định (1916 -
1925) tại QTDT Cố đô Huế thể hiện những đặc trưng nghệ thuật gì?
- Câu hỏi 3: Giá trị văn hóa nghệ thuật của nghệ thuật TTKSS trên kiến
trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại QTDT Cố đô Huế được thể hiện như thế nào? Những giá trị này được kế thừa, tiếp nối và phát triển như thế nào?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết 1:
Nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định được biểu hiện thông qua việc sử dụng đề tài và kiểu thức trang trí (thể hiện tính thống nhất về nội dung truyền tải và kiểu thức thể hiện), các nguyên tắc bố cục (thể hiện tính hướng tâm, tính đối xứng và vị trí của mỗi đồ án trang trí dựa trên tính chất của biểu tượng trang trí) và tổ chức không gian trang trí (thể hiện tính ước lệ và tính nhịp điệu đối với không gian trang trí ngoại thất và tính mô phỏng trong không gian trang trí nội thất)
Hình thức biểu đạt trên của nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định được biểu hiện thông qua các yếu tố tạo hình trang trí (thể hiện vừa có tính ước lệ và vừa có tính tả thức dưới ba loại hình tượng tròn, phù điêu và khảm phẳng), chất liệu (các mảnh ghép sành sứ, thủy tinh màu, thủy tinh trong), màu sắc (vừa kế thừa hệ thống màu ngũ sắc truyền thống và được bổ sung thêm các màu do chất liệu mới mang đến) và thủ pháp thể hiện (thể hiện sự phát triển
về tư duy không gian, tư duy thị giác của người nghệ nhân xưa)
- Giả thuyết 2: Trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây, từ vai trò
phụ, TTKSS trên kiến trúc đã trở thành hình thức TTKT chính trong KTCĐ
Trang 11thời Khải Định với những đặc trưng riêng bao gồm: sự cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống (sử dụng kiểu thức và bố cục trang trí tổng thể), sử dụng yếu
tố phương Tây trong hình thức biểu đạt (tạo hình, chất liệu và màu sắc), sự sáng tạo và tinh xảo (thủ pháp và kỹ thuật thể hiện)
- Giả thuyết 3:
Nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định chứa đựng các yếu tố
hình thành giá trị văn hóa nghệ thuật Ở góc độ văn hóa, chúng phản ánh bối
cảnh chính trị, xã hội đương thời, thể hiện cách thức tiếp nhận và chuyển hóa những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng mỹ thuật truyền thống Với sự tích tụ ba lớp văn hóa dân gian, cung đình và phương Tây, chúng thể hiện tư tưởng hiện đại
hóa nhưng không tách rời truyền thống của triều đình Nguyễn Ở góc độ nghệ
thuật, chúng là yếu tố hình thành đặc trưng của TTKT cung đình giai đoạn 1916
- 1945, tích hợp ba lớp nền của trang trí truyền thống Huế (bản địa, cung đình, phương Tây) Chúng là yếu tố mỹ thuật “bản địa hóa” các công trình kiến trúc hiện đại, biến những ảnh hưởng của phương Tây trở thành những yếu tố mang bản sắc truyền thống Nhiều đồ án TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định được nâng tầm lên như một tác phẩm nghệ thuật độc lập trên kiến trúc
Cho đến nay, nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định tại QTDT
Cố đô Huế tiếp tục được kế thừa và phát triển Trong lòng di sản Huế, TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định luôn được coi là yếu tố làm nên giá trị nghệ thuật của mỗi di tích và được ưu tiên quan tâm bảo tồn, bảo vệ Nghề nề ngõa, khảm sành sứ được kế thừa, tiếp nối qua nhiều thế hệ nghệ nhân Sau hơn 100 năm tồn tại, từ cung đình, nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định liên tục được bồi đắp thêm những hình thức biểu hiện mới và đã lan tỏa vào dân gian, đến nhiều vùng miền khác trên đất nước
Trang 125 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: thu thập và tổng hợp các
tài liệu, bài viết, công trình khoa học có liên quan đến đối tượng nghiên cứu Qua đó, phân tích và xác định các vấn đề nghiên cứu cần làm rõ, bối cảnh hình thành của đối tượng nghiên cứu, các luận điểm và kết quả nghiên cứu được kế thừa Ngoài ra, QTDT Cố đô Huế hiện lưu giữ nhiều bức ảnh tư liệu được chụp vào những năm đầu thế kỷ XX NCS sử dụng nguồn tư liệu này để đối đối chiếu những thay đổi về diện mạo kiến trúc, trang trí ở những công trình được vua Khải Định cho tu bổ, trong trường hợp những thông tin này không được ghi chép trong sử liệu Bên cạnh đó, nhiều công trình dưới thời Khải Định giờ chỉ còn là phế tích, thông tin về TTKT chỉ còn được lưu trữ trên ảnh tư liệu (điện Kiến Trung, Cửu Tư Đài…) Ở góc độ mỹ thuật, dù là ảnh đen trắng, nhưng ảnh tư liệu sẽ cung cấp những thông tin về kiểu thức, không gian, bố cục của các đồ án TTKT Đó cũng là những thông tin hữu ích góp phần làm rõ những biểu hiện của đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát điền dã: là phương pháp tiếp cận trực tiếp đối
tượng nghiên cứu tại vị trí nó đang tồn tại Trước tiên, tiến hành đo vẽ, ghi chép, chụp ảnh nhằm ghi nhận những thông tin thực nhất về đối tượng nghiên cứu trên thực tế về sự kết hợp của các đồ án trang trí và các yếu tố tạo hình Từ đó,
Trang 13tiến hành thống kê, phân loại hoặc so sánh, đối chiếu để làm rõ những biểu hiện
và đặc trưng của đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp thống kê và phân loại: đối tượng nghiên cứu được hình
thành bởi tập hợp các đồ án trang trí nằm trên nhiều công trình kiến trúc khác nhau và vì vậy, phương pháp này sẽ giúp NCS tập hợp chúng một cách có hệ thống Sau đó, phân loại theo đề tài, kiểu thức, không gian, bố cục và tạo hình trang trí nhằm làm rõ những biểu hiện của đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: trên cơ sở thông tin từ các nguồn tư
liệu, các kết quả khảo sát thực địa, thống kê và phân loại, NCS sẽ so sánh, đối chiếu để làm rõ những vấn đề mà nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra Nhằm tìm ra những đặc trưng nổi bật, sự khác biệt của đối tượng nghiên cứu trong NTTT trên kiến trúc và nghệ thuật TTKSS
- Phương pháp chuyên gia: Đề tài của luận án nghiên cứu về những vấn
đề liên quan đến TTKT cung đình Trong đó, các đồ án trang trí được thực hiện bởi những người thợ kép - nghệ nhân nề ngõa, khảm sành sứ Hiện nay, có rất nhiều phường thợ đang tiếp tục duy trì nghề nề ngõa truyền thống Do đó, bên cạnh việc thu thập thông tin từ các đồ án trang trí trên thực tế, NCS sử dụng phương pháp chuyên gia để bổ sung dữ liệu làm rõ hơn các vấn đề cần nghiên cứu, đặc biệt là việc kế thừa và phát triển nghệ thuật TTKSS thời Khải Định
6 Những đóng góp mới của luận án
6.1 Đóng góp về mặt khoa học
Luận án góp phần làm rõ sự hình thành và phát triển của nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại QTDT Cố đô Huế Đóng góp vào việc nghiên cứu những yếu tố làm nên đặc trưng của NTTT trên KTCĐ triều Nguyễn giai đoạn 1916 - 1925 trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây
Luận án chứng minh, làm rõ đặc trưng, giá trị và sự kế thừa, phát triển của nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925), góp phần khẳng
Trang 14định hiệu quả thẩm mỹ trong việc kết hợp giữa nghệ thuật trang trí và nghệ thuật kiến trúc tại QTDT Cố đô Huế
6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc nhận diện “yếu tố trang trí Khải Định” trên kiến trúc, qua đó xác định yếu tố hình thành giá trị nghệ thuật của những công trình KTCĐ thuộc QTDT Cố đô Huế Đồng thời, luận án cũng là cơ sở để triển khai công tác bảo tồn hệ thống TTKSS trên những công trình này
Luận án góp phần vào việc kế thừa và phát huy nghề nề ngõa, khảm sành
sứ truyền thống, một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của Huế
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu (08 trang), Kết luận (03 trang), Tài liệu tham khảo (13 trang) và Phụ lục (124 trang), nội dung của luận án gồm 3 chương
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát
về đối tượng nghiên cứu (49 trang)
- Chương 2: Biểu hiện của nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế (51 trang)
- Chương 3: Đặc trưng, giá trị văn hóa nghệ thuật và bàn luận về nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại Quần thể di tích Cố đô Huế (46 trang)
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thực tiễn công tác bảo tồn phần mỹ thuật tại các di tích có liên quan đến vua Khải Định cho thấy, các vấn đề cần quan tâm, chú ý bao gồm: những yếu
tố chính trị, xã hội, văn hóa ảnh hưởng đến TTKT; đề tài, kiểu thức trang trí và
sự kết hợp của các đồ án trang trí trên công trình; đặc trưng tạo hình của nghệ thuật TTKSS dưới thời Khải Định Từ những yêu cầu nghiên cứu trên, trong tổng quan tình hình nghiên cứu, NCS phân chia các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án làm ba nhóm: một là, những nghiên cứu liên quan đến QTDT Cố đô Huế dưới thời Khải Định, giai đoạn 1916 - 1925; hai là, những nghiên cứu liên quan đến NTTT triều Nguyễn; ba là, những nghiên cứu
về nghệ thuật TTKSS triều Nguyễn và chất liệu sành sứ
1.1.1 Những nghiên cứu liên quan đến Quần thể di tích Cố đô Huế dưới thời Khải Định (1916-1925)
Các bộ sử liệu và những ghi chép, nghiên cứu về triều Nguyễn giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu XX cung cấp những thông tin về bối cảnh chính trị, xã hội cùng với những tư tưởng, chính sách của triều đình Nguyễn Có thể kể đến các
bộ sách do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn như Đại Nam thực lục chính
biên đệ lục kỷ (Chính biên đệ lục kỷ) [79], Đại Nam thực lục chính biên đệ lục
kỷ phụ biên (Chính biên đệ lục kỷ phụ biên) [80], Đồng Khánh - Khải Định chính yếu [82] Các bộ sách này ghi chép các sự kiện xảy ra dưới các đời vua
Đồng Khánh (1885 - 1888), Thành Thái (1889 - 1907), Duy Tân (1908 - 1916)
và Khải Định (từ năm 1916 đến năm 1923) Thông tin từ các sử liệu giúp cho NCS có cái nhìn khái quát về tình hình chính trị, xã hội, ảnh hưởng của thực
Trang 16dân Pháp đến triều đình Nguyễn trong các giai đoạn trước và sau thời Khải Định, từ đó xây dựng bối cảnh hình thành đối tượng nghiên cứu
Bộ sách Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ (Chính biên đệ thất kỷ)
do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn năm 1939 đã cung cấp thông tin về quá trình hoạt động của triều đình Nguyễn kể từ lúc vua Khải Định lên ngôi (1916) cho đến khi ông qua đời (1925) [81] Theo dịch giả Cao Tự Thanh, giá trị của tác phẩm đó là “phản ảnh các quá trình và xu thế, các quá trình và xu thế này là sản phẩm của tiến trình lịch sử Việt Nam từ 1916 trở đi trong đó, triều Nguyễn vừa là người trong cuộc vừa là kẻ chứng nhân” [81, tr.17] Cuốn sách giúp cho NCS hình dung rõ hơn về bối cảnh chính trị, xã hội, tư tưởng hiện đại hóa trên cơ sở duy trì các giá trị truyền thống của triều đình Nguyễn dưới thời Khải Định Đồng thời, từ những ghi chép về quá trình xây dựng và tu bổ các công trình thuộc QTDT Cố đô Huế được ghi chép trong tác phẩm, NCS có thể xây dựng được bối cảnh hình thành đối tượng nghiên cứu cho luận án của mình
Năm 1944, trong bài viết “Phác thảo những giai đoạn chính của lịch sử
mỹ thuật An Nam” [61], L.Bezacier đã chia lịch sử mỹ thuật truyền thống nước
ta làm bốn giai đoạn chính Trong đó, mỹ thuật triều Nguyễn được ông xếp vao giai đoạn cuối cùng, từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Tiếp đó, ông tiếp tục chia giai đoạn này thành hai thời kỳ với thời kỳ thứ nhất là toàn bộ thế kỷ XIX, chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Quốc và thời kỳ thứ hai bắt đầu từ khi vua Khải Định lên ngôi, ảnh hưởng Trung Quốc được thay thế một phần của nghệ thuật tân cổ điển phương Tây Nhận định này tiếp tục được tác giả đề cập
trong sách L’art Vietnamien xuất bản năm 1954, khi ông đánh giá thời kỳ thứ
hai của mỹ thuật Nguyễn là giai đoạn Tân cổ điển (le néo - classique) [118, tr.195, 196] Sự phân định thời kỳ của L.Bezacier chính là gợi ý để NCS tìm hiểu những đặc trưng riêng của mỹ thuật Nguyễn dưới thời Khải Định thông
Trang 17qua một đối tượng mỹ thuật ở giai đoạn này là các đồ án TTKSS tại các công trình được vua Khải Định cho xây dựng và tu bổ trong QTDT Cố đô Huế
Năm 1970, cuốn sách Lược sử mỹ thuật Việt Nam của Nguyễn Phi Hoanh
được xuất bản [42] Đây là một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ lịch sử mỹ thuật Việt Nam, giúp người đọc hình dung một cách đầy đủ diện mạo mỹ thuật nước ta từ thời nguyên thủy, thời đồng thau, thời Bắc thuộc, qua các triều đại phong kiến, thời Pháp thuộc cho đến thời điểm giành được độc lập Cuốn sách đã dành một chương để đánh giá về mỹ thuật triều Nguyễn
về các mặt kiến trúc, nghệ thuật tạo hình và đồ sứ Huế Theo tác giả, mỹ thuật phong kiến Nguyễn “đi từ chỗ yếu ớt của các đời vua đầu đến chỗ suy đồi đến cực điểm trong các đời vua chót” [42, tr.121] Đối với giai đoạn 1916 - 1925, tác giả đánh giá những công trình mà vua Khải Định cho xây dựng là “chỗ phô trương của một nền mỹ thuật nô dịch, hòa hợp Đông - Tây theo kiểu lố lăng nhất” [42, tr.124] Theo một số nhà nghiên cứu, những đánh giá trên của Nguyễn Phi Hoanh về mỹ thuật Nguyễn là dựa trên góc nhìn chính trị với quan niệm
“một triều đại phản động về chính trị chỉ có thể đẻ ra một nền nghệ thuật kém cỏi và phản tiến bộ” [21, tr.10] Sự tham gia của yếu tố phương Tây trong trang trí mỹ thuật cung đình Nguyễn thời Khải Định cũng chính là vấn đề mà NCS quan tâm trong hướng nghiên cứu của mình Chính vì vậy, thông qua việc nghiên cứu TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định tại QTDT Cố đô Huế, trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây, NCS mong muốn đánh giá một cách khách quan giá trị của mỹ thuật Nguyễn giai đoạn 1916 - 1925 dưới góc nhìn mỹ thuật
Năm 1992, trong phần “Mở đầu” của công trình nghiên cứu Mỹ thuật
Huế, tác giả Nguyễn Tiến Cảnh đã đưa ra những đánh giá tổng quan về vai trò,
giá trị của mỹ thuật Huế trong lịch sử mỹ thuật truyền thống Việt Nam [21, tr.07 - 15] Tác giả đã xác định, QTDT Cố đô Huế “khi nói chúng với tư cách những sản phẩm mỹ thuật, người ta quen lấy địa danh gọi là Mỹ thuật Huế, hay
Trang 18quen lấy tên vương triều tương ứng gọi là Mỹ thuật Nguyễn” Đồng thời, tác giả cũng đã khẳng định mỹ thuật Huế là “giai đoạn cuối cùng của lịch sử mỹ thuật cổ Việt Nam” [21, tr.14] Những kết quả nghiên cứu này sẽ được NCS kế thừa để xây dựng cơ sở lý luận cho luận án Ngoài ra, tác giả cũng đồng quan điểm với L.Bezacier trong việc phân chia mỹ thuật Nguyễn thành 2 thời kỳ mà trong đó, giai đoạn 1916 - 1925 dưới thời Khải Định thuộc thời kỳ thứ hai - thời kỳ chịu ảnh hưởng của phương Tây [21, tr.9, 11] Đây là cơ sở giúp NCS tiếp tục củng cố hướng nghiên cứu của luận án về nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định nhằm xác định yếu tố làm nên đặc trưng, giá trị của mỹ thuật Nguyễn ở giai đoạn này
Tương tự như các nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật Huế, thời gian trị vì của vua Khải Định cũng được coi là cột mốc trong việc phân chia thời kỳ trong những nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của QTDT Cố đô Huế Trong bài viết “Những giá trị của Di sản kiến trúc Huế” năm 1999 [58], tác giả Hoàng Đạo Kính, bên cạnh việc xác định các giá trị nổi bật của di sản kiến trúc Huế, đã phân chia quá trình phát triển của di sản kiến trúc Huế bao gồm hai thời kỳ: thời kỳ thứ nhất, từ đầu thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XIX, kiến trúc Huế đậm nét của nền kiến trúc dân tộc; thời kỳ thứ hai, từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, kiến trúc Huế tiếp nhận những thành tựu mới của kiến trúc châu
Âu Ông đánh giá lăng Khải Định “cần được nhìn nhận như một thành công trong sự tìm tòi để kết hợp các truyền thống kiến trúc Đông - Tây, thành công
kỳ diệu của những người thợ nề ngõa, đặc biệt thợ ghép sành sứ và thủy tinh”
Tiếp đó, trong bài viết “Quần thể di tích Cố đô Huế - Hai thế kỷ nhìn lại” năm 2002 [87], các tác giả Trần Đức Anh Sơn và Phan Thanh Hải đã chia lịch
sử của QTDT Cố đô Huế thành ba thời kỳ: thời kỳ hình thành và phát triển (1802 - 1945); thời kỳ khủng hoảng và suy thoái (1946 - 1981); thời kỳ khôi phục (1982 đến nay) Trong đó, đối với thời kỳ hình thành và phát triển, các tác
Trang 19giả lại tiếp tục chia thành hai giai đoạn: giai đoạn 1802 – 1917 là giai đoạn vận dụng kiến trúc truyền thống kết hợp với khuôn mẫu Trung Hoa; giai đoạn 1917
- 1945 là giai đoạn phát triển bổ sung các công trình kiến trúc theo phong cách châu Âu và đánh giá những công trình kiến trúc trong giai đoạn này đã “góp phần tạo nên một diện mạo mới cho quần thể di tích kiến trúc ở kinh đô” và “là một cách phản ánh những biến chuyển của hiện thực lịch sử xã hội vào lịch sử kiến tạo và đô thị hóa kinh đô Huế”
Đến năm 2004, tác giả Phan Thuận An hoàn thành cuốn sách Quần thể
di tích Huế [4] Nội dung sách bao gồm hai phần chính: phần 1 trình bày bối
cảnh lịch sử và địa – văn hóa vùng Huế; phần 2 trình bày diện mạo và giá trị quần thể di tích Huế Theo tác giả, lịch sử xây dựng tại khu vực Hoàng thành
và Tử Cấm thành của QTDT Cố đô Huế trải qua năm giai đoạn: Gia Long (1802
- 1819), Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847), Tự Đức - Duy Tân (1848 - 1916), Khải Định - Bảo Đại (1916 - 1945) Trong đó, giai đoạn cuối cùng, Khải Định - Bảo Đại, là giai đoạn hình thành “trong bối cảnh nền văn hóa phương Tây ồ ạt tràn vào Việt Nam” [4, tr.52-57]
Như vậy, các nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của QTDT
Cố đô Huế của Hoàng Đạo Kính, Trần Đức Anh Sơn, Phan Thanh Hải và Phan Thuận An đều xác định thời gian trị vì của vua Khải Định nằm trong một giai đoạn riêng và chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây Ngoài ra, một số nghiên cứu riêng về một công trình được xây dựng ở thời Khải Định như “Di tích kiến trúc nghệ thuật cung An Định” của Trần Huy Thanh [94], “Lầu Kiến Trung trong Hoàng cung Huế” của Phan Thuận An [3] cũng khẳng định luận điểm này Đây chính là hướng mở để NCS đi sâu vào phân tích những ảnh hưởng của phương Tây đến mỹ thuật cung đình triều Nguyễn dưới thời Khải Định trên
cơ sở nghiên cứu hệ thống TTKSS trên kiến trúc ở những công trình mà nhà vua cho xây dựng và tu bổ tại QTDT Cố đô Huế
Trang 20Liên quan trực tiếp đến chủ thể sáng tạo đối tượng nghiên cứu, vua Khải
Định, là cuốn sách Vua Khải Định, hình ảnh và sự kiện của tác giả Võ Hương
An xuất bản năm 2016 [1] Trong nội dung cuốn sách, tác giả đã tổng hợp về cuộc đời của vua Khải Định và những hoạt động chính của ông trong thời gian đứng đầu triều Nguyễn từ khi lên ngôi cho đến khi ông qua đời (1916 - 1925) Qua đó, giúp cho NCS có được cái nhìn tổng quát về nhà vua, những ảnh hưởng của phương Tây đến ông và những công trình KTCĐ mà ông cho xây dựng, góp phần xác định bối cảnh hình thành của đối tượng nghiên cứu
1.1.2 Những nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật trang trí triều Nguyễn
Bộ sách Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ (Hội điển) do Nội các triều
Nguyễn biên soạn cung cấp thông tin về những thiết chế và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam dưới triều đình Nguyễn [69] Trong đó, các quyển 205 (cung điện), 206 (hành cung), 207 (qui chế đàn miếu), 210 (dinh thự ở kinh sư)
và 216 (lăng tẩm) quy định quy chế xây dựng liên quan đến QTDT Cố đô Huế [68, tr.20 - 94, 150 - 176, 317 - 342] Mặc dù quy định chi tiết về quy cách xây dựng, kiến trúc, nhưng những thông tin về NTTT trên KTCĐ trong điển chế là khá giới hạn, chủ yếu là kiểu thức và bố cục trang trí ở khu vực mái Tuy nhiên, đây lại là những thông tin hết sức quý giá để NCS so sánh, đối chiếu nhằm xác định sự kế thừa những quy tắc truyền thống cũng như những cách tân về bố cục trang trí tổng thể của các đồ án TTKSS trên những công trình KTCĐ thời Khải Định trong bối cảnh hiện đại hóa đương thời
Trong tạp chí BAVH 1915, tác giả P.Albrecht có bài viết “Những họa tiết của nghệ thuật trang trí ở Huế: con rồng” [70] Tuy chỉ nghiên cứu về một hình tượng trong trang trí Huế nhưng giá trị của bài viết nằm ở những phân tích liên quan đến biểu tượng “hóa” trong trang trí thông qua các dạng biến thể (hóa) của rồng như: cây lá hóa rồng, hồi văn hóa rồng, mây hóa rồng… Biểu tượng
“hóa” cũng đã được Phạm Minh Hải, trong bài viết “Ý nghĩa các biểu tượng
Trang 21hóa trong trang trí mỹ thuật thời Nguyễn” năm 2021, mở rộng nghiên cứu để xác định những nét đặc trưng, ý nghĩa và giá trị đối với mỹ thuật Huế [33] Những kết quả nghiên cứu này sẽ được NCS kế thừa để xây dựng cơ sở lý luận
và đối chiếu để xác định sự kết hợp của các đồ án TTKSS thời Khải Định về mặt đề tài, kiểu thức
Một trong những công trình nghiên cứu công phu đầu tiên liên quan đến
trang trí tại quần thể Huế là Mỹ thuật Huế (L’art Hue) của L.Cadiere Ban đầu,
nghiên cứu này được in trong sách BAVH tập VI - 1919 [62] Sau đó, được tái bản dưới dạng đặc san chuyên khảo vào năm 1930 [119] Hai phần quan trọng của nghiên cứu này bao gồm bài viết “Mỹ thuật ở Huế” và tuyển tập “Các mô-típ mỹ thuật An Nam” Bài viết “Mỹ thuật ở Huế” là những bàn luận của tác giả về mỹ thuật Huế trong đó có vai trò của trang trí đối với kiến trúc Theo ông: “Tất cả các thể tài mà người nghệ sĩ An Nam đã thể hiện từ gỗ hoặc đồng, những gì họ đặt trên mái nhà, trên thành tường, tất cả đều thực hiện cho mục đích trang trí… và người nghệ sĩ An Nam đã biết rút tỉa từ những mẫu thức ấy
để sử dụng cho có hiệu quả đẹp nhất” [63, tr.9] Trong tuyển tập “Các mô-típ
mỹ thuật An Nam”, ông đã tập hợp và phân loại một cách hệ thống các kiểu thức trang trí Huế với nhiều kiểu thức được lấy từ hệ thống các đồ án trang trí tại các công trình KTCĐ Huế Tuy nhiên, nghiên cứu của ông chưa đề cập đến việc các đồ án trang trí được kết hợp như thế nào trên một công trình kiến trúc Đây chính là vấn đề mà NCS sẽ tiếp tục đi sâu, làm rõ trong luận án của mình
Năm 1979, bài viết “Huế, mỹ thuật Nguyễn, những cái riêng” của tác giả Trần Lâm Biền đặt một trong những bước đi đầu tiên trong việc nhận diện các giá trị của mỹ thuật Huế [8] Nội dung bài viết đã nêu lên một số đặc trưng của
mỹ thuật Huế thể hiện ở bộ vì kèo mái, các lầu - cổng, hệ thống lăng tẩm, hệ thống đao mác trang trí, trang trí bia đá… Trong những đặc trưng này, tác giả đặc biệt chú ý tới “tính phổ biến của ô hộc trong trang trí” trên các công trình
Trang 22kiến trúc tại Huế, đồng thời đưa ra một số nhận xét về cách thức bố cục, sử dụng đề tài trong ô hộc trang trí Trong một nghiên cứu tiếp theo, chương “Nghệ
thuật trang trí” nằm trong cuốn sách Mỹ thuật Huế năm 1992 [21, tr.47 - 79],
tác giả tiếp tục đưa ra những phân tích về cách thức bố cục của mảng trang trí
và ô hộc trang trí trên KTCĐ triều Nguyễn Đồng thời, ông cũng đã hệ thống
và giải thích ý nghĩa của một số đề tài, kiểu thức điển hình trong trang trí Huế như hệ thống linh vật, biểu tượng và cây cỏ… Đây chính là những thông tin có giá trị để NCS xây dựng cơ sở lý luận về đề tài, kiểu thức trang trí cho luận án của mình Bên cạnh đó, những nghiên cứu về bố cục trang trí của tác giả chính
là điểm gợi mở để NCS tiếp tục nghiên cứu về sự kết hợp của các đồ án trang trí trên KTCĐ thông qua hệ thống TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định
Bài viết “Những kiểu thức trang trí Huế” năm 1999 của tác giả Vĩnh Phối đem tới một cái nhìn tổng quát về hệ thống các đề tài, kiểu thức và chất liệu được sử dụng trong trang trí truyền thống Huế [73] Trong đó, tác giả đã phân tích ý nghĩa biểu trưng của mỗi đề tài, kiểu thức được sử dụng trong NTTT Đồng thời, các chất liệu sử dụng trong trang trí cũng được ông giới thiệu, phân tích Mặc dù sự kết hợp của các đồ án trang trí trên kiến trúc chưa được tác giả
đề cập đến nhưng những kết quả nghiên cứu của bài viết là những thông tin hữu ích để NCS xây dựng cơ sở lý luận cho luận án của mình
Một nghiên cứu quan trọng về nghệ thuật trang trí là Trang trí trong mỹ
thuật truyền thống của người Việt của tác giả Trần Lâm Biền xuất bản năm
2001 [7] Thông qua những nghiên cứu về trang trí của người Việt ở các giai đoạn tiền sử, sơ sử cho đến thời tự chủ, tác giả đã cung cấp những kiến thức bao quát về các đề tài trang trí truyền thống, các lớp ý nghĩa của hệ thống các biểu tượng, hoa văn trang trí Bên cạnh đó, tác giả đã tổng hợp và hệ thống hóa trang trí truyền thống theo bốn chủ đề chính đó là: biểu tượng về lực lượng tự nhiên và triết học; linh vật trang trí trên di tích; hoa văn cây cỏ và hình tượng
Trang 23con người Tác giả cũng đã nhấn mạnh đến giá trị nghệ thuật mang tính biểu trưng mà người xưa đưa vào các hình tượng trang trí trên các công trình kiến trúc Từ kết quả nghiên cứu tổng hợp này, NCS có thể kế thừa để đối chiếu, tìm
ra những đặc trưng riêng cho nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định, trong đó có sự kết hợp của các đồ án trang trí trên kiến trúc
Cũng trong năm 2001, cuốn sách Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa
và biểu tượng trang trí của Nguyễn Hữu Thông được xuất bản [99] Phần chính
của nghiên cứu, tác giả đã hệ thống và phân loại các hệ đề tài và kiểu thức được
sử dụng trong trang trí Huế Đồng thời, ông cũng đưa ra những phân tích, nhận định về ý nghĩa, giá trị của hệ thống các đề tài, kiểu thức trang trí này và giới thiệu những chất liệu thể hiện chúng Đây là một công trình quan trọng trong nghiên cứu mỹ thuật Huế, từ công trình này, NCS có thể kế thừa các khái niệm, tên gọi liên quan đến biểu tượng, đề tài và kiểu thức trang trí cùng với những ý nghĩa mà chúng truyền tải Tuy nhiên, do đây là một công trình nghiên cứu có tính bao quát, các đối tượng nghiên cứu không chỉ lấy từ các công trình kiến trúc mà còn ở các vật dụng, đồ vật trong sinh hoạt và do đó, sự kết hợp của các
đồ án trang trí trên kiến trúc chưa được tác giả bàn luận, phân tích sâu Vấn đề này sẽ được NCS tiếp tục giải quyết trong luận án của mình
Trong luận án tiến sĩ Điêu khắc trang trí trên kiến trúc Hoàng thành Huế
năm 2018 [66], tác giả Trần Thanh Nam đã xác định hình thức biểu đạt, đặc điểm và giá trị của điêu khắc trang trí trên kiến trúc Hoàng thành Huế Luận án cũng đã nghiên cứu, phân tích về những thành tố cơ bản của điêu khắc trang trí trên kiến trúc bao gồm hệ đề tài, bố cục và nội dung truyền tải của các đồ án trang trí Tác giả nhấn mạnh: “Bố cục điêu khắc trang trí trên kiến trúc Hoàng thành Huế chịu sự chi phối của kiến trúc, đó là sự phân bổ về không gian kiến trúc mà chúng hiện hữu” [66, tr.43] Đồng thời, ông cũng nhận định về bố cục
ô hộc trang trí như là một “hình thức trang trí kiến trúc độc đáo, mang dấu ấn
Trang 24rất riêng của mỹ thuật Nguyễn” [66, tr.45] Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vào phân tích, đánh giá sự kết hợp của các đồ án trang trí để hình thành nên tổng thể trang trí mỹ thuật cho một công trình KTCĐ Vì vậy, NCS sẽ tiếp tục bổ sung và làm rõ vấn đề đề này trên cơ sở tiếp thu, kế thừa các kết quả nghiên cứu của tác giả
Năm 2019, cuốn sách Mỹ thuật Nguyễn của Nguyễn Hữu Thông được
xuất bản [100] Trong công trình này, tác giả đã tổng hợp những đặc trưng của
mỹ thuật Nguyễn ở các mặt: kiến trúc, hội họa - đồ họa, điêu khắc, nghệ thuật trang trí và đưa ra một số nhận định về vị trí của mỹ thuật Nguyễn trong di sản nghệ thuật tạo hình Việt Nam Tác giả đã xác định nghệ thuật trang trí Nguyễn chịu ảnh hưởng của ba tầng văn hóa: tầng thứ nhất, tầng bản địa với chiều sâu của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước; tầng thứ hai, tầng giao lưu, ảnh hưởng, cũng như bị áp đặt bởi văn hóa phương bắc; tầng thứ ba, tầng ảnh hưởng từ phương Tây Trong đó, tầng văn hóa thứ hai chính là cơ sở hình thành hệ thống các đề tài sử dụng trong NTTT trên KTCĐ triều Nguyễn Kết quả nghiên cứu của tác giả giúp cho NCS hiểu được các tầng ý nghĩa mà các đồ án trang trí truyền tải, bao gồm cả TTKT, để qua đó, xây dựng cơ sở lý luận cho luận án
Những kết quả bảo tồn thực tế các di tích tại QTDT Cố đô Huế cũng cung cấp nhiều thông tin liên quan đến việc sử dụng đề tài, bố cục trong TTKT Trong đó, có một số công trình được vua Khải Định cho xây dựng hoặc tu bổ
Đó là, các báo cáo Báo cáo phục hồi phần trang trí trên mái công trình Phu
Văn Lâu của Trung tâm BTDTCĐ Huế [104], Lý luận hoàn nguyên và các giải pháp áp dụng trong Tu bổ phục hồi di tích Nghinh Lương Đình của Viện KHCN
Xây dựng [114] hay bài viết “Tính đăng đối về bố cục và chủ đề trang trí các ô hoa văn trên mái công trình điện Thái Hòa” của Nguyễn Tiến Bình và Lê Phước Tân [18] Các kết quả nghiên cứu kể trên là cơ sở dữ liệu giúp NCS có thêm
Trang 25thông tin để tập hợp, phân tích, xác định sự kết hợp của các đồ án TTKSS trên các công trình KTCĐ dưới thời Khải Định
1.1.3 Những nghiên cứu liên qua đến nghệ thuật trang trí khảm sành
sứ triều Nguyễn
Năm 1986, trong bài viết “Vài nét quanh các bức phù điêu ở Huế”, trên
cơ sở khảo sát phần trang trí trên các bức phù điêu ở di tích Huế, tác giả Trần Lâm Biền đã đưa ra bốn vấn đề cần quan tâm đối với trang trí phù điêu ở Huế [9] Trong đó, vấn đề thứ tư được ông đề cập đó là “nền nghệ thuật tạo hình ở Huế, nhất là ở phù điêu, vào khoảng cuối thế kỷ 19 và mấy chục năm đầu của thế kỷ 20, thực sự đã có những bước phát triển mới” và “sản phẩm chạm khắc
và khảm sành sứ ở giai đoạn này đã đạt được những thành quả nhất định cả về nghệ thuật lẫn kỹ thuật” “Những mảng khảm sành sứ tuyệt tác ở lăng Khải Định” đã được tác giả đưa ra là một trong các dẫn chứng đưa ra để minh họa cho nhận định của mình Từ những nhận xét của tác giả, NCS nhận thấy rằng, cần có những nghiên cứu tiếp nối để làm rõ những đặc trưng làm nên bước phát triển mới của nghệ thuật TTKSS trên hệ thống các công trình KTCĐ được xây dựng và tu bổ ở thời Khải Định
Trong chương “Điêu khắc và tranh” của cuốn sách Mỹ thuật Huế năm
1992 [21, tr.81 - 117], tác giả Chu Quang Trứ đã xếp khảm sành sứ vào mục
tranh Huế với tên gọi Tranh ghép kính và sứ và đưa ra một số phân tích, đánh
giá Theo tác giả, kỹ thuật khảm gắn sành sứ đã đạt đến đỉnh cao ở lăng Khải Định [21, tr.116] và “những hình gắn sành – sứ - kính ở trong điện Khải Thành thực sự trở thành tranh hay có thể xem như một loại tranh khảm tường (mosaique)… Nó thực sự là một loạt tranh nghệ thuật, một đặc sắc của Huế” [21, tr.117] Từ đánh giá trên cho thấy, bên cạnh việc nghiên cứu vai trò và giá trị thẩm mỹ đối với kiến trúc, những đồ án TTKSS thời Khải Định cũng cần được nhìn nhận ở góc độ một tác phẩm nghệ thuật độc lập
Trang 26Một nghiên cứu khác về mỹ thuật Huế năm 1992 là công trình Mỹ thuật
thời Nguyễn trên đất Huế do Nguyễn Hữu Thông chủ biên [98] Trong cuốn
sách này, qua nghiên cứu các đồ án TTKSS tại lăng Khải Định, tác giả đánh giá đó là “những kiệt tác gần như duy nhất của Việt Nam, thậm chí cả khu vực
và thế giới về nghệ thuật khảm sành sứ [98, tr.146] Theo ông, nghệ thuật khảm sành sứ đã vươn tới đỉnh cao dù vương triều Nguyễn đang tồn tại trong những năm cuối cùng [96, tr.148] và những đồ án này mang đến “sự rực rỡ rất riêng của “không gian Khải Định”” [98, tr.150] Ngoài ra, tác giả cũng có một số so sánh về sự khác biệt giữa kỹ thuật khảm mảnh trước và sau thời Khải Định [98, tr.148] Liên quan đến hướng nghiên cứu của luận án, tác giả đã cung cấp cho NCS những thông tin ban đầu về giá trị và sự khác biệt của TTKSS thời Khải Định so với các đời vua trước Qua đó, NCS sẽ mở rộng nghiên cứu đối với các công trình KTCĐ khác liên quan đến vua Khải Định để xác định những đặc trưng riêng của loại hình TTKT này
Trong bài viết “Mấy nhận xét về trang trí nội thất lăng Khải Định” năm
1992 [89], tác giả Trần Đức Anh Sơn đã đưa ra một số nhận xét về TTKT trong nội thất Thiên Định Cung, lăng Khải Định, trong đó chủ yếu liên quan đến nghệ thuật TTKSS Từ kết quả phân tích việc sử dụng đề tài, bố cục, những ưu điểm của chất liệu, màu sắc trang trí và thủ pháp tạo hình, tác giả đã đánh giá NTTT tại Thiên Định Cung thể hiện ở sự phong phú về đề tài trang trí, sự cách tân trong phong cách thể hiện và sự dung hòa của nhiều hệ tư tưởng Ông cũng đưa
ra nhận định rằng “lăng Khải Định đã đạt đến trình độ nghệ thuật tuyệt vời trong cả kiến trúc lẫn trang trí” Những kết quả nghiên cứu của tác giả chính là nguồn dữ liệu mà NCS có thể kế thừa trong việc xác định những biểu hiện của đối tượng nghiên cứu về cả bố cục và tạo hình Đồng thời, NCS cũng sẽ mở rộng nghiên cứu đến những công trình liên quan khác để so sánh, đối chiếu
Trang 27nhằm xác định những đặc trưng và giá trị tiêu biểu nhất của nghệ thuật TTKSS thời Khải Định tại QTDT Cố đô Huế
Năm 1994, bài viết “Xác định và phân loại gốm sứ Nguyễn” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng đã xác định nguồn gốc các loại gốm, sứ dùng ở thời Nguyễn bao gồm cả gốm sứ dùng trong xây dựng và nghệ thuật TTKT [49] Nội dung bài viết cũng cho thấy sự xuất hiện của gốm sứ châu Âu trong TTKT triều Nguyễn mà theo tác giả “Gốm sứ gia dụng khá đa dạng gồm cả đồ faience (sành xốp) và porcelaine (sứ), men màu hoặc men trắng vẽ lam, vẽ màu… Gốm
sứ xây dựng gồm những mảng trang trí men xanh lục, xanh tím…” Đây là thông tin hữu ích để NCS phân tích sự phát triển của nghệ thuật TTKSS thời Khải Định về mặt sử dụng chất liệu, màu sắc trong trang trí
Trong bài viết “Nghệ thuật khảm sành sứ trang trí kiến trúc cung đình Huế” năm 2002, tác giả Phan Thanh Bình đã cung cấp những kiến thức cơ bản
về kỹ thuật khảm sành sứ, những đề tài được sử dụng trong trang trí và hiệu quả của màu sắc trong trang trí [12] Thông qua cảm nhận từ công trình tiêu biểu là lăng Khải Định, tác giả đã nhận định “tiếp nhận những thành tựu chế tác màu men hiện đại, tạo được sự phong phú về màu và độ bền vật liệu, nghệ thuật khảm sứ dưới thời Khải Định đã có những bước ngoặt lớn lao, vừa tiếp thu yếu tố truyền thống, đồng thời tận dụng những phương pháp, kỹ thuật mới
để khảm sứ màu” Nghiên cứu này đã chỉ ra một số yếu tố tạo nên sự thay đổi
về mặt tạo hình của nghệ thuật TTKSS như chất liệu, màu sắc và kỹ thuật Đây chính là cơ sở để NCS tiếp tục mở rộng nghiên cứu trên các công trình liên quan đến thời Khải Định nhằm làm rõ những đặc trưng làm nên sự khác biệt của nghệ thuật TTKSS thời kỳ này so với các thời kỳ trước
Năm 2007, tác giả Đỗ Thị Thanh Mai có bài viết “Nghệ thuật khảm sành
sứ thời Nguyễn nhìn từ một chiếc cổng” [65] Đây là một nghiên cứu toàn diện
về TTKSS tại cổng Chương Đức, một công trình được xây dựng dưới thời Khải
Trang 28Định, từ sự kết hợp đến tạo hình của các đồ án trang trí Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số nhận định về lịch sử của nghệ thuật TTKSS thời Nguyễn và vai trò của cổng Chương Đức trong các công trình sử dụng hình thức TTKT này ở thời Khải Định Tác giả đánh giá “nghệ thuật khảm sành sứ tuy là một cả một quá trình dài nhưng nó chỉ thật sự thăng hoa dưới thời Khải Định với sự ra đời của một loạt công trình nổi tiếng” Từ nội dung của bài viết, bên cạnh việc kế thừa các kết quả phân tích của tác giả, NCS sẽ tiếp tục mở rộng nghiên cứu nhằm làm rõ bối cảnh ra đời, sự phát triển, khác biệt, những đặc trưng riêng của nghệ thuật TTKSS thời Khải Định so với các đời vua trước
Năm 2009, tác giả Phan Thanh Bình tiếp tục có bài viết “Hiệu quả tạo hình của các chất liệu nề họa - khảm sứ trang trí KTCĐ thời Nguyễn” [13] Nội dung bài viết giới thiệu về hai chất liệu nề họa và khảm sành sứ trong TTKT
và phân tích hiệu quả của sự kết hợp, vai trò của từng chất liệu trên một đồ án trang trí Trong đó, nề họa đóng vai trò hỗ trợ cho hiệu quả tạo hình của khảm sành sứ Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, một đồ án TTKSS, để đạt được hiệu quả cao nhất về mặt thẩm mỹ, cần có sự kết hợp với chất liệu nề họa Từ luận điểm này, NCS sẽ kế thừa và tiếp tục đi sâu tìm hiểu sự kết hợp về mặt chất liệu trong trang trí để làm rõ bước phát triển về tạo hình của đối tượng nghiên cứu
Năm 2010, tác giả Phan Thanh Bình hoàn thành luận án tiến sĩ Nghiên
cứu nghệ thuật khảm sành sứ trong mỹ thuật cung đình thời Nguyễn, một trong
những nghiên cứu quan trọng nhất về nghệ thuật khảm sành sứ Huế [16] Luận
án đã cung cấp những thông tin tổng quát nhất, cơ bản nhất về nghệ thuật khảm sành sứ cung đình triều Nguyễn, bao gồm: Cơ sở hình thành nghệ thuật khảm sành sứ thời Nguyễn; Tính năng đặc điểm chất liệu và các kiểu thức tạo hình tiêu biểu của nghệ thuật khảm sành sứ; Những giá trị cơ bản và hiệu quả tạo hình của nghệ thuật khảm sành sứ Đồng thời, tác giả cũng đánh giá thời Khải Định nằm trong giai đoạn thứ hai và là giai đoạn phát triển nhất của loại hình
Trang 29nghệ thuật này mà “mà đỉnh cao là nghệ thuật khảm sứ ở lăng Khải Định” [16, tr.185] Kết quả nghiên cứu của luận án đã cung cấp cho NCS nhiều kiến thức
có giá trị về nghệ thuật khảm sành sứ như: lịch sử hình thành; hệ thống khái niệm, thuật ngữ; các thông tin về vật liệu và hệ thống đề tài, kiểu thức; các luận điểm về vai trò và giá trị của trang trí, thông qua nghệ thuật khảm sành sứ, đối với các không gian nội, ngoại thất của kiến trúc Đây chính là những kiến thức nền để NCS xây dựng bối cảnh hình thành của đối tượng nghiên cứu, cơ sở lý luận và các giá trị của nghệ thuật khảm sành sứ Nguyễn Trên cơ sở đó, NCS
sẽ phân tích, đối chiếu và so sánh để phát hiện thêm những đặc trưng và giá trị mới của nghệ thuật TTKSS thời Khải Định trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây, thông qua các vấn đề cần tiếp tục giải quyết như: sự kết hợp của các đồ án trang trí trên kiến trúc; sự khác biệt, cách tân của khảm sành sứ thời Khải Định so với các đời trước
Năm 2016, trong bài viết “Bảo tồn những giá trị đặc sắc của Cố đô Huế
- đỉnh cao của kho tàng di sản văn hóa triều Nguyễn ở Việt Nam”, tác giả Trương Quốc Bình đã xác định vai trò lịch sử của nhà Nguyễn cùng với sự phát triển văn hóa của Việt Nam thời Nguyễn [11] Tác giả cũng đã tổng hợp các giá trị của kho tàng di sản văn hóa cung đình và những nỗ lực, kết quả của công cuộc bảo tồn và phát huy di sản Đồng thời, cùng với việc điểm lại những di sản phi vật thể đã được ghi danh là di sản thế giới, tác giả cũng đã kiến nghị việc tiếp tục nghiên cứu xác định những giá trị văn hóa cung đình đặc sắc tại Huế để đưa vào danh sách di sản văn hóa quốc gia và quốc tế, trong đó, bao gồm các tác phẩm nghệ thuật khảm sành sứ Theo tác giả, những tác phẩm này
“được phát triển mạnh mẽ, rộng khắp vào thời Nguyễn, và đạt đến đỉnh cao dưới triều vua Khải Định và cho đến nay vẫn đang tiếp tục được duy trì tại Huế” Nhận định này cho thấy khảm sành sứ không những chứa đựng những giá trị văn hóa, nghệ thuật của một vùng đất mà còn mang tầm cỡ quốc gia và
Trang 30thế giới Đây chính là gợi mở để NCS tiếp tục tìm tòi, phát hiện những đặc trưng, giá trị mới và chứng minh sự kế thừa và phát triển của loại hình nghệ thuật này thông qua hệ thống các TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định, trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây tại thời điểm chúng được hình thành
Năm 2020, Dư địa chí Thừa Thiên Huế, bộ sách nghiên cứu tổng hợp về
tỉnh Thừa Thiên Huế, trong “Phần văn hóa” cũng đã đưa nghệ thuật khảm sành
sứ là một trong những đặc điểm chính của nghệ thuật tao hình Huế và nhận xét
“khi nói đến khảm sành sứ là biết ngay đó là nghệ thuật trang trí phổ biến ở Huế” [111, tr.505] Nghiên cứu cũng xác định tạo hình khảm sành sứ phát triển đến đỉnh cao dưới thời Khải Định Vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ những đặc trưng riêng của nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định vừa góp phần
bổ sung những yếu tố mới cấu thành giá trị của nghệ thuật khảm sành sứ vừa xác định yếu tố làm nên đặc trưng riêng của mỹ thuật Huế giai đoạn 1916 -
1945 và sức sống, sự lan tỏa chúng trong cuộc sống cho đến nay Đó cũng chính
là một trong những mục đích nghiên cứu của luận án
Bên cạnh các nghiên cứu đã được trình bày ở trên, một số nghiên cứu về một công trình KTCĐ được vua Khải Định cho xây dựng hoặc tu bổ trong QTDT Cố đô Huế cũng cho thấy vai trò của nghệ thuật TTKSS đối với việc hình thành diện mạo và giá trị kiến trúc nghệ thuật của những công trình này
Có thể kể đến các bài viết “Cổng, cửa trong KTCĐ Huế - loại hình và cách bài trí” của Phan Thanh Hải [34], “Áp dụng phương pháp anastylosis trong việc tu
bổ các tác phẩm khảm sành sứ trang trí công trình Thái Bình Lâu” của Nguyễn Thế Sơn [93], “Trùng tu di tích Phu Văn Lâu” và “Nghinh Lương Đình, những thay đổi về hình dáng kiến trúc trong các giai đoạn lịch sử” của Phan Thanh Hải và Nguyễn Tiến Bình [36] [37] Những nghiên cứu này cung cấp cho NCS thông tin liên quan đến sự hình thành và biểu hiện của đối tượng nghiên cứu trên các kiến trúc tại QTDT Cố đô Huế dưới đời vua Khải Định
Trang 31Đánh giá chung
Qua kết quả tổng hợp và phân tích những tài liệu liên quan đến hướng nghiên cứu của luận án đã cho thấy một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết sau:
- Những nghiên cứu liên quan đến QTDT Cố đô Huế ở giai đoạn
1916-1925 dưới thời Khải Định đã cung cấp những thông tin về bối cảnh chính trị,
xã hội, tư tưởng trị quốc, chính sách của vua Khải Định và triều đình Nguyễn, hoạt động xây dựng và tu bổ trong QTDT Cố đô Huế Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng đã xác định giai đoạn 1916 - 1925 nằm trong một giai đoạn riêng của lịch sử mỹ thuật Huế cũng như QTDT Cố đô Huế với sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu cụ thể nào để làm rõ những yếu tố làm nên đặc trưng mỹ thuật của giai đoạn này cũng như những ảnh hưởng của giao lưu văn hóa Đông - Tây đến lĩnh vực này, trong đó, bao gồm cả nghệ thuật TTKSS và các hình thức TTKT được sử dụng nhiều tại các công trình KTCĐ dưới thời Khải Định
- Những nghiên cứu liên quan đến NTTT triều Nguyễn đã hệ thống hóa
và phân loại hệ thống đề tài, kiểu thức được sử dụng trong trang trí, bao gồm
cả TTKT Đồng thời, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra các ý nghĩa, các tầng văn hóa mà các đề tài, kiểu thức trang trí chứa đựng Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng đã đề cập đến bố cục ô hộc trang trí như là một trong những đặc trưng của trang trí Nguyễn Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu làm rõ sự kết hợp của các đồ án trang trí về các mặt sử dụng đề tài và kiểu thức trên kiến trúc, tổ chức không gian và bố cục trang trí tổng thể, trong đó bao gồm cả hệ thống TTKSS
ở các công trình KTCĐ thời Khải Định
- Những nghiên cứu về nghệ thuật TTKSS triều Nguyễn và chất liệu sành
sứ đã xác định lịch sử hình thành và giá trị của loại hình nghệ thuật này, coi đây
là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc của Cố đố Huế với với tiềm năng trở thành di sản phi vật thể cấp quốc gia và quốc tế Mặc dù hầu hết các nghiên
Trang 32cứu đã thống nhất thời Khải Định là giai đoạn mà nghệ thuật khảm sành sứ phát triển đến đỉnh cao nhưng chưa có nghiên cứu nào tách biệt các đặc trưng làm nên
sự nổi trội, bước phát triển của nghệ thuật TTKSS ở giai đoạn này so với giai đoạn trước đó cũng như xác định vai trò của nghệ thuật TTKSS đối với việc hình thành một giai đoạn riêng trong QTDT Cố đô Huế về trang trí mỹ thuật
Từ những phân tích trên, NCS nhận thấy rằng chưa có công trình nghiên
cứu về Nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định (1916 - 1925) tại QTDT
Cố đô Huế trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây nhằm giải quyết vấn đề
nghiên cứu trên Từ đó, xác định những đặc trưng riêng có và các giá trị của hình thức trang trí này trong tổng thể trang trí KTCĐ triều Nguyễn nói riêng và
mỹ thuật Huế nói chung Đó cũng chính là “khoảng trống” để NCS tìm tòi, phát hiện những yếu tố mới trong đề tài nghiên cứu của mình
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Khái niệm và thuật ngữ
1.2.1.1 Khái niệm về nghệ thuật trang trí khảm sành sứ
* Nghệ thuật
Theo Từ điển tiếng Việt, nghệ thuật là “hình thái ý thức xã hội đặc biệt,
dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền
đạt tư tưởng, tình cảm” [115, tr.676] Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông
định nghĩa, nghệ thuật là “các phương pháp tiến hành để làm ra các sản phẩm chứng tỏ tài khéo léo, sự suy nghĩ, trí tưởng tượng, cảm xúc và sự sáng tạo của con người… phản ánh các tiêu chuẩn đẹp, khéo và sáng tạo…” [67, tr.110]
Từ hai định nghĩa nêu trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, khái
niệm nghệ thuật được xác định là những hoạt động có tính sáng tạo để truyền tải và thể hiện tư tưởng, bối cảnh của hiện thực xã hội thông qua cảm xúc, trí
tưởng tượng và sự khéo léo của đôi bàn tay của con người
Trang 33* Trang trí
Theo định nghĩa của Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, trang trí là
“nghệ thuật làm đẹp, phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của con người Nhờ những yếu tố trang trí, các vật dụng vừa có giá trị thẩm mỹ, vừa nâng cao
được giá trị sử dụng” [67, tr.134] Theo Từ điển tiếng Việt, trang trí là “trình
bày, bố trí các vật có hình khối, đường nét, màu sắc khác nhau sao cho tạo ra một sự hài hòa, làm đẹp mắt một khoảng không gian nào đó” [115, tr.1023]
Liên quan đến hướng nghiên cứu của luận án, NCS xác định khái niệm trang trí là sự sắp xếp, bố cục các vật thể có hình khối, đường nét và màu sắc (yếu tố hình) lên một vật thể khác (yếu tố nền) nhằm tạo nên tính thẩm mỹ cho vật thể đó Đối với nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định, yếu tố hình ở đây là các đồ án trang trí còn yếu tố nền là công trình kiến trúc
* Nghệ thuật trang trí
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa khái niệm NTTT như sau:
Theo nghĩa hẹp, NTTT là nghệ thuật sử dụng hình thức ước lệ, cách điệu của đường nét và màu sắc sử dụng sắp đặt quy củ và trật tự về
bố cục, để làm đẹp các vật thể… Theo nghĩa rộng, NTTT đồng nghĩa với mỹ thuật ứng dụng, chức năng của nó là kết hợp các yếu tố nghệ thuật với yếu tố vật liệu và công nghệ, để hình thành những sản phẩm mang tính thẩm mĩ, tính công năng, tính kinh tế; tạo ra không gian môi trường có chất lượng văn hóa cao, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người [45, tr.104, 105]
Như vậy, nếu như khái niệm về trang trí chỉ đơn thuần là “sự sắp xếp, bố cục các vật thể có hình khối, đường nét và màu sắc” thì khái niệm về nghệ thuật trang trí đã được mở rộng thông qua “sự kết hợp các yếu tố nghệ thuật với yếu
tố vật liệu và công nghệ”, đồng thời, nghệ thuật trang trí còn tạo ra một không gian thẩm mỹ bao quanh con người
Trang 34Các nghiên cứu về mỹ thuật cổ Việt Nam nói chung và mỹ thuật Huế nói
riêng đều thống nhất quan điểm trang trí bên cạnh tính thẩm mỹ còn mang tính
biểu tượng, truyền tải tư tưởng, triết lý của người xưa Tác giả Trần Lâm Biền
đã nhận định “Hoa văn trên dải đất chữ S không chỉ nhằm mục đích đơn thuần
để trang trí cho kiến trúc hoặc các hiện vật nào đó, mà chúng là sự kết tinh
“muôn đời muôn thủa” của dân tộc Việt” [7, tr.8] Còn theo tác giả Nguyễn Hữu Thông, đó là “cả thế giới tràn ngập những ước vọng với những biểu thức dàn trải trên hệ kiểu thức trang trí, mà ở Huế, trong kiến trúc lẫn vật dụng, ở đâu chúng ta cũng có thể nhìn thấy” [99, tr.177]
Kết hợp những định nghĩa trên, cùng với các khái niệm về nghệ thuật và
về trang trí, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, nghệ thuật trang trí được xác định là: sự sắp xếp, bố cục các vật thể có hình khối, đường nét và màu sắc (yếu tố hình) lên một vật thể khác (yếu tố nền) một cách sáng tạo và khéo léo nhằm tạo nên tính thẩm mỹ và đồng thời, truyền tải những tư tưởng, triết lý mang tính biểu tượng Từ đó, hình thành nên những không gian thẩm mỹ đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
* Khảm sành sứ
Khảm sành sứ là sử dụng các mảnh vỡ từ các vật dụng bằng sành sứ, thủy tinh để gắn, ghép lên một bề mặt phục vụ cho mục đích trang trí
Về cấu trúc, một đồ án TTKSS sẽ gồm hai phần chính: phần cốt hay phần thô là những khối hình học nề vữa đã được tạo hình cơ bản; phần hoàn thiện chính là lớp sành sứ được khảm, gắn vào phần thô bởi hỗn hợp vữa kết dính
Về chất liệu, sành sứ là tên gọi chung để chỉ các chất liệu được sử dụng trong TTKSS Chúng được lấy từ những vật dụng trong sinh hoạt như bát, đĩa, chai, lọ…, sau đó đập hoặc cắt thành những mảnh nhỏ để sử dụng trong trang trí, như tác giả Phan Thanh Bình đã xác định, “bản chất thực tế của nghệ thuật khảm sành sứ là sử dụng các vật liệu sành sứ vỡ thành mảnh vỡ, mảnh vụn chứ
Trang 35không phải là sử dụng sản phẩm sành sứ với tư cách là đồ vật nguyên thể” [16, tr.83] Như vậy, hình dạng của các mảnh ghép không được định hình trước từ quá trình sản xuất mà được tạo tác trong quá trình gia công dựa trên ý đồ thể hiện của người nghệ nhân từ những đồ vật sẵn có Các mảnh ghép có thể là các mảnh vỡ tự nhiên hoặc các mảnh được cắt tỉa cẩn thận có hình dạng cụ thể như cánh hoa, lá cây, vảy rồng, lông vũ…
Về kỹ thuật, tác giả Phan Thanh Bình mô tả như sau: “Trước hết, người thợ sử dụng những mảng màu sắc bên ngoài mảnh vỡ của sành sứ để khảm ghép vào nền vữa, các mảnh sành sứ sẽ được tiếp mí với nhau rất đa dạng, rãnh tiếp nối sẽ phủ tô màu sao cho bố cục, nhịp điệu ánh sáng tự nhiên” [16, tr.90]
Trên thế giới, từ xa xưa đã xuất hiện loại hình nghệ thuật tranh ghép mảnh, tranh khảm với tên gọi Mosaic Về tổng quan, kỹ thuật của tranh ghép mảnh
Mosaic cũng tương đồng với tranh khảm sảnh sứ Theo Từ điển thuật ngữ mỹ
thuật phổ thông, tranh khảm (mosaic, mosaique) là “loại tranh được ghép hay
gắn từ những mảnh kính, cẩm thạch màu, mảnh gốm màu hoặc những vật liệu thích hợp khác lên bề mặt rắn chắc … để tạo thành một bố cục nghệ thuật” [67, tr.139] Tại Việt Nam, ngay những năm đầu thế kỷ XX, tranh ghép mảnh Mosaic
đã xuất hiện trên các công trình kiến trúc Một công trình có liên quan đến các
vị vua triều Nguyễn sử dụng trang trí Mosaic còn tồn tại đến ngày nay là Bạch Dinh được xây dựng năm 1898 ở Vũng Tàu, từng là nơi giam giữ vua Thành Thái từ năm 1906 - 1917 [86, tr.15 - 18] Đây là công trình có kiểu kiến trúc Pháp với TTKT sử dụng kết hợp nhiều hình thức trong đó có trang trí Mosaic với các các chủ đề thể hiện đến từ phương Tây [PL.5, H.26, tr.225]
Theo tác giả Phan Thanh Bình, từ “mosaic” cũng được sử dụng khi dịch thuật ngữ khảm sành sứ ra ngôn ngữ quốc tế [16, tr.50] Tuy nhiên, theo ông, khảm sành sứ trong tâm thức nghệ thuật và văn hóa Huế, “không có cách tư duy và cách gọi loại thể trang trí bằng mảnh sành sứ này là tranh ghép mảnh” [16, tr.48] Tác giả đã xác định, “ thuật ngữ khảm sành sứ được hiểu đó là nghệ
Trang 36thuật sử dụng mảnh sành sứ, thủy tinh màu (và một số ít các chất khác như mảnh gốm đất nung, mảnh đá, gỗ, gạch, ngà, xương, đồ dùng vật dụng) trang trí các công trình kiến trúc thời Nguyễn”, đồng thời cũng là “cách gọi truyền thống của người Huế về nghệ thuật trang trí độc đáo vừa dân gian vừa cung đình này, khi dùng thuật ngữ khảm sành sứ đã bao hàm trong đó các thuộc tính của gắn, ghép trang trí” [16, tr.50]
Tranh ghép mảnh Mosaic Trang trí khảm sành sứ
kích thước và hình dạng tương đồng
Mảnh ghép có bề mặt cong, thậm chí lồi Kích thước và hình dạng phụ thuộc vào
Ghi chú: Trong bảng đối chiếu này, ngoài Bạch Dinh ở Vũng Tàu, NCS có sử dụng thêm
một số tranh ghép mảnh được dẫn chứng trong Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông
[PL.5, H.25, tr.225] và một đoạn phim mô tả quá trình sản xuất tranh ghép mảnh [132])
So sánh tranh ghép mảnh Mosaic và TTKSS (Nguồn: NCS thực hiện) Đồng quan điểm với tác giả, đối với TTKSS triều Nguyễn, NCS nhận thấy rằng cần phân biệt khảm sành sứ với tranh ghép mảnh Mosaic [PL.5, H.27, tr.226] Thông qua việc đối chiếu, so sánh các bức tranh ghép mảnh tại Bạch Dinh với TTKSS triều Nguyễn (xem bảng), có thể thấy rằng giữa hai loại hình này có sự khác biệt mà ở đó, TTKSS triều Nguyễn có những đặc trưng riêng
mà tranh ghép mảnh Mosaic không có được Từ góc độ lịch sử cho thấy, khảm sành sứ triều Nguyễn là loại hình nghệ thuật truyền thống đã có bề dày tích tụ
Trang 37hàng trăm năm và phát triển lên đỉnh cao ở thời Khải Định Những yếu tố mới nếu có, không phải là sao chép nguyên từ một loại hình nghệ thuật nước ngoài
mà là tiếp nhận những điểm có lợi trên cơ sở cái nền truyền thống để cách tân
và phát triển
* Kiến trúc
Theo định nghĩa của Từ điển bách khoa Việt Nam, đứng ở góc độ nghệ
thuật, kiến trúc là một ngành nghệ thuật tổng hợp, chứa đựng những yếu tố của các ngành nghệ thuật khác như điêu khắc, hội họa và trang trí… Ở góc độ văn hóa tinh thần, kiến trúc tham gia hình thành môi trường thẩm mỹ của cuộc sống, thể hiện quan điểm thẩm mỹ đương thời và phản ảnh tư tưởng của thời đại [44, tr.569]
Tác giả Tạ Trường Xuân, trong sách Nguyên lí thiết kế kiến trúc, cũng đã
định nghĩa kiến trúc là “nghệ thuật và khoa học thiết kế, xây dựng các công trình và các tổ hợp công trình theo những tiêu chuẩn thẩm mỹ và chức năng… Một tác phẩm kiến trúc được tạo nên bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa chức năng
sử dụng và tác dụng thẩm mỹ Nó không chỉ đơn thuần là một sản phẩm ứng dụng khoa học - kỹ thuật, mà còn là một sáng tạo nghệ thuật” [117, tr.5, 6]
Như vậy, các định nghĩa đã nêu đã chỉ ra kiến trúc bên cạnh chức năng chính là đáp ứng nhu cầu sử dụng của con người, còn mang những giá trị nghệ thuật và phản ảnh tư tưởng của thời đại Kiến trúc chính là vật thể làm nên yếu
tố nền của NTTT KTCĐ ở thời Khải Định khá đa dạng về hình thức và kết cấu với điểm chung là phần lớn các công trình sử dụng khảm sành sứ trong TTKT
Do đó, ở góc độ kiến trúc, những đặc trưng, giá trị nghệ thuật của hệ thống các
đồ án TTKSS cũng chính là những yếu tố làm nên đặc trưng, giá trị nghệ thuật cho mỗi công trình KTCĐ thời Khải Định
* Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc
Từ kết quả tiếp cận và phân tích, thao tác hóa các khái niệm nghệ thuật,
trang trí, nghệ thuật trang trí, khảm sành sứ và kiến trúc, khái niệm về nghệ
Trang 38thuật trang trí khảm sành sứ trên kiến trúc sử dụng trong luận án được xác định
như sau: là nghệ thuật tổ chức, sắp xếp, bố cục các yếu tố trang trí (hình khối, đường nét, chất liệu, màu sắc) lên công trình kiến trúc bằng hình thức khảm sành sứ với các thủ pháp thể hiện sự sáng tạo và khéo léo của người thực hiện Kết quả của công việc này tạo nên không gian thẩm mỹ cho kiến trúc đồng thời truyền tải tư tưởng, triết lý của hiện thực xã hội đương thời Đối chiếu với đối tượng nghiên cứu, nghệ thuật TTKSS trên kiến trúc thời Khải Định tại QTDT
Cố đô Huế, các yếu tố trang trí được coi là yếu tố hình và các công trình KTCĐ chính là yếu tố nền của tổng thể hệ thống trang trí
Khái niệm trên là cơ sở để NCS tiếp tục phân tích, xác định biểu hiện của đối tượng nghiên cứu thông qua các nguyên tắc bố cục và tổ chức không gian trang trí, hình thức biểu đạt của đối tượng nghiên cứu (tạo hình, chất liệu màu sắc và thủ pháp) Đồng thời, cũng dựa trên khái niệm này, NCS có thể xác định những đặc trưng của đối tượng nghiên cứu thông qua sự cách tân, sự tiếp thu cái mới, sự sáng tạo, khéo léo cũng như nhìn nhận đối tượng nghiên cứu ở góc độ một tác phẩm nghệ thuật độc lập
1.2.1.2 Khái niệm về Quần thể di tích Cố đô Huế
Quần thể KTCĐ triều Nguyễn hay QTDT Cố đô Huế là “những di tích lịch sử - văn hóa do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian
từ đầu thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX trên địa bàn kinh đô Huế và vùng phụ cận” [87] Năm 1993, QTDT Cố đô Huế đã được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới Hình ảnh của QTDT Cố đô Huế hiện tại không phải là hình ảnh tại một thời điểm, một giai đoạn nhất định mà là hành trình xây dựng và bồi đắp liên tục của nhiều thời kỳ trong quá khứ Nó chứa đựng những giá trị nổi bật toàn cầu về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật Liên quan đến hướng nghiên cứu của luận án, NCS giới thiệu khái quát QTDT Cố đô Huế ở các khía cạnh quy hoạch, kiến trúc (các yếu tố nền) và các hình thức TTKT (yếu tố hình)
Trang 39* Khái quát về quy hoạch tổng thể QTDT Cố đô Huế [PL1, H.1, tr.100] QTDT Cố đô Huế được phân bổ ở hai bên bờ bắc và bờ nam sông Hương
[PL5, H1.1, tr.211] Tại bờ bắc, hệ thống các di tích được bố trí tập trung tại ba
vòng thành là Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm thành là những công trình
có công năng phục vụ cho các hoạt động của triều đình và sinh hoạt của hoàng gia Cùng với đó, các công trình quan trọng nhất của QTDT Cố đô Huế được
bố trí trên trục Dũng đạo (là trục trung tâm của khu vực Kinh thành) [PL5,
H1.2, 1.3, tr.212, 213] Tại bờ nam, hệ thống các di tích được bố trí phân tán theo từng cụm công trình như hệ thống các lăng tẩm và một số các công trình
nghi lễ, tín ngưỡng
Quy hoạch tổng thể hình thành nên không gian kiến trúc - cảnh quan cho QTDT Cố đô Huế Đây chính là phần “nền cảnh quan” của hệ thống các đồ án TTKT, thể hiện sự kết nối giữa các yếu tố nhân tạo và thiên tạo, khi mà các bộ
đề tài vũ trụ - thiên nhiên, tứ thời, quả được sử dụng trên rất nhiều công trình
* Khái quát về kiến trúc trong QTDT Cố đô Huế
Về công năng, các công trình KTCĐ triều Nguyễn được sử dụng cho chức năng nghi lễ, hoạt động của triều đình và sinh hoạt của hoàng tộc
Về kết cấu, đa phần các công trình có kết cấu gỗ Đến giai đoạn Đồng Khánh - Duy Tân, bắt đầu xuất hiện các công trình kết cấu BTCT
Hình thức kiến trúc của hệ thống KTCĐ triều Nguyễn rất đa dạng, từ kiến trúc “trùng thiềm điệp ốc” kết cấu gỗ, tam quan kết cấu gạch cho đến những hình thức kiến trúc phương Tây đăng đối kết cấu BTCT
Nếu như không gian kiến trúc cảnh quan của hệ thống các cung điện tạo nên phần “nền cảnh quan” thì các công trình kiến trúc chính là phần “khung hình” của các đồ án TTKT
Trang 40* Khái quát về các hình thức TTKT trong QTDT Cố đô Huế
Trong nghiên cứu và bảo tồn Di sản Huế, hình thức TTKT thường được phân loại dựa trên chất liệu (ví dụ: trang trí nề vữa) kết hợp kỹ thuật thể hiện
(ví dụ: trang trí chạm khắc gỗ) Có thể kể đến các hình thức TTKT chính được
sử dụng trong QTDT Cố đô Huế bao gồm: trang trí pháp lam (đồng tráng men), trang trí chạm khắc gỗ, trang trí sơn thếp (sơn son thếp vàng), trang trí nề họa, trang trí nề vữa, trang trí khảm ngà, xương, trang trí chạm khắc đá và TTKSS Thông tin cơ bản của các hình thức TTKT nói trên được thiết lập chi tiết ở phần Phụ lục [PL3, tr 186]
Hình thức TTKT là yếu tố làm nên phần “hình” của tổng thể trang trí mỹ thuật trên kiến trúc Cùng với đó, sự đa dạng về hình thức kiến trúc cho thấy vai trò quan trọng của TTKT, một yếu tố mỹ thuật, trong việc kết nối chúng về một phong cách chung
1.2.1.3 Khái niệm về kiến trúc cung đình thời Khải Định
Là các công trình KTCĐ thuộc QTDT Cố đô Huế được vua Khải Định cho xây dựng và tu bổ dưới triều đại của mình
Về chức năng, các công trình trên có chức năng khác nhau từ những công trình quan trọng như điện Thái Hòa (lễ Đại triều), điện Kiến Trung (làm việc
và sinh hoạt), lăng Khải Định (lăng tẩm) cho đến những nhà đọc sách, giải trí (Thái Bình Lâu, Cửu Tư Đài) hoặc lối ra vào cung điện (cửa Chương Đức, Hiển Nhơn) [PL1, tr.173 - 183]
Về kiến trúc, chúng cũng mang nhiều kiểu thức khác nhau như trùng thiềm điệp ốc (điện Thái Hòa), phương đình (Phu Văn Lâu), tam quan (cửa Chương Đức) và có sự xuất hiện của các kiến trúc kiểu phương Tây kết cấu BTCT (điện Kiến Trung) [PL1, tr.173 - 183]
Về trang trí mỹ thuật, ngoại trừ Khải Tường Lâu - cung An Định hoàn toàn sử dụng trang trí nề họa (được xây dựng khi vua Khải Định chưa lên ngôi),