Trong khuôn khổ nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố liên quan đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tự động của bệnh nhân THA, từ đó giúp các nhà sản xuất thiết bị đo huyết áp cải t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phạm Ngọc Lâm
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA THIẾT BỊ ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CỦA
BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phạm Ngọc Lâm
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA THIẾT BỊ ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CỦA
BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN HOÀNG BẢO
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích các yếu tố liên quan đến quyết định mua máy
đo huyết áp tự động của bệnh nhân tăng huyết áp” này là bài nghiên cứu khoa học của tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Hoàng Bảo – Trưởng khoa Kinh
tế trường Đại học Kinh tế Tp.HCM Các nội dung nghiên cứu, số liệu trong đề tài này
là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc và được phép công bố
Không có bất kỳ bài nghiên cứu, luận văn hay tài liệu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn đúng theo đúng quy định
Tp Hồ Chí Minh, tháng năm 2017
Phạm Ngọc Lâm
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu 2
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 2
1.1.1 Mô tả vấn đề cần nghiên cứu 2
1.1.2 Sự cần thiết của đề tài 6
1.1.3 Đóng góp của nghiên cứu 6
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 7
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 7
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 7
1.3 Phạm vi nghiên cứu 7
1.4 Cấu trúc đề tài 7
Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 9
2.1 Mô hình lý thuyết 9
2.1.1 Lý thuyết về độ thỏa dụng 9
2.1.2 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng 13
2.1.3 Lý thuyết hành vi sự lựa chọn của khách hàng – Mô hình kinh tế lượng 14
Trang 52.2 Lược khảo các nghiên cứu liên quan 16
2.3 Tổng quan về Tăng huyết áp và Máy đo huyết áp tự động 19
2.3.1 Tăng huyết áp 19
2.3.2 Thiết bị đo huyết áp tự động 26
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Phương pháp nghiên cứu – Cỡ mẫu 30
3.2 Khung phân tích 30
3.3 Dữ liệu 33
3.3.1 Mô tả biến số 33
3.3.2 Câu hỏi khảo sát 38
3.4 Mô hình kinh tế lượng 39
Chương 4: Kết quả và Bàn luận 41
4.1 Thống kê mô tả 41
4.2 Kết quả hồi quy 48
4.2.1 Tương quan giữa các biến 48
4.2.2 Kiểm định ý nghĩa thống kê 50
4.2.3 Kết quả mô hình hồi quy logistic 51
Chương 5: Kết luận và Kiến nghị 54 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AAMI Association of the Advancement of Medical Instrumentation/ Hiệp hội phát triển dụng cụ y tế Hoa Kỳ
ABPM Ambulatory Blood Pressure Monitoring/ Thiết bị theo dõi huyết áp liên tục
BMI Body Mass Index/ Chỉ số cơ thể BPM Beep Per Minute/ Số nhịp (tim) trong một phút CBP Clinic-based Blood Pressure/ Huyết áp dựa trên lâm sàng
HA Huyết áp HBPM Home Blood Pressure Monitoring/ Thiết bị theo dõi huyết áp tại nhà ISH International Society of Hypertension/ Hội Tăng huyết áp quốc tế Stata Statistic Data Anylysis/ Phần mềm thống kê phân tích dữ liệu THA Tăng huyết áp
WCH White Coat Hypertension: tình trạng HA tăng cao khi đo tại cơ sở y tế nhưng lại bình thường khi kiểm tra tại nhà
WHO World Health Organization/ Tổ chức Y tế thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại các giai đoạn bệnh tăng huyết áp Bảng 2.2: Đánh giá bệnh THA theo mức độ nguy cơ, WHO & ISH, 2003 Bảng 3.1: Tóm tắt định nghĩa các biến được sử dụng trong mô hình Bảng 4.1: Lượng giá tổng quan các biến
Bảng 4.2: Thống kê theo biến Mua máy Bảng 4.3: Thống kê mua máy đo HA theo Đặc điểm cá nhân Bảng 4.4: Thống kê mua máy đo HA theo Tình trạng sức khỏe Bảng 4.5: Thống kê mua máy đo HA theo Kiến thức về THA Bảng 4.6: Thống kê mua máy đo HA theo loại máy đo HA Bảng 4.7: Thống kê mức độ quan tâm đến các đặc tính máy Bảng 4.8: Tương quan giữa các biến
Bảng 4.9: Kiểm định thống kê các biến bằng hồi quy OLS Bảng 4.10: Kết quả hồi quy logistic
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Số ca tử vong liên quan đến THA, Mỹ, 2000 – 2013 Hình 1.2: Tỉ lệ phần trăm dân số già vào năm 2012 và dự báo năm 2050 Hình 2.1: Đường bàng quan
Hình 2.2: Tháp nhu cầu Mashlow Hình 2.3: Các biến chứng do Tăng huyết áp gây ra Hình 2.4: Đo huyết áp thủ công bằng tay
Hình 2.5: Đo huyết áp tự động loại đeo cổ tay Hình 2.6: Đo huyết áp tự động loại đeo bắp tay Hình 2.7: Đo huyết áp tự động liên tục 24 giờ Hình 3.1: Khung phân tích
Trang 9MỞ ĐẦU
Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính với số lượng bệnh nhân mắc phải ngày càng tăng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Việc điều trị tăng huyết áp tốn kém về thời gian và chi phí, tạo ra gánh nặng bệnh tật cho cá nhân và xã hội Tăng huyết áp có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm với tỉ lệ tử vong rất cao Điều quan trọng là thông thường bệnh nhân tăng huyết áp chỉ phát hiện bệnh khi có các triệu chứng xảy
ra, lúc đó việc điều trị khá tốn kém và mất thời gian Tăng huyết áp được gọi là “Kẻ giết người thầm lặng” vì hiếm khi có triệu chứng, khiến nhiều người không hề nhận thấy họ đang mắc bệnh Người bệnh chỉ tiến hành đo huyết áp khi khám định kỳ mà không theo dõi huyết áp thường xuyên tại nhà hoặc nơi làm việc Điều này ảnh hưởng đến kết quả điều trị cũng như sức khỏe lâu dài của bệnh nhân Trong khuôn khổ nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố liên quan đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tự động của bệnh nhân THA, từ đó giúp các nhà sản xuất thiết bị đo huyết áp cải thiện về sản phẩm và kế hoạch kinh doanh, đồng thời cũng giúp đưa ra các biện pháp hỗ trợ từ gia đình và xã hội
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Mô tả vấn đề cần được nghiên cứu
Bệnh THA là một bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là mối
đe dọa rất lớn đối với sức khỏe của con người, là nguyên nhân gây tàn phế và
tử vong hàng đầu Tăng huyết áp đang trở thành một vấn đề cấp bách của xã hội vì sự gia tăng nhanh chóng của căn bệnh này trong cộng đồng Một nghiên cứu năm 2008 tại 8 tỉnh thành ở Việt Nam cho thấy, tỷ lệ người trên
25 tuổi mắc tăng huyết áp là khoảng 25%, nghĩa là cứ bốn người lớn thì có một người bị tăng huyết áp Tuy nhiên, kết quả điều tra năm 2015 cũng tại 8 tỉnh thành trên, tỷ lệ này đã tăng lên hơn 47%, có nghĩa tại thời điểm này cứ hai người trưởng thành có một người bị THA Cũng theo nghiên cứu trên, số người mắc bệnh nhưng chưa phát hiện lên đến 39%, tỷ lệ người được điều trị tăng lên nhưng tỷ lệ điều trị đạt huyết áp mục tiêu (duy trì huyết áp ở mức dưới 140/90 mmHg) chỉ 31% 82% bệnh nhân chưa được kiểm soát huyết áp đầy đủ (gồm không biết mình có bệnh, biết bệnh nhưng không điều trị, điều trị nhưng huyết áp không kiểm soát được) Chỉ có một số bệnh nhân THA là
có một vài triệu chứng cơ năng gợi ý cho họ đi khám bệnh như đau đầu, chóng mặt, mặt đỏ bừng, ù tai,… Nhưng đa số các bệnh nhân THA lại thường không có các dấu hiệu cảnh báo trước Có trường hợp lúc thấy có triệu chứng đau đầu xuất hiện thì tiếp ngay sau đó cũng là kết thúc cuộc đời của họ do đã bị xuất huyết não nặng nề Mức độ nhận thức của mọi người về phòng bệnh, điều trị bệnh THA cũng khác nhau Phần đông số bệnh nhân THA không nhận thức được tình trạng bệnh của họ Mặt khác, đại đa số các bệnh nhân bị THA không rõ nguyên nhân (gọi là THA thứ phát) Chỉ có một
số nhỏ các bệnh nhân bị THA có tìm được nguyên nhân (tức là do hậu quả
Trang 11của các bệnh lý khác) Do đó, những dấu hiệu thể hiện bệnh THA thường không đặc hiệu và người bệnh thường không thấy có gì khác biệt so với người thường Vì vậy, việc kiểm tra huyết áp thường xuyên, nhất là những người có những yếu tố nguy cơ và có triệu chứng THA, là hết sức cần thiết
và quan trọng Để thực hiện việc kiểm tra theo dõi huyết áp hàng ngày, người bệnh ngoài việc đến cơ sở y tế còn có thể tự trang bị máy đo huyết áp tự động để kiểm tra chỉ số huyết áp cá nhân Việc đo huyết áp nên thực hiện vào thời điểm cố định trong ngày (sau khi thức dậy, sau khi tắm xong,…) để việc
so sánh và theo dõi chỉ số huyết áp được chính xác và đạt được hiệu quả trong điều trị Qua đó ta thấy việc mua máy đo huyết áp tự động của bệnh nhân THA có ảnh hưởng tích cực đến quá trình điều trị cũng như việc theo dõi sức khỏe hàng ngày của bệnh nhân THA
Tại Việt Nam, theo điều tra năm 1982, tỷ lệ THA chung là 1,95% và ở người trên 60 tuổi tỷ lệ THA là 9,2% Theo điều tra của Phạm Gia Khải và cộng sự (1999), tỷ lệ THA là 16,05% Năm 2002, theo điều tra của Viện Tim mạch trung ương, tỷ lệ THA là 23,2% Theo số liệu điều tra y tế quốc gia năm 2001 – 2002 của Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới từ 16 tuổi trở lên là 15,1% và nữ giới là 13,5% Qua đó dễ dàng nhận thấy tỷ lệ THA ngày càng tăng qua các năm và độ tuổi mắc bệnh THA ngày càng trẻ hóa
THA và các yếu tố nguy cơ (lối sống, nhận thức,…) đã trở thành vấn đề cần giải quyết không những chỉ bằng thuốc điều trị kiểm soát HA, mà cần hàng loạt các biện pháp giáo dục truyền thông sức khoẻ nhằm vào các yếu tố nguy
cơ đặc biệt là các yếu tố nguy cơ về lối sống có khả năng thay đổi theo chiều hướng tích cực có lợi cho bệnh nhân bị THA
Trang 12Hiện nay, tình trạng quản lý bệnh nhân THA ở Việt Nam chưa có hệ thống quản lý và dự phòng đối với bệnh THA Các hoạt động y tế mới chỉ tập trung vào công tác điều trị bệnh nhân tại các bệnh viện, chưa có mô hình dự phòng, ghi nhận và quản lý bệnh THA và truyền thông giáo dục sức khỏe tại cộng đồng
Trong một nghiên cứu được thực hiện tại Mỹ, số ca tử vong liên quan đến tăng huyết áp tăng 61,8%, từ 245.220 vào năm 2000 lên đến 396.675 vào năm 2013
Hình 1.1: Số ca tử vong liên quan đến tăng huyết áp, Mỹ, 2000-2013
(Nguồn: CDC/NCHS, National Vital Statistics System, Mortality)
Thị trường thiết bị đo huyết áp toàn cầu dự đoán tăng từ 6,3 tỉ đô la Mỹ vào năm 2015 đến 8,04 tỉ đô la Mỹ vào năm 2020 Các yếu tố chính giúp việc dự báo này đáng tin cậy là: tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp tăng do thay đổi lối sống ngày càng tăng, tỷ lệ mắc các bệnh mãn tính và cấp tính tăng, tăng trưởng dân số, các sản phẩm đo huyết áp mới cũng như công nghệ mới ra
Trang 13đời Ngoài ra, việc nhận thức về bệnh tăng huyết áp ngày càng được nâng cao và nhu cầu sử dụng máy theo dõi huyết áp tại nhà dự kiến sẽ thúc đẩy ngành công nghiệp này phát triển mạnh mẽ trong những năm tới Hơn nữa, tiến bộ khoa học công nghệ như hệ thống theo dõi huyết áp tự động kết nối với điện thoại di động dự kiến sẽ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực này Theo dự đoán, tỷ lệ dân số trên thế giới có tuổi thọ trên 60 tuổi tăng
từ năm 2012 là 11% đến năm 2050 là 22%, do đó nhu cầu về thiết bị đo HA
là rất lớn Theo số liệu thống kê được WHO công bố, THA là nguyên nhân hàng đầu làm 7,5 triệu người chết trong năm 2008 và được dự đoán sẽ là yếu
tố nguy cơ chính gây ra các bệnh tim mạch vành và đột quỵ trong thập kỷ này Tất cả các yếu tố này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp này trong tương lai gần
Hình 1.2: Tỉ lệ phần trăm dân số già vào năm 2012 và dự báo năm 2050
(Nguồn: Global Industry Analysts, Inc.)
Trang 141.1.2 Sự cần thiết của đề tài
Nghiên cứu sẽ phân tích các yếu tố về nguồn lực, tình trạng sức khỏe, kiến thức hiểu biết về bệnh THA liên quan như thế nào đến quyết định mua và sử dụng thiết bị đo huyết áp tự động, bệnh nhân THA quan tam đến các đặc tính nào của máy đo HA tự động, từ đó tìm ra xu hướng chung giúp hiểu rõ hơn
về nhu cầu sử dụng thiết bị đo huyết áp tự động của bệnh nhân THA Từ xu hướng này, xã hội sẽ có các chính sách hỗ trợ phù hợp cũng như sự hỗ trợ từ gia đình trong việc thực hiện theo dõi HA đối với bệnh nhân THA Ngoài ra, các hãng sản xuất và công ty cung cấp thiết bị đo huyết áp sẽ có những điều chỉnh và kế hoạch phù hợp nhằm tiếp cận được với đối tượng khách hàng tiềm năng, phát triển bền vững và sâu xa hơn là chăm sóc sức khỏe con người và giảm gánh nặng bệnh tật cho xã hội Khi bệnh nhân THA được theo dõi huyết áp liên tục và cung cấp các thông số giá trị cho quá trình điều trị, kết quả điều trị sẽ tiến triển tốt hơn và huyết áp của bệnh nhân sẽ tiến dần về khoảng bình thường, đồng thời sẽ hạn chế gây ra các biến chứng và đem đến cuộc sống vui khỏe hạnh phúc cho bệnh nhân THA
1.1.3 Đóng góp của nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm phân tích tác động của các yếu tố liên quan đến quyết định
sử dụng thiết bị đo huyết áp tự động tại nhà của bệnh nhân THA Qua đó, kết quả sẽ giúp nhà sản xuất, gia đình và xã hội hiểu rõ hơn về nhu cầu sử dụng thiết bị đo HA tự động của người bệnh và có các hỗ trợ cần thiết và chiến lược phù hợp Từ đó, người bệnh THA sẽ quản lý và theo dõi tình trạng bệnh tật của mình tốt hơn, giảm các biến chứng gây ra, giảm chi phí điều trị và gánh nặng bệnh tật cho xã hội
Trang 151.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Bài nghiên cứu phân tích các yếu tố tác động đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tự động của bệnh nhân THA
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Bài nghiên cứu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu:
- Có mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe của bệnh nhân bị tăng huyết áp với quyết định mua sử dụng thiết bị đo huyết áp tự động không?
- Bệnh nhân THA quan tâm đến các đặc tính nào của máy đo HA tự động?
- Nguồn lực kinh tế của bệnh nhân tăng huyết áp có tác động đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tự động không?
- Nhận thức về việc theo dõi và điều trị bệnh THA của bệnh nhân THA có tác động đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tự động không?
Đề tài nghiên cứu gồm 05 chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quát về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Trình bày về bệnh tăng huyết áp, máy đo huyết áp tự động, cơ sở lý thuyết, mô hình kinh tế, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến nghiên cứu
Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu, khung phân tích, cỡ mẫu, phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Trang 16Chương 4: Trình bày thống kê mô tả các biến, kết quả mô hình hồi quy, kiểm định
Chương 5: Trình bày kết luận, kiến nghị
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Mô hình lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết về độ thỏa dụng
Độ thỏa dụng
Có thể nói động cơ đầu tiên đưa người ta đến tiêu dùng một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó chính là sở thích về hàng hóa hay dịch vụ đó và khi tiêu dùng chúng sẽ mang lại cho người tiêu dùng một cảm giác bằng lòng hoặc thỏa mãn nào đó Để đo lường mức độ bằng lòng hoặc thỏa mãn này, người ta sử dụng khái niệm gọi là độ thỏa dụng Độ thỏa dụng biểu thị mức độ thích thú, thỏa mãn hoặc bằng lòng mà một người tiêu dùng có được từ việc tiêu dùng một hàng hóa hay dịch vụ nào đó
Sự bằng lòng hay thỏa mãn của người tiêu dùng khi tiêu dùng một loại hàng hóa hay dịch vụ thường thay đổi mà không cố định, vì vậy độ thỏa dụng cũng
là một đại lượng liên tục thay đổi và có các đặc điểm:
- Độ thỏa dụng phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của người tiêu dùng: với cùng một loại hàng hóa hay dịch vụ, đối với người này có thể có cảm giác hài lòng khi tiêu dùng nó nhiều hơn nhưng đối với người khác, điều này lệ thuộc vào sở thích của người tiêu dùng đối với hàng hóa hay dịch vụ đó
- Độ thỏa dụng phụ thuộc vào số lượng hàng hóa hay dịch vụ được tiêu dùng:
khi tiêu dùng nhiều hơn một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó người tiêu dùng luôn cảm thấy hài lòng nhiều hơn, tức là độ thỏa dụng khi tiêu dùng nhiều lớn hơn khi tiêu dùng ít
- Độ thỏa dụng phụ thuộc vào từng điều kiện tiêu dùng cụ thể: trong những hoàn cảnh khác nhau mức độ hài lòng có được khi tiêu dùng cùng một loại hàng hóa cũng khác nhau
Trang 18Nhu cầu sử dụng máy đo huyết áp tại nhà là một hàm bắt nguồn từ nhu cầu về sức khỏe và mô hình hóa như một quyết định để tự kiểm tra huyết áp tại nhà
và quyết định nhà cung cấp máy đo huyết áp Lợi ích có được từ sử dụng máy
đo huyết áp tại nhà là sức khỏe tốt nhận được từ hiệu quả điều trị khi kiểm soát được chỉ số huyết áp Lý thuyết giả định rằng các cá nhân có thể xếp hạng ưu tiên và có thể lựa chọn một sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ để tối
đa hóa hữu dụng của họ
Tổng độ thỏa dụng (TU)
Tổng độ thỏa dụng là toàn bộ mức độ thỏa mãn hoặc bằng lòng mà một người tiêu dùng có được khi tiêu dùng một số các hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó trong một thời gian cố định
Tổng độ thỏa dụng có thể được biểu diễn dưới dạng một hàm số của một tập hợp những hàng hóa, dịch vụ nào đó: TU = f (X, Y, Z, …)
Khi tiêu dùng càng nhiều hàng hóa, dịch vụ thì tổng độ thỏa dụng mang lại cho người tiêu dùng càng lớn Nhưng ở một mức độ nào đó, tổng độ thỏa dụng sẽ đạt đến mức tối đa cho dù có tiêu dùng nhiều hơn nữa Đó là điểm bão hòa của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó Tuy nhiên trên thực tế rất hiếm khi người tiêu dùng lại tiêu dùng quá mức một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó, bởi lẽ khi không còn cảm giác hài lòng hay thỏa mãn nữa nghĩa là không còn sở thích đối với hàng hóa hay dịch vụ đó thì người tiêu dùng sẽ không tiếp tục tiêu dùng Do vậy trong nghiên cứu này, chỉ nghiên cứu trong
số lượng hàng hóa còn mang lại cảm giác thích thú cho người tiêu dùng, tức là chỉ xem xét tổng độ thỏa dụng luôn tăng khi số lượng hàng hóa được tiêu dùng tăng
Trang 19Độ thỏa dụng biên (MU)
Độ thỏa dụng biên là mức tăng thêm của tổng độ thỏa dụng (TU) khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ nào đó, được tính theo công thức:
- Sở thích của người tiêu dùng có tính chất bắc cầu
Với ba giả định trên, đường bàng quan thể hiện những kết hợp khác nhau trong việc lựa chọn hai hàng hóa và tất cả những kết hợp đó đều mang lại tổng
độ thỏa dụng như nhau cho người tiêu dùng
Các đường bàng quan có các đặc điểm:
- Các đường bàng quan dốc xuống và thường lồi về phía gốc tọa độ
- Các đường bàng quan không cắt nhau
- Có vô số đường bàng quan, các đường bàng quan càng xa gốc tọa độ phản ánh độ thỏa dụng càng cao so với các đường bàng quan nằm gần gốc tọa độ
Trang 20Hình 2.1: Đường bàng quan
Đường giới hạn ngân sách
Người tiêu dùng lựa chọn tiêu dùng một hàng hóa hay dịch vụ nào đó dựa trên
sở thích về hàng hóa và dịch vụ đó và số tiền mà họ có Đường giới hạn ngân sách minh họa cho số tiền hạn chế mà người tiêu dùng dành để mua hàng hóa
và dịch vụ Đường giới hạn ngân sách dựa trên các giả định:
- Người tiêu dùng chỉ mua hai loại hàng hóa
- Giá cả hàng hóa được cho trước
- Người tiêu dùng sử dụng toàn bộ hay ngân sách của mình
Với ba giả định trên, đường ngân sách cho biết tất cả các kết hợp tối đa của hai loại hàng hóa mà người tiêu dùng có thể mua được với cùng một mức ngân sách
Lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng
Mục đích của người tiêu dùng là đạt được sự thỏa mãn tối đa bằng nguồn thu nhập hạn chế của mình và như vậy sự lựa chọn của người tiêu dùng bị ràng
Trang 21buộc bởi nhân tố chủ quan là sở thích của họ và nhân tố khách quan là sự giới hạn trong ngân sách tiêu dùng Việc chi mua của người tiêu dùng phải chấp nhận một chi phí cơ hội vì việc mua hàng hóa này đồng thời sẽ làm giảm cơ hội mua nhiều hàng hóa khác Người tiêu dùng sẽ tối đa hóa hữu dụng của mình tại điểm mà đường bàng quan và đường ngân sách tiếp xúc nhau
2.1.2 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng
Học thuyết Maslow
Theo A.Maslow (Maslow, 1943), nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ bậc, từ cấp thiết nhất đến ít cấp thiết
Hình 2.2: Tháp nhu cầu Maslow
Maslow mô hình hóa nhu cầu con người thành hình tháp năm tầng, tầng đáy là các nhu cầu cơ bản, tăng dần cho tới tầng đỉnh là các nhu cầu cao cấp
Trang 22Tầng 1 (Nhu cầu sinh lý): các nhu cầu vật chất tối thiểu phải có để con người
có thể tồn tại hàng ngày như thức ăn, không khí, nước, ngủ,…
Tầng 2 (Nhu cầu về an toàn): con người cần được cảm thấy an toàn ở nơi sinh sống và làm việc, được đảm bảo an ninh, nơi chăm sóc chữa trị khi bệnh, được pháp luật bảo vệ, tài sản không bị mất mát
Tầng 3 (Yêu mến và phụ thuộc): Nhu cầu được giao lưu bạn bè, đồng nghiệp, các mối quan hệ, tham gia các hoạt động xã hội
Tầng 4 (Nhu cầu được tôn trọng): được mọi người trong gia đình, hàng xóm, bạn bè, đồng nghiệp, xã hội tôn trọng, yêu quý
Tầng 5 (Nhu cầu tự thể hiện): là bậc cao nhất trong tháp nhu cầu của con người, con người muốn tự do sáng tạo, muốn được công nhận và khen thưởng những gì mình đã thực hiện
Các nhu cầu về y tế và chăm sóc sức khỏe thuộc về tầng thứ hai Người bệnh THA cần được quan tâm chăm sóc, điều trị cũng như các chính sách hỗ trợ nhằm ngăn ngừa bệnh tiến triển cũng như đem đến cuộc sống hạnh phúc, vui khỏe cho người bệnh
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng
Văn hóa: Các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng lớn đến hành vi của người tiêu dùng Vai trò của nền văn hóa, nhánh văn hóa và giai tầng xã hội là một bộ phận không thể tách rời của môi trường văn hóa Văn hóa là một nguyên nhân căn bản dẫn đến nhu cầu và hành vi của một người Có bốn loại nhánh văn hóa lớn nhất là: dân tộc, tôn giáo, chủng tộc, các nhóm có xuất xứ từ các vùng địa
lý nhất định Tầng lớp xã hội bao gồm những thành viên có chung những giá trị, mối quan tâm và hành vi
Trang 23Yếu tố xã hội: Hành vi của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố
xã hội như các nhóm liên quan, gia đình, vai trò và địa vị xã hội Các thành viên trong gia đình người tiêu dùng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi mua sắm của người đó
Yếu tố tâm lý: Sự lựa chọn của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của những yếu tố tâm lý
Quyết định của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm
cá nhân bao gồm tuổi tác, giai đoạn của chu trình đời sống, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, phong cách sống, nhân cách và lẽ sống của con người
2.1.3 Lý thuyết hành vi sự lựa chọn của khách hàng – Mô hình kinh tế lượng
Hành vi:
Dưới góc nhìn sinh học, hành vi được xem như là cách sống, hoạt động trong một môi trường nhất định dựa trên sự cần thiết thích nghi tối thiểu của cơ thể với môi trường Dưới góc nhìn tâm lý học, con người là một chủ thể tích cực do
đó hành vi của con người luôn có mục đích, đảm bảo cho con người tồn tại và phát triển
Mô hình kinh tế lượng
Theo Leon Schiffiman và cộng sự (1997), hành vi người tiêu dùng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ Theo Peter D.Bennet (1988), hành vi của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch
vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ
Trang 24Còn theo Charles W Lamb, Joseph F Hair và Carl McDaniel (2000), hành vi của người tiêu dùng là một quá trình mô tả cách thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản phẩm hay dịch vụ
Theo Philip Kotler (2001), người làm kinh doanh nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ Cụ thể là xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua
ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của mình
Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng hiện nay còn đi xa hơn các khía cạnh nói trên Đó là người tiêu dùng được các nhà kinh doanh tìm hiểu xem họ có nhận thức được các lợi ích của sản phẩm, dịch vụ họ đã mua hay không và cảm nhận, đánh giá như thế nào sau khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ Vì điều này sẽ tác động đến những lần mua hàng sau đó của người tiêu dùng và tác động đến việc thông tin về sản phẩm của họ đến những người tiêu dùng khác
Mô hình xuất phát từ giả định rằng người ra quyết định thực hiện dựa trên mục tiêu tối đa hóa hữu dụng của họ Với một người ra quyết định lựa chọn một sản phẩm khi đứng trước nhiều sản phẩm, người đó sẽ có xu hướng lựa chọn sản phẩm dựa trên mức độ hữu dụng của từng sản phẩm mang lại
2.2 Lược khảo các nghiên cứu liên quan
Trong một nghiên cứu của Malcolm Aylett và cộng sự (1999) về tác động của việc theo dõi HA tại nhà trong việc quản lý bệnh THA, kết quả cho thấy việc theo dõi HA tại nhà giúp tăng cường chất lượng quản lý bệnh THA Có 20 nghiên cứu nhỏ được thực hiện trong việc theo dõi bệnh nhân THA, đặc biệt là
Trang 25đối với bệnh nhân bắt đầu dùng thuốc điều trị và các bệnh nhân không được quan tâm đúng mức Kết quả cho thấy, trong 660 bệnh nhân được theo dõi, có
64 (27%) trong 236 bệnh nhân không được điều trị bị mắc WCH, và 60 (94%) trong 64 bệnh nhân này không cần dùng thuốc điều trị Có 45 (17%) trong số
258 bệnh nhân được điều trị kém bị mắc WCH, 34 (76%) trong 45 bệnh nhân này tiếp tục sử dụng thuốc và 11 (24%) bệnh nhân giảm hoặc ngưng hẳn việc
sử dụng thuốc Một bảng khảo sát được thực hiện đối với bác sĩ và điều dưỡng, kết quả cho thấy rằng việc theo dõi tại nhà đem đến giá trị thực sự trong việc nâng cao chất lượng quản lý bệnh nhân THA Tính khả thi của việc tầm soát THA bằng việc theo dõi HA tại nhà đã được chứng minh, và nó được khuyến cáo như là phương án tối ưu để theo dõi bệnh nhân THA ngoại viện (Aylett M., 1999)
Trong một nghiên cứu khác của Y Claire Wang và cộng sự (2013) về chi phí – hiệu quả của mô hình theo dõi thứ cấp bệnh THA, nghiên cứu vấn đề hiệu quả
- chi phí của việc sử dụng thiết bị đo HA tại nhà HBPM và thiết bị đo HA lưu động ABPM trong việc tầm soát HA ở người lớn Có 14 nghiên cứu nhỏ bao gồm hiệu quả chi phí và so sánh hai hay nhiều mô hình Có 6 nghiên cứu cho thấy thiết bị ABPM giúp tiết kiệm chi phí trong việc chẩn đoán bệnh, 3 nghiên cứu cho thấy sử dụng thiết bị HBPM cũng đạt chi phí - hiệu quả Từ góc nhìn của trung tâm Dịch vụ y tế quốc gia Anh, nghiên cứu này cho thấy việc sử dụng ABPM giúp tiết kiệm chi phí trong việc giảm các điều trị không cần thiết
và rủi ro mắc phải bệnh mạch vành và đột quỵ trong tương lai đối với nam giới
và nữ giới ở mọi lứa tuổi
Một nghiên cứu của Carma A và cộng sự (2012) thực hiện tại Mỹ nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến về việc sử dụng thường xuyên máy đo huyết áp
Trang 26tại nhà của bệnh nhân tăng huyết áp trong hai năm 2005 và 2008 Có 3739 bệnh nhân tăng huyết áp trong hai năm khảo sát kết hợp Dựa trên các dữ liệu
tự báo cáo, tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp có sử dụng máy đo huyết áp tại nhà thường xuyên là 43,2% Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic với nguồn dữ liệu tự báo cáo từ các cuộc điều tra HealthStyles tại Mỹ năm 2005 và
2008 với kết quả đưa ra được các đánh giá: (1) mối tương quan giữa người lớn
bị tăng huyết áp thường xuyên sử dụng máy đo huyết áp tại nhà và các yếu tố đặc tính lựa chọn độc lập , (2) mối liên quan giữa số lần sử dụng máy đo huyết
áp với việc nhận thức rằng nó giúp kiểm soát huyết áp của họ, (3) sự thay đổi tương đối tỷ lệ phần trăm từ năm 2005 đến năm 2008 trong tỷ lệ người lớn bị tăng huyết áp có thường xuyên sử dụng máy đo huyết áp tại nhà
Các đặc tính như giới tính, tuổi, chủng tộc/ tôn giáo, thu nhập hộ gia đình, trình
độ học vấn đều có tác động đến sự khác biệt về tỷ lệ sử dụng thường xuyên máy đo huyết áp tại nhà
Tỷ lệ người lớn tăng huyết áp có sử dụng thường xuyên máy đo huyết áp tại nhà là 43,2% và tỷ lệ này cao hơn ở đàn ông so với phụ nữ Tỷ lệ người bị tăng huyết áp trên 45 tuổi sử dụng thường xuyên máy đo huyết áp cao hơn so với những người bị tăng huyết áp trong độ tuổi từ 18 đến 45 Tỷ lệ sử dụng máy đo huyết áp tại nhà thường là lớn nhất ở hai nhóm thu nhập cao nhất và khác nhau
có ý nghĩa thống kê ở hai nhóm có thu nhập thấp nhất Ngoài ra, tỷ lệ sử dụng máy đo huyết áp tại nhà thường lớn hơn ứng với mỗi cấp trình độ học vấn cao hơn, mặc dù không có ý nghĩa về mặt thống kê Một kết quả có ý nghĩa hơn là các bệnh nhân tăng huyết áp thực hiện việc đo huyết áp tại nhà hàng ngày (86,3%) hoặc hàng tuần (82,3%) nhận thức được rằng việc này có thể giúp họ kiểm soát được huyết áp so với bệnh nhân tăng huyết áp chỉ thực hiện đo hàng tháng (69,9%) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa
Trang 27về mặt thống kê giữa nam và nữ, trình độ học vấn trong việc sử dụng máy đo huyết áp tại nhà Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ít hơn một nửa số người lớn
bị tăng huyết áp ở Mỹ trong năm 2005 và năm 2008 có sử dụng máy đo huyết
áp tại nhà thường xuyên, bất kể đặc điểm kinh tế xã hội
Một phân tích tổng hợp khác tiến hành trên 37 mẫu ngẫu nhiên cho kết quả rằng các bệnh nhân tăng huyết áp có sử dụng thường xuyên máy đo huyết áp tại nhà giúp giảm một nửa liều thuốc giảm huyết áp so với các bệnh nhân tăng huyết áp chỉ đo huyết áp tại phòng khám
Việc sử dụng máy đo huyết áp tại nhà đã được chứng minh trong việc kiểm soát bệnh tăng huyết áp, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe đang thúc đẩy việc
sử dụng nó, đặc biệt là đối với ở bệnh nhân tăng huyết áp trẻ tuổi và người có thu nhập trung bình thấp
Qua các nghiên cứu liên quan cho thấy sự cần thiết và hiệu quả tích cực của sử dụng thiết bị đo HA tự động tại nhà trong việc quản lý bệnh THA Nghiên cứu này sẽ tiếp tục phát triển trên cơ sở các kết quả đó nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua thiết bị đo huyết áp tại nhà của bệnh nhân THA
2.3 Tổng quan về Tăng huyết áp và Máy đo huyết áp tự động
2.3.1 Tăng huyết áp
Tăng huyết áp (hay còn gọi là cao huyết áp) là một bệnh mạn tính trong đó áp lực máu đo được ở động mạch tăng cao hơn mức bình thường HA thường được đo bằng hai chỉ số là: huyết áp tâm thu (systolic) đo bằng áp lực máu trong lòng mạch khi tim đập và huyết áp tâm trương (diastolic) đo bằng áp lực máu trong khoảng thời gian giữa hai lần đập của tim Khi huyết áp tâm thu
Trang 28hay tâm trương cao hơn giá trị bình thường theo tuổi thì được phân loại là tiền tăng huyết áp hoặc tăng huyết áp
Bảng 2.1: Phân loại các giai đoạn bệnh tăng huyết áp
Phân loại Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm trương
Bình thường 90-119 12-15.9 60-79 8.0-10.5 Tiền THA 120-139 16.0-18.5 80-89 10.7-11.0 Giai đoạn 1 140-159 18.7-21.2 90-99 12.0-13.2 Giai đoạn 2 >=160 >=21.3 >=100 >=13.3 THA tâm thu đơn độc >=140 >=18.7 <90 <12.0
Nguồn: Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (2003)
Còn theo Tổ chức Y tế thế giới WHO (1996), các giai đoạn của THA được phân chia theo ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: THA thật sự nhưng không có tổn thương thực thể các cơ quan
- Giai đoạn 2: Có ít nhất một trong các biến đổi: dày thất trái, hẹp lan tỏa hay từng vùng các động mạch võng mạc, ure hoặc creatinine máu tăng nhẹ (1.2-2 mg%), có hình ảnh mảng xơ vữa động mạch trên siêu âm hoặc x-quang
- Giai đoạn 3: có dấu hiệu chức năng và thực thể do tổn thương các cơ quan đích: suy tim, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tai miến mạch máu não thoáng qua, xuất huyết não, xuất huyết võng mạc,…
Theo Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ, việc theo dõi HA tại nhà và ghi nhận lại các giá trị đo được giúp cho việc lập kế hoạch điều trị cho bệnh nhân THA đạt hiệu quả Tùy vào tình trạng bệnh THA mà bác sĩ sẽ khuyến cáo bệnh nhân về thời gian giữa hai lần đo, các chỉ số cần ghi nhận cũng như các hành động cần thiết nếu kết quả đo nằm ngoài khoảng HA bình thường
Trang 29Có nhiều quy chuẩn khác nhau về khoảng bình thường của HA HA lúc nghỉ thông thường nằm trong khoảng 100-140 mmHg HA tâm thu và 60-90 mmHg đối với HA tâm trương Bệnh nhân bị THA khi đo HA của bệnh nhân thường xuyên thấy cao hơn hoặc bằng 140/90 mmHg Việc đánh giá THA theo mức
độ nguy cơ của Tổ chức y tế thế giới và hội THA thế giới (ISH) năm 2003 gồm:
Bảng 2.2: Đánh giá bệnh THA theo mức độ nguy cơ, WHO & ISH, 2003
Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch
Mức độ huyết áp tâm thu và tâm trương (độ 1-3) Nam > 55 tuổi
Nữ > 65 tuổi Hút thuốc lá Cholesterol toàn phần >250mg%
Tiểu đường Tiền sử gia đình bị bệnh tim Yếu tố khác ảnh hưởng
xấu đến tiên lượng
HDL-C giảm LDL-C tăng Albumine niệu vi thể ở bệnh nhân tiểu đường Rối loạn dung nạp glucose
Béo phì Lối sống Fibrinogene máu tăng Nhóm kinh tế xã hội nguy cơ cao Nhóm dân tộc nguy cơ cao Vùng địa lý nguy cơ cao Tổn thương cơ quan Dày thất trái, tổn thương đáy mắt,…
Trang 30đích Tình trạng lâm sàng đi kèm
Suy tim trái, suy vành, suy thận, suy tuần hoàn não,…
Đối với THA nguy cơ thấp và trung bình, cần theo dõi rồi đánh giá lại HA và yếu tố nguy cơ, áp dụng các biện pháp không dùng thuốc Đối với nhóm nguy
cơ cao và rất cao cần điều trị thuốc ngay phối hợp với các biện pháp không dùng thuốc
Béo phì rất có hại cho tim mạch vì hay dẫn đến THA và xơ vữa động mạch
Nhiều nghiên cứu cho thấy béo phì có tương quan thuận đến huyết áp Tỉ lệ THA tăng dần theo mức độ thừa cân ở cả nam và nữ giới Phạm Gia Khải và cộng sự (2001) điều tra 7610 người ở Hà Nội từ tháng 4/1998 đến tháng 4/1999 thấy chỉ số BMI trung bình của quần thể nghiên cứu là 20,09±2,72
Nhóm BMI từ 22 trở lên đã có nguy cơ THA Gus, Moreira và cộng sự (1998) nghiên cứu sự liên quan giữa BMI, WHR và chu vi vòng bụng với tỉ lệ THA trong một mẫu đại diện 1088 người trưởng thành ở Porto Alegre – Brazil Kết quả cho thấy: béo phì tính theo BMI có sự liên quan với THA ở cả hai giới
Người béo phì độ II có tỉ lệ THA từ 33%-39% so với người tiền béo phì tỉ lệ THA chiếm 17%-24%
Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu về dịch tễ học bệnh THA kết quả cho thấy: ở nhóm người hút thuốc lá nhiều (trên 8 điếu/ngày) có tỷ lệ THA cao hơn hẳn nhóm không hút thuốc lá, nhưng nếu hút thuốc lá dưới 8 điếu/ngày thì tỷ lệ THA giữa nhóm có hút thuốc lá và nhóm không hút thuốc là không có
sự khác biệt rõ ràng
Đã có một số nghiên cứu được báo cáo về sự liên quan của uống rượu nhiều
và THA, nhưng cơ chế của liên quan này vẫn còn chưa rõ ràng Có những ý
Trang 31kiến chưa thống nhất nhưng đa số thừa nhận uống nhiều rượu làm THA Một
số nghiên cứu cho thấy THA ở 20-30% số người lạm dụng rượu Hơn nữa rượu còn có thể gây rối loạn nhịp tim, rối loạn điều hoà lipoprotein và triglycerid, làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và các bệnh lý về mạch máu
Muối không thể thiếu đối với cơ thể con người, nhưng ăn quá nhiều muối sẽ làm ứ nước trong cơ thể, tăng khối lượng tuần hoàn và HA cũng tăng lên Việt Nam ở vùng nhiệt đới, với trên 3000 kilomet bờ biển, nhân dân ở các vùng ven biển này chủ yếu là lao động thuần tuý nên họ có thói quen ăn mặn Vì vậy, tác động của chế độ ăn gây ra THA ở nước ta có thể là tác nhân có ý nghĩa Một số nghiên cứu điều tra khẩu phần ăn từng vùng, các nhà nghiên cứu thấy rằng vùng nào ăn nhiều muối thì có tỷ lệ THA cao hơn Như vậy, lượng muối ăn hàng ngày quá cao là một nguyên nhân gây THA trong các quần thể Một nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An là nơi người dân hay ăn mặn, mỗi ngày trung bình ăn 13,9g muối, thì tỷ lệ THA 17,9%, còn người dân ở Hà Nội
ăn nhạt hơn, chỉ có 10,5g muối thì chỉ có 10,6% bị THA Một số nghiên cứu cho thấy: vùng ven biển ăn mặn có tỷ lệ THA cao rõ hơn ở vùng đồng bằng
và miền núi Một điều tra dịch tễ học: so sánh 1128 và 909 cặp đôi giữa nhóm THA và nhóm đối chứng thấy rằng, tỷ lệ số người ăn mặn THA cao hơn rõ rệt
so với nhóm những người bình thường
Tăng huyết áp nếu không điều trị và điều chỉnh lối sống kịp thời sẽ gây ra các biến chứng nguy hiểm như: tim mạch, đột quỵ, thận, mắt và mạch máu:
Tim: Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên
nhân tử vong cao nhất đối với THA: dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành gây nhồi máu cơ tim, THA thường xuyên sẽ làm cho thất trái
to ra, về lâu dài, thất trái bị giãn; khi sức co bóp của tim bị giảm nhiều thì
sẽ bị suy tim, lúc đầu suy tim trái rồi suy tim phải và trở thành suy tim toàn
Trang 32bộ Về lâm sàng, lúc đầu người bệnh mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, về sau với gắng sức vừa cũng khó thở và đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi đi ngủ Ngoài ra người bệnh còn bị da xanh, phù, tím tái…
Não: Tai biến mạch máu não thường gặp như: nhũn não, xuất huyết não có
thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề Có thể chỉ gặp tai biến mạch máu não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não do THA như lú lẫn, hôn mê kèm co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội
Thận: Xơ vữa động mạch thận sớm và nhanh
Xơ thận gây suy thận dần dần
Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính
Giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ renin và angiotensin II trong máu tăng gây cường aldosteron thứ phát
Mạch máu: THA là yếu tố gây vữa xơ động mạch, phồng động mạch chủ
Mắt: Soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt Theo Keith-Wagener
Barker(2002) có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt:
Giai đoạn I: Tiểu động mạch cứng và bóng
Giai đoạn II: Tiểu động mạch hẹp có dấu hiệu bắt chéo tĩnh mạch (dấu hiệu Salus Gunn)
Giai đoạn III: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc, chưa có phù gai thị Giai đoạn IV: Phù lan toả gai thị
Trang 33Hình 2.3: Các biến chứng do Tăng huyết áp gây ra
Mục tiêu của việc điều trị THA nhằm:
- Đưa huyết áp trở về trị số sinh lý ổn định
- Ngăn ngừa các biến chứng
- Cải thiện các biến đổi bất thường ở các động mạch lớn
Để thực hiện được ba mục tiêu này, phải giải quyết ba vấn đề lớn:
- Điều trị nguyên nhân THA: cắt bỏ thận teo, thông động mạch bị tắc,…
- Điều trị triệu chứng THA: bằng phương pháp nội khoa không dùng hoặc dùng thuốc hoặc phẫu thuật
- Điều trị biến chứng của THA
Trang 34Nguyên tắc chung là cần liên tục, đơn giản, kinh tế và theo dõi giám sát chặt chẽ Và để đạt được hiệu quả điều trị, vấn đề theo dõi HA liên tục của bệnh nhân THA là hết sức cần thiết và đã được hội tim mạch Hoa Kỳ khuyến cáo
2.3.2 Thiết bị đo huyết áp tự động
Thiết bị đo huyết áp cơ bản bao gồm một bơm khí, một đồng hồ đo áp lực, một túi hơi Khi đo HA, túi hơi được bao lấy cánh tay và bơm phồng lên đến một áp lực có thể cản trở dòng máu ở động mạch chính (động mạch cánh tay)
đi qua cánh tay Sau đó, áp lực trong túi hơi được giảm dần, khi áp lực giảm
sẽ tiến hành ghi nhận tiếng mạch lần đầu là HA tâm thu, khi áp lực túi hơi giảm hơn nữa, áp lực tại đó mạch ngưng là HA tâm trương và nguyên lý hoạt động của HA kế là đo gián tiếp dao động của áp lực máu Thiết bị đo HA tự động điện tử dùng mạch cảm ứng điện để đo dao động huyết áp
Thiết bị đo HA được phân loại như sau:
Đo bằng tay (Manual)
Sphygmomanomet
er
Đồng hồ áp suất Ống nghe y khoa Bao đo bắp tay Bóp hơi và dây cao su
Hình 2.4
Việc đo và ghi nhận chỉ số HA được thực hiện bởi nhân viên y
tế được đào tạo
Kết quả đo là
HA tâm trương
và tâm thu, không thể hiện BPM
Trang 35Tự động
Thiết bị
đo huyết
áp tự động loại đeo cổ tay
Máy chính Bao đo cổ tay Pin
Bộ sạc
Hình 2.5
Bệnh nhân sau khi được hướng dẫn hoặc đọc hướng dẫn có thể tự đo và ghi nhận lại giá trị
HA tâm trương, tâm thu, BPM
Thiết bị
đo HA tự động loại đeo bắp tay
Máy chính Bao đo bắp tay Pin
Bộ sạc
Hình 2.6 Thiết bị
đo HA tự động liên tục 24h
Máy chính Bao đo bắp tay Pin
Dây nguồn (sạc)
Hình 2.7
Việc sử dụng thiết bị này cần
có sự chỉ định của bác sĩ trong từng trường hợp cụ thể
Theo khuyến cáo từ Hiệp hội phát triển thiết bị và dụng cụ y khoa Hoa Kỳ (AAMI), các thiết bị đo huyết áp tự động có sai số cho phép là dưới 5 mmHg
để đảm bảo kết quả đo có giá trị trong việc chẩn đoán và điều trị THA
Trong khuôn khổ nghiên cứu này đề xuất thiết bị đo huyết áp tại nhà cho bệnh nhân là loại tự động, đeo tay hoặc đeo cổ tay với giá thành nằm trong khoảng
1 triệu đến 2 triệu đồng (là loại thông dụng và có số lượng sản phẩm được bán nhiều tại thị trường Việt Nam hiện nay) Đối với thiết bị đo HA tự động, người sử dụng có nhiều lựa chọn tùy theo tính năng của thiết bị và nhu cầu sử
Trang 36dụng:
- Hãng sản xuất: hiện nay trên thị trường thiết bị y tế có rất nhiều thiết bị đo huyết áp tự động của nhiều hãng khác nhau như Omron, Microlife, Welch Allyn, Mindray, Beurer, Citizen, Terumo,… Tại thị trường Việt Nam, Omron
và Microlife đang chiếm ưu thế hơn với giá trung bình của một thiết bị đo HA tại nhà từ một đến hai triệu đồng
- Công nghệ đo: có nhiều công nghệ đo dùng cho thiết bị đo huyết áp điện tử tự động như: Intelliense, đo dao động Oscillometric, PAD,…
- Bộ nhớ: Tùy thiết kế của từng model mà thiết bị đó có thể ghi nhớ từ 5, 10 hay 20 hay nhiều hơn các giá trị đo cùng với thời gian thực hiện đo Qua đó, bệnh nhân có thể theo dõi so sánh chỉ số HA qua các lần đo, lưu trữ để thông tin đến bác sĩ điều trị
- Độ chính xác: thông thường người mua không chú ý đến vấn đề này lắm, tuy nhiên để chọn được thiết bị đo HA tốt, người mua cần chú ý đến độ chính xác đưa ra từ hãng sản xuất Thông thường, độ chính xác của chỉ số HA là ± 3mmHg và của BPM là ±5%
- Cảnh báo: một số thiết bị đo HA tự động có khả năng cảnh báo (đèn, âm thanh) khi HA nằm ngoài khoảng bình thường, phát hiện nhịp tim bất thường, báo có cử động trong quá trình đo
- Hiển thị: thiết bị có thể hiện thị thông số của một lần đo, hoặc hai lần đo cuối, hoặc ba lần đo cuối tùy theo thiết kế Tính năng này giúp cho việc so sánh trở nên dễ dàng hơn
Để việc đo HA tại nhà được thực hiện đúng và đưa ra các kết quả đo chính xác, đã có những khuyến cáo trong sử dụng thiết bị đo HA điện tử:
- Tư thế đo và cách quấn bao đo: Trước khi đo cần ngồi ngay ngắn, thoải mái, thở sâu 5-6 lần trước khi đo để HA được ổn định Đặc biệt đối với người lớn tuổi nên đo HA ở cả ba tư thế nằm, ngồi, đứng để phát hiện những thay đổi
Trang 37của HA Bao đo phải được quấn ít nhất 80% cánh tay người được đo, phải quấn vừa khít với tay và tiếp xúc trực tiếp với da
- Thời điểm đo HA: Các thời điểm khác nhau trong ngày có thể ảnh hưởng tới kết quả đo HA Nên đo HA vào cùng một thời điểm trong ngày Để biết hiện tượng THA sớm, nên đo HA trong vòng 1 giờ sau khi thức dậy, sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn sáng Nghỉ ngơi ít nhất 20 phút sau khi tập thể dục hoặc tắm