NGUY ỄN THỊ MAI HƯƠNG NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH, CẤU TRÚC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ... Tôi xin cam đoan
Trang 1NGUY ỄN THỊ MAI HƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH, CẤU TRÚC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH, CẤU TRÚC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN HIỆU
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã s ố: 60340201
LU ẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học TS.NGUYỄN TẤN HOÀNG
Trang 3Tôi xin cam đoan: Bản luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài “Nghiên cứu tác động của các
th ành viên gia đình, cấu trúc hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động của công ty cổ
phần” là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi và dưới sự hướng dẫn khoa học
của Tiến sĩ Nguyễn Tấn Hoàng Các số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng
tin cậy và được xử lý khách quan, trung thực Các tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng
TP.HCM, 25 tháng 06 năm 2014
Tác giả luận văn
Trang 4TRANG PH Ụ BÌA
DANH MỤC HÌNH VẼ
TÓM T ẮT 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 2
1.1 Vấn đề nghiên cứu 2
1.2 Lý do chọn đề tài 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Ý nghĩa thực tiễn và tính mới của luận văn 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH, CẤU TRÚC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN HIỆU QU Ả HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 6
2.1 Tổng quan cơ sở lý thuyết về quản trị công ty và tác động của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của công ty gia đình 6
2.1.1 Lý thuyết về Quản trị công ty & Lý thuyết người đại diện 6
2.1.1.1 Quản trị công ty 6
2.1.1.2 Lý thuyết đại diện 8
2.1.2 Mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả hoạt động 10
2.1.2.1 Hiệu quả hoạt động 10
2.1.2.2 Mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả hoạt động 13
2.1.3 Các nguyên tắc của quản trị công ty hiệu quả 16
Trang 52.1.4.1 Khuôn khổ pháp lý 18
2.1.4.2 Tình hình thực hiện quản trị công ty tại các công ty niêm yết 19
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây và phát triển giả thuyết nghiên cứu về mối tương quan giữa tác động của các thành viên gia đình, cấu trúc hội đồng quản trị thông qua các đặc tính của HĐQT và hiệu quả hoạt động 25
2.2.1 Nghiên cứu về biến quy mô hội đồng quản trị ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty gia đình 25
2.2.2 Nghiên cứu về biến kiêm nhiệm của vị trí giám đốc/tổng giám đốc ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty gia đình 28
2.2.3 Nghiên cứu về mối tương quan giữa tỷ lệ thành phần hội đồng quản trị độc lập và hiệu quả hoạt động 29
2.2.4 Nghiên cứu về mối tương quan giữa tỷ lệ nữ trong HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty 32
2.2.5 Nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ lệ người nước ngoài trong HĐQT và hiệu quả hoạt đông công ty 33
2.2.6 Mối tương quan giữa các đặc điểm của công ty với hiệu quả hoạt động 34
2.2.7 Mối tương quan giữa kiểm soát gia đình và hiệu quả hoạt động 36
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 Số liệu và lấy mẫu 40
3.2 Giả thuyết nghiên cứu 41
3.2.1 Giả thuyết 1 42
3.2.2 Giả thuyết 2 42
3.2.3 Giả thuyết 3 43
3.2.4 Giả thuyết 4 43
3.2.5 Giả thuyết 5 43
3.3 Phương pháp nghiên cứu 43
3.4 Mô hình nghiên cứu 46
3.4.1 Biến phụ thuộc 47
Trang 63.5 Phương pháp kiểm định mô hình 52
CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57
4.1 Kết quả nghiên cứu và lý giải 57
4.1.1 Một số thống kê sơ bộ về mẫu tổng quát và hệ số tương quan giữa các biến 57
4.1.2 Kết quả hồi quy dữ liệu bảng của mô hình 61
4.1.2.2 Kiểm định Hausman– test cho hiện tượng nội sinh 61
4.2 Tổng hợp kết quả từ mô hình hồi quy và lý giải kết quả nghiên cứu 62
4.2.1 Với biến phụ thuộc ROA 62
4.2.2 Với biến phụ thuộc ROE 68
4.3 Chấp nhận hoặc bác bỏ giả thuyết 73
CHƯƠNG 5: PHẦN KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ CỦA BÀI NGHIÊN CỨU 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu thêm trong tương lai 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PH Ụ LỤC
Ph ụ lục 1: Cường độ cạnh tranh trong ngành từ kết quả đánh giá của chuyên gia Phụ lục 2: Danh sách phân ngành của HSX năm 2011
Ph ụ lục 3: Tiêu chí phân ngành của HSX
Ph ụ lục 4: Danh sách mẫu
Ph ụ lục 5 : Kết quả hồi quy với biến phụ thuộc ROA trong mẫu tổng thể
Ph ụ lục 6 : Kết quả hồi quy với biến phụ thuộc ROE trong mẫu tổng thể
Trang 7
BCB : Bản cáo bạch BCTC : Báo cáo tài chính BCTN : Báo cáo thường niên BGĐ : Ban giám đốc
BKS : Ban kiểm soát CEO : Tổng giám đốc/Giám đốc điều hành HĐQT : Hội đồng quản trị
HSX : Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh IFC : Tổ chức tài chính quốc tế
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển Kinh tế ROA : Tỷ suất sinh lời của tài sản
ROE : Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán
UBCKNN : Ủy ban chứng khoán nhà nước
Trang 8
2.1 Các nguyên tắc của quản trị công ty của OECD 17-18 2.2 Nội dung câu hỏi khảo sát hoạt động quản trị công ty năm 2011, 2012 22 2.3 Kết quả khảo sát hoạt động quản trị công ty năm 2011, 2012 23
2.4 Bảng tổng hợp kì vọng dấu tác động đến hiệu quả hoạt động của công
4.3 Hệ số tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc ROE 59 4.4 Hệ số tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc ROA 60
4.5 Hệ số hồi quy giữa quy mô hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động
4.6 Hệ số hồi quy giữa tính kiêm nhiệm vị trí giám đốc/tổng giám đốc của
chủ tịch HĐQT và hiệu quả hoạt động của các công ty gia đình 74
4.7 Hệ số hồi quy giữa tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị và hiệu
quả hoạt động trong các công ty gia đình 74
Trang 94.9 Hệ số hồi quy giữa tỷ lệ thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị
và hiệu quả hoạt động trong các công ty gia đình 75 4.10 Lý giải các kết quả nghiên cứu chưa được chứng minh hoặc bác bỏ 76-77
Trang 11TÓM TẮT
Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên sự hài hòa các mối quan hệ giữa hội đồng quản trị, ban giám đốc, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan trong doanh nghiệp Thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam mặc dù có sự tăng trưởng mạnh về số lượng, tuy nhiên chất lượng doanh nghiệp còn thấp, năng lực cạnh tranh yếu Một trong những nguyên nhân cơ bản là năng lực quản trị, đặc biệt là quản trị công ty còn hết sức hạn chế Ngày nay, sự xuất hiện các công ty gia đình ngày càng nhiều và đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế Như
vậy, việc nghiên cứu quản trị công ty có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả hoạt động của công ty, trong đó có công ty gia đình
Bài nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc của HĐQT và hiệu quả
hoạt động của công ty gia đình Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu gồm 90 công ty từ năm
2008 đến năm 2012 và do mô hình gặp phải hiện tượng nội sinh nên bài đã sử dụng mô hình hồi quy hai giai đoạn (2SLS) để kiểm định mối quan hệ này Bài nghiên cứu đã phát hiện mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô của HĐQT, tỷ lệ thành viên người nước ngoài trong HĐQT và hiệu quả hoạt động của công ty gia đình và mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty gia đình
Từ khóa: quản trị công ty, công ty gia đình, hiệu quả hoạt động
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1.1 V ấn đề nghiên cứu
Quản trị công ty (tạm dịch cho khái niệm “Corporate governance”) là một chủ
đề đang được quan tâm nhiều hơn đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong đó có
Việt Nam Hiện nay các công ty có vốn sở hữu của gia đình ngày càng phát triển, chiếm một thị phần không nhỏ và đóng góp vào nền kinh tế của Việt Nam Sự tách biệt
giữa quyền sở hữu và việc quản lý trong công ty cổ phần bên cạnh ưu điểm là tạo điều
kiện cho việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do đó để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong xã hội Tuy nhiên mặt khác có thể gây nên vấn đề ông chủ và người đại diện (Principal Agent Problem1), khi người quản lý có thể hành động theo lợi ích riêng của họ nhiều hơn so với lợi ích của người sở hữu Nhưng cùng
với sự kiểm soát gia đình, các đặc tính của hội đồng quản trị có ảnh hưởng ra sao đối
với hiệu quả hoạt động công ty có thể là một vấn đề mới, cần được nghiên cứu thêm?
Với cách nhìn nhận: “Quản trị công ty là một hệ thống các thiết chế, chính sách, luật lệ
nhằm định hướng, vận hành, kiểm soát công ty cổ phần, tạo động lực cho người quản
lý theo đuổi mục tiêu chung của cổ đông, giúp tăng cường hiệu quả kinh tế và tăng trưởng của doanh nghiệp cũng như niềm tin của nhà đầu tư” thì liệu trong một công ty gia đình quản trị công ty chịu sự chi phối như thế nào của sự kiểm soát của các thành viên gia đình?
1.2 Lý do ch ọn đề tài
Nghiên cứu trong lĩnh vực kinh doanh gia đình đã thu hút được sự chú ý đáng
kể trong thời gian gần đây cho thấy sự công nhận ngày càng tăng về tầm quan trọng
của kinh doanh gia đình trong hoạt động kinh tế trong đó có vai trò của họ trong việc
tạo ra GDP, tạo việc làm, góp phần làm tăng trưởng kinh tế (Glassop và Waddell, 2005) Ví dụ, tại Hoa Kỳ và Châu Mỹ Latinh khoảng 80 phần trăm đến 95 phần trăm
và ở Châu Âu và Châu Á khoảng 80 phần trăm doanh nghiệp là gia đình sở hữu và gia đình kiểm soát (Poza, 2007) Nghiên cứu về mức độ tách và kiểm soát trong chín quốc
Trang 13gia Đông Á, Claessens et al (2000) tìm thấy mức độ cao của quyền sở hữu và kiểm soát của gia đình trong hơn một nửa các công ty Đông Á Các công ty gia đình đóng
một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, vì vậy điều cần thiết là cần có một sự
hiểu biết tốt hơn về công tác quản trị các công ty gia đình
Hiện nay, trên thế giới có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc HĐQT
và hiệu quả hoạt động của công ty gia đình của các tác giả như Anderson và các cộng
sự (2003), Baliga (1996), Bartholomeusz & Tanewski (2006), Chen (2010), Mishra và các cộng sự (2001) Tuy nhiên, tác giả chưa nhận thấy có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc HĐQT và hiệu quả hoạt động của các công ty gia đình ở Việt Nam Đồng thời, tác động của cấu trúc của HĐQT ảnh hưởng khác nhau ra sao đối với
hiệu quả hoạt động công ty gia đình và công ty không có sự kiểm soát gia đình Đó là
vấn đề cần được xem xét thêm
Quản trị công ty nghiên cứu nhiều vấn đề, giải quyết rất nhiều vấn đề trong các công ty để có được hiệu quả tốt hơn Trong đó quản lý hiệu quả có vẻ như là một trong các yêu cầu ưu tiên để đạt được sự phát triển bền vững Cơ quan tối cao của các Công
ty cổ phần là Đại hội đồng cổ đông Các cổ đông sẽ tiến hành bầu ra Hội đồng quản trị (Board of directors) Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định các vấn đề quan trọng trong công ty cổ phần như: Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty; quyết định cơ cấu tổ chức; bổ nhiệm, miễn nhiệm với giám đốc hoặc tổng giám đốc để điều hành hoạt động hàng ngày của công ty cổ phần và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty khác không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông, góp phần quan trọng trong việc duy trì hiệu quả quản lý Đó là lý do tại sao nhiều nghiên cứu về mối tương quan giữa những đặc tính của HĐQT với hiệu quả hoạt động của công ty đã được thực hiện gần đây Thêm vào đó, cùng với việc xuất hiện ngày càng nhiều các công ty mà gia đình nắm quyền kiểm soát thì nghiên cứu vấn đề
quản trị trong các công ty gia đình ngày càng cần thiết
Trang 14Đề tài “Nghiên cứu tác động của các thành viên gia đình, cấu trúc của hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần” nhằm hiểu rõ thêm
phần nào vai trò của quản trị công ty trong các công ty gia đình, đồng thời đem đến
một cái nhìn mới trong vấn đề quản trị công ty ở những công ty gia đình và công ty không có sự kiểm soát gia đình Từ đó, nâng cao năng lực nhận thức về quản trị công
ty và tăng cường năng lực quản trị công ty tại Việt Nam
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu này nhằm tìm ra mối tương quan giữa quản trị công ty thể hiện qua các biến số: Quy mô HĐQT, tính kiêm nhiệm
vị trí giám đốc/tổng giám đốc và chủ tịch HĐQT, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT, tỷ lệ thành viên nước ngoài trong HĐQT với hiệu quả hoạt động của các công ty gia đình thông qua các chỉ số ROA, ROE, nhằm trả lời câu hỏi:
Liệu rằng trên thực tế mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả hoạt động của các công ty gia đình như thế nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là Quản trị công ty, cụ thể là các đặc tính
của HĐQT
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là 90 công ty cổ phần đại diện cho các công
ty cổ phần niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM (HSX) từ năm 2008 đến năm 2012
1.5 Ph ương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thu thập số liệu, kiểm định mức độ giải thích của phương trình hồi quy đối với mẫu tổng thể để tìm ra mối
tương quan giữa các tính chất HĐQT với hiệu quả hoạt động của công ty gia đình
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng (panel data) theo ba phương pháp Pool Regression, Random Effect Model, Fixed Effect Model Sau đó, sử dụng các kiểm định
để lựa chọn phương pháp phù hợp Đồng thời, nghi ngờ mô hình bị hiện tượng nội
Trang 15sinh, bài dùng kiểm định Hausman test để kiểm tra biến nội sinh, và dùng phương pháp 2SLS để khắc phục hiện tượng này
Cấu trúc bài luận gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu về tác động của các thành viên gia đình, cấu trúc HĐQT đến hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu là trình bày về quy mô mẫu, số liệu và cách lấy số liệu, mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, phương pháp kiểm định được sử dụng chính trong bài
Chương 4: Trình bày và lý giải kết quả nghiên cứu trong bài
Chương 5: Kết luận và những hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
1.6 Ý nghĩa thực tiễn và tính mới của luận văn
Tính mới trong luận văn này là tác giả đã nghiên cứu mối tương quan giữa các đặc tính của HĐQT với hiệu quả hoạt động của công ty gia đình, khía cạnh vẫn còn có
ít các nghiên cứu tại Việt Nam Đề tài nghiên cứu thực nghiệm mối tương quan giữa quản trị công ty, cụ thể là qua các đặc tính của HĐQT, với hiệu quả hoạt động của các công ty có sự kiểm soát gia đình nhằm góp phần hiểu sâu hơn về vai trò của quản trị ở các công ty có sự kiểm soát của gia đình cũng như mối tương quan của các đặc tính HĐQT và hiệu quả hoạt động của các công ty này, từ đó mang đến một sự so sánh, nhìn nhận chung về quản trị công ty giữa công ty có sự kiểm soát gia đình và công ty không có sự kiểm soát gia đình, nhằm gia tăng nhận thức về quản trị công ty và tăng
cường năng lực quản trị công ty tại Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH, CẤU TRÚC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1 Tổng quan cơ sở lý thuyết về quản trị công ty và tác động của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của công ty gia đình
2.1.1 Lý thuyết về Quản trị công ty & Lý thuyết người đại diện
2.1.1.1 Quản trị công ty
Trong một vài năm gần đây, vấn đề “Quản trị công ty – Corporate Governance”
ngày càng được nhiều công ty, cá nhân cũng như toàn xã hội quan tâm vì tầm quan
trọng rõ rệt của chủ đề này đối với sức khỏe của công ty và sự lành mạnh của xã hội nói chung Theo lý thuyết về quản trị công ty (corporate governance), cổ đông sẽ dùng quyền lực của mình để chi phối nhân sự (và từ đó đến hoạt động) của hội đồng quản
trị, nhằm tìm kiếm người đại diện cho lợi ích của mình Hội đồng quản trị sẽ thay mặt cho cổ đông để giải quyết những vấn đề quan trọng trong công ty cổ phần giữa các phiên họp thường niên như chiến lược phát triển công ty, nhân sự cao cấp (ban giám đốc)… nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần ở mức tối ưu
QTCT được đặt trên cơ cở của sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu công ty
Công ty là của chủ sở hữu (nhà đầu tư, cổ đông…), nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của hội đồng quản trị, sự điều hành của ban giám đốc và sự đóng góp của người lao động, những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi
Như vậy, QTCT là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu
và các quy trình Ví dụ, một hệ thống quy định các mối quan hệ giữa các cổ đông và ban giám đốc bao gồm việc các cổ đông cung cấp vốn cho ban giám đốc để thu được
lợi suất mong muốn từ khoản đầu tư (cổ phần) của mình Các cổ đông cũng bầu ra một
thể chế giám sát, thường được gọi là HĐQT hoặc ban kiểm soát (BKS) để đại diện cho quyền lợi của mình Tất cả các bên đều liên quan tới việc định hướng và kiểm soát
Trang 17công ty: đại hội đồng cổ đông, đại diện cho các cổ đông, đưa ra các quyết định quan
trọng, ví dụ về việc phân chia lãi lỗ HĐQT chịu trách nhiệm chỉ đạo và giám sát chung, đề ra chiến lược và giám sát ban giám đốc Cuối cùng, ban giám đốc điều hành
những hoạt động hàng ngày, chẳng hạn như thực hiện chiến lược đã đề ra, lên các kế
hoạch kinh doanh, quản trị nhân sự, xây dựng chiến lược marketing, bán hàng và quản
lý tài sản Tất cả những điều này đều nhằm phân chia quyền lợi và trách nhiệm một cách phù hợp - và qua đó làm gia tăng giá trị lâu dài của các cổ đông
Lý thuyết quản trị công ty thừa nhận vai trò then chốt của HĐQT trong việc duy trì hiệu quả tổ chức, rất nhiều nghiên cứu về đặc tính của HĐQT đến hiệu quả của Công ty cổ phần đã nhận được nhiều sự chú ý nhiều quốc gia và các đặc tính của HĐQT thường được đề cập trong nghiên cứu như: Quy mô HĐQT, tính kiêm nhiệm vị trí giám đốc và chủ tịch HĐQT, thành phần HĐQT, và các tính chất sở hữu của HĐQT
Hệ thống QTCT cơ bản và các mối quan hệ giữa các thể chế quản trị trong công
ty được mô tả trong Hình 2.1 sau:
Hình 2.1: H ệ thống Quản trị công ty
(Ngu ồn: IFC (2010))
Bổ nhiệm, miễn nhiệm, chỉ đạo, giám sát Báo cáo và trả lời
Bổ nhiệm và miễn nhiệm Đại diện và báo cáo
Các thành viên HĐQT Các cổ đông (Đại hội đồng cổ đông)
Các thành viên BGĐ
Trang 18Quản trị công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc tăng cường giá
trị doanh nghiệp, tăng cường đầu tư và phát triển bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh tế
2.1.1.2 Lý thuyết đại diện
Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, được phát triển bởi Alchian và Demsetz năm 1972, sau đó được Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976 Theo lý thuyết đại diện, QTCT được định nghĩa là “mối quan hệ giữa những người đứng đầu, chẳng hạn như các cổ đông và các đại diện như các giám đốc điều hành công ty hay quản lý công ty” (Mallin, 2004) Trong lý thuyết này, các cổ đông là các chủ sở hữu hoặc là người đứng đầu công ty, thuê những người khác thực hiện công
việc Những người đứng đầu ủy quyền hoạt động của công ty cho các giám đốc hoặc
những người quản lý, họ là các đại diện cho các cổ đông Các cổ đông lý thuyết đại
diện kỳ vọng các đại diện hành động và ra các quyết định vì lợi ích của những người đứng đầu Ngược lại, các đại diện không nhất thiết phải ra quyết định vì các lợi ích lớn
nhất của cổ đông (Padilla, 2000) Vấn đề hay chính sự xung đột lợi ích này lần đầu được Adam Smith nhấn mạnh trong thế kỷ XVIII và sau đó được khám phá bởi Ross năm 1973, còn sự mô tả chi tiết lý thuyết đại diện lần đầu được trình bày bởi Jensen và Meckling năm 1976
Khái niệm về vấn đề phát sinh từ việc tách quyền sở hữu và kiểm soát trong lý thuyết đại diện đã được xác nhận bởi Davis, Schoorman và Donaldson năm 1997
Xung đột lợi ích cũng có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị, chẳng hạn giữa các cổ đông (đa số và thiểu số, kiểm soát và không kiểm soát, cá nhân và tổ chức) và các thành viên HĐQT (điều hành và không điều hành, bên trong và bên ngoài, độc lập
và phụ thuộc) (IFC, 2010)
Như vậy, một trong những vấn đề mà lý thuyết đại diện đặt ra đó là thiết lập cấu trúc HĐQT nhằm đảm bảo lợi ích của các cổ đông, những người chủ sở hữu của công
Trang 19ty HĐQT có thể được thiết lập theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức Sự khác nhau trong cấu trúc HĐQT xuất phát từ hai quan điểm đối lập Quan điểm thứ nhất cho rằng, HĐQT được thiết lập để hỗ trợ sự kiểm soát của đội ngũ quản lý, tạo ra kết quả hoạt động vượt trội dựa trên sự hiểu biết tường tận tình hình công ty của ban giám đốc điều hành hơn là của các thành viên HĐQT độc lập bên ngoài (Berle và Means, 1932; Mace, 1971) Quan điểm thứ hai cho rằng, HĐQT được thiết lập để tối thiểu hóa các “chi phí đại diện” thông qua các cấu trúc cho phép thành viên HĐQT bên ngoài phê chuẩn và giám sát các hành vi của đội ngũ quản lý, vì vậy cũng giảm thiểu được sự khác nhau về mặt lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý (Fama, Eugene F., 1980; Fama và Jensen, 1983)
Một cơ chế quan trọng của cấu trúc HĐQT chính là cấu trúc lãnh đạo, nó phản ánh vị trí, vai trò của chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành Cấu trúc lãnh đạo hợp
nhất diễn ra khi giám đốc đảm nhiệm cùng lúc hai vai trò là giám đốc điều hành và chủ
tịch HĐQT Cadbury (2002) đã đề cập tới cấu trúc lãnh đạo này Mặt khác, cấu trúc lãnh đạo phân tách diễn ra khi vị trí chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành được đảm nhiệm bởi hai người khác nhau (Rechner và Dalton, 1991) Sự tách biệt vai trò của giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT được đề cập rất nhiều trong lý thuyết đại diện (Dalton, 1998), bởi vì vai trò của HĐQT chính là giám sát đội ngũ quản lý để bảo vệ
lợi ích của các cổ đông (Fama và Jensen, 1983)
Một cơ chế quan trọng khác của cấu trúc HĐQT chính là thành phần của HĐQT, đề cập tới thành viên HĐQT điều hành và không điều hành trong HĐQT
HĐQT với đa số thành viên không điều hành được củng cố và đề cập nhiều trong lý thuyết đại diện Theo lý thuyết đại diện, một HĐQT hiệu quả nên bao gồm đa số thành viên HĐQT không điều hành, những người được tin rằng sẽ tạo ra kết quả hoạt động vượt trội bởi tính độc lập của họ đối với hoạt động quản lý của công ty (Dalton, 1998)
Bởi vì các thành viên HĐQT điều hành có trách nhiệm thực hiện các hoạt động hàng ngày của công ty như tài chính, marketing… Với vai trò hỗ trợ cho giám đốc điều
Trang 20hành, họ sẽ không thể thực hiện một cách trọn vẹn vai trò giám sát hay kỷ luật giám đốc điều hành (Daily và Dalton, 1993) Do đó, xây dựng một cơ chế để giám sát các hành động của giám đốc điều hành và các thành viên HĐQT điều hành là rất quan
trọng (Weir, Liang, David, 2001) Cadbury (1992) đã xác định vai trò giám sát là một trong những trách nhiệm chính yếu của thành viên HĐQT không điều hành Họ có thể
trở thành những người giám sát kém hiệu quả khi thời gian làm việc tại HĐQT càng dài, khi mà họ xây dựng những mối quan hệ thân thiết với các thành viên HĐQT điều hành (O’Sullivanvà Wong, 1999) Điều này đã củng cố cho những tuyên bố của Cadbury rằng tính độc lập của các thành viên HĐQT không điều hành có thể sẽ giảm
dần khi thời gian làm việc tại HĐQT càng dài (Bhagat và Black, 1998; Dalton, 1998;
Yarmack, 1996)
Nguyên tắc phân tách chức năng giám sát và thực thi của lý thuyết đại diện được thiết lập cũng nhằm mục đích giám sát các chức năng thực thi như kiểm toán, tiền lương và bổ nhiệm (Roche, 2005) Sự thất bại của các công ty trước đây thường bắt nguồn từ những chỉ trích về cấu trúc quản trị không đầy đủ dẫn tới việc đưa ra những quyết sách không hợp lý của HĐQT của những công ty đó Tầm quan trọng của các ủy ban này đã được công nhận trong mọi môi trường kinh doanh (Petra, 2007)
2.1.2 Mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả hoạt động 2.1.2.1 Hiệu quả hoạt động
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Corporate performance hay Firm performance) chính là hiệu quả sử dụng toàn bộ các phương tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ cũng như các chính sách tài trợ Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã
khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được
Trang 21mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau trong các nghiên cứu khoa học Có ba tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động thường được sử dụng là hiệu quả tài chính (financial performance), hiệu quả kinh doanh (operation performance) hoặc hiệu quả tổng hợp (overall performance) tùy thuộc vào đối tượng khảo sát, nguồn dữ liệu
Hiệu quả tài chính trong nhiều nghiên cứu bao gồm tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thu nhập cổ phần thường, thị giá cổ phiếu, tăng trưởng doanh thu và Tobin’s Q Hiệu quả tài chính trong các nghiên cứu khoa học thường
được đo lường thông qua các tiếp cận sau: Tiếp cận thị trường (thường sử dụng tỷ suất
l ợi nhuận trên vốn đầu tư ROI vào cổ phiếu của công ty), tiếp cận từ báo cáo tài chính
(thường sử dụng tỷ suất lợi nhuận như tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA, tỷ suất
l ợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE) và tiếp cận kết hợp (thường sử dụng chỉ tiêu Tobin’s Q ho ặc tỷ số thị giá/giá sổ sách PBV)
Hiệu quả kinh doanh được đo lường bởi thị phần, tần suất giới thiệu sản phẩm
mới và sáng chế, chất lượng hàng hoá/dịch vụ, năng suất lao động, mức độ hài lòng và duy trì lực lượng lao động
Hiệu quả tổng hợp thường bao gồm uy tín, khả năng tồn tại, mức độ đạt được
mục tiêu, so sánh với đối thủ cạnh tranh…
Việc thu thập số liệu về thị phần cũng như uy tín của các công ty hoạt động ở
Việt Nam theo thời gian là không dễ thực hiện, vì đòi hỏi nhiều kinh phí và thời gian, nên đa số các nghiên cứu sử dụng chỉ tiêu hiệu quả tài chính để đo lường hiệu quả
Trong đó, cách tiếp cận báo cáo tài chính được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán độc lập nên có độ tin cậy cao hơn
Trang 22Trước hết, việc sử dụng các công cụ nào để đánh giá về hiệu quả tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng Có rất nhiều các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính doanh nghiệp, nhưng các chỉ tiêu thường được sử dụng nhất trong các nghiên
cứu có thể chia thành hai loại chính: i) Các hệ số giá trị kế toán, còn gọi là các hệ số về
lợi nhuận; ii) Các hệ số giá trị thị trường, còn gọi là các hệ số về tăng trưởng tài sản
Các chỉ tiêu lợi nhuận được dùng nhiều nhất bao gồm lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Một số nghiên cứu sử dụng lợi suất cổ
tức - DY (Ming & Gee 2008; Ongore 2011), lợi nhuận trên doanh thu - ROS (Le &
Buck 2011), hoặc lợi nhuận trên vốn đầu tư - ROI (Shah, Butt & Saeed 2011) Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cách sử dụng ROI thực ra chính là ROA, như trong nghiên cứu của Shah, Butt & Saeed (2011) Nhìn chung, ROA và ROE là hai hệ số được sử dụng phổ biến nhất Đáng chú ý là giá trị của hai hệ số này có thể phụ thuộc vào cách tính lợi nhuận Mặc dù lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) được nhiều nhà nghiên cứu chọn để tính hai hệ số trên (Hu & Izumida 2008; Le & Buck 2011; Wang &
Xiao 2011), một số nghiên cứu khác sử dụng lợi nhuận thuần cộng với lãi vay (trước
hoặc sau thuế) (Shah, Butt & Saeed 2011; Thomsen & Pedersen 2000), hoặc đơn giản
chỉ là lợi nhuận thuần (LI, Sun & Zou 2009; Tian & Estrin 2008); trong khi đó, có nghiên cứu lại cho rằng lợi nhuận trước thuế, lãi vay, hao mòn và khấu hao (EBITDA) nên được dùng Ngoài ý nghĩa tài chính khác nhau, lý do của những cách tính khác nhau như vậy có thể là do hạn chế về cơ sở dữ liệu; trong nhiều trường hợp, sự không đầy đủ của cơ sở dữ liệu sẽ khiến cho một số nghiên cứu buộc phải có cách tính khác nhau
Đối với nhóm hệ số giá trị thị trường, hai hệ số Marris và Tobin’s Q rất thông
dụng như là công cụ đánh giá tốt về hiệu quả tài chính doanh nghiệp; trong đó hệ số đầu được tính là tổng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu so với giá trị sổ sách của
vốn chủ sở hữu, và hệ số sau được tính là giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cộng
với giá trị sổ sách các khoản nợ phải trả so với giá trị sổ sách của tổng tài sản Do đó,
Trang 23các hệ số này hoàn toàn có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả của phần vốn sở hữu
của Nhà nước, bởi vì nó có thể phản ánh trực tiếp mức độ tăng trưởng giá trị vốn chủ
sở hữu trong cơ cấu vốn doanh nghiệp
So sánh hai nhóm hệ số trên, các hệ số ROA và ROE là những chỉ báo hiệu quả cho kết quả sản xuất kinh doanh hiện tại và phản ánh khả năng lợi nhuận mà doanh nghiệp đã đạt được trong các kỳ kế toán đã qua Vì thế, nhóm này là cách nhìn về quá
khứ hoặc đánh giá khả năng lợi nhuận ngắn hạn của doanh nghiệp (Hu & Izumida 2008) Đối với một số chỉ tiêu cùng nhóm như ROS hoặc ROI, các hệ số này cũng không đưa ra một góc nhìn dài hạn cho cổ đông và lãnh đạo doanh nghiệp bởi đó là các thước đo quá khứ và ngắn hạn (Jenkins, Ambrosini & Collier 2011) Trong khi đó, các
hệ số Marris và Tobin’s Q có thể cho biết hiệu quả tương lai của công ty bởi chúng
phản ánh được đánh giá của thị trường cả về tiềm năng lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai (phản ánh vào giá thị trường của cổ phiếu)
Tóm lại, hiệu quả tài chính của các công ty cổ phần có thể được đánh giá thông qua hai nhóm hệ số kết hợp lại, trong đó 4 chỉ tiêu thiết yếu nhất bao gồm ROA, ROE, Marris và Tobin’s Q Mặc dù có thể có các cách tính khác nhau, chủ yếu do cách xác định lợi nhuận trong tính toán hệ số, sự kết hợp của hai nhóm hệ số này có thể đưa ra cho nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp, cổ đông và thị trường những đánh giá bao quát về hiệu quả tài chính trong quá khứ cũng như tiềm năng lợi nhuận và tăng trưởng tương lai của doanh nghiệp
2.1.2.2 Mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả hoạt động
Quản trị công ty hiệu quả có thể cải thiện nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dưới nhiều góc độ:
- Thực hiện việc giám sát và giải trình tốt hơn: Việc cải tiến các cách thức Quản
trị công ty sẽ mang lại một hệ thống giải trình tốt hơn, giảm thiểu rủi ro liên quan đến các vụ gian lận hoặc các giao dịch nhằm mục đích vụ lợi của các cán bộ quản lý Tinh
thần trách nhiệm cao kết hợp với việc quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ hiệu quả có
Trang 24thể giúp cho công ty sớm phát hiện ra các vấn đề trước khi chúng phát sinh và dẫn đến
một cuộc khủng hoảng Quản trị công ty sẽ giúp cải thiện hiệu quả công việc quản lý
và giám sát Ban điều hành, chẳng hạn bằng cách xây dựng hệ thống lương thưởng dựa trên các kết quả tài chính của công ty Điều này tạo điều kiện thuận lợi không chỉ cho
việc xây dựng quy hoạch bổ nhiệm cán bộ và kế thừa một cách hiệu quả, mà còn cho
việc duy trì khả năng phát triển dài hạn của công ty
- Nâng cao hiệu quả ra quyết định: Việc áp dụng những cách thức Quản trị công
ty hiệu quả sẽ góp phần cải thiện quá trình ra quyết định Chẳng hạn các thành viên BGĐ và các thành viên HĐQT và các cổ đông có thể đưa ra những quyết định chính xác kịp thời và có đầy đủ thông tin hơn khi cơ cấu quản trị công ty cho phép họhiểu rõ vai trò và trách nhiệm của mình, cũng như khi các quá trình liên lạc được điều chỉnh
một cách hiệu quả Điều này sẽ giúp hiệu quả của các hoạt động tài chính và kinh doanh của công ty được nâng cao một cách đáng kể ở mọi cấp độ Quản trị công ty có
hiệu quả sẽ giúp tổ chức tốt hơn toàn bộ các quy trình kinh doanh của công ty, và điều này sẽ dẫn đến hiệu suất hoạt động tăng cao hơn và chi phí vốn thấp hơn, và điều này
sẽ lại góp phần nâng cao doanh số và lợi nhuận cùng với sự giảm thiểu trong chi phí và nhu cầu về vốn
- Thực hiện tốt hơn việc tuân thủ và giảm xung đột lợi ích: Một hệ thống Quản
trị công ty hiệu quả cần phải đảm bảo việc tuân thủ pháp luật, các tiêu chuẩn, các quy
chế, quyền lợi và nghĩa vụ của tất cả các đối tượng liên quan Hơn nữa, hệ thống quản
trị hiệu quả cần giúp công ty tránh phát sinh chi phí cao liên quan đến những khiếu
kiện của các cổ đông và những tranh chấp khác bắt nguồn từ sự gian lận, xung đột lợi ích, tham nhũng, hối lộ và giao dịch nội bộ
Một hệ thống QTCT hiệu quả sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết
những xung đột liên quan tới công ty, ví dụ xung đột giữa các cổ đông nhỏ lẻ với các
cổ đông nắm quyền kiểm soát, giữa các cán bộ quản lý với các cổ đông, và giữa các cổ
Trang 25đông với các bên có quyền lợi liên quan Đồng thời, bản thân các cán bộ của công ty sẽ
có thể giảm thiểu được rủi ro liên quan đến trách nhiệm đền bù của từng cá nhân
- Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường vốn:
Các cách thức QTCT có thể quyết định việc công ty dễ dàng tiếp cận các nguồn
vốn nhiều hay ít Những công ty được quản trị tốt thường gây được cảm tình với các cổ đông và các nhà đầu tư, tạo dựng được niềm tin lớn hơn của công chúng vào việc công
ty có khả năng sinh lời mà không xâm phạm tới quyền lợi của các cổ đông
- Giảm chi phí vốn và tăng giá trị tài sản:
Những công ty cam kết áp dụng những tiêu chuẩn cao trong quản trị công ty thường huy động những nguồn vốn giá rẻ khi cần nguồn tài chính cho các hoạt động
của mình Chi phí vốn phụ thuộc vào mức độ rủi ro của công ty theo cảm nhận của các nhà đầu tư: Rủi ro càng cao thì chi phí vốn càng cao Những rủi ro này bao gồm những
rủi ro liên quan đến việc quyền lợi của nhà đầu tư bị xâm phạm Nếu quyền lợi của nhà đầu tư được bảo vệ một cách thích hợp, cả chi phí vốn chủ sở hữu và chi phí vay đều sẽ
giảm Việc áp dụng một hệ thống quản trị công ty hiệu quả cuối cùng sẽ giúp công ty
trả lãi suất thấp hơn và có những khoản tín dụng có kỳ hạn dài hơn Mức độ rủi ro và chi phí vốn còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế và chính trị của mỗi quốc gia, khuôn
khổ thể chế và các cơ cấu thực thi pháp luật Việc quản trị ở mỗi công ty có ảnh hưởng khá quan trọng đối với các nhà đầu tư trong các thị trường mới nổi, bởi vì các thị trường này thường không có được một hệ thống pháp lý đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư một cách có hiệu quả như tại các quốc gia phát triển khác
- Nâng cao uy tín:
Trong môi trường kinh doanh ngày nay, uy tín là một phần quan trọng làm nên giá trị thương hiệu của một công ty Uy tín và hình ảnh của một công ty là một tài sản
vô hình không thể tách rời của công ty Như vậy, những công ty tôn trọng quyền lợi
của các cổ đông và các chủ nợ và đảm bảo tính minh bạch về tài chính sẽ được xem như là một người phục vụ nhiệt thành cho các lợi ích của công chúng đầu tư Kết quả
Trang 26là những công ty đó dành được niềm tin lớn hơn của công chúng và từ đó nâng cao được giá trị thương hiệu Niềm tin của công chúng và giá trị thương hiệu có thể khiến người ta tin tưởng hơn vào các sản phẩm của công ty và điều này sẽ dẫn đến việc nâng cao doanh số, từ đó dẫn đến việc gia tăng lợi nhuận
Tóm l ại: Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên sự hài
hòa các mối quan hệ giữa hội đồng quản trị, ban giám đốc, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan trong doanh nghiệp, từ đó tạo nên định hướng và sự kiểm soát quá trình phát triển của doanh nghiệp Quản trị công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích
cực vào việc tăng cường giá trị doanh nghiệp, tăng cường đầu tư và phát triển bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh tế
2.1.3 Các nguyên tắc của quản trị công ty hiệu quả
Bộ Nguyên tắc về Quản trị công ty của OECD đã đẩy mạnh tầm quan trọng của
quản trị công ty và cung cấp những hướng dẫn cụ thể cho việc xây dựng khuôn khổ pháp lý ở các quốc gia thuộc lẫn không thuộc OECD Diễn đàn Ổn định Tài chính chỉ
rõ bộ Nguyên tắc là một trong 12 tiêu chuẩn then chốt đối với các hệ thống tài chính
vững mạnh Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD được sử dụng như là chuẩn
mực quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các công ty và các bên
có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới
Các công ty được đánh giá trên 5 khía cạnh được cho là then chốt đối với một
hệ thống quản trị công ty theo các nguyên tắc quản trị công ty của OECD theo bảng 2.1.sau:
Trang 27Bảng 2.1: Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
Đối xử bình đẳng với cổ đông
Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo đối xử công bằng với tất cả các cổ đông, các cổ đông thiểu số và cổ đông là người nước ngoài Tất cả các cổ đông phải có cơ hội được bồi thường trong trường hợp quyền của họ bị vi phạm
sự hợp tác tích cực giữa công ty và cổ đông trong
việc tạo ra của cải, việc làm và sự bền vững của các doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt
Nguyên tắc 5:
Công khai và minh bạch
Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo việc thông tin kịp thời và chính xác tất cả các vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh, quyền sở hữu và quản trị công ty
Trang 28và cổ đông
(Nguồn: Cẩm nang quản trị công ty) [7]
Quản trị công ty là sự sắp xếp, kiểm tra, cân đối những ưu đãi mà một công ty cần có để tối thiểu hóa và chế ngự những xung đột lợi ích giữa các cổ đông trong và ngoài công ty Mục đích của nó là để ngăn chặn việc chiếm đoạt những lợi ích của một nhóm đối với một hoặc nhiều nhóm khác
2.1.4 Vấn đề quản trị công ty ở Việt Nam 2.1.4.1 Khuôn khổ pháp lý
- Về khuôn khổ pháp lý quản trị công ty:
Khuôn khổ pháp lý về QTCT đã có nhiều thay đổi và đã được cải thiện một cách đáng kể trong những năm gần đây ở Việt Nam Dưới đây là một số văn bản pháp
luật cơ bản đã ban hành trong thời gian qua trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho
quản trị công ty:
(i) Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, những sửa đổi bổ sung của luật này năm
2000 và sự hợp nhất của luật này với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2005;
(ii) Luật Doanh nghiệp năm 1999, và bản thay thế năm 2005;
(iii) Luật Ngân hàng nhà nước năm 1997 và Luật Các tổ chức tín dụng năm
1997, và các bản sửa đổi của hai luật trên vào năm 2003 với Luật Ngân hàng
và năm 2004 với Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Ngân hàng nhà nước năm
2010 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
(iv) Luật Kinh doanh bảo hiểm vào năm 2000;
(v) Luật Cạnh tranh vào năm 2004;
Trang 29(vi) Luật Chứng khoán vào năm 2006 và Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của
Luật Chứng khoán năm 2010;
Các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam đa số là các công ty đã niêm yết và bởi
vậy đa phần chịu sự điều chỉnh của các quy định về quản trị công ty như sau:
(i) Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn;
(ii) Luật Chứng khoán số 70/2006/QH1 và Luật số 62/2010/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn;
(iii) Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13 tháng 3 năm 2007 về việc ban hành
Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao
dịch chứng khoán (Quyết định 12);
(iv) Quyết định 15/2007/QĐ-BTC ngày 19 tháng 3 năm 2007 về việc ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán; Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/2012
Kết quả đánh giá chung nhận được khá thấp (2.33/5) Tuy nhiên, trên cơ sở
những văn bản pháp luật đã được ban hành như Luật Doanh nghiệp (2005); Luật
Chứng khoán (2006) có thể rút ra nhận định: Khuôn khổ pháp lý về QTCT ở Việt Nam
đã khá đầy đủ và từng bước tiếp cận các chuẩn mực QTCT của thế giới Tuy nhiên, nhiều quy định trong luật còn khá chung và cho đến nay vẫn chưa có các nghị định hướng dẫn, do vậy các doanh nghiệp thiếu cơ sở để thực hiện Kết quả đánh giá nhận được thấp, theo chúng tôi chủ yếu do các thành viên của doanh nghiệp ít tìm hiểu về pháp luật nói chung cũng như các vấn đề liên quan đến QTCT nói riêng Nhiều nội dung luật quy định khá rõ ràng, tuy nhiên doanh nghiệp ít sử dụng
2.1.4 2 Tình hình thực hiện quản trị công ty tại các công ty niêm yết
Quản trị công ty, bên cạnh việc tạo ra một cơ chế quản lý nhằm bảo đảm sự cân
bằng về quyền và lợi ích giữa các bên trong và ngoài doanh nghiệp còn đòi hỏi phải
thực thi tốt các hoạt động quản trị chức năng như quản trị chiến lược, nhân sự, tài
Trang 30chính, marketing…Từ kết quả điều tra, đặc biệt là việc sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu đối với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và giám đốc điều hành cho thấy:
* V ề vấn đề tổ chức bộ máy và phân chia quyền hạn trong các doanh nghiệp
Có thể nói đây là điểm hạn chế lớn nhất trong QTCT hiện nay ở Việt Nam Việc
tổ chức, quản lý và điều hành doanh nghiệp phổ biến hiện nay là đều theo cơ chế tập quyền Quyền hạn tập trung ở một số ít người, họ vừa là cổ đông lớn, vừa là thành viên
của HĐQT và đồng thời giữ các chức vụ chủ chốt trong ban điều hành (ban giám đốc)
Lãnh đạo doanh nghiệp hoạt động thực tế thiên về điều hành hơn là hoạch định chiến lược và giám sát thực thi chiến lược phát triển doanh nghiệp;
Trên thực tế, kết quả điều tra cho thấy: Đối với doanh nghiệp dưới hình thức công ty, 95% giám đốc doanh nghiệp là thành viên của HĐQT, trong đó trên 60% vừa
giữ chức chủ tịch HĐQT vừa giữ chức giám đốc hoặc tổng giám đốc; đối với các doanh nghiệp tư nhân, tuyệt đại bộ phận giám đốc doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp và thực hành QTCT theo kiểu “gia đình”, một mình hoặc một số người thân đảm nhận tất cả các chức năng quản lý Như vậy, giữa chức năng lãnh đạo với nhiệm
vụ chính là xây dựng chiến lược (thường của chủ doanh nghiệp và HĐQT) và chức năng quản lý việc vận hành hàng ngày của người quản lý (ban điều hành) không rõ ràng
Đại bộ phận doanh nghiệp đều không xác định rõ ràng sứ mệnh tồn tại, không
có mục tiêu dài hạn và không xác định được mô hình chiến lược phát triển (trên 95%)
Hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu được xác lập thông qua các kế hoạch vận hành
ngắn hạn, phần lớn là kế hoạch tháng, thậm chí ngắn hơn Tuổi thọ bình quân của doanh nghiệp rất ngắn, chỉ khoảng 3-4 năm Rất nhiều doanh nghiệp được thành lập
chỉ nhằm mục đích khai thác một cơ hội kinh doanh nào đó, khi cơ hội đó không còn
nữa, doanh nghiệp cũng kết thúc hoạt động
* V ề ban kiểm soát trong các doanh nghiệp
Hiện tại, trong các doanh nghiệp vai trò của ban kiểm soát lại khá mờ nhạt Hầu
hết thành viên của ban kiểm soát đều là nhân viên của công ty, làm việc theo chế độ
Trang 31kiêm nhiệm Vì vậy, thực trạng về BKS ở nước ta có lẽ chỉ tồn tại dưới hình thức
“người giám sát bị kiểm duyệt”, chứ chưa phải là một thể chế giám sát nội bộ độc lập, chuyên môn và chuyên nghiệp để cân bằng hoạt động của doanh nghiệp, phục vụ lợi ích tối đa của doanh nghiệp
Mặt khác, hầu hết các ban kiểm soát không làm hoặc làm không đầy đủ hai việc quan trọng là giám sát HĐQT, ban điều hành và rà soát sự đồng bộ trong cơ chế, chính sách Họ mới chỉ dừng lại ở việc soát xét các báo cáo kiểm toán, báo cáo tài chính
* V ề công khai và minh bạch thông tin trong QTCT
Kém công khai và không minh bạch đang là một trong số các vấn đề lớn của QTCT hiện nay ở Việt Nam Chủ sở hữu, các cổ đông không nhận được một cách kịp
thời, chính xác và đầy đủ các thông tin cơ bản về doanh nghiệp Các thông tin cơ bản
đó bao gồm từ tổng tài sản đến đánh giá chính xác về thực trạng tài chính hiện nay và thông tin về lưu chuyển tiền tệ trong quá khứ cũng như các thông tin về dự báo trong tương lai
Đặc điểm chung là các doanh nghiệp của Việt Nam chưa thực sự vận hành hệ
thống quản trị tài chính một cách khoa học và minh bạch, phần lớn chỉ mới chú trọng
chức năng kế toán, đặc biệt là kế toán thuế nhằm ứng phó với cơ quan thuế Nhiều doanh nghiệp doanh thu tăng nhưng luồng tiền vào và ra doanh nghiệp vẫn bị ách tắc, lúng túng trong huy động và sử dụng nguồn vốn Điều này làm cho các nhà đầu tư và
cổ đông không thể đánh giá chính xác giá trị doanh nghiệp trong hiện tại cũng như tương lai Chất lượng báo cáo tài chính và mức độ công bố thông tin đối với các công
ty niêm yết, đặc biệt là đối với các công ty cổ phần không niêm yết và doanh nghiệp nhà nước chưa cao bất thường
* V ề quản trị nguồn nhân lực
Nhân lực là một yếu tố căn bản quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tuy nhiên tình hình chung của các doanh nghiệp Việt Nam là chất lượng nguồn nhân lực thấp và rất thiếu ổn định Bên cạnh các nguyên nhân về hệ thống đào tạo quốc
Trang 32gia, một trong những lý do chính của tình trạng này là cách quản trị công ty của doanh nghiệp Cách quản trị ấy không đáp ứng những nhu cầu nhân bản của người lao động là: Công việc phù hợp khả năng, phân công hợp lý, phát huy được khả năng, thù lao tương xứng và cơ hội thăng tiến Do đó doanh nghiệp không sản sinh ra những quản trị viên có khả năng, nhiều nhân viên chủ động thôi việc nhưng doanh nghiệp rất lúng túng trong việc bố trí nhân sự thay thế cho những vị trí nghỉ việc Động cơ làm việc
của nhân viên chủ yếu là thu nhập để đảm bảo cuộc sống, làm việc theo kiểu “tháo khoán”, hết giờ hoặc hết nhiệm vụ là nghỉ, ít sáng tạo và ít sáng kiến cải tiến công việc
* V ề quản trị thương hiệu và marketing
Điểm hạn chế lớn của các doanh nghiệp là chưa quan quan tâm đến công tác xây
dựng thương hiệu Một số doanh nghiệp mới chỉ hướng tới định vị sản phẩm của mình
là “Hàng Việt Nam chất lượng cao” chưa nghĩ đến chuẩn quốc tế hoặc thấp hơn là khu
vực, thừa nhận sản phẩm mình là sản phẩm nội địa, thể hiện sự tự ti nếu so với thị trường thế giới Những sản phẩm chất lượng cao theo chuẩn quốc tế không bao giờ tự
quảng cáo là hàng Mỹ chất lượng cao hay hàng Nhật chất lượng cao Công tác marketing chủ yếu chỉ tiến hành các hoạt động quảng cáo, một chiến lược marketing mang tính hệ thống còn vắng bóng trong các doanh nghiệp
B ảng 2.2: Nội dung câu hỏi/khảo sát hoạt động quản trị công ty năm 2011, 2012
Lĩnh
S ố lượng câu h ỏi
Tr ọng số (%)
C Vai trò các bên có quyền lợi liên quan 8 5
E Trách nhiệm của HĐQT và ban kiểm soát 31 30
“Ngu ồn: Báo cáo thẻ điểm quản trị” [106,117]
Trang 33Kết quả khảo sát hoạt động quản trị công ty năm 2011, 2012 của 100 công ty niêm yết lớn nhất trên cả hai Sàn giao dịch chứng khoán HSX và HNX như sau:
B ảng 2.3: Kết quả khảo sát hoạt động quản trị công ty năm 2011, 2012
2009 (%)
2010 (%)
2011 (%)
2009 (%)
2010 (%)
2011 (%)
2009 (%)
2010 (%)
2011 (%) Lĩnh vực A -
Quyền của cổ đông 46,8 48,5 47 2,4 19,3 11,9 78,6 74,0 73,8 Lĩnh vực B -
Đối xử công bằng
v ới cổ đông
65,1 61 57,8 25,0 39,0 13,9 86,1 78,0 80,6
Lĩnh vực C - Vai trò các bên có quyền lợi liên quan
29,2 29,4 22,7 6,3 0,0 6,3 68,8 68,0 62,5
Lĩnh vực D - Công khai, minh bạch
39,4 43,2 40,1 15,6 24,3 21,7 62,5 61,3 60,0
Lĩnh vực E - Trách nhi ệm của HĐQT và ban Kiểm soát
35,3 36,1 35,9 11,3 17,7 9,7 53,2 55,0 54,8
Kết quả chung về QTCT 43,9 44,7 42,5 20,5 29,3 17,4 60,9 58,6 57,5
“Ngu ồn: Báo cáo thẻ điểm quản trị” [35, 36]
Để so sánh, Hiệp hội Quản trị Công ty Châu Á trong bản đánh giá quản trị công
ty thường niên của mình đã đưa ra mức xác định dựa trên kiến thức và kinh nghiệm về
ực hành quản trị công ty tốt trên thế giới như sau:
Trang 34 Mức 80% trở lên là đạt “đẳng cấp quốc tế” về quản trị công ty
Mức từ 75% trở lên được coi là thực hiện quản trị công ty có chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế
Từ mức 65% đến 74% là mức điểm phản ánh việc thực hiện quản trị công
ba điều kiện này, nhiều DN lớn của Việt Nam hiện nay có vấn đề về QTCT
Trong báo cáo năm 2012, Tổng công ty Tài chính Quốc tế (IFC) của Ngân hàng Thế giới đã kết luận rằng chất lượng báo cáo tài chính của 100 công ty hàng đầu Việt Nam được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội
đã sụt giảm xét trên tất cả các lĩnh vực quản trị công ty, bao gồm việc thông báo thông tin tới công chúng Các công ty đã không thể cung cấp cho nhà đầu tư thông tin kịp thời và có liên quan để giúp họ đưa ra quyết định đầu tư "Thẻ điểm quản trị công ty"
của IFC chấm 100 công ty này với điểm trung bình 42,5% , với 57,5 và 17,40 là điểm cao nhất và thấp nhất Trong khi đó, các quốc gia láng giềng như Philippines và Thái Lan (hai thành viên thuộc Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế OECD) đạt 72% và 77% Có thể nói, Việt Nam thiếu căn bản 6 chữ vàng về chuẩn QTCT của OECD (cơ cấu và quy trình hợp lý, minh bạch, công bằng, trách nhiệm, giải trình, đối xử với các bên liên quan) và đang có vấn đề cả trong 6 nội dung này
Trang 35Lĩnh vực yếu nhất trong quản trị của các công ty là thực hiện các biện pháp về
“trách nhiệm của hội đồng quản trị” và “công bố thông tin và sự minh bạch” “Điều này là minh chứng cho thấy cam kết thực sự cho quản trị công ty tốt vẫn chưa được hình thành ở Việt Nam”, đại diện nhóm nghiên cứu nhận xét
So sánh giữa hai nhóm doanh nghiệp có điểm số quản trị cao nhất và thấp nhất cho thấy: Các công ty có chất lượng quản trị tốt cũng là những công ty có giá trị thị trường cao hơn Các hệ số chuẩn như lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) phản ánh sự vượt trội: Nhóm quản trị tốt đạt ROE bình quân 23,5%, vượt xa mức 16,6% của nhóm kém nhất ROA cũng đạt 11,3% so với 8,3%
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây và phát triển giả thuyết nghiên cứu về mối tương quan giữa tác động của các thành viên gia đình, cấu trúc hội đồng quản trị thông qua các đặc tính của HĐQT và hiệu quả hoạt động
2.2.1 Nghiên cứu về biến quy mô hội đồng quản trị ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty gia đình
Bài nghiên cứu “Higher Market valuation of companies with a small board of directors” của Yermack D.(1996) sử dụng dữ liệu từ 452 công ty công nghiệp lớn của
Mỹ từ năm 1984 và 1991, cho thấy một mối tương quan ngược chiều giữa quy mô HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty Tỷ lệ tài chính liên quan đến lợi nhuận và hiệu
quả hoạt động giảm xuống khi quy mô HĐQT tăng lên Quy mô của HĐQT đối với
mẫu quan sát từ 04 đến 34 thành viên, với số thành viên trung bình của mẫu là 12
thành viên
Bài nghiên cứu “The impact of board size on Firm Performance: Evience from the UK” của Dalton et al (1999) cho rằng quy mô hội đồng quản trị là một yếu tố quyết định quan trọng của hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Quy mô hội đồng
quản trị có ảnh hưởng quan trọng bởi vì nó là một phần của chi phí và lợi ích liên quan
tới các hoạt động hội đồng quản trị Theo đó, Lipton và Lorsch (1992) lập luận rằng
một hội đồng quản trị với số lượng thành viên lớn hơn có thể phải đối mặt với sự phối
Trang 36hợp kém do số lượng thành viên lớn cùng với khả năng tương tác giữa các thành viên trong nhóm kém và vấn đề người đi xe miễn phí Khi HĐQT bao gồm quá nhiều thành viên các vấn đề đại diện có thể tăng lên, một số thành viên có thể là những người đi xe
miễn phí “freerider” Quy mô HĐQT lớn cũng có nhược điểm chẳng hạn như: Ra quyết định và thông tin chậm hơn, xử lý thông tin chậm hơn, thời gian lâu hơn để đạt được sự đồng thuận cũng như đưa ra quyết định Vì vậy mà có sự hạn chế các thành viên hội đồng đến tối đa là mười thành viên, và quy mô ưa thích của hội đồng quản trị
là tám đến chín thành viên
Tác giả không tìm thấy bằng chứng chứng minh các công ty ở Anh có quan tâm đến quy mô HĐQT không dẫn đến một quan hệ tích cực giữa quy mô HĐQT và hiệu
quả hoạt động của công ty
Bài nghiên cứu “Family Business, Board Dynamics and Firm Value: Evidence from Malaysia” của Mishra et al.(2001) tập trung vào mối quan hệ giữa kiểm soát gia đình và cách thức quản trị công ty có ảnh hưởng như thế nào đến giá trị doanh nghiệp
của các công ty ở Malaysia Mẫu nghiên cứu gồm 896 công ty, với dữ liệu từ năm
2000 - 2003 Nghiên cứu cho thấy, không phải tất cả các yếu tố của quản trị công ty đều có ý nghĩa và có sự ảnh hưởng khác nhau giữa công ty gia đình và công ty không
phải gia đình Nghiên cứu sâu hơn cho thấy, quy mô HĐQT có mối tương quan cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của công ty trong công ty không có sự kiểm soát gia đình Họ kết luận rằng quy mô hội đồng quản trị nhỏ hơn có thể tạo nên một cơ chế
quản trị doanh nghiệp tốt hơn cho các công ty kiểm soát gia đình
Bài nghiên cứu dùng kiểm định t-test để kiểm định sự khác biệt giữa các doanh nghiệp gia đình kiểm soát và các doanh nghiệp không có sự kiểm soát gia đình Sau đó, phân tích hồi quy được tiến hành để thực hiện các yếu tố ảnh hưởng giá trị công ty của các doanh nghiệp gia đình kiểm soát
Bài nghiên cứu “Corporate Governance Mechanisms and Performance of Public-Listed Family Ownership in Malaysia” của Ibrahim et al.(2011) xem xét các
Trang 37mối quan hệ của cơ chế quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động giữa công ty gia đình và công ty không có quyền sở hữu của gia đình đang được niêm yết công khai tại Malaysia từ năm 1999 đến năm 2005 được đo bằng Tobin Q, ROA và ROE Kết quả cho thấy, các cơ chế quản trị doanh nghiệp như quy mô HĐQT, giám đốc độc lập có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động công ty
Ibrahim cùng với cộng sự (2011) tìm thấy ý nghĩa mối quan hệ giữa một quy
mô hội đồng quản trị nhỏ và hiệu quả hoạt động trong các công ty gia đình Họ kết luận
rằng quy mô hội đồng quản trị nhỏ hơn có thể tạo nên một cơ chế quản trị doanh nghiệp tốt hơn cho các công ty kiểm soát gia đình
Bài nghiên cứu “The F-PEC Scale of Family Influence: A Proposal for Solving the Family Defintion Problem” của Astrachan et al (2002) lại cho rằng quy mô hội đồng quản trị lớn hơn kết hợp với kiểm soát gia đình có thể nâng cao hiệu quả hoạt động, vì họ có bề dày kinh nghiệm trong kinh doanh, chuyên môn, kỹ năng và có mối quan hệ mà có thể làm tăng thêm các nguồn lực đáng kể cho các công ty gia đình
Bài nghiên cứu ”The Role of dividends, Debt and Board Structure in the Governance of Family Controlled Firms” của Setia-Atmaja et al (2009) kiểm tra xem
liệu các công ty có sự kiểm soát gia đình có sử dụng cổ tức, nợ và cơ cấu hội đồng
quản trị có làm trầm trọng thêm hay giảm thiểu các vấn đề giữa kiểm soát và cổ đông thiểu số trong một thị trường vốn bảo vệ nhà đầu tư ở mức cao Kết quả cho thấy các công ty có sự kiểm soát gia đình có tỷ lệ chia cổ tức cao hơn, mức nợ cao và có tỷ lệ
hội đồng quản trị độc lập thấp hơn so với các công ty không có sự kiểm soát gia đình
Đồng thời, tác giả cũng tìm thấy bằng chứng cho rằng quy mô hội đồng quản trị lớn hơn kết hợp với kiểm soát gia đình có thể nâng cao hiệu quả hoạt động
Theo bài nghiên cứu ”Family control, board structure and performance:
Evidence from an emerging economy” của Mohammad Badrul Muttakin (2010) sử
dụng dữ liệu với 654 quan sát từ năm 2005-2009 tìm thấy bằng chứng cho rằng quy
mô hội đồng quản trị lớn hơn kết hợp với kiểm soát gia đình lại làm giảm hiệu quả hoạt
Trang 38động, điều này cho thấy rằng quy mô HĐQT nhỏ có thể tương thích cho các công ty gia đình ở Banglades
2.2.2 Nghiên cứu về biến kiêm nhiệm của vị trí giám đốc/tổng giám đốc ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty gia đình
Bài nghiên cứu “Leadship Structure: Separating the CEO and Chairman of the Board” của Brickley J.A et al (1997) khảo sát 737 công ty lớn của Mỹ trong năm tài chính 1988 không tìm thấy bằng chứng rằng các công ty có hai người nắm giữ hai vị trí
Chủ tịch và CEO thực hiện tốt hơn so với công ty có một người nắm giữ cả hai chức
vụ
Theo bài nghiên cứu “CEO Duality and Firm Performance: Evidence from Hongkong” của Lam, T.Y & Lee, S.K (2008) thì cho rằng trong các công ty gia đình thành viên gia đình có quyền kiểm soát chi phối trong hội đồng quản trị và có thể nắm
những vị trí quản lý đứng đầu, chẳng hạn như giám đốc điều hành và hoặc chủ tịch (La Porta et al., 1999) Do đó, tính đồng thời này có thể sẽ phổ biến hơn trong các công ty
kiểm soát gia đình hơn các công ty không gia đình (Lâm và Lee, 2008) Bài nghiên cứu
nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa tính đồng thời của giám đốc điều hành (CEO) và hiệu
quả hoạt động công ty và tác động điều hòa của các yếu tố kiểm soát gia đình đối với
mối quan hệ này của công ty tại Hồng Kông Nghiên cứu này sử dụng số liệu công bố công khai từ cơ sở dữ liệu tài chính và các báo cáo hàng năm của một mẫu gồm 128 công ty công khai niêm yết tại Hồng Kông vào năm 2003
Lâm và Lee (2008) lập luận rằng tính đồng thời của giám đốc và chủ tịch HĐQT trong việc kiểm soát các công ty gia đình cung cấp nhiều cơ hội hơn cho quyền
quản lý và tước quyền sở hữu của cổ đông thiểu số, việc này có tác động tiêu cực đến
hiệu quả hoạt động trong các công ty mà gia đình nắm quyền kiểm soát Bằng chứng
thực nghiệm cho thấy rằng mối quan hệ giữa tính đồng thời của giám đốc điều hành và
hiệu quả hoạt động của công ty còn tùy thuộc vào sự hiện diện của các yếu tố kiểm soát gia đình Tính đồng thời của CEO là tốt cho các công ty không có sự kiểm soát gia
Trang 39đình, trong khi việc tách biệt hai vai trò này lại tốt cho các công ty gia đình, nhằm bảo
vệ được cổ đông thiểu số khỏi sự thâu tóm của công ty gia đình
Bài viết cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng tính đồng thời của giám đốc điều hành không hẳn là bất lợi cho các công ty của Hồng Kông và kết quả sẽ có ích cho
cơ quan quản lý, các nhà kinh doanh, và các nhà nghiên cứu
Nghiên cứu của Mohammad Badrul Muttakin cùng với cộng sự (2010) lại tìm
thấy bằng chứng cho thấy việc kiêm nhiêm vị trí giám đốc và chủ tịch HĐQT có tác động tích cực đối với hiệu quả hoạt động của công ty gia đình Điều này cho thấy rằng CEO trong công ty gia đình ở Banglades rất quan tâm đến uy tín và cố gắng để cải thiện hoạt động công ty
2.2.3 Nghiên cứu về mối tương quan giữa tỷ lệ thành phần hội đồng quản trị độc lập và hiệu quả hoạt động
Thực nghiệm nghiên cứu về tác dụng của các thành viên HĐQT độc lập và hiệu
quả công ty thường hiển thị kết quả hỗn hợp:
Theo những nghiên cứu trước đây về cơ cấu hội đồng quản trị đã đề cập đến sự độc lập của hội đồng quản trị và tác động của nó đến hiệu quả hoạt động của công ty (Agrawal và Knoeber năm 1996; Dahya và McConnell, 2005)
Bài nghiên cứu “Coporate Governance in banking: The role of the board of Directors” của Andres et al (2005) sử dụng một mẫu của các ngân hàng thương mại
quốc tế lớn để kiểm tra giả thuyết về tính đồng thời trong vai trò của hội đồng quản trị
Tác giả sử dụng một mô hình kinh tế phù hợp (2SLS) để giải quyết các vấn đề nội sinh trong lý thuyết quản trị doanh nghiệp Tác giả tìm thấy một mối quan hệ hình chữ U ngược giữa hiệu suất hoạt động của ngân hàng và quy mô HĐQT, và giữa tỷ lệ giám đốc không điều hành và hiệu suất
Lý thuyết này lập luận rằng một tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập cao hơn sẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động của công ty tốt hơn vì nó làm giảm các xung đột lợi
Trang 40ích giữa các cổ đông kiểm soát và cổ đông thiểu số và làm cho việc quản lý hiệu quả hơn thông qua sự giám sát tốt hơn
Bài nghiên cứu “Board Composition: Balancing Family Influence in S&P 500 Firms” của Anderson & Reeb (2004) lại xem xét các cơ chế dùng để giới hạn quyền sở
hữu tài sản công ty của các cổ đông lớn với mẫu là 500 công ty niêm yết trên S&P có quyền sở hữu thành lập gia đình Phù hợp với lý thuyết, tác giả thấy rằng các công ty
có giá trị nhất là những công ty trong đó giám đốc độc lập cân bằng với đại diện gia đình trong HĐQT Ngược lại, trong các công ty có sự sở hữu gia đình có tương đối ít giám đốc độc lập, hiệu quả hoạt động thấp hơn những công ty không có sự sở hữu của gia đình Kết quả cho thấy rằng các công ty gia đình thường tìm cách giảm thiểu sự
hiện diện của giám đốc độc lập, trong khi các cổ đông bên ngoài tìm kiếm đại diện giám đốc độc lập Anderson và Reeb (2004) tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa sự độc
lập của hội đồng quản trị và hoạt động của các công ty gia đình Họ cho rằng thành viên hội đồng quản trị độc lập có thể giảm thiểu xung đột giữa các cổ đông kiểm soát
và cổ đông thiểu số thông qua đó giám sát các hoạt động trong các công ty gia đình tốt hơn Họ cũng cho rằng sự độc lập của thành viên hội đồng quản trị sẽ kiềm chế sự tham gia của họ trong các ban giám đốc và ngăn chặn các thành viên gia đình chiếm đoạt tài sản của các công ty thông qua bồi thường quá mức,cổ tức đặc biệt, hoặc bổng
lộc không có cơ sở Tuy nhiên, một số nghiên cứu ngoài nước Mỹ, mặt khác, cho rằng
hội đồng quản trị độc lập không có bất kỳ tác động lớn đến hiệu quả hoạt động của các công ty gia đình
Theo nghiên cứu của “Ownership Concentration, Firm Performance, and Dividend Policy in Hong Kong” của Chen et al (2005) đã phân tích một mẫu của 412 công ty niêm yết ở Hồng Kông trong thời gian 1995-1998 để trả lời ba câu hỏi: Liệu
rằng sở hữu gia đình tập trung có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động công ty và giá trị
của công ty hay không? Liệu nó có ảnh hưởng đến chính sách cổ tức? Tác động của
quản trị công ty về các vấn đề thanh khoản, giá trị và cổ tức là gì? Kết quả của tác giả